+ Chương 1: Lý luân chung về vốn kinh doanh và quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp. + Chương 2: Thực trạng vốn kinh doanh và quản trị vốn kinh doanh tại Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long. +Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD của Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long.
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
Khoa Tài chính doanh nghiệp
LUẬN VĂN
Đơn vị thực tập: Công ty cổ phần xây dựng Thăng Long số 4
Sinh viên thực tập: Bùi Tuấn Vũ
Lớp: CQ48/11.02
Giáo viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Hà
Hà Nội, 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn cuối khóa đều là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị thực tập
Tác giả luận văn:
Bùi Tuấn Vũ
Trang 3MỤC LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang 7MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Các doanh nghiệp hiện nay hoạt động trong điều kiện nền kinh tế mở với
xu thế quốc tế hoá ngày càng cao và sự cạnh tranh trên thị trường ngày càng mạnh mẽ Do vậy, nhu cầu Vốn kinh doanh cho hoạt động kinh doanh, nhất là nhu cầu vốn dài hạn của các doanh nghiệp cho sự đầu tư phát triển ngày càng lớn Trong khi nhu cầu về vốn lớn như vậy thì khả năng tạo lập và huy động vốn của doanh nghiệp lại bị hạn chế Vì thế, nhiệm vụ đặt ra đòi hỏi các doanh nghiệp phải quản trị Vốn kinh doanh sao cho có hiệu quả nhất trên cơ
sở tôn trọng nguyên tắc tài chính, tín dụng và chấp hành pháp luật
2. Đối tượng và mục đích nghiên cứu
Đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế quốc doanh trong nền kinh tế mới phải chủ động hơn trong việc huy động và sử dụng vốn Ngoài vốn ngân sách Nhà nước cấp còn phải huy động
từ nhiều nguồn khác Vì vậy việc quản lý và sử dụng Vốn kinh doanh một cách hiệu quả là hết sức quan trọng, bởi nó thể hiện hiệu quả sản xuất kinh doanh
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là từ lý luận về quản trị Vốn kinh doanh của doanh nghiệp, trên cơ sở phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng Vốn kinh doanh của Công ty, khẳng định những mặt tích cực đã đạt được đồng thời tìm
ra một số hạn chế cần khắc phục từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao công tác quản trị Vốn lưu động của Công ty
Trang 8 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu từ khái quát đến chi tiết từng hoạt động về vốn
- Nghiên cứu các số liệu sổ sách và cả các số liệu thị trường để thấy được những biến động thực tế của công ty
Phương pháp phân tích dữ liệu
- Phương pháp so sánh: So sánh theo thời gian (giữa kỳ này với kỳ trước, giữa thực tế với kế hoạch) để biết được sự thay đổi về tình hình biến động các chỉ tiêu kinh tế của doanh nghiệp; so sánh theo không gian (giữa cơ sở thực tập với các doanh nghiệp khác cùng ngành, giữa cơ sở thực tập với mức trung bình ngành) để đánh giá vị thế của đơn vị trong ngành và xem xét những biến động về vốn, tài sản của đơn vị là phù hợp hay chưa
- Phương pháp tỷ số: thiết lập các tỷ số tài chính cần thiết cho quá trình đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, tài sản, chi phí, doanh thu, lợi nhuận
- Phương pháp phân tích Dupont: tách một tỷ số tổng hợp phản ánh mức sinh lời của công ty
5. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm ba chương:
+ Chương 1: Lý luân chung về vốn kinh doanh và quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp
+ Chương 2: Thực trạng vốn kinh doanh và quản trị vốn kinh doanh tại
Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long
+Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD của Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long
Với để tài “ Tăng cường quản trị vốn kinh doanh của Công ty cổ phần Xây dựng Thăng Long Số 4” tôi mong rằng nó sẽ có tính thực tiễn, có thể áp dụng và tác
Trang 9động tốt và có thể là tư vấn cho công ty nâng cao được hiệu quả quản trị Vốn kinh doanh, đặc biệt trong giai đoạn khó khăn này.
Xin chân thành cảm ơn TS.Nguyễn Thị Hà là người trực tiếp hướng dẫn và Ban giám đốc, toàn thể các cán bộ công nhân viên Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên để này.
Do kiến thức còn hạn hẹp cả về lý luận và thực tiễn nên bài viết khó tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự hướng dẫn, góp ý của công ty và các thầy cô để bài viết hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày….tháng….năm….
Tác giả luận văn
Bùi Tuấn Vũ
Trang 10CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN KINH DOANH VÀ QUẢN TRỊ VỐN KINH
DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của DN
1.1.1 Khái niệm và đặc trưng của vốn kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường, để có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì các doanh nghiệp cần phải có các yếu tố cơ bản sau: Sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động Để có được các yếu tố này đòi hỏi doanh nghiệp cần phải ứng ra một số vốn nhất định phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh Số vốn này dùng để mua sắm các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất như trên Do sự tác động của lao động vào đối tượng lao động thông qua tư liệu lao động mà hàng hoá, dịch vụ được tạo ra và tiêu thụ trên thị trường Để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, số tiền thu được do tiêu thụ sản phẩm phải đảm bảo bù đắp toàn bộ chi phí đã bỏ ra và có lãi Như vậy, số vốn ứng ra ban đầu không những được bảo toàn mà còn tăng thêm do hoạt động kinh doanh mang lại Toàn bộ giá trị ứng ra ban đầu và ở các quá trình tiếp theo cho sản xuất kinh doanh được gọi là vốn
Từ đó có thể hiểu: “Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện
bằng tiền của toàn bộ tài sản được đầu tư vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.”
Những đặc trưng sau của vốn kinh doanh:
Thứ nhất: Vốn phải đại diện cho một lượng giá trị tài sản, điều đó có
nghĩa là vốn được biểu hiện bằng giá trị của những tài sản hữu hình và vô hình như nhà xưởng, máy móc, đất đai, bản quyền phát minh sáng chế
Trang 11Thứ hai: Vốn phải vận động sinh lời Vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng
tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn Để biến thành vốn thì đồng tiền phải vận động sinh lời
Thứ ba: Trong nền kinh tế thị trường, vốn là một loại hàng hóa đặc biệt
Nói vốn là một loại hàng hóa vì nó có giá trị và giá trị sử dụng như mọi loại hàng hóa khác Giá trị sử dụng của vốn thể hiện ở chỗ khi sử dụng vốn đúng cách sẽ tạo ra một giá trị lớn hơn trước Khác với những hàng hóa thông thường khác, quyền sỡ hữu vốn và quyền sử dụng vốn có thể được gắn với nhau nhưng cũng
có thể tách rời nhau
Thứ tư: Vốn phải gắn liền với chủ sỡ hữu nhất định và phải được quản lý
chặt chẽ Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay, vốn là yếu tố rất quan trọng, do đó không thể có đồng vốn vô chủ Khi vốn được gắn với một chủ sở hữu nhất định thì nó mới được chi tiêu hợp lý và có hiệu quả
Thứ năm: Vốn phải tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định mới có thể
phát huy tác dụng Do đó, để đầu tư vào sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp không chỉ khai thác các tiềm năng về vốn mà còn phải tìm cách thu hút nguồn vốn như kêu gọi góp vốn, hùn vốn, phát hành cổ phiếu, liên doanh
Thứ sáu: Vốn có giá trị về mặt thời gian điều này cũng có nghĩa là phải
xét tới yếu tố thời gian của vốn Trong điều kiện kinh tế thị trường do ảnh hưởng của giá cả, lạm phát nên sức mua của đồng tiền ở các thời điểm khác nhau cũng khác nhau Chính vì vậy khi quyết định bỏ vốn đầu tư và xác định hiệu quả do hoạt động đầu tư mang lại, các doanh nghiệp phải xem xét đến giá trị thời gian của vốn
Trang 12*Vai trò của vốn kinh doanh
Vốn là một phạm trù kinh tế, là điều kiện tiên quyết cho bất cứ doanh nghiệp, ngành nghề kinh tế kỹ thuật, dịch vụ nào trong nền kinh tế Để tiến hành hoạt động kinh doanh được, doanh nghiệp cần phải nắm giữ một lượng vốn nhất định nào đó Số vốn này thể hiện giá trị toàn bộ tài sản và các nguồn lực của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh Vì vậy vốn kinh doanh có vai trò quyết định trong việc thành lập, hoạt động và phát triển của doanh nghiệp Cụ thể:
- Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại có vai trò quyết định trong việc thành lập, hoạt động, phát triển của từng loại hình doanh nghiệp theo luật định Nó là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp Tuỳ theo nguồn của vốn kinh doanh, cũng như phương thức huy động vốn mà doanh nghiệp có tên là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp liên doanh
- Vốn kinh doanh là một trong số những tiêu thức để phân loại qui mô của doanh nghiệp, xếp loại doanh nghiệp vào loại lớn, nhỏ hay trung bình và là một trong những tiềm năng quan trọng để doanh nghiệp sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện có và tương lai về sức lao động, nguồn cung ứng hàng hoá, mở rộng và phát triển thị trường, mở rộng lưu thông hàng hoá Bởi vậy các doanh nhân thường ví
“buôn tài không bằng dài vốn”
- Trong cơ chế kinh doanh mới, trong điều kiện mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản suất kinh doanh Vốn kinh doanh bao giờ cũng là cơ sở, là tiền đề để doanh nghiệp tính toán hoạch định các chiến lược và kế hoạch kinh doanh Nó cũng là chất keo để chắp nối, kết dính các quá trình và quan hệ kinh tế
và nó cũng là dầu nhờn bôi trơn cho cỗ máy kinh tế vận động có hiệu quả
Trang 13- Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại là yếu tố giá trị Nó chỉ phát huy được tác dụng khi bảo tồn được và tăng lên được sau mỗi chu kỳ kinh doanh Nếu vốn không được bảo toàn và tăng lên sau mỗi chu kỳ kinh doanh thì vốn đã
bị thiệt hại, đó là hiện tượng mất vốn Sự thiệt hại lớn sẽ dẫn đến doanh nghiệp mất khả năng thanh toán sẽ làm cho doanh nghiệp bị phá sản, tức là vốn kinh doanh đã bị sử dụng một cách lãng phí, không hiệu quả
1.1.2 Thành phần vốn kinh doanh
Để quản lý và sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả, cần thiết phải tiến hành phân loại vốn kinh doanh theo các tiêu thức khác nhau Nếu căn cứ vào đặc điểm luân chuyển vốn thì vốn kinh doanh được chia thành hai bộ phận đó là vốn
cố định và vốn lưu động
Vốn cố định là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước để hình thành tài
sản cố định mà đặc điểm của nó là luân chuyển giá trị dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành vòng luân chuyển khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng
Là vốn đầu tư ứng trước cho tài sản cố định nên qui mô của vốn cố định nhiều hay ít sẽ quyết định đến qui mô của tài sản cố định, ảnh hưởng rất lớn đến trình độ trang bị kỹ thuật công nghệ và năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ngược lại, những đặc điểm kinh tế kỹ thuật của tài sản cố định trong quá trình sử dụng cũng có những ảnh hưởng quyết định đến đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển vốn cố định Sự vận động của Vốn cố định trong quá trình sản xuất kinh doanh có thể được khái quát qua một số nét đặc thù sau:
- Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh Điều này xuất phát từ đặc điểm của tài sản cố định là được sử dụng lâu dài trong nhiều chu
kỳ kinh doanh
Trang 14- Vốn cố định được luân chuyển dần dần từng phần trong các chu kỳ sản xuất kinh doanh, biểu hiện dưới hình thức chi phí khấu khao tài sản cố định Sau nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển.
Xét về mặt lý thuyết, trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, một bộ phận vốn cố định được rút ra khỏi quá trình chu chuyển của vốn
và được tích luỹ lại dưới hình thái vốn tiền tệ Trong khi đó, một bộ phận giá trị của vốn vẫn được “cố định” lại trong hình thái hiện vật của tài sản cố định và bộ phận này tuy không ngừng giảm đi cho đến khi giá trị bằng không Đó là khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng, vốn cố định hoàn thành một vòng chu chuyển
Từ những đặc điểm luân chuyển của vốn cố định đòi hỏi doanh nghiệp khi đầu từ vào tài sản cố định phải tính toán một cách cẩn thận đến hiệu quả của vốn ứng ra Nếu việc đầu tư không đồng bộ sẽ dẫn đến tình trạng lãng phí vốn lớn, ảnh hưởng xấu đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Công tác quản lý vốn cố định của doanh nghiệp cũng đòi hỏi phải quản lý chặt chẽ trên cả 2 mặt: quản lý và sử dụng tốt hình tài sản cố định – hình thái hiện vật của vốn cố định; quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả tiền khấu hao tài sản cố định
Vốn lưu động là một bộ phận của vốn kinh doanh ứng ra để hình thành
nên tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra thường xuyên, liên tục.
Tài sản lưu động sản xuất bao gồm những tài sản ở khâu dự trữ sản xuất như: Nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu và tài sản ở khâu sản xuất như sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, chi phí trả trước,… đang trong quá trình
dự trữ sản xuất hoặc chế biến
Trang 15Tài sản lưu động lưu thông gồm: thành phâm hàng hóa chờ tiêu thụ, vốn bằng tiền và vốn trong thanh toán Trong quá trình sản xuất kinh doanh, tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông luôn vận động, thay thế và chuyển hoá lẫn nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục.
Khác với tài sản cố định, trong quá trình sản xuất tài sản lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm Những đặc điểm này của tài sản lưu đông đã quyết định đến sự vận động chu chuyển của vốn lưu động, đó là:
- Trong quá trình tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn lưu động thường xuyên vận động và chuyển hoá qua các hình thái biểu hiện khác nhau Đối với doanh nghiệp sản xuất, trước tiên vốn lưu động tồn tại dưới hình thái vốn bằng tiền, sau đó chuyển hoá sang hình thái vốn vật tư dự trữ Khi doanh nghiệp tiến hành sản xuất, vốn tiếp tục chuyển hoá sang hình thái sản phầm dở dang Kết thúc quá trình sản xuất, vốn chuyển hoá sang trạng thái vốn thành phẩm và chuyển hoá về hình thái ban đầu – vốn tiền tệ khi quá trình tiêu thụ kết thúc ( T – H…SX…H’ – T’) Như vậy tại một thời điểm nhất định, vốn lưu động đồng thời tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau trong các giai đoạn chu chuyển của vốn
- Vốn lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất Khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn lưu động chu chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được thu hồi toàn bộ khi kết thúc chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp Vốn lưu động hoàn thành một vòng chu chuyển sau một chu kỳ kinh doanh
Trang 16Do quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục nên quá trình tuần hoàn của vốn lưu động được lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ, tạo thành sự chu chuyển của vốn lưu động Chính vì vậy, vốn lưu động thường xuyên có các bộ phận tồn tại dưới các hình thái khác nhau trong quá trình sản xuất như: vốn dự trữ, vốn sản xuất, vốn lưu thông.
1.1.3 Nguồn hình thành vốn kinh doanh
Nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ các nguồn tài chính
mà doanh nghiệp có thể khai thác và sử dụng trong một thời kỳ nhất định để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, có rất nhiều nguồn hình thành nên vốn kinh doanh của doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp có vai trò khai thác, thu hút các nguồn tài chính đảm bảo đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời phải lựa chọn phương pháp, hình thức huy động vốn hợp
lý, phù hợp với đặc điểm, tình hình của doanh nghiệp
Tuỳ theo mục tiêu quản lý người ta có thể phân loại nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp theo nhiều tiêu thức khác nhau
Nếu căn cứ vào quan hệ sở hữu vốn, nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả.
Vốn chủ sở hữu: là số vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp gồm: Vốn
điều lệ do chủ sở hữu đầu tư, vốn do doanh nghiệp tự bổ sung từ lợi nhuận và từ các quỹ của doanh nghiệp, nguồn vốn liên doanh, liên kết, vốn tài trợ của Nhà nước nếu có Nguồn vốn chủ sở hữu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nó tạo điều kiện thuận lợi cho chủ doanh nghiệp chủ động hoàn toàn trong sản xuất, thể hiện mức độ tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp
Trang 17Nợ phải trả là số vốn thuộc quyền sở hữu của các chủ thể khác nhưng
doanh nghiệp được quyền sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trong một khoảng thời gian nhất định Theo tính chất và thời hạn thanh toán, các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp được chia thành:
- Nợ ngắn hạn: là các khoản nợ mà doanh nghiệp phải trả trong một thời gian ngắn như vay ngắn hạn, phải trả nhà cung cấp, thuế và các khoản phải nộp Nhà nước…
- Nợ dài hạn: là các khoản nợ mà trên một năm doanh nghiệp mới phải
hoàn trả như vay dài hạn, phát hành cổ phiếu…
Nếu căn cứ vào phạm vi huy động vốn: nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp chia thành:
Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp: Là nguồn vốn được huy động từ nội
bộ doanh nghiệp bao gồm tiền khấu hao hàng năm, lợi nhuận để lại các khoản dự phòng nguồn vốn này có tính chất quyết định trong hoạt động của doanh nghiệp
Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp: Là nguồn vốn có thể huy động từ
bên ngoài doanh nghiệp bao gồm vốn góp liên doanh liên kết, vốn vay từ ngân hàng và các tổ chức tín dụng, vốn do nợ nhà cung cấp, vốn huy động từ phát hành trái phiếu… Sử dụng nguồn vốn này, doanh nghiệp có thể khai thác ảnh hưởng tích cực của đòn bẩy tài chính để khuyếch đại doanh lợi vốn chủ sở hữu Tuy nhiên, hình thức huy động vốn từ bên ngoài doanh nghiệp cũng có nhược điểm là doanh nghiệp phải trả lãi tiền vay và hoàn trả gốc đúng hạn Khi tình hình kinh doanh không được thuận lợi, bối cảnh nền kinh tế có nhiều thay đổi phức tạp gây bất lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thì nợ vay sẽ thành gánh nặng khiến doanh nghiệp chịu nhiều rủi ro và có thể mất khả năng thanh toán
Nếu căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn có thể chia nguồn vốn của doanh nghiệp thành:
Trang 18*Nguồn vốn thường xuyên (dài hạn) là nguồn vốn có tính chất ổn định,
được doanh nghiệp sử dụng thường xuyên, lâu dài vào hoạt động kinh doanh, bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ dài hạn (trừ vay-nợ dài hạn)
Trên cơ sở xác định nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp còn có thể xác định nguồn vốn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp
Nguồn vốn lưu động thường xuyên là nguồn vốn ổn định có tính chất dài hạn để hình thành hay tài trợ cho tài sản lưu động (TSLĐ) thường xuyên cần thiết trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (có thể là một phần hay toàn
bộ tài sản lưu động thường xuyên tùy thuộc vào chiến lược tài chính của doanh nghiệp)
Nguồn vôn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp tại một thời điểm có thể xác định theo công thức sau:
Nguồn vốn lưu động thường xuyên = Tổng nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp – Tài sản dài hạn
*Nguồn vốn tạm thời (ngắn hạn) là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới
một năm) mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn, nợ ngắn hạn, các khoản vay – nợ quá hạn (kể cả vay – nợ dài hạn), các khoản chiếm dụng của người bán, người mua, người lao động
Nguồn vốn dài hạn trước hết được dùng để đầu tư hình thành tài sản dài hạn, phần dư của vốn dài hạn và nguồn vốn ngắn hạn được đầu tư để hình thành tài sản ngắn hạn Chênh lệch giữa nguồn vốn dài hạn với tài sản dài hạn hay giữa tài sản ngắn hạn với nguồn vốn ngắn hạn được gọi là vốn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp
Trang 19Cách phân loại này giúp cho người quản lý, xem xét, huy động các nguồn vốn một cách phù hợp với thời gian sử dụng, đáp ứng đầy đủ kịp thời vốn cho sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Như vậy, mỗi doanh nghiệp chỉ có thể khai thác huy động vốn trên một số
nguồn nhất định Dù huy động vốn dưới hình thức nào doanh nghiệp cũng phải trả một khoản chi phí và đảm bảo những điều kiện nhất định, do đó đòi hỏi doanh nghiệp phải tính toán hiệu quả, cân nhắc lãi suất, thời hạn và điều kiện của việc sử dụng từng nguồn vốn
1.2 Quản trị vốn kinh doanh của DN.
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu quản trị vốn kinh doanh
Quản trị vốn kinh doanh là việc lựa chọn, đưa ra quyết định và tổ chức thực hiện các quyết định về vốn kinh doanh của doanh nghiệp, nhằm đạt được các mục tiêu đề ra Quản trị vốn kinh doanh có thể được nhìn nhận là quá trình lập kế hoạch về vốn, huy động các nguồn vốn phục vụ kinh doanh, tổ chức sử dụng các nguồn vốn đã huy động, giám sát và kiểm tra tình hình sử dụng vốn kinh doanh
Quản trị vốn kinh doanh là một bộ phận quan trọng của quản trị tài chính doanh nghiệp, có quan hệ chặt chẽ và ảnh hướng tới tất cả các mặt hoạt động của doanh nghiệp.Mục tiêu của quản trị vốn kinh doanh là tối đa hóa khả năng sinh lời của vốn, tức là với một đồng vốn doanh nghiệp bỏ ra hôm nay phải thu được mức lợi nhuận cao nhất
Trang 201.2.2 Nội dung quản trị vốn kinh doanh
1.2.2.1 Nội dung quản trị vốn lưu động (VLĐ)
* Xác định nhu cầu VLĐ
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra thường xuyên liên tục Trong quá trình đó luôn đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn lưu động cần thiết để đáp ứng các yêu cầu mua sắm vật tư dự trữ, bù đắp chênh lệch các khoản phải thu, phải trả giữa doanh nghiệp với khách hàng, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành bình thường, liên tục Đó chính là nhu cầu vốn lưu động thường xuyên, cần thiết của doanh nghiệp
Như vậy, nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết là số vốn lưu động tối thiểu cần thiết phải có để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành bình thường liên tục Dưới mức này, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn, thậm chí bị đình trệ, gián đoạn Nhưng nếu trên mức cần thiết lại gây nên tình trạng vốn bị ứ đọng, sử dụng vốn lãng phí, kém hiệu quả
Chính vì vậy trong quản trị vốn lưu động, các doanh nghiệp cần chú trọng xác định đúng đắn nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết, phù hợp với qui mô và điều kiện kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp Với quan niệm nhu cầu vốn lưu động là số vốn tối thiểu, thường xuyên cần thiết nên nhu cầu vốn lưu động được xác định theo công thức:
Nhu cầu VLĐ = Vốn hàng tồn kho + Nợ phải thu – Nợ phải trả nhà cung cấp
Trang 21Trong đó nhu cầu vốn tồn kho là số vốn tối thiểu cần thiết dùng để dự trữ nguyên nhiên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm của doanh nghiệp.
Nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều nhần
tố như: qui mô kinh doanh của doanh nghiệp; đặc điểm tính chất của ngành nghề kinh doanh (chu kỳ sản xuất, tính chất thời vụ); sự biến động của giá cả vật tư, hoàng hóa trên thị trường; trình độ tổ chức, quản lý sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp, quản lý sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp; trình độ kĩ thuật-công nghệ sản xuất; các chính sách của doanh nghiệp trong tiêu thụ sản phẩm hành hóa, dịch vụ… Việc xác định đúng đắn các nhân tố ảnh hưởng sẽ giúp doanh nghiệp xác định đúng nhu cầu vốn lưu động và có biện pháp sử dụng vốn lưu động một cách tiết kiệm hiệu quả
Tùy theo đặc điểm kinh doanh và điều kiện cụ thể mà DN có thể lựa chọn
áp dụng các phương pháp khác nhau để xác định nhu cầu VLĐ Hiện nay có 2 phương pháp chủ yếu: Phương pháp trực tiếp và gián tiếp
Phương pháp trực tiếp
Căn cứ vào các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến lượng VLĐ DN phải ứng
ra để xác định nhu cầu VLĐ thường xuyên Trình tự xác định:
- Xác định nhu cầu vốn để dự trữ hàng tồn kho cần thiết
- Xác định chính sách tiêu thụ và khoản tín dụng cấp cho khách hàng
- Xác định các khoản nợ phải trả cho nhà cung cấp
- Tổng hợp xác định nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp
Trang 22Nhu cầu vốn dự
trữ NVL chính =
Số ngày dự trữ cần thiết về NVL chính x
Chi phí NVL chính bình quân mỗi ngày kỳ kế hoạch
• Xác định nhu cầu vốn dự trữ đối với các khoản vật tư khác:
Với vật tư dùng nhiều và thường xuyên có thể áp dụng phương pháp như đối với NVL chính
Với vật tư giá trị thấp, số lượng tiêu hao không nhiều hoặc không thường xuyên:
x
Tỷ lệ nhu cầu vốn so với tổng mức luân chuyển vốn của loại vật tư đó năm báo cáo
Nhu cầu vốn sản
phẩm dở dang =
Chi phí sản xuất sản phẩm bình quân một ngày kỳ kế hoạch x
Chu kỳ sản xuất sản phẩm
• Xác định nhu cầu vốn về chi phí trả trước
kỳ kế hoạch
+
Chi phí trả trước dự kiến phát sinh
-Chi phí trả trước dự kiến phân bổ vào giá thành sản phẩm
Nhu cầu vốn dự trữ
thành phẩm kỳ kế hoạch =
Giá vốn hàng bán bình quân mỗi ngày kỳ kế hoạch x
Số ngày dự trữ thành phẩm
Trang 23Trên cơ sở xác định nhu cầu VLĐ để dự trữ về NVL chính, vật tư khác, sản phẩm dở dang, chi phí trả trước và thành phẩm Tổng hợp lại sẽ xác định được tổn mức dự trữ hàng tồn kho của doanh nghiệp.
Nợ phải trả
nhà cung cấp =
Kỳ trả tiền trung bình x
Giá trị NVL hoặc hàng hóa mua vào bình quân 1 ngày kỳ kế hoạch
Trên cơ sở tính toán nhu cầu vốn dự trữ hàng tồn kho, các khoản phải thu, phải trả, ta xác định nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết năm kế hoạch:
Nhu cầu
Mức dự trữ HTK +
Khoản phải thu
từ khách hàng
-Khoản phải trả nhà cung cấp và các khoản nợ phải trả khác có tính chu kỳ
Phương pháp gián tiếp
Nội dung của phương pháp này là dự vào thống kê kinh nghiệm để xác định nhu cầu, có thể chia làm 2 trường hợp:
- Dựa vào kinh nghiệm thực tế của các DN cùng loại trong ngành để xác định nhu cầu VLĐ cho DN mình Việc xác định này dựa vào hệ số VLĐ tình theo doanh thu của các DN cùng loại trong ngành, từ đó dựa vào quy mô kinh doanh dự kiến của DN mình để tính ra nhu cầu VLĐ cần thiết
Trang 24- Dựa vào tình hình thực tế sử dụng VLĐ ở thời kỳ vừa qua của DN để xác định nhu cầu VLĐ cho các kỳ tiếp theo Việc xác định này dựa vào mối quan hệ giữa các yếu tố hợp thành nhu cầu VLĐ gồm: HTK, nợ phải thu từ khách hàng,
nợ phải trả nhà cung cấp với doanh thu thuần kỳ vừa qua để xác định tỷ lệ chuẩn nhu cầu VLĐ trên doanh thu, từ đó xác định nhu cầu kỳ tới
*Tổ chức đảm bảo nguồn VLĐ
Nguồn VLĐ của DN được sử dụng để đầu tư vào TSLĐ thường xuyên và TSLĐ tạm thời nhằm đảm bảo quá trình SXKD được tiến hành thường xuyên và liên tục Về cơ bản, nguồn VLĐ thường xuyên đảm bảo cho VLĐ thường xuyên
và tạo ra mức độ an toàn cho DN trong kinh doanh, còn nguồn VLĐ tạm thời sẽ bảo đảm cho nhu cầu VLĐ tạm thời, song không nhất thiết phải như vậy, DN có thể sử dụng linh hoạt các mô hình tài trợ vốn sau
Mô hình tài trợ thứ nhất: Toàn bộ TSCĐ và TSLĐ thường xuyên được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên, toàn bộ TSLĐ tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời
Ưu điểm: Giúp cho doanh nghiệp hạn chế được rủi ro trong thanh toán,
mức độ an toàn cao hơn; Giảm bớt được chi phí trong việc sử dụng vốn
Nhược điểm: Chưa tạo ra sự linh hoạt trong việc tổ chức sử dụng vốn.
Mô hình tài trợ thứ hai: Toàn bộ TSCĐ, TSLĐ thường xuyên và một phần của TSLĐ tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên và một phần TSLĐ tạm thời còn lại được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời
Ưu điểm: Khả năng thanh toán và độ an toàn của DN ở mức cao.
Hạn chế: Doanh nghiệp phải sử dụng nhiều khoản vay dài hạn và trung
hạn nên DN phải trả chi phí nhiều hơn cho việc sử dụng vốn
Trang 25 Mô hình tài trợ thứ ba: Toàn bộ TSCĐ và một phần TSLĐ thường xuyên được bảo đảm bằng nguồn vốn thường xuyên, một phần TSLĐ thường xuyên và toàn bộ TSLĐ tạm thời được bảo đảm bằng nguồn vốn tạm thời
Ưu điểm: Chi phí sử dụng vốn sẽ được hạ thấp hơn các mô hình khác do
sử dụng nhiều hơn nguồn vốn tín dụng ngắn hạn Bên cạnh đó, việc sử dụng vốn
sẽ được linh hoạt hơn
Hạn chế: Rủi ro tài chính cao do đó đòi hỏi các doanh nghiệp cần sự năng
động trong việc tổ chức nguồn vốn
*Các chỉ tiêu đánh giá tình hình quản trị VLĐ
Tốc độ luân chuyển vốn lưu động: Để xác định tốc độ luân chuyển của vốn
lưu động người ta thường sử dụng hai chỉ tiêu sau:
- Số lần luân chuyển vốn lưu động: phản ánh số vòng quay VLĐ thực
hiện trong một kỳ (thường là 1 năm )
- Kỳ luân chuyển vốn lưu động: Phản ánh số ngày bình quân cần thiết để
thực hiện một vòng quay vốn lưu động
Kỳ luân chuyển vốn lưu
Số ngày trong kỳ
Số vòng quay vốn lưu động
Mức tiết kiệm vốn lưu động: Mức tiết kiệm VLĐ có được là do tăng
tốc độ luân chuyển vốn Do tăng tốc độ luân chuyển VLĐ nên có thể tăng tổng
Trang 26mức luân chuyển song không cần tăng thêm hoặc tăng không đáng kể quy mô VLĐ:
Hàm lượng vốn lưu động: chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra một đồng
doanh thu thuần cần phải có bao nhiêu đồng vốn lưu động
Hàm lượng vốn lưu
Số vốn lưu động bình quân trong kỳ
Doanh thu thuầnNgoài ra để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động người ta còn
sử dụng một số các chỉ tiêu khác như: Vòng quay hàng tồn kho, vòng quay các khoản phải thu, kỳ thu tiền bình quân
Vòng quay hàng tồn kho:là số lần mà hàng hóa vật tư tồn kho bình
quân luân chuyển trong kỳ
Vòng quay hàng
Giá vốn hàng bánHàng tồn kho bình quân
Hệ số này lớn cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa trong kho là nhanh
và ngược lại, nếu hệ số này nhỏ thì tốc độ quay vòng hàng tồn kho thấp
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho:
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho =
360
Số vòng quay hàng tồn
kho
Số ngày luân chuyển rút ngắn
Mức luân chuyển vốn lưu động kỳ so sánh bq
1 ngày
Mức tiết
kiệm vốn
Trang 27Vòng quay nợ phải thu: là chỉ tiêu phản ánh trong một kì, nợ phải thu
luân chuyển được bao nhiêu vòng; nó phản ánh tốc độ thu hồi công nợ của doanh nghiệp như thế nào
Vòng quay nợ phải
Doanh thu bán hàng
Số nợ phải thu bình quân trong kỳ
Kỳ thu tiền bình quân:là số ngày bình quân để thu hồi được các khoản
nợ phải thu Kỳ thu tiền bình quân giảm cho thấy tốc độ thu hồi các khoản phải thu tăng lên
Kỳ thu tiền bình
360Vòng quay các khoản phải thu
Các hệ số thể hiện khả năng thanh toán:
- Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn (hiện thời):
Khả năng thanh toán
- Khả năng thanh toán nhanh:
Khả năng thanh toán = Tài sản ngắn hạn - Hàng tồn kho
Trang 28nhanh Nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán nhanh phản ánh khả năng thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn trong kỳ mà không phải dựa vào việc bán các loại vật tư, hàng hóa
- Khả năng thanh toán tức thời:
Khả năng thanh toán
1.2.2.2 Nội dung quản trị vốn cố định (VCĐ)
*Đánh giá lựa chọn đầu tư TSCĐ
Tài sản cố định của doanh nghiệp là những tư liệu lao động chủ yếu có giá trị lớn, có thời gian sử dụng lâu dài trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Theo quy định hiện hành ở nước ta, các tư liệu lao động được coi
là TSCĐ phải có giá trị từ 30 triệu đồng và thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên
Trong doanh nghiệp, có nhiều loại TSCĐ khác nhau Để đáp ứng yêu cầu quản lý, người ta phân loại TSCĐ thành những loại khác nhau theo những tiêu thức khác nhau:
làm hai loại: TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình.
Trang 29+ TSCĐ hữu hình: là những TSCĐ có hình thái vật chất cụ thể, bao gồm: Nhà cửa, vật kiến trúc, PTVT, máy móc thiết bị, vườn cây lâu năm, súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm, và các TSCĐ hữu hình khác.
+ TSCĐ vô hình: Là những TSCĐ không có hình thái vật chất cụ thể, thể hiện một lượng giá trị lớn đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp
Thông thường TSCĐ vô hình gồm các loại sau: Quyền sử dụng đất, chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí về bằng phát minh sáng chế, chi phí nghiên cứu phát triển, chi phí về lợi thế thương mại và các TSCĐ vô hình khác
Việc phân loại này giúp cho người quản lý thấy được kết cấu tài sản theo công dụng kinh tế, từ đó đánh giá được trình độ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp để từ đó có định hướng đầu tư; mặt khác, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và thực hiện khấu hao TSCĐ
- Phân loại theo tình hình sử dụng:
Căn cứ vào tình hình sử dụng TSCĐ, có thể chia toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp thành những loại sau:
+ TSCĐ đang dùng
+ TSCĐ chưa cần dùng
+ TSCĐ không cần dùng và chờ thanh lý hoặc nhượng bán
Dựa vào cách phân loại này, người quản lý nắm được tổng quát tình hình sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp Trên cơ sở đó, đề ra các biện pháp sử dụng tối
Trang 30đa các TSCĐ hiện có, giải phóng nhanh các TSCĐ không cần dùng và chờ thanh
lý để thu hồi vốn
Việc đánh giá lựa chọn đầu tư TSCĐ là một trong những bước đầu tiên của quản trị vốn cố định Về mặt tài chính, quyết định đầu tư TSCĐ đòi hỏi một lượng vốn lớn để thực hiện đầu tư Vì thế hiệu quả kinh doanh trong tương lai phụ thuộc rất lớn và quyết định đầu tư Chính vì thế các nhà quản trị cần cân nhắc kĩ trước khi ra quyết định đầu tư, xem xét nhiều vấn đề, yếu tố khác nhau
Một số yếu tố ảnh hưởng tới quyết định đầu tư tài sản cố định:
+ Thị trường và sự cạnh tranh: trong sản xuất hàng hóa, thị trường tiêu thụ là
một căn cứ hết sức quan trọng để quyết định đầu tư Vấn đề đặt ra cho doanh nghiệp là phải sản xuất những hàng hóa mà thị trường cần, tức là căn cứ vào nhu cầu thị trường hiện tại Khi xác định được nhu cầu thị trưởng, sản phẩm kinh doanh, doanh nghiệp sẽ lựa chọn được mức đầu tư cần thiết vào các tài sản cố định phục vụ sản xuất kinh doanh
+ Sự tiến bộ của khoa học công nghệ: sự tiến bộ của khoa học công nghệ có thể
là cơ hội cũng có thể nguy cơ đe dọa tới đầu tư của doanh nghiệp Trong thời đại công nghệ, máy móc thiết bị rất dễ bị lỗi thời, trong khi đó TSCĐ lại là loại tài sản có thời gian sử dụng dài Doanh nghiệp cần tiếp cận kịp thời với tiến bộ khoa học kĩ thuật và công nghệ để đầu tư đổi mới trang thiết bị, đổi mới sản phẩm, bắt kịp nhu cầu của thị trường
+ Mức độ rủi ro của đầu tư: mỗi quyết định đầu tư đều gắn liền với sự rủi ro
nhất định do những biến động xảy ra trong tương lai Do vậy, cần đánh giá, định
Trang 31lượng mức độ rủi ro và tỷ suất sinh lời của khoản đầu tư, xem xét tỷ suất sinh lời
có tương xứng với mức độ rủi ro hay không để ra quyết định đầu tư
+ Khả năng tài chính của doanh nghiệp: để đi đến đầu tư, doanh nghiệp không
thể không tính đến khả năng tài chính để thực hiện đầu tư Mỗi doanh nghiệp chỉ
có một nguồn tài chính hữu hạn, doanh nghiệp không thể đầu tư vượt mức giới hạn của mình Đây là yếu tố nội tại chi phối đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp
*Lựa chọn phương pháp khấu hao TSCĐ
Khấu hao TSCĐ là việc phân bổ một cách có hệ thống giá trị phải thu hồi của TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ
Mục đích của khấu hao là nhằm bù đắp các hao mòn TSCĐ và thu hồi số vốn cố định đã đầu tư ban đầu để tái sản xuất giản đơn hoặc mở rộng TSCĐ Về nguyên tắc, việc khấu hao phải bảo đảm phù hợp với mức độ hao mòn của TSCĐ
và thu hồi đầy đủ số vốn cố định đầu tư ban đầu vào TSCĐ Điều này không chỉ đảm bảo tính chính xác của chi phí khấu hao trong giá thành sản phẩm, đánh giá đúng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mà còn góp phần bảo toàn được vốn cố định, đáp ứng yêu cầu thay thế, đổi mới hoặc nâng cấp TSCĐ của doanh nghiệp
Khấu hao TSCĐ trong các doanh nghiệp có thể thực hiện theo nhiều phương pháp khác nhau, mỗi phương pháp có ưu, nhược điểm riêng và điều kiện
áp dụng khác nhau Việc lựa chọn đúng đắn phương pháp khấu hao TSCĐ là một nội dung chủ yếu, quan trọng trong quản trị vốn cố định của doanh nghiệp Thông thường có các biện pháp khấu hao chủ yếu sau:
Trang 32Phương pháp khấu hao theo đường thẳng: mức khấu hao và tỷ lệ khấu hao
hàng năm được tính bình quân trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ
Phương pháp khấu hao nhanh:
Thực chất của phương pháp khấu hao nhanh là đẩy nhanh việc thu hồi vốn trong những năm đầu sử dụng TSCĐ Khấu hao nhanh có thể thực hiện theo 2 phương pháp:
+Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần: mức khấu hao hằng năm được
xác định bằng cách lấy giá trị còn lại của TSCĐ phải tính khấu hao nhân với tỷ lệ khấu hao nhanh
+Phương pháp khấu hao theo tổng số thứ tự năm sử dụng: mức khấu hao hằng
năm được xác định bằng nguyên giá TSCĐ cần tính khấu hao nhân với tỷ lệ khấu hao của từng năm
Phương pháp khấu hao theo sản lượng: mức khấu hao hàng năm được xác
định bằng cách lấy sản lượng dự kiến sản xuất hằng năm nhân với mức trích khấu hao tính cho một đơn vị sản phẩm hoặc khối lượng công việc hoàn thành
*Phân cấp quản lý VCĐ
Tại công ty Nhà nước:
-Thẩm quyền đầu tư tài sản cố định:
a Đối với công ty có Hội đồng quản trị: Hội đồng quản trị quyết định các dự án đầu tư có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng 50% tổng giá trị tài sản ghi trên báo cáo tài chính của công ty được công bố tại quý gần nhất, nhưng không quá mức cao nhất của dự án nhóm B theo quy định của pháp luật về quản lý dự án đầu tư, xây
Trang 33dựng Mức phân cấp cho Hội đồng quản trị phải được ghi trong Điều lệ của công ty;
Hội đồng quản trị quyết định phân cấp cho Tổng giám đốc hoặc Giám đốc công
ty quyết định các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng quản trị
Các dự án lớn hơn mức phân cấp cho Hội đồng quản trị thì đại diện chủ sở hữu công ty quyết định hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết định
b Đối với công ty không có Hội đồng quản trị: Giám đốc công ty quyết định các
dự án đầu tư có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng 30% tổng giá trị tài sản ghi trên báo cáo tài chính của công ty được công bố tại quý gần nhất, nhưng không quá mức cao nhất của dự án nhóm B theo quy định của pháp luật về quản lý dự án đầu tư, xây dựng Mức phân cấp này được ghi trong Điều lệ công ty
Các dự án đầu tư trên mức quyết định của Giám đốc công ty do đại diện chủ sở hữu công ty quyết định hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết định
-Thẩm quyền thanh lý, nhượng bán TSCĐ:
a Đối với công ty có Hội đồng quản trị: Hội đồng quản trị quyết định các phương án thanh lý, nhượng bán tài sản cố định có giá trị còn lại nhỏ hơn hoặc bằng 50% tổng giá trị tài sản trên báo cáo tài chính của công ty được công bố tại quý gần nhất; mức cụ thể được ghi trong Điều lệ công ty Hội đồng quản trị được quyết định ủy quyền hoặc phân cấp cho Tổng giám đốc, Giám đốc công ty quyết định nhượng bán tài sản thuộc thẩm quyền của Hội đồng quản trị;
Các phương án thanh lý, nhượng bán tài sản cố định có giá trị lớn hơn mức phân cấp cho Hội đồng quản trị, thì đại diện chủ sở hữu công ty quyết định
Trang 34b Đối với công ty không có Hội đồng quản trị: Giám đốc công ty quyết định các phương án thanh lý, nhượng bán tài sản cố định có giá trị còn lại nhỏ hơn hoặc bằng 30% tổng giá trị tài sản trên báo cáo tài chính của công ty được công bố tại quý gần nhất Mức cụ thể được ghi trong Điều lệ công ty;
Các phương án lớn hơn mức phân cấp cho Giám đốc công ty thì đại diện chủ sở hữu công ty quyết định
c Đối với công ty nhà nước được thiết kế để thực hiện thường xuyên, ổn định sản phẩm, dịch vụ công ích, khi nhượng bán tài sản trực tiếp phục vụ nhiệm vụ công ích phải được sự đồng ý của đại diện chủ sở hữu
Tại Công ty cổ phần: Đại hội đồng Cổ đồng có quyền quyết định đầu tư hoặc
bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ khác
Tại công ty tư nhân: chủ doanh nghiệp có toàn quyền quyết định đối với tất
cả hoạt động kinh doanh, tài chính của doanh nghiệp, trong đó bao gồm quyết định đầu tư, thanh lý, nhượng bán TSCĐ
*Các chỉ tiêu đánh giá tình hình quản trị VCĐ
Các chỉ tiêu tổng hợp
* Hiệu suất sử dụng vốn cố định: Phản ánh một đồng vốn cố định tạo ra
bao nhiêu đồng doanh thu thuần trong kỳ
Hiệu suất sử dụng = Doanh thu thuần trong kỳ
Trang 35vốn cố định VCĐ bình quân trong kỳ
* Hàm lượng vốn cố định: là đại lượng nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu suất
sử dụng vốn cố định, phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu thuần cần bao nhiêu đồng vốn cố định
Hàm lượng vốn
Vốn cố định bình quân trong kỳ Doanh thu thuần trong kỳ
*Hệ số hao mòn tài sản cố định: phản ánh mức độ hao mòn của tài sản cố
định trong DN so với thời điểm đầu tư ban đầu, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức độ hao mòn càng cao và ngược lại
Hệ số hao mòn
Số tiền khấu hao lũy kế
NG TSCĐ ở thời điểm đánh giá
*Hiệu suất sử dụng TSCĐ: phản ánh một đồng tài sản cố định trong kỳ
tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần
Hiệu suất sử dụng = Doanh thu thuần
Trang 36TSCĐ Nguyên giá TSCĐ bình quân
trong kỳ
* Hệ số trang bị TSCĐ cho công nhân sản xuất trực tiếp: phản ánh mức
độ trang bị tài sản cố định cho một công nhân sản xuất trực tiếp
Hệ số trang bị TSCĐ cho
NG TSCĐ trực tiếp SX bình quân trong kỳ
Số lượng công nhân sản xuất trực tiếp
* Tỷ suất đầu tư vào TSCĐ: phản ánh mức độ đầu tư vào TSCĐ trong
tổng giá trị tài sản của DN Nói cách khác: trong một đồng giá trị tài sản của DN
có bao nhiêu đồng được đầu tư vào TSCĐ
Tỷ suất đầu tư vào
Giá trị còn lại của TSCĐ Tổng tài sản của DN
* Kết cấu TSCĐ của DN: phản ánh tỷ lệ giữa giá trị từng nhóm, loại
TSCĐ trong tổng giá trị TSCĐ của DN ở thời điểm đánh giá Chỉ tiêu này giúp
DN đánh giá được mức độ hợp lý trong cơ cấu TSCĐ được trang bị ở DN
1.2.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu suất và hiệu quả quản trị VKD
Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp kinh doanh là thu được lợi nhuận cao
Để tìm ra những biện pháp để tăng cường quản trị vốn, doanh nghiệp trước tiên phải đánh giá được tình hình sử dụng VKD của mình thông qua phân tích các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VKD của doanh nghiệp
Trang 37 Vòng quay toàn bộ vốn trong kỳ: phản ánh vốn của doanh nghiệp
trong một kỳ quay được bao nhiêu vòng Qua chỉ tiêu này, ta có thể đánh giá được khả năng sử dụng tài sản của doanh thu, thể hiện qua doanh thu thuần được sinh ra từ tài sản mà doanh thu đã đầu tư
Vòng quay toàn bộ
Doanh thu thuần trong kỳVốn kinh doanh bình quân trong kỳ
Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên vốn kinh doanh (Tỷ suất
sinh lời kinh tế của tài sản):phản ánhkhả năng sinh lời của một đồng vốn kinh
doanh, không tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp và nguồn gốc của vốn kinh doanh
Tỷ suất sinh lời kinh tế
của tài sản (BEP) =
Lợi nhuân trước lãi vay và thuếVKD bình quân sử dụng trong kỳ
Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn kinh doanh:phản ánh mỗi đồng
vốn kinh doanh bình quân sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế
Tỷ suất lợi nhuận trước
thuế trên VKD =
Lợi nhuân trước thuếVKD bình quân sử dụng trong kỳ
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh: phản ánh mỗi đồng
vốn kinh doanh bình quân sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận sau
thuế trên VKD (ROA) =
Lợi nhuân sau thuếVKD bình quân sử dụng trong kỳ
Trang 38 Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu:phản ánh một đồng vốn chủ sở
hữu bình quân sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế cho chủ sở hữu Trị số chỉ tiêu này càng cao càng chứng tỏ khả năng sinh lời của vốn cao và ngược lại
Tỷ suất lợi nhuận vốn
chủ sở hữu (ROE) =
Lợi nhuân sau thuếVốn CSH bình quân sử dụng
trong kỳ
Thu nhập một cổ phần thường (EPS):đây là chỉ tiêu rất quan trọng,
nó phản ánh mỗi cổ phần thường (hay cổ phần phổ thông) trong năm thu được bao nhiêu lợi nhuận sau thuế
Thu nhập một cổ
phần thường (EPS) =
Lợi nhuân sau thuế - Cổ tức trả cho
cổ đông ưu đãiTổng số cổ phần thường đang lưu
hành
Cổ tức một cổ phần thường (DPS):chỉ tiêu này phản ánh mỗi cổ phần
thường nhận được bao nhiêu đồng cổ tức trong năm
Cổ tức một cổ phần
thường (DPS) =
Lợi nhuân sau thuế dành trả cổ tức
cho cổ đông thường
Số cổ phần thường đang lưu hành
Trang 391.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị vốn kinh doanh của DN
Trong quá sản xuất kinh doanh, vốn kinh doanh chịu tác động của nhiều nhân tố Do vậy, để đạt được kết quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung, trong sử dụng vốn nói riêng, các doanh nghiệp cần phải nắm bắt được các nhân tố ảnh hưởng, mức độ và xu hướng tác động đến hiệu quả sử dụng vốn
và kết quả kinh doanh
Nhóm nhân tố khách quan.
-Do cơ chế quản lý và các chính sách kinh tế của nhà nước: Nhà nước tạo
ra môi trường và hành lang pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh và định hướng cho các hoạt động thông qua các chính sách
vĩ mô Do vậy chỉ cần một sự thay đổi trong chính sách kinh tế của nhà nước như chính sách giá cả, phương pháp đánh giá tài sản, phương pháp khấu hao TSCĐ…cũng có thể gây ra những ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của DN
-Do tác động của nền kinh tế: yếu tố lạm phát làm cho đồng tiền bị mất
giá, sức mua của đồng tiền bị giảm sút dẫn đến sự tăng giá của các loại vật tư hàng hoá…Vì vậy vốn của doanh nghiệp rất có thể bị mất dần do tốc độ trượt giá của đồng tiền nếu doanh nghiệp không có biện pháp quản lý và sử dụng hiệu quả
- Sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ làm cho tài sản cố
định bị lỗi thời và lạc hậu nhanh chóng Nếu doanh nghiệp không nhạy bén trong kinh doanh, thường xuyên đổi mới máy móc trang thiết bị để làm ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường thì doanh nghiệp sẽ mất đi khả năng cạnh tranh, hoạt động kinh doanh rơi vào tình trạng thua lỗ Sự cạnh tranh khốc liệt của các doanh nghiệp trên thị trường đã buộc các doanh nghiệp phải nhạy cảm
Trang 40trong kinh doanh, không ngừng tìm tòi để có những biện pháp quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn kinh doanh của mình.
- Do những rủi ro phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh mà doanh
nghiệp không lường trước được như thiên tai, hỏa hoạn, bão lụt hoặc những rủi
ro kinh doanh mà làm thiệt hại đến vốn của doanh nghiệp
Nhóm nhân tố chủ quan.
Ngoài những nhân tố khách quan trên, còn có nhiều nhân tố chủ quan do chính bản thân doanh nghiệp tạo nên làm ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn
Đó là:
- Trình độ quản lý và tay nghề của người lao động: Nếu trình độ quản lý
không tốt sẽ gây ra tình trạng thất thoát vốn, nếu tay nghề người lao động không cao sẽ làm giảm năng suất lao động, từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng vốn
- Sự lựa chọn phương án đầu tư: Nếu DN lựa chọn phương án sản xuất
tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, mẫu mã đẹp, phù hợp thị hiếu người tiêu dùng sẽ mang lại hiệu quả kinh tế lớn Ngược lại, sẽ là sự thất bại của phương án kinh doanh và làm giảm hiệu quả sử dụng vốn
- Sự hợp lý của cơ cấu tài sản và nguồn vốn kinh doanh trong DN: Việc
đầu tư vào các tài sản không sử dụng hoặc chưa sử dụng quá lớn hoặc vay nợ quá nhiều, sử dụng không triệt để nguồn vốn bên trong thì không những không phát huy tác dụng của vốn mà còn bị hao hụt, mất mát, tạo ra rủi ro cho DN
- Vấn đề xác định nhu cầu VKD: việc xác định nhu cầu vốn không chính
xác sẽ dẫn đến việc thừa hoặc thiếu vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh, làm hiệu quả sử dụng VKD suy giảm