1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp phát triển hoạt động phân tích cơ bản tại CTCP chứng khoán MB

90 482 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 693,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 1: Những vấn đề chung về phân tích cơ bản và phát triển hoạt động phân tích cơ bản của Công ty chứng khoán. Chương 2: Thực trạng ứng dụng phân tích cơ bản trong định giá cổ phiếu tại CTCP Chứng khoán MB Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động phân tích cơ bản tại CTCP Chứng khoán MB

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của CTCP Chứng khoán Ngân hàngMB

Tác giả luận văn tốt nghiệp

(Ký và ghi rõ họ tên)

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT 2

DANH MỤC CÁC BẢNG 4

CHƯƠNG 1 8

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÂN TÍCH CƠ BẢN VÀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH CƠ BẢN CỦA 8

1.1.1 Chức năng của công ty chứng khoán 11

1.1.2 Khái niệm và vai trò của phân tích cơ bản 16

1.1.3 Quy trình phân tích cơ bản 17

1.1.4 Nội dung phân tích cơ bản 18

2.1.3 Chức năng của các phòng ban trong bộ máy tổ chức 45

2.2.1.1 Điểm nhấn đầu tư 57

2.2.1.2 Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh 58

DANH MỤC VIẾT TẮT

BCTC : Báo cáo tài chính

BoD : Hội đồng quản trị

BoM : Ban giám đốc

CAPM : Mô hình định giá tài sản vốn

CTCP : Công ty cổ phần

CTCK : Công ty chứng khoán

DNY : Công ty cổ phần Thép Dina - Ý

DTT : Doanh thu thuần

Trang 3

HPG : Công ty cổ phần Tập đoàn Hòa Phát

HSG : Công ty cổ phần Tập đoàn Hoa Sen

KDCK : Kinh doanh chứng khoán

LNST : Lợi nhuận sau thuế

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Doanh thu các hoạt động của MBS giai đoạn 2010 – 2013

Bảng 2.2 Số lượng tài khoản tại MBS từ 2010 – 2013

Bảng 2.3 Kết quả kinh doanh của MBS giai đoạn 2010 – 2013

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

TTCK Việt Nam với lịch sử ra đời và phát triển 14 năm có thể nói là một thị trường không còn non trẻ Trong thời gian qua TTCK Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ với tốc độ cao (đặc biệt là trong giai đoạn 2006 – 2007), và ĐTCK đã thực sự trở thành một trong những kênh đầu tư quan trọng và hấp dẫn đối với các nhà đầu tư Ngày nay, thuật ngữ chứng khoán và TTCK đã trở nên gần gũi đối với nhiều người dân Việt Nam, từ nhân viên văn phòng cho đến những người buôn bán nhỏ Điều này là một thành quả rất đáng tự hào, là một điểm nhấn tốt đẹp đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế chung của đất nước Tuy nhiên, hoạt động ĐTCK ở Việt Nam vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế cần phải khắc phục, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao, và bị chi phối bởi yếu tố tâm lý đám đông, hay nói một cách khác việc vận dụng những kết luận từ hoạt động phân tích chứng khoán nói chung, PTCB nói riêng trong ĐTCK ở Việt Nam chưa được coi trọng, chính vì vậy công tác PTCB chứng khoán ở Việt Nam còn nhiều hạn chế, do đó nó

có tác động ngược trở lại làm cho những kết luận mà PTCB đưa ra chưa thực sự khách quan và khoa học nên chưa hỗ trợ cho hoạt động ĐTCK hiệu quả hơn.Xuất phát từ thực

tế đó, tác giả cho rằng việc hoàn thiện phương pháp PTCB, làm cho PTCB là một công

cụ nhằm giúp cho hoạt động ĐTCK trở nên hiệu quả hơn là việc làm cần thiết, qua đó ĐTCK sẽ ngày càng trở thành một kênh đầu tư hấp dẫn, TTCK Việt Nam sẽ ngày càng phát triển

Nên em đã chọn đề tài “Giải pháp phát triển hoạt động phân tích cơ bản tại CTCP

Chứng khoán MB” để nghiên cứu,đánh giá thực trạng và đề ra một số giải pháp nhằm

hoàn thiện hơn về phần tích cơ bản trong công ty chứng khoán.

2 Đối tượng và mục đích nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động phân tích cơ bản

Mục đích nghiên cứu:

-Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và sự cần thiết phải hoàn thiện hoạt động phân tích

Trang 6

Nghiên cứu hoạt động phân tích cơ bản tại CTCP Chứng khoán MB

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống kê kinh tế, phương pháp điều tra chọn mẫu, phương pháp so sánh và một số phương pháp khác: Đọc tài liệu lưu trữ, phỏng vấn chuyên gia, nhà quản lý

5 Kết cấu của đề tài

Luận văn tốt nghiệp ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về phân tích cơ bản và phát triển hoạt

động phân tích cơ bản của Công ty chứng khoán.

Chương 2: Thực trạng ứng dụng phân tích cơ bản trong định giá cổ phiếu tại CTCP Chứng khoán MB

Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động phân tích cơ bản tại CTCP Chứng khoán MB

Do thời gian thực hiện cũng như kiến thức còn nhiều hạn chế, luận văn của em

Trang 7

của thầy cô.

Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của giảng viên hướng dẫn _ Hoàng Thị Bích Hà đã tận tình giúp đỡ em trong thời gian thực hiện luận văn Ngoài ra em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các anh chị trong Phòng Môi giới _ chi nhánh Hà Nội nói riêng

và toàn thể cán bộ, nhân viên của CTCP Chứng khoán MB nói chung đã chỉ bảo em trong quá trình thực tập tại quý Công ty.

Trang 8

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÂN TÍCH CƠ BẢN VÀ PHÁT TRIỂN HOẠT

ĐỘNG PHÂN TÍCH CƠ BẢN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN

1.1 Tổng quan về công ty chứng khoán

1.1.1 Khái niệm và phân loại công ty chứng khoán

1.1.1.1 Khái niệm công ty chứng khoán

Để hình thành và phát triển TTCK có hiệu quả, một yếu tố không thể thiếu được là các chủ thể tham gia kinh doanh trên TTCK Mục tiêu của việc hình thành TTCK là thu hút vốn đầu tư dài hạn cho việc phát triển kinh tế và tạo ra tính thanh khoản cho các loại chứng khoán Do vậy để thúc đẩy TTCK hoạt động có trật tự, công bằng và hiệu quả cần phải có sự ra đời và hoạt động của các CTCK Lịch sử hình thành và phát triển của TTCK cho thấy thời tiền sử của TTCK, các nhà môi giới hoạt động cá nhân độc lập với nhau Sau này, cùng với sự phát triển của TTCK, chức năng và quy mô hoạt động giao dịch của các nhà môi giới tăng lên đòi hỏi sự ra đời của CTCK là tập hợp có tổ chức của các nhà môi giới riêng lẻ

Chúng ta có thể khái niệm CTCK như sau: CTCK là một định chế tài chính trung gian đặc biệt trên TTCK, thực hiện các hoạt động kinh doanh chứng khoán (KDCK) như ngành nghề chính

Theo Quyết định 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/04/2007 của Bộ Tài chính thì CTCK là

tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động KDCK, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán

CTCK là tổ chức tài chính trung gian hoạt động trên TTCK - một thị trường có độ nhạy cảm cao và có ảnh hưởng tới nền kinh tế Do đó, CTCK thuộc loại hình kinh doanh

có điều kiện do pháp luật quy định và khi triển khai hoạt động CTCK phải tuân theo

Trang 9

1.1.1.2 Phân loại CTCK

* Theo mô hình kinh doanh

+ Mô hình CTCK đa năng

CTCK được tổ chức dưới hình thức một tổ hợp dịch vụ tài chính tổng hợp bao gồm KDCK, kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ tài chính Theo đó, các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là các chủ thể KDCK, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ Mô hình này được thể hiện dưới 2 hình thức:

- Loại đa năng một phần: Theo mô hình này các ngân hàng muốn KDCK,

kinh doanh bảo hiểm phải thành lập công ty con hoạt động độc lập và hoạt động tách rời với hoạt động kinh doanh tiền tệ Mô hình này còn được gọi là mô hình kiểu Anh

- Loại đa năng hoàn toàn: Các ngân hàng được phép trực tiếp KDCK, kinh

doanh bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ cũng như các dịch vụ tài chính khác Mô hình này còn gọi là mô hình ngân hàng kiểu Đức

Ưu điểm của mô hình này là các ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro trong hoạt động kinh doanh bằng việc đa dạng hoá đầu tư

và có khả năng chịu đựng của ngân hàng trước những biến động trên TTCK Mặt khác, các ngân hàng sẽ tận dụng được thế mạnh chuyên môn và vốn để KDCK

Tuy nhiên, mô hình này cũng có những hạn chế như: không phát triển được thị trường

cổ phiếu vì các ngân hàng thường có xu hướng bảo thủ và thích hoạt động cho vay hơn là thực hiện các nghiệp vụ của TTCK Đồng thời, các ngân hàng dễ gây nên tình trạng lũng đoạn thị trường và các biến động trên TTCK nếu có, sẽ ảnh hưởng mạnh tới hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng do không tách bạch giữa hai loại hình kinh doanh này

+ Mô hình CTCK chuyên doanh

Theo mô hình này, hoạt động KDCK sẽ do các công ty độc lập và chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm trách, các ngân hàng không được tham gia KDCK

Trang 10

Ưu điểm của mô hình này là hạn chế được rủi ro cho hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho các CTCK đi vào chuyên môn hoá sâu trong lĩnh vực chứng khoán để thúc đẩy thị trường phát triển

Tuy nhiên, do xu thế hình thành các tập đoàn tài chính khổng lồ nên ngày nay một

số thị trường cũng cho phép kinh doanh trên nhiều lĩnh vực tiền tệ, chứng khoán, bảo hiểm nhưng được tổ chức thành các công ty mẹ, công ty con và có sự quản lý, giám sát chặt chẽ và hoạt động tương đối độc lập với nhau

* Theo tính chất sở hữu

Hiện nay có 3 loại hình tổ chức cơ bản của CTCK, đó là Công ty hợp danh, Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) và Công ty cổ phần (CTCP)

+ Công ty hợp danh

- Là loại hình kinh doanh có từ hai chủ sở hữu trở lên

- Thành viên của công ty bao gồm: thành viên góp vốn và thành viên hợp danh Các thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty Các thành viên góp vốn không tham gia điều hành công ty, họ phải chịu TNHH trong phần vốn góp của mình với khoản nợ của công ty

- Công ty hợp danh thông thường không được phép phát hành bất cứ một loại chứng khoán nào

+ Công ty TNHH

- Công ty TNHH không được phép phát hành cổ phiếu

- Thành viên của công ty (có thể là các tổ chức và các cá nhân) chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp

+ Công ty cổ phần

- Là pháp nhân độc lập với các chủ sở hữu công ty là các cổ đông

Trang 11

- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về số nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty và có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần cho người khác.

- Có quyền phát hành chứng khoán (cổ phiếu và trái phiếu) ra công chúng theo quy định pháp luật về chứng khoán hiện hành

Hình thức pháp lý của các CTCK rất khác nhau tùy theo quy định pháp luật của từng quốc gia Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam chỉ thừa nhận hai hình thức CTCK là CTCP và Công ty TNHH vì những lý do sau:

- Để bảo vệ lợi ích của khách hàng, tránh tình trạng thao túng doanh nghiệp vì lợi ích của một số người

- Đảm bảo chế độ thông tin, báo cáo chặt chẽ và đảm bảo việc quản lý công ty hiệu quả

- Đảm bảo sự tồn tại ổn định của công ty khi có một hay một số thành viên nào đó rút khỏi công ty

1.1.1 Chức năng của công ty chứng khoán

CTCK với chức năng đặc biệt quan trọng: vừa là NĐT tham gia trực tiếp vào hoạt động của thị trường, vừa là cầu nối giữa nhà phát hành và các NĐT khác, cung cấp các dịch vụ cần thiết phục vụ cho hoạt động của TTCK Nhờ có các CTCK mà chứng khoán được lưu thông từ nhà phát hành tới NĐT trở nên thuận lợi hơn, qua đó làm tăng tính thanh khoản cho các chứng khoán và nguồn vốn được chuyển từ nơi nhàn rỗi sang những nơi sử dụng vốn có hiệu quả hơn Ngoài ra, CTCK còn có một số chức năng khác đó chính là cung cấp cơ chế giá cả cho giao dịch đồng thời góp phần điều tiết và bình ổn thị trường Do vậy có thể khẳng định, dù TTCK mang hình thức là Sở Giao dịch Chứng khoán (SGDCK) hay thị trường OTC thì sự góp mặt của CTCK là không thể thiếu, đóng góp phần to lớn cho

sự duy trì và thúc đẩy sự phát triển của thị trường

- Chức năng huy động vốn

Trang 12

CTCK là một định chế tài chính trung gian tham gia hầu hết quá trình luân chuyển chứng khoán: từ khâu phát hành trên thị trường sơ cấp tới khâu giao dịch mua bán trên thị trường thứ cấp Hay nói cách khác, CTCK như “cầu nối giữa cung - cầu chứng khoán”, là kênh dẫn vốn từ một hay một số bộ phận của nền kinh tế có vốn dư thừa đến các bộ phận khác của nền kinh tế có nhu cầu về vốn Để thực hiện chức năng này, CTCK thường tiến hành các hoạt động bảo lãnh phát hành và môi giới chứng khoán.

- Chức năng hình thành giá cả chứng khoán

Trên thị trường sơ cấp, khi thực hiện hoạt động bảo lãnh phát hành cho các tổ chức phát hành, CTCK thông qua việc xác định và tư vấn cho tổ chức phát hành về mức giá hợp

lý đối với chứng khoán mà thực hiện vai trò hình thành giá cả của mình

Trên thị trường thứ cấp, dù thị trường đấu giá hay khớp lệnh, CTCK luôn có vai trò giúp các NĐT đánh giá đúng thực tế và xác định giá trị các khoản đầu tư cuả mình

Ngoài ra, CTCK còn can thiệp trên thị trường, góp phần điều tiết giá cả chứng khoán Theo quy định của các nước, CTCK bắt buộc phải dành ra một tỷ lệ nhất định giao dịch của mình để mua chứng khoán vào khi giá chứng khoán trên thị trường đang giảm và bán ra khi giá chứng khoán cao

- Chức năng thực thi tính hoán tệ của chứng khoán

Các NĐT luôn muốn có được khả năng chuyển tiền mặt thành chứng khoán và ngược lại trong môi trường đầu tư ổn định CTCK thực hiện chức năng này giúp NĐT giảm thiểu thiệt hại khi tiến hành đầu tư Trong hầu hết các nghiệp vụ đầu tư ở SGDCK và thị trường OTC, NĐT có thể chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại hàng ngày mà không phải chịu thiệt hại đáng kể đối với giá trị khoản đầu tư của mình

- Thực hiện tư vấn đầu tư

Các CTCK không chỉ thực hiện mệnh lệnh của khách hàng mà còn tham gia các dịch vụ tư vấn khác qua việc nghiên cứu thị trường, từ đó cung cấp các thông tin cho các

công ty và các cá nhân đầu tư Dịch vụ tư vấn bao gồm: Thu thập thông tin phục vụ cho

Trang 13

như triển vọng ngắn và dài hạn của các khoản đầu tư đó trong tương lai; Cung cấp thông

tin về chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ có liên quan đến các khoản đầu tư mà khách hàng đang cân nhắc

1.1.2 Nguyên tắc hoạt động của công ty chứng khoán

Hoạt đông của CTCK trên TTCK ảnh hưởng nhiều đến lợi ích công chúng và rất dễ

bị lợi dụng nhằm mục đích kiếm lợi riêng, chính vì thế luật pháp các nước đều quy định rất chặt chẽ đối với các hoạt động của CTCK Có nhiều nguyên tắc được đặt ra nhưng nhìn chung các CTCK trên thế giới hoạt động theo 2 nhóm nguyên tắc cơ bản đó là nhóm

nguyên tắc mang tính đạo đức và nhóm nguyên tắc mang tính tài chính

1.1.2.1 Nhóm nguyên tắc mang tính đạo đức

- Kinh doanh có kỹ năng, tận tuỵ, có tinh thần trách nhiệm, bảo vệ và vì quyền lợi, lợi ích hợp pháp của khách hàng, ưu tiên bảo vệ lợi ích của khách hàng trước lợi ích của công ty

- CTCK có nghĩa vụ bảo mật cho khách hàng, không được tiết lộ các thông tin về tài khoản của khách hàng khi chưa được khách hàng đồng ý bằng văn bản trừ khi có yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước

- CTCK khi thực hiện nghiệp vụ tư vấn phải cung cấp thông tin đầy đủ cho khách hàng và giải thích rõ ràng về các rủi ro mà khách hàng có thể gặp phải, đồng thời họ không được khẳng định về lợi nhuận các khoản đầu tư mà họ tư vấn

- CTCK không được phép nhận bất cứ một khoản thù lao nào khác ngoài các khoản thù lao thông thường cho dịch vụ tư vấn của mình

- Ở nhiều quốc gia, các CTCK phải đóng góp tiền vào quỹ bảo vệ NĐT chứng khoán để bảo vệ lợi ích khách hàng trong trường hợp CTCK mất khả năng thanh toán

- Nghiêm cấm thực hiện các giao dịch nội gián, các CTCK không được phép sử dụng các thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán cho chính mình gây thiệt hại đến lợi ích của khách hàng

Trang 14

- CTCK phải giữ nguyên tắc giao dịch công bằng, không được sử dụng bất kỳ hoạt động lừa đảo phi pháp nào, có trách nhiệm thông báo cho khách hàng biết đầy đủ các thông tin khi có những trường hợp có thể xẩy ra xung đột lợi ích.

- CTCK không được dùng tiền của khách hàng làm nguồn tài chính để kinh doanh, ngoại trừ trường hợp số tiền đó dùng phục vụ cho giao dịch khách hàng

- CTCK phải quản lý tách biệt tài sản của khách hàng với tài sản của mình và tài sản của khách hàng với nhau

1.1.2.2 Nhóm nguyên tắc tài chính

Đảm bảo các yêu cầu về vốn, cơ cấu vốn, quản lý vốn, hạn mức kinh doanh và các nguyên tắc hạch toán, báo cáo theo quy định của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) Đảm bảo nguồn tài chính trong cam kết KDCK với khách hàng

+ Vốn pháp định của CTCK thường được quy định cụ thể cho từng loại hình kinh doanh Một CTCK càng tham gia nhiều loại hình thì càng cần nhiều vốn

Nghị định 58/2012/NĐ-CP ngày 20/7/2012 quy định điều kiện về vốn pháp định đối với từng nghiệp vụ KDCK:

- Môi giới chứng khoán 25 tỷ đồng Việt Nam

- Tự doanh chứng khoán 100 tỷ đồng Việt Nam

- Tư vấn đầu tư chứng khoán 10 tỷ đồng Việt Nam

- Bảo lãnh phát hành chứng khoán 165 tỷ đồng Việt Nam

Trường hợp CTCK xin cấp giấy phép cho nhiều loại hình kinh doanh thì vốn pháp định là tổng số vốn pháp định của những loại hình kinh doanh mà CTCK được cấp phép + CTCK được thực hiện việc huy động vốn thông qua việc nhận góp vốn từ cổ đông (trừ trường hợp CTCP) hoặc huy động từ bên ngoài tùy theo quy mô và tính chất của nó Tuy nhiên việc huy động vốn và cơ cấu vốn của CTCK phải hợp lý và thường có một số đặc điểm sau:

Trang 15

- CTCK phụ thuộc nhiều vào các khoản vay ngắn hạn.

- Chứng khoán có thể mua bán trao đổi trên thị trường chiếm phần lớn trong tổng giá trị tài sản (khoảng 40-60%) và tổng giá trị cổ phiếu (khoảng 90%)

- Tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản ròng phải duy trì ở mức độ nhất định

Quyết định 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/4/2007 có quy định hạn mức vay của CTCK:

- Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu (VCSH) của CTCK không được vượt quá sáu (06) lần

- Nợ ngắn hạn tối đa bằng tài sản ngắn hạn (TSNH)

+ Quản lý vốn và hạn mức kinh doanh là một trong những yêu cầu bắt buộc của CTCK Đối với việc sử dụng vốn thường dựa trên những tiêu chí như: cơ cấu vốn (tỷ lệ

nợ so với VCSH), mức vốn khả dụng phải duy trì, trích lập quỹ bù đắp rủi ro, quỹ dự trữ

bổ sung vốn điều lệ,… Đối với việc quản lý hạn mức kinh doanh thường được sử dụng nhằm hạn chế rủi ro đối với CTCK cũng như đảm bảo hạn chế các xung đột lợi ích có thể xảy ra:

- Hạn chế mức mua sắm tài sản cố định (TSCĐ) theo một tỷ lệ phần trăm trên vốn điều lệ Hạn chế này nhằm đảm bảo khả năng thanh toán của CTCK

- Hạn mức đầu tư vào một số tài sản có rủi ro cao như các loại trái phiếu có định mức tín nhiệm thấp hay cổ phiếu của những công ty đang phát triển

- Hạn mức đầu tư vào mỗi loại chứng khoán Quy định này nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động KDCK, hạn chế rủi ro khi giá chứng khoán trên thị trường giảm xuống, gây thiệt hại cho CTCK

- Hạn mức bảo lãnh phát hành Vì hoạt động này có mức rủi ro tương đối cao nên việc hạn chế này nhằm giới hạn tổng mức bảo lãnh trong cùng thời điểm của CTCK.Quyết định 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/4/2007 có quy định về quản lý an toàn tài chính của CTCK như sau:

Trang 16

Vốn khả dụng

CTCK phải duy trì tỷ lệ vốn khả dụng trên tổng vốn nợ điều chỉnh tối thiểu bằng 5% Trong đó, vốn khả dụng được xác định = Tổng tài sản - Nợ phải trả + Các khoản cộng thêm - Các khoản tài sản giảm trừ

Đồng thời các CTCK không được:

- Sử dụng quá 50% vốn điều lệ để mua, đầu tư vào TSCĐ

- Đầu tư vào cổ phiếu hoặc phần vốn góp của công ty có sở hữu trên 50% vốn điều lệ của CTCK

- Cùng với người có liên quan đầu tư từ 5% trở lên vốn điều lệ của CTCK khác

- Đầu tư từ 20% trở lên tổng số cổ phiếu đang lưu hành của một tổ chức niêm yết

- Đầu tư từ 15% trở lên tổng số cổ phiếu đang lưu hành của một tổ chức không niêm yết

- Đầu tư hoặc góp vốn từ 15% trở lên tổng số vốn góp của một công ty TNHH

- Sử dụng quá 20% tổng tài sản để đầu tư, mua cổ phần hoặc tham gia góp vốn vào một tổ chức khác

1.2 Hoạt động phân tích cơ bản của công ty chứng khoán

1.1.2 Khái niệm và vai trò của phân tích cơ bản

1.2.1.1 Khái niệm phân tích cơ bản

Phân tích cơ bản thực chất là phân tích tình hình tài chính của các CTCP niêm yết trên TTCK, dựa vào các báo cáo tài chính (BCTC) của công ty như: Bảng cân đối kế toán, bảng báo cáo thu nhập, bảng lưu chuyển tiền tệ, bảng thuyết minh BCTC Từ đó, thiết lập các hệ số tài chính để thấy được những mặt mạnh và yếu trong hoạt động tài chính của công ty, qua đó cũng thấy được xu hướng và tiềm năng phát triển của công ty

1.2.1.2 Vai trò của phân tích cơ bản

Trang 17

Đối với NĐT cá nhân hoặc tổ chức thì phân tích cơ bản là những kỹ năng đầu tiên NĐT phải nắm được Những thông tin nó mang lại cho NĐT hết sức hữu ích trong việc nhận biết và đưa ra/ quyết định đầu tư của mình Giúp họ lựa chọn được các quyết định đầu tư chứng khoán có hiệu quả nhất, mang lại lợi nhuận tối đa với rủi ro tối thiểu Dựa vào các phân tích cơ bản NĐT có thể giải đáp những câu hỏi như: Khi nào thì nên đầu tư? Đầu tư vào loại chứng khoán nào? Mua giá bao nhiêu? Khi nào rút khỏi thị trường? Khác với các nhà đầu cơ chỉ qua tâm đến ước tính cung - cầu về cổ phiếu, dựa trên phân tích kỹ thuật kiếm lời Các NĐT quan tâm đến mức cổ tức, khả năng sinh lời của công ty,

từ đó đánh giá triển vọng tăng trưởng của công ty và ước tính mức giá cổ phiếu trong tương lai

Đối với CTCK, phân tích cơ bản thường được thực hiện một cách bài bản và chuyên nghiệp, do đó các kết quả mà họ đưa ra tương đối sát và tin cậy… Nhờ vậy, nâng cao uy tín trên TTCK, đồng thời hỗ trợ tốt cho hoạt động đầu tư của công ty

Đối với các nhà quản lý thị trường, các nhà quản trị doanh nghiệp đánh giá hoạt động của họ trên TTCK Từ đó, đưa ra kế hoạch sản xuất, kinh doanh phù hợp

1.1.3 Quy trình phân tích cơ bản

Bước 1: Xây dựng kết cấu của sản phẩm phân tích

Bước này rất quan trọng nhằm đảm bảo rằng việc phân tích sẽ đi đúng hướng, công việc này thường do cán bộ phân tích cấp cao đảm nhận và thông qua hội đồng chuyên môn phản biện để đạt được sự chấp thuận tránh những lãng phí về nguồn lực một cách không cần thiết trong trường hợp sản phẩm phân tích không đáp ứng được yêu cầu đặt ra

Bước 2: Thu thập các dữ liệu cần thiết cho các phân tích hay còn gọi là xây dựng

cơ sở dữ liệu

Đây thực chất là việc thu thập các thông tin số liệu đầu vào cần thiết để thực hiện phân tích, sau đó lưu trữ các thông tin này một cách hợp lý để có thể tìm thấy và sử dụng một cách dễ dàng Đối với phương pháp phân tích cơ bản, các dữ liệu cần thiết chính là các thông tin cho phép dự đoán các khoản lợi nhuận trong tương lai của doanh nghiệp Các thông tin này gồm 2 loại:

Trang 18

- Thông tin tài chính là các thông tin dạng số liệu như các BCTC doanh nghiệp, kế hoạch lợi nhuận và cổ tức các năm tới…

- Thông tin phi tài chính là các thông tin có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp như công ty ký được dự án mới, công ty đổi ban điều hành năng động hơn, công ty bị kiện cáo, các thông tin của đối thủ cạnh tranh …

Hàng ngày cập nhập tin cho từng loại cổ phiếu và đưa vào từng thư mục phù hợp đồng thời cập nhập bản dữ liệu tổng hợp cho cổ phiếu nếu cần thiết Đồng thời, luôn phải

bổ sung liên tục các cơ sở dữ liệu ngành, phân tích ngành để có một đánh giá tổng thể về triển vọng chung Tốt nhất là mỗi nhân viên phụ trách một số ngành và trở thành chuyên gia cổ phiếu trong ngành mình phụ trách dần dần chủ động hơn trong phân tích

Bước 3: Thực hiện phân tích theo kết cấu đã được chấp thuận

Tuỳ theo từng loại sản phẩm mà hoạch định thời gian phân tích và kết cấu cần tuân theo và nội dung cần đảm bảo

Bước 4: Kết luận, đánh giá, dự báo và đưa ra khuyến nghị đầu tư

Thẩm định lại sản phẩm phân tích nhằm đảm bảo sản phẩm đã đáp ứng yêu cầu chuyên môn cần thiết và không có sai sót gì trước khi cung cấp cho đối tượng sử dụng hoặc phát hành ra công chúng

1.1.4 Nội dung phân tích cơ bản

1.2.1.3 Phân tích nhân tố vĩ mô tác động đến TTCK

1.1.4.1.1 Môi trường chính sách và pháp luậtMôi trường chính trị - xã hội luôn có những tác động nhất định đến hoạt động của TTCK Thể hiện ở hệ thống các yếu tố về thể chế quản lí xã hội (như Hiến pháp, Luật pháp, các văn bản pháp quy của cơ quan hành chính), cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành

bộ máy quản lý hành chính nhà nước các cấp, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, tôn giáo, sắc tộc,… Thực tế đã chứng minh sự ổn định của môi trường chính trị - xã hội tác động rất lớn đến bản thân TTCK và hoạt động của các doanh nghiệp Thay đổi chính trị làm cho nhiều quy định và sự kiểm soát của Chính phủ trong một số ngành được thắt chặt và

Trang 19

của các doanh nghiệp và không có gì đảm bảo việc thắt chặt hay nới lỏng này sẽ tạo ra các tác động tích cực hay tiêu cực tới nền kinh tế.

Môi trường pháp luật là yếu tố quan trọng tác động tới TTCK Chính phủ tác động tới TTCK bằng Luật Do vậy môi trường pháp lý cần đuợc xem xét trên các góc độ như:

Hệ thống hành lang pháp lý của TTCK được xây dựng như thế nào, có đủ bảo vệ quyền lợi chính đáng của người đầu tư hay không? Những mặt khuyến khích, ưu đãi, hạn chế được quy định trong hệ thống pháp luật như thế nào? Sự ổn định của hệ thống luật pháp, khả năng sửa đổi và ảnh hưởng của chúng đến TTCK ra sao?

1.1.4.1.2 Các ảnh hưởng kinh tế vĩ môCác nhân tố kinh tế vĩ mô của nền kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp và TTCK do có liên quan trực tiếp đến mức rủi ro hệ thống trên thị trường Có nhiều chỉ tiêu phản ánh trạng thái kinh tế vĩ mô của của đất nước Khi phân tích người ta thường xem xét sự biến động của các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản như:

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): Là một chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản, phản ảnh

tổng giá trị sản phẩm hàng hoá dịch vụ cuối cùng của nền kinh tế Tốc độ tăng trưởng GDP nhanh thể hiện một nền kinh tế phát triển, tạo nhiều cơ hội các doanh nghiệp gia tăng đầu tư mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh (SXKD), tăng doanh thu bán hàng Ngược lại nếu tốc độ tăng trưởng thấp có nghĩa là nền kinh tế có những dấu hiệu trì trệ, các nguồn lực kinh tế như đất đai, tài nguyên, con nguời, tiềm năng khoa học kĩ thuật vẫn chưa được khai thác và sử dụng hiệu quả Điều này có thể khiến nhiều NĐT rút khỏi thị trường

Lạm phát: Là sự mất giá của đồng tiền, nó làm thay đổi hành vi tiêu dùng và tiết kiệm

của dân cư và doanh nghiệp Tỷ lệ lạm phát không hợp lý sẽ gây khó khăn cho hoạt động SXKD, ngăn cản sự tăng trưởng và đổi mới doanh nghiệp.

Lãi suất: Lãi suất trái phiếu Chính phủ được coi là lãi suất chuẩn, những thay đổi trong

lãi suất trái phiếu Chính phủ sẽ làm ảnh hưởng tới giá chứng khoán, khi lãi suất chuẩn tăng làm cho giá cả của các loại chứng khoán khác giảm xuống, ngược lại lãi suất chuẩn giảm lại làm cho giá của chứng khoán tăng lên.

Trang 20

Tỷ giá hối đoái: Là biểu hiện của giá cả đồng tiền nước này thông qua một đồng tiền nước khác Nếu NĐT nhận định đồng tiền nội tệ có thể bị phá giá trong thời gian tới thì họ sẽ chuyển hướng từ đầu tư vào chứng khoán sang đầu tư vào tài sản ngoại tệ để tránh thiệt hại do sự giảm giá của chứng khoán Vì chứng khoán chính là tiền, nếu tiền mất giá thì giá trị chứng khoán bị giảm Nếu được phép đầu tư ra thị trường nước ngoài thì có thể NĐT sẽ chuyển vốn ra đầu tư ở nước ngoài Như vậy, sự biến đổi của tỷ giá hối đoái cũng tác động đến những quyết định của NĐT trên thị trường.

Xu hướng phát triển của thị trường và nền kinh tế: Thông thường khi nền kinh tế

phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của TTCK và ngược lại khi nền kinh tế vĩ mô sa sút,

rõ nét nhất là trong khủng hoảng kinh tế, thì thị trường đi xuống Như vậy, nếu dự đoán được xu hướng phát triển của nền kinh tế, thì có thể dự đoán được xu thế phát triển chung của TTCK từ đó khuyến khích các NĐT tham gia thị trường Ngược lại, nếu thị trường và nền kinh tế đã bão hòa hoặc ở trạng thái san bằng thì xu hướng phát triển trong tương lai

có thể khó khăn hơn Điều này giải thích ở các thị trường mới nổi, tiềm năng phát triển thị trường và nền kinh tế còn lớn nên nó thu hút sự đầu tư mạnh mẽ của các NĐT quốc tế Ngược lại, ở các nước có nền kinh tế đã phát triển, sự gia tăng vốn đầu tư quốc tế là không đáng kể Sự lạc quan hay bi quan đối với nền kinh tế của người tiêu dùng và nhà sản xuất cũng là yếu tố quyết định đến sự phát triển của nền kinh tế

1.2.1.4 Phân tích ngành

Trong nền kinh tế, có rất nhiều ngành khác nhau như: dược phẩm, hóa chất, công nghệ thông tin, cơ khí, dịch vụ tài chính Trong quá trình phân tích cần xác định ngành nào có triển vọng phát triển để có quyết định đầu tư hợp lý Vì vậy, ngoài việc nghiên cứu chính bản thân ngành đó, còn phải nghiên cứu các vấn đến có ảnh hưởng lớn đến các ngành sản xuất như: chính sách xuất, nhập khẩu, hạn ngạch thuế quan, các quy định về thuế của Chính phủ đối với một ngành cụ thể nào đó

Trước khi phân tích từng loại chứng khoán riêng lẻ, bạn cần phải phân tích hoạt động toàn ngành trước những vấn đề:

Trang 21

- Tại một thời điểm nhất định nào đó, lợi suất thu nhập của các ngành sẽ khác nhau,

do đó nếu phân tích ngành thì NĐT sẽ chọn được những ngành có lợi suất cao để đầu tư

- Ngay trong một ngành thì lợi suất thu nhập cũng không ổn định Một ngành hoạt động tốt tại một thời điểm nào đó không có nghĩa nó sẽ hoạt động tốt trong tương lai Vì vậy phải luôn theo dõi động thái hoạt động ngành để tìm cơ hội đầu tư và rút vốn đúng lúc

- Vào cùng một thời điểm các ngành khác nhau sẽ có mức rủi ro khác nhau, do đó cần đánh giá mức độ rủi ro của từng ngành để xác định mức lợi suất đầu tư tương xứng cần phải có

- Rủi ro của mỗi ngành có sự biến động không nhiều theo thời gian Do vậy, phân tích mức rủi ro từng ngành trong quá khứ để dự đoán rủi ro trong tương lai

Quá trình phân tích ngành được thực hiện qua các nội dung: phân tích đặc điểm kinh tế - kỹ thuật và chu kỳ kinh doanh của ngành, phân tích môi trường cạnh tranh của ngành, xác định hệ số rủi ro của ngành, xác định hệ số rủi ro của ngành kinh doanh, mức doanh lợi kỳ vọng đạt được, các hệ số tài chính khác của ngành kinh doanh

1.1.4.1.3 Phân tích chu kỳ kinh doanh

Cũng như nền kinh tế, mỗi ngành kinh doanh cũng có chu kỳ kinh doanh nhất định Mặc dù giữa chu kỳ phát triển của nền kinh tế và của ngành có mối quan hệ mật thiết song không phải bao giờ cũng có mối quan hệ đồng điệu, cùng chiều với nhau

Các ngành kinh tế khác nhau sẽ có sự vận động khác nhau theo chu kỳ kinh tế Có thể chia ngành thành hai nhóm chính: nhóm ngành có chu kỳ vận động phù hợp với chu

kỳ kinh tế và nhóm ngành có chu kỳ vận động ngược chiều với chu kỳ kinh tế Nhóm ngành có chu kỳ phù hợp bao gồm: ngành ngân hàng tài chính, ngành kinh doanh bất động sản, ngành xây dựng, ngành hàng tiêu dùng đắt tiền, ngành chế tạo máy và những ngành có đòn bẩy tài chính cao Nhóm ngành có chu kỳ ngược với chu kỳ kinh tế bao gồm: ngành thực phẩm, đồ uống, ngành dược phẩm và ngành sản xuất hàng xuất khẩu Trong một thời kỳ suy thoái, có những ngành lại hoạt động tốt hơn các ngành khác như

Trang 22

ngành dược phẩm, thực phẩm, ngành đồ uống Mặc dù toàn bộ tiêu dùng có thể giảm sút, mọi người vẫn phải chi tiêu cho những hàng hóa thiết yếu Tương tự như vậy, nếu nền kinh tế nội địa kém, làm cho đồng nội tệ mất giá, những ngành với thành phần xuất khẩu với tỷ trọng lớn góp phần vào sự tăng trưởng của nền kinh tế có thể có lợi bởi vì hàng hoá của họ trở nên cạnh tranh với thị trường nước ngoài.

Vì thế, cần có sự theo dõi, phân tích ngành để lựa chọn thời điểm quyết định đầu

tư hay rút khỏi đầu tư phù hợp

1.1.4.1.4 Đánh giá mức độ rủi ro của ngànhMỗi ngành kinh doanh khác nhau cũng có mức độ rủi ro khác nhau Việc xác định mức độ rủi ro của ngành giúp cho NĐT lựa chọn được ngành đầu tư có hiệu quả với độ rủi ro tối thiểu hoặc có thể chấp nhận được Quy trình phân tích, đánh giá rủi ro của ngành kinh doanh thường được tiến hành theo các nội dung sau:

- Xác định hệ số rủi ro ngành qua việc sử dụng mô hình hồi quy dựa trên các số liệu thống kê lịch sử về mức biến động lợi nhuận cổ phiếu của ngành và lợi nhuận danh mục

E(R): Mức lợi suất đòi hỏi

Rf : Mức lợi suất phi rủi ro

Rm : Mức sinh lời bình quân của thị trường

β : Hệ số rủi ro ngành

- Phân tích hệ số P/E: Hệ số P/E phản ánh thị trường trả giá cho một đồng thu nhập sau thuế của cổ phiếu công ty như thế nào Nếu hệ số P/E cao chứng tỏ công ty kinh

Trang 23

doanh có hiệu quả và ngược lại Việc phân tích hệ số P/E thường được xem xét cả trên 2 góc độ: mối quan hệ giữa P/E của ngành và thị trường, so sánh giữa các ngành với nhau.

- Ước tính thu nhập trên một cổ phiếu (EPS): Dựa vào các phương pháp chủ yếu như: phân tích chu kỳ kinh doanh, phân tích đầu vào - đầu ra, phân tích mối quan hệ giữa ngành và nền kinh tế

- Ước tính mức lợi suất đạt được: Để ước tính mức lợi suất đạt được phải tiến hành qua 2 bước Trước hết cần xác định giá trị thị trường cuối kỳ của cổ phiếu ngành bằng cách nhân hệ số P/E cuối kỳ tính toán được ước tính thu nhập trên một cổ phiếu Sau đó

so sánh giá trị thị trường cuối kỳ với giá trị thị trường đầu kỳ để ước tính lợi suất đạt được (r) theo công thức:

r = Giá trị thị trường cuối kỳ – Giá trị thị trường đầu kỳ + Cổ tức nhận trong kỳ

Giá trị thị trường đầu kỳ

- Lựa chọn quyết định đầu tư hay không: So sánh lợi suất đạt được r với mức doanh lợi đòi hỏi E(R) Nếu r > E(R) thì nên đầu tư còn ngược lại thì rút khỏi ngành này

Việc thực hiện quy trình phân tích trên sẽ rất thuận lợi nếu có sẵn số liệu thống kê

về hệ số rủi ro, hệ số P/E của các ngành kinh tế cũng như các chỉ số khác của thị trường

1.2.1.5 Phân tích tài chính công ty

Việc phân tích các BCTC là việc phân tích các dữ liệu có trong các BCTC (chủ yếu là bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ) nhằm đánh giá:

- Tính linh hoạt, nghĩa là khả năng chi trả các khoản nợ, đặc biệt là nợ ngắn hạn của công ty

- Khả năng thanh toán, khả năng thực hiện trách nhiệm nợ dài hạn của công ty

- Khả năng sinh lời, là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh.

1.1.4.1.5 Phân tích báo cáo tài chính qua các chỉ tiêu tài chính đặc trưng

Trang 24

Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán

Các hệ số về khả năng thanh toán cho biết khả năng của công ty trong việc thanh toán các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn Ta thường xét đến các hệ số sau:

- Hệ số khả năng thanh toán nhanh

Hệ số khả năng thanh toán nhanh = Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho

- Hệ số khả năng thanh toán tạm thời

Hệ số khả năng thanh toán tạm thời = Tổng tài sản ngắn hạn

Tổng nợ ngắn hạn

Hệ số phản ánh mức độ đảm bảo của TSNH với nợ ngắn hạn Nợ ngắn hạn là những khoản nợ phải thanh toán trong năm, do vậy công ty phải dùng TSNH có tính hoán tệ trong một năm để thanh toán Hệ số nhỏ hơn 1 thì công ty gặp khó khăn trong việc thanh toán nợ ngắn hạn Tuy nhiên, không phải hệ số này càng cao càng tốt Khi xem xét hệ số phải quan tâm tới tính chất ngành nghề kinh doanh

- Hệ số khả năng thanh toán tổng quát

Hệ số khả năng thanh toán tổng quát= Tổng tài sản

Tổng nợ ngắn hạn và dài hạn

Trang 25

Hệ số cho biết mối quan hệ giữa tổng tài sản mà doanh nghiệp quản lý, sử dụng với tổng số nợ phải trả, phản ánh một đồng vay nợ có mấy đồng tài sản đảm bảo Hệ số nhỏ hơn 1 nghĩa là toàn bộ tài sản hiện có của công ty không đủ để thanh toán các khoản

nợ, chứng tỏ công ty mất khả năng thanh toán Ngược lại, khi hệ số lớn hơn 1, công ty có khả năng thanh toán Nếu hệ số quá cao thì chứng tỏ việc sử dụng hệ số nợ của công ty không hiệu quả

Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi

- Hệ số lợi nhuận trên doanh thu (ROS)

Hệ số lợi nhuận trên doanh thu = Lợi nhuận

Doanh thu

Hệ số phản ánh trong 1 đồng doanh thu thuần mà công ty thực hiện trong kỳ sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Trên thực tế mức lợi nhuận giữa các ngành là khác nhau, còn trong bản thân một ngành thì công ty nào quản lý và sử dụng yếu tố đầu vào tốt hơn thì sẽ có

hệ số lợi nhuận cao hơn.

- Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu

ROE = Lợi nhuận sau thuế

Vốn chủ sở hữu bình quân

Hệ số này phản ánh mức lợi nhuận sau khi trả nghĩa vụ với nhà nước trên vốn của

cổ đông Hệ số này thường được các NĐT phân tích để so sánh các cổ phiếu trên thị trường Thông thường hệ số này càng cao thì cổ phiếu càng hấp dẫn, vì hệ số này cho thấy khả năng sinh lời và tỷ suất lợi nhuận của công ty

- Tỷ suất sinh lợi của tài sản

ROA = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay

Tổng tài sản bình quânChỉ tiêu phản ánh sử dụng bình quân 1 đồng tài sản thì tạo ra mấy đồng EBIT Chỉ tiêu này rất quan trọng đối với NĐT bởi lẽ lợi nhuận trước thuế và lãi vay là nguồn để trả lãi vay Do đó, nếu tỷ suất sinh lợi của tài sản lớn hơn lãi suất vay, chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả, có khả năng thanh toán được lãi vay Ngược lại, nếu tỷ

Trang 26

suất sinh lợi của tài sản nhỏ hơn lãi suất vay, doanh nghiệp gặp khó khăn trong thanh toán lãi vay, vốn sử dụng không hiệu quả.

- Thu nhập trên mỗi cổ phiếu

EPS =

Thu nhập của cổ phần thường

Số lượng cổ phiếu thường đang lưu hànhEPS là chỉ tiêu được NĐT quan tâm, đây là căn cứ để chi trả cổ tức và là căn cứ

để gia tăng giá trị thị trường của cổ phần thường Chỉ số này càng cao thì càng được đánh giá tốt vì khi đó khoản thu nhập trên mỗi cổ phiếu sẽ cao hơn.

Nhóm chỉ tiêu phản ánh cơ cấu tài chính

Tỷ lệ chi trả cổ tức cổ phần thường = Cổ tức mỗi cổ phần thường

Thu nhập của cổ phần thường Chỉ tiêu cho biết công ty dành bao nhiêu % thu nhập mỗi cổ phiếu thường để trả

cổ tức, và bao nhiêu % để tái đầu tư

Trang 27

- Hệ số giá / thu nhập

P/E = Giá thị trường của cổ phần thường

Thu nhập của cổ phần thường

Hệ số P/E là một trong những chỉ tiêu quan trọng trong quyết định đầu tư chứng khoán của NĐT Thu nhập từ cổ phiếu có ảnh hưởng quyết định đến giá thị trường của cổ phiếu đó còn hệ số P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường và thu nhập trên mỗi cổ phiếu Cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao nhiêu lần, hay NĐT phải trả bao nhiêu đồng cho một đồng thu nhập Hệ số P/E rất có ích cho việc định giá cổ phiếu P/E cao có nghĩa là NĐT dự kiến công ty sẽ tăng trưởng nhanh và cổ tức sẽ tăng cao trong tương lai.

Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng hoạt động

- Vòng quay các khoản phải thu

Vòng quay các khoản phải thu = Số dư bình quân các khoản phải thuDoanh thu thuần

Chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển các khoản phải thu ra tiền mặt Vòng quay càng lớn càng chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu nhanh, vốn của doanh nghiệp không bị chiếm dụng và không phải đầu tư nhiều vào việc thu hồi các khoản phải thu Nếu vòng quay nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn lớn gây ra thiếu vốn cho hoạt động SXKD, buộc doanh nghiệp phải đi huy động vốn từ bên ngoài và trả lãi cho số vốn huy động thêm đó

- Vòng quay toàn bộ vốn

Vòng quay toàn bộ vốn =Doanh thu thuần

Trang 28

Vốn kinh doanh bình quân Chỉ tiêu sử dụng để đánh giá trình độ quản lý vốn có hiệu quả như thế nào Vòng quay toàn bộ vốn càng lớn thì hiệu quả càng cao, lợi nhuận tăng, tăng khả năng cạnh tranh và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường.

1.2.1.5.1 Phân tích báo cáo tài chính công ty theo dạng so sánh

Để đánh giá tình hình tài chính của công ty, các NĐT còn có thể tiến hành phân tích theo chiều ngang và phân tích theo chiều dọc Việc xếp BCTC thành dạng so sánh sẽ chỉ rõ các quá trình vận động, các xu thế Qua đó, cung cấp cho NĐT những thông tin có giá trị để dự báo kết quả kinh doanh (KQKD) trong tương lai

Tiến hành phân tích theo chiều ngang giúp NĐT biết được mức độ thay đổi của từng chỉ tiêu, bản chất của các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới quá trình sinh lợi và trạng thái tài chính công ty

Thông qua công thức:

Mức tăng (giảm) = Số cuối kỳ - Số đầu kỳ (cùng một chỉ tiêu)

Tỷ lệ tăng (giảm) = Số cuối kỳ - Số đầu kỳ

Số đầu kỳ

1.2.1.5.2 Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốnViệc phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn, cho biết công ty đang gặp thuận lợi hay khó khăn về vốn, còn với đối tượng sử dụng khác (NĐT, người cho vay…) biết được công ty đang làm gì với số vốn của họ Ngoài ra, NĐT biết những ưu, nhược điểm trong huy động và sử dụng vốn, từ đó đưa ra quyết định đầu tư

Mỗi một sự thay đổi của từng khoản mục trong Bảng cân đối kế toán đều được sắp xếp vào cột diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn theo nguyên tắc:

- Tăng các khoản nợ phải trả, tăng nguồn VCSH và giảm tài sản của doanh nghiệp chỉ ra sự diễn biến của nguồn vốn

Trang 29

- Tăng tài sản của doanh nghiệp, giảm các khoản nợ phải trả và VCSH được xếp vào cột sử dụng vốn

1.2.1.6 Định giá và lựa chọn cổ phiếu

Khi xem xét, đánh giá một công ty, trước hết phải đánh giá về chất lượng công ty,

bộ máy quản lý điều hành và xu hướng phát triển của công ty trong tương lai Tuy nhiên, phân tích đầu tư không chỉ đơn thuần là đánh giá công ty mà còn phải xem xét giá trị cổ phiếu của công ty đó có đúng với giá nó đang được mua bán hay không

Khi lựa chọn đầu tư cổ phiếu, ta phải xem xét đánh giá công ty phát hành, xác định mức độ rủi ro và lợi suất yêu cầu ứng với mức rủi ro đó; từ đó xác định giá trị nội tại của công ty Bước tiếp theo là cần so sánh giá trị nội tại của cổ phiếu với giá thị trường đang giao dịch của cổ phiếu đó rồi mới đưa ra quyết định đầu tư

Một công ty hoạt động rất tốt cùng với bộ máy quản lý hiệu quả, nhưng nếu cổ phiếu của nó được định giá quá cao so với giá trị nội tại của nó thì NĐT không dám mua Ngược lại, nếu một công ty hoạt động không hiệu quả nhưng cổ phiếu của nó được định giá thấp hơn giá trị thực thì đó sẽ là một cơ hội đầu tư tốt Như vậy, rõ ràng một công ty tốt không nhất thiết đã là một cơ hội đầu tư tốt

Định giá cổ phiếu cũng dựa trên những nguyên tắc cơ bản của việc định giá tài sản nói chung, bao gồm việc định giá doanh nghiệp phát hành ra chính cổ phiếu đó Trong phạm vi đề tài, ta sẽ xem xét ba nhóm phương pháp định giá chủ yếu và có tính ứng dụng cao như sau: phương pháp chiết khấu dòng tiền, phương pháp chiết khấu luồng cổ tức và phương pháp định giá cổ phiếu theo hệ số giá trên thu nhập

1.2.1.6.1 Phương pháp chiết khấu dòng tiền Phương pháp này dựa trên một nguyên lý cơ bản, đó là giá trị doanh nghiệp được xác định bằng cách hiện tại hóa các luồng thu nhập (luồng tiền) bằng cách chiết khấu các luồng tiền đó theo mức lãi suất chiết khấu phù hợp có tính đến rủi ro của doanh nghiệp Theo đó, đối với phương pháp DCF thì quan trọng nhất và không thể thiếu được là luồng tiền thu nhập

Trang 30

hàng năm và lãi suất chiết khấu của luồng tiền đó Hiểu một cách đơn giản luồng tiền tự do

là luồng tiền không được giữ lại để đầu tư

Luồng tiền tự do = Doanh thu – Chi phí – Đầu tư

Ta cũng có thể hiểu số tiền thu nhập còn lại sau khi giữ lại một phần để tái đầu tư vào kinh doanh chính là để trả cổ tức Vì vậy cổ tức chính là luồng tiền tự do tính trên một cổ phần

Như vậy công thức tính giá trị hiện tại của cổ phiếu sẽ được viết dưới dạng sau:

P0 = + Điều quan trọng nhất của phương pháp này là phải lập được bảng kế hoạch SXKD của công ty, ít nhất là trong 5 năm để ước tính các khoản doanh thu chi phí và luồng tiền

tự do sử dụng

1.2.1.6.2 Phương pháp chiết khấu cổ tức

Với phương pháp này việc định giá cổ phiếu hoàn toàn chịu sự chi phối của các phán đoán, giả định về triển vọng phát triển của công ty Do vậy, khi sử dụng phương pháp này phải kèm theo một số giả định ví dụ như :

- Nền kinh tế phát triển ổn định, không có sự thay đổi chính trị, kinh tế nghiêm trọng, chỉ số lạm phát được giữ ở mức chấp nhận được

- Không có sự thay đổi trong chính sách thuế của Chính phủ, bao gồm thuế thu nhập doanh nghiệp và các loại thuế hiện đang áp dụng đối với nguyên liệu nhập khẩu,

- Tình trạng cạnh tranh được cơ quan Nhà nước quản lý tốt và công bằng

- Không có sự thay đổi trọng yếu trong chính sách kế toán của công ty trong giai đoạn này

- Các dự án đầu tư được tiến hành thuận lợi và không gặp trở ngại bất thường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của công ty

Trang 31

- Tính giá cổ phiếu sau 1 năm

Nếu biết được cổ tức dự đoán năm sau D1, giá dự đoán năm sau P1 và biết được tỷ suất lợi nhuận ước tính của các cổ phiếu cùng có độ rủi ro như cổ phiếu đã mua là r thì có thể định giá được cổ phiếu hiện tại theo công thức:

- Tính giá cổ phiếu sau một số năm:

Cũng lập luận tương tự như trên, nếu dự đoán được cổ tức D2 năm thứ hai, giá cổ phiếu P2 năm thứ hai, và tỷ suất lợi nhuận mong đợi r thì có thể tính được giá cổ phiếu năm thứ nhất P1

P1 = Tính tương tự liên tiếp cho đến năm cuối n là năm người đầu tư mang bán cổ phiếu

đó đi thì ta có thể định giá được giá cổ phiếu hiện tại chính là giá trị quy về hiện tậi của luồng thu nhập cổ tức cho đến năm thứ n cộng với giá trị quy về hiện tại của giá cổ phiếu năm thứ n, thể hiện qua công thức sau:

P0 = +

Trong đó :

P0 : Giá cổ phiếu hiện tại

Dt: Khoản cổ tức dự tính nhận được hàng năm

Pn: Giá bán lại cổ phiếu dự tính cuối năm n

r: Tỷ suất sinh lời kỳ vọng của các NĐT

- Khi kỳ đầu tư là vô hạn

Trang 32

Nếu cổ phiếu được NĐT nắm giữ vô hạn thì có nghĩa là n sẽ tiến tới ∞ Thông thường, thời gian của cổ phiếu là vô hạn vì nó không có thời gian đáo hạn

- Khi tỷ lệ cổ tức tăng trưởng đều đặn

Việc sử dụng công,mlkj thức trên để tính toán là tương đối phức tạp Trên thực tế, công thức này thường được áp dụng khi tỷ lệ tăng trưởng cổ tức hàng năm (g) là không đổi Khi đó, công thức trên có thể viết lại như sau:

P0 = Lưu ý rằng công thức này chỉ đúng khi tốc độ tăng trưởng g nhỏ hơn tỷ suất thu nhập dự tính

Trên thực tế, các công ty thường có mức tăng trưởng cổ tức không đều trong một số năm, trước khi có thể đạt đến giai đoạn ổn định Trong trường hợp này, chúng ta sẽ áp dụng mô hình định giá hai giai đoạn:

Giai đoạn siêu tăng trưởng: tốc độ là g s với thời gian n năm đầu

Giai đoạn tăng trưởng ổn định: tốc độ tăng là g l với thời gian là khoảng thời gian còn lại

P0 = - D0 ( - )

1.2.1.6.3 Phương pháp định giá theo hệ số giá trên thu nhập

Hệ số giá cổ phiếu trên thu nhập của một cổ phiếu được ký hiệu là P/E Khi P/E có giá trị cao chứng tỏ NĐT nghĩ rằng công ty đang có cơ hội tăng trưởng, rằng thu nhập là tương đối ổn định, an toàn, và tỷ suất vốn hoá thị trường r tương đối thấp Nhưng cần lưu

ý rằng P/E cao cũng có thể không phải do giá cổ phiếu cao mà do thu nhập thấp

Đối với một TTCK phát triển thì hệ số P/E rất có ích cho việc định giá cổ phiếu Vì

nó cho biết giá hợp lý của một cổ phiếu khi nhìn vào giá trị P/E được công bố đối với các loại cổ phiếu có cùng độ rủi ro như cổ phiếu đó Đây là cách định giá cổ phiếu thường nhanh nhất và đơn giản, áp dụng theo công thức sau:

Trang 33

P = EPS × P/ETheo phương pháp này, về mặt lý thuyết, chúng ta có thể áp dụng một trong các cách sau đây:

- Lấy chỉ số bình quân toàn ngành mà công ty đó tham gia hoặc lựa chọn một công

ty có cổ phiếu được giao dịch rộng rãi có cùng tỷ lệ lợi nhuận, độ rủi ro và mức tăng trưởng tương tự như cổ phiếu mà chúng ta cần định giá Khi đó, chúng ta sẽ xác định giá của cổ phiếu bằng cách lấy thu nhập của công ty cần định giá nhân với hệ số P/E bình quân ngành hoặc hệ số P/E của công ty được lựa chọn

- Xác định hệ số P/E hợp lý hay nội tại của chính công ty đó Giá cổ phiếu được xác định bằng cách nhân hệ số P/E thông thường với thu nhập của công ty

Đối với công ty có tốc độ tăng trưởng đều đặn, hệ số P/E hợp lý được tính toán dựa trên công thức tương tự như công thức tính giá của cổ phiếu nêu trên đây Ta có:

P/E = Tuy nhiên, trên thực tế khi tiến hành đánh giá cổ phiếu công ty thì việc lựa chọn hệ

số P/E cụ thể không đơn thuần như hai phương pháp trên mà còn căn cứ vào xu hướng phát triển của toàn ngành và của từng công ty cụ thể Do vậy, ta có thể kết hợp cả hai cách trên đây để xác định cổ phiếu công ty

1.3 Phát triển hoạt động phân tích cơ bản của công ty chứng khoán

1.3.1 Khái niệm và sự cần thiết phải phát triển hoạt động phân tích cơ bản của công ty chứng khoán

1.3.1.1 Khái niệm phát triển hoạt động phân tích cơ bản của công ty chứng khoán

Phát triển là khuynh hướng vận động đã xác định về hướng của sự vật: hướng đi lên từ thấp đến cao, từ đơn giản tới phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn

Nhưng nếu hiểu sự vận động phát triển một cách biện chứng toàn diện, sâu sắc thì trong tự bản thân sự vậ

Trang 34

n động phát triển đã bao hàm sự vận động thụt lùi, đi xuống với nghĩa là tiền đề, điều kiện cho sự vận động đi lên, hoàn thiện Do vậy, trong khi xem xét, đánh giá sự vật, hiện tượng phải tôn trọng nguyên tắc phát triển của chúng, không được thành kiến định kiến, luôn lạc quan tin tưởng vào khuynh hướng vận động của sự vật, tạo mọi điều kiện để sự vật phát triển.

Phân tích cơ bản thực chất là phân tích tình hình tài chính của các CTCP niêm yết trên TTCK, dựa vào các BCTC của công ty như: Bảng cân đối kế toán, bảng báo cáo thu nhập, bảng lưu chuyển tiền tệ, bảng thuyết minh BCTC Từ đó, thiết lập các hệ số tài chính để thấy được những mặt mạnh và mặt yếu trong hoạt động tài chính của công ty, qua đó cũng thấy được xu hướng và tiềm năng phát triển của công ty

Phát triển hoạt động phân tích cơ bản là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của hoạt động phân tích tài chính của các CTCP niêm yết trên TTCK Nó là sự hoàn chỉnh về quy trình và nội dung của các báo cáo phân tích cơ bản, cũng như sự phát triển của các yếu tố khác như về công nghệ và nguồn nhân lực

1.3.1.2 Sự cần thiết phải phát triển hoạt động phân tích cơ bản của công ty chứng khoán

Ngày này, với những thành tựu to lớn về sự phát triển kinh tế, trình độ kỹ thuật càng cao, TTCK phát triển cực kỳ nhanh chóng về cả quy mô lẫn hiệu quả thì việc phân tích cơ bản càng quan trọng Bởi mục đích cuối cùng của hoạt động phân tích là thông qua việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới giá trị công ty, qua việc so sánh với giá trị thị trường, NĐT sẽ tìm ra các công ty tốt, có triển vọng Giá trị nội tại là giá trị mà các yếu

tố cơ bản chỉ ra giá trị thực sự dựa trên quy luật cung và cầu Nếu giá trị nội tại này thấp hơn giá trị thị trường, thì thị trường đang đánh giá cao tài sản đó, và tài sản này có khả năng sẽ bán ra Nếu giá trị thị trường thấp hơn giá trị nội tại thì thị trường đang đánh giá thấp tài sản đó và tài sản này sẽ được mua vào Qua đó NĐT đưa ra quyết định đầu tư hợp lý, chiến thắng trong cạnh tranh và có kết quả cao nhất Nhưng để đạt được điều đó báo cáo phân tích cần phải có căn cứ xác định, do vậy yêu cầu của NĐT đối với phân tích

Trang 35

Một số nhà phân tích thường sử dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền mặt để xác định giá trị của công ty Trong khi đó một số người lại sử dụng tỷ số gía trên thu nhập…Như vậy, phân tích cơ bản đã đi sâu vào nội bộ của công ty phát hành ra chứng khoán đó.

Việc phân tích cơ bản sẽ đánh giá một chứng khoán đang ở dưới hay trên giá trị hiện hành, và điều này sẽ khẳng định giá trị thực của một công ty có mối quan hệ mật thiết như thế nào với các đặc tính tài chính như: khả năng phát triển, những rủi ro mà công ty có thể gặp phải, dòng tiền mặt,… Bất kỳ một sự chệch hướng nào so với giá trị thực cũng là dấu hiệu cho thấy cổ phiếu đó đang ở dưới hoặc vượt giá trị thực Chính vì vậy nhà phân tích thường coi đó là kim chỉ nan cho quyết định đầu tư trong tương lai

Ví dụ một chiến lược đầu tư dài hạn bao giờ cũng phải bao quát đủ các yếu tố của phân tích cơ bản như:

- Mối quan hệ giữa giá trị cổ phiếu hiện hành và các yếu tố tài chính là có thể lường được

- Mối quan hệ này ổn định trong một thời gian đủ dài

- Các sai lệch của mối quan hệ có được điều chỉnh lại vào thời điểm

Ngoài ra, rất nhiều NĐT còn dùng phương pháp phân tích cơ bản để chọn mua những chứng khoán có triển vọng tốt nhưng đang bị thị trường đánh giá thấp, tức là một cách thức đầu tư giá trị

Nếu có quyết định đầu tư chứng khoán thì hãy là một NĐT thông minh và cẩn trọng Hãy quyết dựa trên cơ sở thông tin rút ra không chỉ từ phân tích kỹ thuật (về cung

và cầu), mà chủ yếu phải từ phân tích cơ bản (về năng lực và hoạt động của các công ty) Phân tích cơ bản nhằm tính toán về thị trường, doanh số, các chỉ số tài chính, tình hình pháp lý và hệ thống quản trị của doanh nghiệp xứng đáng đầu tư Phân tích kỹ thuật nhằm tìm ra thời điểm đúng lúc để đến hành giao dịch Để đổ tiền vào một nơi sinh ra lợi nhuận, NĐT cần phải biết cả về phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật bởi lẽ có tính toán

Trang 36

được giá trị của cổ phiếu chính xác đến đâu mà không biết chọn đúng thời điểm đầu tư thì phân tích cũng trở thành vô nghĩa.

Hiện nay có nhiều NĐT không cần biết đến các công cụ trên nhưng vẫn tiến hành đầu tư theo kiểu may rủi là rất nguy hiểm Trong trường hợp xấu, chính họ là những người làm sụp đổ thị trường Để thị trường có thể phát triển lành mạnh các NĐT cần phải

có kiến thức, kinh nghiệm về TTCK bằng cách tập đầu tư các khoản tiền nhỏ trước vào các cổ phiếu có tính thanh khoản cao trước và theo dõi thị trường thật kỹ trước khi đầu tư các khoản tiền lớn Khi phân tích cơ bản trở thành kiến thức thông dụng với mọi NĐT thì TTCK hoạt động hiệu quả hơn:

- Có sự tham gia liên tục của các tổ chức đầu tư khiến giá cổ phiếu niêm yết hợp lý hơn

- Thông tin từ các công ty niêm yết đã bắt đầu tạo ra phản ứng tức thời đến giá cổ phiếu

- NĐT quan tâm nhiều hơn đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp và các thông tin hàng ngày trên thị trường

Sự cần thiết khách quan phải phát triển hoạt động phân tích cơ bản được thể hiện trong quá trình phát triển của nó gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế, TTCK Việc phát triển hoạt động phân tích cơ bản là việc hết sức cần thiết, không những đáp ứng

được các đòi hỏi của NĐT, mà còn khiến chứng khoán sẽ trở thành nơi đầu tư của những

NĐT tài chính thực thụ

1.3.2 Chỉ tiêu đánh giá về phát triển hoạt động phân tích cơ bản của công ty chứng khoán

1.3.2.1 Chất lượng báo cáo phân tích

Báo cáo phân tích là tài liệu mà NĐT sử dụng để đánh giá đúng sức mạnh tài chính, khả năng sinh lãi và triển vọng của doanh nghiệp từ đó đưa ra các quyết định đúng đắn phù hợp với mục tiêu mà họ quan tâm

Trang 37

Có rất nhiều chuẩn mực mà một báo cáo phân tích cần phải có Đầu tiên, phải xác định báo cáo với mục đích gì? Một báo cáo cần phải có một số nội dung chính như: xác định mục tiêu, ví dụ khi báo cáo phục vụ nhu cầu đầu tư của NĐT thì cần phải biết họ cần mua hay bán, mục tiêu lợi nhuận và dự báo kịch bản của thị trường (cùng cổ phiếu), đồng thời có kế hoạch phòng ngừa rủi ro nếu thị trường có chuyển biến khác; tên, thông tin liên lạc người viết (tối thiểu là e-mail) để NĐT có thể liên hệ trao đổi; nêu những xung đột về lợi ích và những cảnh báo về báo cáo…

Tuy nhiên, nhìn chung các báo cáo phân tích phải đảm bảo các nguyên tắc:

- Nguyên tắc dễ hiểu

- Nguyên tắc đầy đủ về thông tin

- Nguyên tắc khách quan, trung thực

- Nguyên tắc đa dạng

- Nguyên tắc rõ ràng, minh bạch

1.3.2.2 Tính liên tục của báo cáo phân tích

Báo cáo phân tích gồm báo cáo phân tích ngành, báo cáo phân tích nền kinh tế, báo cáo nhanh, báo cáo chuyên sâu, báo cáo cập nhật

Theo triết học, tính liên tục dùng để chỉ sự kế tiếp nhau trong cấu tạo, cũng như trong sự biến đổi của khách thể Nó dựa trên tính không thể phân chia được và sự bền vững tương đối của khách thể với tính cách là một chỉnh thể có chất lượng nhất định

Sự thay đổi của nền kinh tế, xã hội và công nghệ thông tin càng khiến thông tin trở nên quan trọng, tác động trực tiếp tới hoạt động phân tích Ngay khi được cung cấp đầy

đủ các thông tin này, kết quả chất lượng của báo cáo phân tích cũng phụ thuộc rất nhiều vào tính liên tục của những thông tin này Thông tin thiếu liên tục có thể làm bản báo cáo phân tích đánh giá và đưa ra những nhận định, khuyến nghị sai, ảnh hưởng lớn đến các hoạt động đầu tư

Trang 38

Chính vì thế, cần phải có báo cáo cập nhật hàng năm, hàng qúy và hàng tháng về vấn đề được phân tích để đưa có khuyến nghị đầu tư phù hợp với sự thay đổi của thông tin.

1.3.2.3 Đội ngũ chuyên viên phân tích

Chuyên viên phân tích là người thay mặt công ty thể hiện bằng lời những chỉ số và biểu đồ tới các NĐT qua các báo cáo phân tích Sự phát triển của phân tích cơ bản được thể hiện một phần qua chất lượng và số lượng các chuyên viên phân tích

- Qua chất lượng của các chuyên viên: Công việc phân tích cơ bản đòi hỏi chuyên viên phải có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn cao Về trình độ của các chuyên viên được thể hiện qua bằng cấp, các chứng chỉ chuyên môn và chứng chỉ hành nghề; qua sự am hiểu về ngành, lĩnh vực mà mình nghiên cứu; qua tần suất đưa ra những

dự báo, khuyến nghị đúng cao;… Về kinh nghiệm của chuyên viên đó có thể là số năm hoạt động trong lĩnh vực tài chính, chứng khoán; cũng có thể là các mối quan hệ mà các chuyên viên tạo lập được như mối quan hệ với NĐT về khuyến nghị của mình, với các doanh nghiệp trên thị trường thông qua các báo cáo, các cuộc họp phân tích, các buổi hội thảo, các kỳ họp Đại hội cổ đông

- Qua số lượng các chuyên viên phân tích: Mặc dù công việc phân tích tưởng như khá nhàn hạ nhưng thực tế khối lượng công việc phải xử lý lại rất nhiều Với số chuyên viên ít, lại thiếu kinh nghiệm, không thể đảm bảo được cả về số lượng và chất lượng các sản phẩm phân tích nhằm đáp ứng như cầu của thị trường Chính vì vây, sự phát triển hoạt động phân tích cơ bản cần được đảm bảo bởi số lượng nhân viên hợp lý không quá ít vì như vậy sẽ gây áp lực tạo sản phẩm phân tích, không quá nhiều vì như vậy sẽ làm tăng chi phí cho CTCK

1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phân tích cơ bản

1.3.3.1 Nhân tố chủ quan

1.3.3.1.1 Yếu tố về nhân lực

Trang 39

tích cơ bản vào hoạt động định giá chứng khoán Phân tích cơ bản là tương đối đơn giản nhưng để áp dụng được nó để vận dụng linh hoạt không phải là dễ dàng Nó đòi hỏi một đội ngũ nhân viên và chuyên viên phân tích có kinh nghiệm, có khả năng xử lý thông tin Điều cốt yếu nhất trong tất cả các phương pháp là phải xác định được tỷ lệ chiết khấu, điều này lại phụ thuộc rất nhiều vào các nhận định, dự báo về thị trường Nhân viên phân tích phải là những người sử dụng thành thạo, chuyên nghiệp và linh hoạt các phương pháp định giá Phải xác định được đâu là phương pháp phù hợp nhất để định giá một công ty

Muốn như vậy, công ty không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên của mình, đặc biệt là các chuyên viên phân tích, phải có chế độ đãi ngộ phù hợp, có chính sách thu hút người tài, chú trọng vào đào tạo trong quá trình làm việc

1.3.3.1.2 Yếu tố về cơ sở vật chất và trình độ công nghệYếu tố này cũng không kém phần quan trọng Bởi phân tích cơ bản là việc xử lý hàng loạt các số liệu trong quá khứ, và đưa ra các giả định trong tương lai Nếu công việc

đó được xử lý một cách hoàn tòan thủ công thì rất mất thời gian và kém chính xác Hơn nữa, TTCK luôn nhạy cảm với sự biến đổi của nền kinh tế xã hội trong nước và quốc tế,

do đó nếu CTCK không có đủ trang thiết bị để thu thập và xử lý thông tin thì không thể bảo vệ quyền lợi cho khách hàng Chính vì thế việc cung cấp đầy đủ các trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại là cần thiết cho các chuyên viên phân tích sẽ giúp họ nâng cao năng suất lao động, xử lý và cập nhật thông tin Internet là một kênh thông tin rất quan trọng và hỗ trợ đắc lực cho các chuyên viên phân tích trong việc tìm kiếm các thông tin nhằm xác định tỷ lệ chiết khấu phù hợp

1.3.3.1.3 Quy trình và phương pháp phân tích cơ bản tại công ty chứng khoán

Bất kỳ hoạt động nào muốn hiệu quả thì cũng cần phải xác định được một quy trình phân tích cụ thể, rõ ràng và thống nhất để dựa vào đó mà kiểm tra, đánh giá, nhận xét từng bước, phát hiện sai sót một cách dễ dàng hơn

Trang 40

1.3.3.2 Nhân tố khách quan

Đây là những nhân tố không thể điều chỉnh được, các chuyên viên phân tích buộc

phải đối mặt và tìm cách dung hoà chúng để hạn chế những tác động bất lợi của chúng đối với hoạt động của mình Những nhân tố này gồm:

1.3.3.2.1 Khung pháp lý và chính sách của Nhà nước Bao gồm toàn bộ các văn bản, quy phạm pháp luật do các cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại ban hành Là yếu tố tác động trực tiếp chi phối các đến hoạt động của thị trường, NĐT, môi giới, nhà phát hành…và sự hỗ trợ của thị trường Mọi hoạt động, mọi

tổ chức kinh tế hoạt động trên lãnh thổ nước Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam Trước kia, khi nền kinh tế còn bao cấp, kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo chi phối các thành phần kinh tế khác thì khái niệm chứng khoán và TTCK không tồn tại Nền kinh tế ngày càng mở cửa đang trên đường hội nhập, khung pháp lý và chính sách Nhà nước khuyến khích sự hình thành của các CTCK, tạo điều kiện cho một phương thức huy động vốn mới ra đời Chính vì vậy có thể nói khung pháp lý và các chính sách của Nhà nước tác động trực tiếp đến sự phát triển của hoạt động phân tích cơ bản

Đây là tiền đề quan trọng tạo điều kiện cho hoạt động tư vấn, hoạt động tự doanh

có thể phát triển Phải có những quy định pháp lý chặt chẽ, thực hiện đúng quy định thì mới đảm bảo được lợi ích và sự phát triển hoạt động phân tích cơ bản của CTCK Đồng thời là cơ sở để tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các CTCK, nhất là trong thời gian gần đây có rất nhiều sản phẩm phân tích cổ phiếu của các CTCK trên thị trường

1.3.3.2.2 Sự phát triển của thị trường chứng khoánPhân tích cơ bản không phải là một công việc đơn giản và nhàm chán, nó phụ thuộc rất nhiều vào những dự đoán thị trường của người phân tích Nếu thị trường đang trong giai đoạn suy thoái, đầu tư vào cổ phiếu sẽ có rủi ro cao, thì tỷ lệ chiết khấu cũng tăng lên do phải cộng thêm cái gọi là phần bù rủi ro Và khi thị trường phát triển tốt,

Ngày đăng: 21/03/2016, 11:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2/ Trang web của SGDCK TP. Hồ Chí Minh: http://www.hsx.vn 3/ Trang web của SGDCK Hà Nội: http://hnx.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: http://www.hsx.vn"3/ Trang web của SGDCK Hà Nội
1/ Trang web của UBCKNN: http://www.ssc.gov.vn Link
1/ Học viện Tài chính, Giáo trình Kinh doanh chứng khoán, Nhà xuất bản tài chính, năm 2010 Khác
2/ Học viện Tài chính, Giáo trình Phân tích và đầu tư chứng khoán, Nhà xuất bản tài chính, năm 2009 Khác
3/ Học viện Tài chính, Giáo trình Thị trường chứng khoán, Nhà xuất bản tài chính, năm 2009 Khác
4/ UBCKNN, Giáo trình Phân tích và đầu tư chứng khoán, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, năm 2003 Khác
5/ UBCKNN, Giáo trình Pháp luật về chứng khoán và Thị trường chứng khoán, Nhà xuất bản Thống kê, năm 2009.Các Website Khác
1/ Các tài liệu nghiệp vụ, các báo cáo Phòng Nghiên cứu và Phân tích của CTCP Chứng Khoán MB Khác
2/ BCTC và Báo cáo Thường niên của CTCP Chứng Khoán MB Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG 2.1. DOANH THU CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA MBS - Giải pháp phát triển hoạt động phân tích cơ bản tại CTCP chứng khoán MB
BẢNG 2.1. DOANH THU CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA MBS (Trang 50)
BẢNG 2.3 KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA MBS GIAI ĐOẠN 2010- 2013 - Giải pháp phát triển hoạt động phân tích cơ bản tại CTCP chứng khoán MB
BẢNG 2.3 KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA MBS GIAI ĐOẠN 2010- 2013 (Trang 56)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w