Sinh trưởng thực vật khái niệm, cơ sở sinh học phân tử và nguồn gen, cơ chế và quá trình thông tin sinh học
Trang 1Mục lục
Trang
I- Khái niêm………3 - 4
II- Cơ sở sinh học phân tử và nguồn gen………4 – 19
1 Kích thước, tổ chức và tính phức tạp của bộ gen (genome)………5
2 Sự biểu hiện gen và sinh học phát triển………5 – 19
a) Sự biểu hiện gen ở cơ thể tiền nhân (Prokaryote)……… 5 – 9
b) Sự biểu hiện gen ở cơ thể có nhân (Eukaryote)……….10 – 19
III- Cơ chế và quá trình thông tin sinh học……… 20 – 25
1 Những khái niệm cơ bản và định nghĩa……….20 – 21
2 Các con đường truyền tín hiệu và các chất nhận ở cơ thể tiền nhân.21- 25
a) Sự truyền tín hiệu trong cơ thể tiền nhân………21
b) Các cơ chế cơ bản……….21
c) Vi khuẩn sử dụng các hệ thống điều tiết hai thành phần để cảm nhận các tín hiệu ngoại bào……….21 – 22
d) Phổ lan truyền của các trả lời……….22 - 23
e) Vi khuẩn sử dụng hệ thống hai thành phần để phát hiện độ thẩm thấu của môi trường………23 - 25
3 Tín hiệu thứ hai 25 - 31
Trang 2a) Quan niệm về tín hiệu thứ hai……… 25
b) Một số đại diện tín hiệu thứ hai phổ biến……….26 - 31
4 Sự truyền tín hiệu trong cơ thể có nhân……….31 - 36
a) Hai lớp tín hiệu xác định hai lớp chất nhận……… 32
b) Các chất nhận steroid hoạt động như là các tác nhân phiên mã.32 - 33
c) Chất nhận bề mặt tế bào có thể tương tác với G- protein………33 - 34
d) Chu trình G- protein dị tam phân là cầu dao phân tử của các dạng hoạt tính và bất hoạt……….34 - 35
e) Hoạt hóa adenylat xiclaza……….35
g) Sự hoạt hóa photpholipaza C………35
h) IP3 mở các kênh canxi về phí LNSC về phía màng không bào.35 - 36
i) Các hệ thống hai thành phần trong cơ thể có nhân……… 36
5 Sự phát tín hiệu……… 36 - 37
Tài liệu tham khảo……….38
Trang 3lượng cây tăng nhanh Như vậy, sinh trưởng là một khái niệm hoàn toàn sinh học Sinh
trưởng của thực vật là quá trình tăng không thuận nghịch về kích thước (chiều dài, bề mặt,
thể tích) và khối lượng kèm theo sự tạo mới các thành phần cấu trúc (tế bào, mô, cơ quan)
của cơ thể
- Sự biến đổi định tính được thực hiện nhờ sự hình thành mới về mặt hình thái và chức
năng làm xuất hiện những sai khác về chất giữa các tế bào, mô và cơ quan được gọi là sự
phân hóa.
Phân hóa là khái niệm thuộc phạm trù phát triển sinh học Phát triển là những biến đổi
về chất trong cấu trúc, hoạt tính chức năng của toàn bộ cơ thể và của các bộ phận cấu thành
nó (cơ quan, mô, tế bào) trong tiến trình phát sinh cá thể.
Phát sinh cá thể (ontogenesis) hay chu trình sống là tổng thể những biến đổi chức và
hình thái do di truyển gây nên trong cơ thể thực vật bắt đầu từ hợp tử hay mầm sinh dưỡngđến cái chết tự nhiên trong điều kiện bình thường của ngoại cảnh (hình 1.1)
Trang 4Hình 1.1 Chu trình sống của thực vật Hai lá mầm
(Nguồn: Sinh học phát triển thực vật - Nguyễn Như Khanh)
II- Cơ sở sinh học phân tử và nguồn gen
Như đã nói ở trên, sự biến đổi về chất trong chức năng và hình thái (kiểu hình) của cơ thể là kết quả của sự biểu hiện gen Các tín hiệu bên trong là rất cần để phối hơp nhịp nhàng
sự biểu hiện gen trong chu trình phát triển và để cây có thể phản ứng đối với tín hiệu từ môi trường ngoài
Trang 5Trước khi nghiên cứu các quá trình phát triển ở mức tế bào và cơ thể chúng ta cần cónhững thông tin cơ sở ngắn gọn về sự biểu hiện gen và sự truyền tín hiệu trong cơ thể tiềnnhân (vi khuẩn), trong nấm men và động vật để tham khảo Những hình mẫu biểu hiện gen
trên đối tượng ấy sẽ cung cấp cho ta kiến thức khung đối với những thành tựu mới nhất trong
nghiên cứu sự phát triển của thưc vật ở các chương tiếp theo
1 Kích thước, tổ chức và tính phức tạp của bộ gen (genome)
Kích thước bộ gen có mối liên quan xác định đối với mức độ phức tạp của cơ thể
Chẳng hạn bộ gen của E Coli chứa 47.106 cặp bazo (Cb), bộ gen của ruồi giấm (Drosophila)
là 2.108 Cb trong tế bào đơn bội, chỉ số đó của con người là 3.109 Cb Kích thước của bộ genthực vật cũng biến đổi nhiều, từ 1,5.108 Cb trong cây Arabidopsis đến 1.1011 Cb trong cây
Một lá mầm Trillium Bộ gen thực vật chứa khoảng 25000 gen, trong khi đó bộ gen của
Drosophila chứa khoảng 12000 gen Tuy nhiên, kích thước của bộ gen trong tế bào cơ thể có
nhân (Eukaryote) là chỉ số chưa đáng tin cậy về độ phức tạp của nó vì không phải toàn bộ
chuỗi ADN đều mã hóa gen Chẳng hạn, ngày nay sau khi phân lập bản đồ gen người, thấyrằng khoảng hơn 95% chiều dài của xoắn kép ADN không chứa gen nào Số lượng gen mãhóa protein trong bộ gen người là khoảng 30000, chỉ gấp hai lần so với ở giun hoắc ruồi giấm
Trong các cơ thể tiền nhân (Prokaryote) hầu như tất cả ADN đều chứa các trình tự
nucleotit mã hóa các protein hay các phân tử ARN chức năng Các nhiễm sắc thể (NST) trong
cơ thể có nhân chứa số lượng lớn các ADN không mã hóa Hình như điều đó có liên quan vớichức năng tổ chức và cấu trúc của nhiễm sắc thể (Lincoln Taiz, Eduardo Zeiger, 1998) Sốlượng các ADN không mã hóa bao gồm các trình tự nucleotit có nhiều bản sao được gọi làADN lặp lại (repetive DNA) Phần còn lại của ADN không mã hóa được tạo thành từ cáctrình tự nucleotit tự sao chép đơn được gọi là ADN chêm Kết hợp ADN lặp lại và ADNchêm có thể tạo thành phần lớn của bộ gen tổng thể trong một số cơ thể có nhân Chẳng hạn,trong cơ thể con người chỉ có khoảng dưới 5% của toàn bộ ADN chứa gen có nghĩa là nhữngtrình tự duy nhất được mã hóa cho sự tổng hợp ADN và protein
2 Sự biểu hiện gen và Sinh học phát triển
a) Sự biểu hiện gen ở cơ thể tiền nhân (Prokaryote)
- Protein liên kết với ADN điều tiết sự phiên mã trong cơ thể tiền nhân
Trong cơ thể vi khuẩn các gen được sắp xếp vào các operon Operon là bộ (tập hợp)
các gen kế tiếp nhau gồm các gen cấu trúc và các gen điều tiết Ví dụ, lactozo (lac) operon ở
E Coli được Francois Jacob và Jacques Monod ở viện Pasteur Paris mô tả lần đầu tiên vào
Trang 6năm 1961 Lac operon là một ví dụ về operon cảm ứng E Coli sống trong ruột người Nếu
buổi sang ta ăn bánh gato phết bơ thì vi khuẩn sẽ chìm trong đường glucozo và fructozo và
tiêu hóa thức ăn béo Nếu sau đó ta uống sữa thì môi trường sống của E Coli sẽ thay đổi
mạnh Sau khi ta uống sữa, một trong những chất dinh dưỡng chủ yếu trong sữa là đường
lactozo Khi lactozo chứa đầy trong ruột, E Coli có thể tạo ra enzim sử dụng lactozo Jacob
và J Monod đã đề xuất mô hình giải thích bằng cách nào tế bào E Coli có thể sản xuất ra các
enzim của nó trong phản ứng trả lời những biến đổi thường xuyên xảy ra trong môi trườngbao quanh nó
Mô hình của Jacob và Monod (hình 1.2A và 1.2B) giải thích làm thế nào gen mã hóa
các enzim cảm ứng sử dụng lactozo được đóng hay ngắt phụ thuộc vào điều kiện có lactozo
hay không
Trong thời gian thích ứng với lactozo, trong cơ thể E Coli cảm ứng đồng thời 3 enzim:
β- galactosidaza có tác dụng phân giải lactozo thành đường glucozo và galactozo; permeaza
cần cho sự vận chuyển lactozo qua màng vào bên trong tế bào; transacetylaza không tham gia
vào sự chuyển hóa lactozo
E Coli sử dụng 3 enzim để thu nhận và bắt đầu trao đổi lactozo, lúc đó các gen mã hóa
cũng đóng vai trò như là đơn vị điều tiết Nhìn vào hình 1.2A, ta thấy rõ rang 3 gen mã hóa
các enzim kế tiếp nhau sử dụng lactozo Đó là 3 gen cấu trúc (gen sử dụng lactozo) Sát kề
nhóm các gen cấu trúc đó có các đoạn ngắn ADN giúp khống chế chúng Một trình tự đặc
hiệu các nucleotit, một gen khởi đầu (promoter), đánh dấu điểm bắt đầu phiên mã đối với tất
cả 3 gen cấu trúc Ở giữa gen khởi đầu và nhóm 3 gen cấu trúc là một trình tự các nucleotit
được gọi là gen chỉ huy (gen điều khiển- operator) Gen này hoạt động như cái cầu dao đóng,
ngắt điện Gen chỉ huy quy định thời điểm enzim phiên mã, ARN- polimeraza, có thể liên kếtvào gen khởi đầu và đẩy các gen di chuyển về phía trước
Một cụm các gen cấu trúc như vậy với những chức năng liên quan, cùng với gen khởi
đầu và gen chỉ huy được gọi là một operon Operon chỉ tồn tại trong cơ thể tiền nhân.
Hình 1.2A trình diễn lac operon trong mô hình “ngắt” chỉ ra trạng thái khi ở đó không
có đường lactozo trong môi trường bao quanh tế bào Sự phiên mã bị ngắt (bị phong tỏa) bởi
phân tử protein được gọi là chất ức chế Đó là một protein hoạt động bằng cách liên kết với
gen chỉ huy và phong tỏa không cho ARN- polimeraza tiếp xúc với gen chỉ huy Gen điều hòa
(hình 1.2A) nằm phía ngoài operon; gen điều hòa mã hóa chất ức chế.
Sự biểu hiện của gen điều hòa xảy ra liên tục, do vậy tế bào luôn được cung cấp cácphân tử chất ức chế
Trang 7(Nguồn: Sinh học phát triển thực vật - Nguyễn Như Khanh)
Trang 8Làm sao các operon có thể đóng (hoạt động) nếu chất ức chế luôn xuất hiện? Hình1.2B (lac operon đóng) cho thấy lactozo cản trở sự hoạt động của chất ức chế bằng cách liênkết với chất ức chế hình thành nên phức hệ lactozo- chất ức chế làm biến đổi cấu hình của nó(chất ức chế) Với cấu hình mới, chất ức chế không có khả năng liên kết với gen chỉ huy vàgen này vẫn duy trì trạng thái đóng Ở trạng thái này, enzim ARN- polimeraza có thể liên kếtvới gen khởi đầu và từ đó nó bắt đầu trượt ngược dòng từ 5’ đến 3’ theo các gen của operon.mARN được sinh ra như là một phân tử đơn đã mang trình tự mã hóa của tất cả 3 enzim cầncho sự hấp thụ và sử dụng lactozo Tế bào có thể dịch thông tin thành các polipeptit tách biệt
vì rằng mARN có chứa các mã tín hiệu khởi đầu và kết thúc của quá trình dịch mã
(Nguồn: http://withfriendship.com/images/c/13181/3-operon-lac-operon.gif)
Lac operon chỉ là một trong nhiều kiểu operon trong cơ thể vi khuẩn Những kiểuoperon khác nhau cũng có gen khởi đầu, gen chỉ huy và một số gen cấu trúc, nhưng cácoperon khác nhau có các phương thức không giống nhay trong việc kiểm tra sự đóng, ngắtgen chỉ huy Trên hình 1.3 trình bày hai kiểu các operon kiểm soát chất ức chế Chất ức chếcủa lac operon ở trạng thái hoạt tính khi tự do và bị mất hoạt tính khi liên kết với lactozo
Trang 9Trên hình 1.3 cũng giới thiệu kiểu operon thứ hai, kiểu trp operon điều khiển theo cách
ngược lại Trp operon được điều khiển bởi chất ức chế mà khi ở trạng thái tự do thì bị mất
hoạt tính Để có hoạt tính, kiểu chất ức chế này phải liên kết với chất phân tử bé đặc hiệu Trong ví dụ trên hình 1.3, chất ức chế phân tử bé đó là axit amin tryptophan E Coli có thể
sản ra axit amin tryptophan nếu nó cần, bằng cách sử dụng các enzim được mã hóa trong trpoperon Nhưng nó sẽ ngừng sản sinh ra tryptophan và hấp thụ nó từ môi trường xung quanhkhi có thể Khi có sẵn tryptophan, chất này liên kết với chất ức chế của trp operon, hoạt hóachất ức chế của trp operon làm cho nó ngắt operon Như vậy, kiểu operon này cho phép vikhuẩn ngừng tổng hợp một số các chất chủ yếu khi các chất này đã có sắn trong môi trườnggiúp tiết kiệm nguyên liệu và năng lượng cho tế bào
(Nguồn: Sinh học phát triển thực vật - Nguyễn Như Khanh)
Ngoài hai kiểu operon vừa nếu còn có kiểu operon thứ ba Đó là kiểu operon sử dụngcác chất hoạt hóa Các chất hoạt hóa là các protein đóng operon bằng cách liên kết với cácADN Bằng cách nào đó các protein ấy làm cho các ARN- polimeraza dễ dàng liên kết vớigen khởi đầu hơn là phong tỏa enzim ARN- polimeraza, như trường hợp các chất ức chế tácđộng Ngoài ra còn các kiểu operon khác nữa
Trang 10Với việc trang bị các kiểu operon khác nhau được điều tiết theo cách sử dụng các chất
ức chế hay các chất hoạt hóa, E Coli và các cơ thể tiền nhân khác có thể phát triển được trong
những môi trường luôn biến động
b) Sự biểu hiện gen ở cơ thể có nhân (Eukaryote)
Trong cơ thể tiền nhân, sự dịch mã (translation) liên kết với sự phiên mã (transcription)
vì mARN phiên mã kéo dài ra, gắn với các riboxom và tổng hợp protein (dịch mã) Tuynhiên, trong cơ thể có nhân, màng nhân tách bộ gen ra khỏi bộ máy dịch mã Trước hết, trong
cơ thể có nhân, màng nhân tách bộ gen ra khỏi bộ máy dịch mã Trước hết các sản phẩmphiên mã được vận chuyển ra tế bào chất, phải được bổ sung các tuyến (mức độ) kiểm trakhác
- Sự đóng gói ADN trong nhiễm sắc thể của tế bào có nhân ảnh hưởng đến sự biểu hiện gen
Ví dụ, tổng ADN trong 46 nhiễm sắc thể của tế bào người nếu căng ra sẽ dài 3 mét(Neil Campbell et al., 1997) trong lúc đó đường kính của nhân điển hình chỉ là 5µm Tất cảADN trong mỗi tế bào đều nằm gọn trong nhân chờ có hệ thống xếp gấp (đóng gói) ADN tỉ
mỉ nhiều bậc trong mỗi một nhiễm sắc thể
Vai trò quyết định của sự đóng gói là mối liên kết ADN với protein phân tử bé đặchiệu có tên là histon chỉ phát hiện được ở cơ thể có nhân (vi khuẩn cũng có protein tương tự,
nhưng chúng không có sự xếp gấp nhiều bậc ADN như trong Eukaryote) Trên các ảnh hiển
vi điện tử phức hệ ADN- histon được hiện ra như là các hạt gần trên sợi dây Mỗi “hạt” có têngọi là nucleoxom (thể nhân), nucleoxom gồm có ADN quấn quanh protein có tám phân tửhiston Nucleoxom có thể giúp kiểm soát sự biểu hiện gen bằng cách hạn chế các enzim phiên
mã xâm nhập vào ADN Phần lớn các nucleoxom cũng chứa các protein không histon Tế bào
có nhân điển hình chứa khoảng 1000 các protein nhiễm sắc thể không histon khác nhau màphần nhiều trong chúng có thể tham gia điều tiết gen
Ở mức đóng gói tiếp theo của ADN, dây có gắn hạt lại được gói vào sợi xoắn kép chặt.Sau đó sợi xoắn kép đó lại được quấn tiếp vào cuộn dài hơn với đường kính khoảng 200 nm.Tiếp theo các cuộn ADN lại được thắt thành vòng và đóng gói chặt hơn nữa như ta có thểthấy nhiễm sắc thế ở kì giữa (metaphase) trong quá trình nguyên phân (mitosis) Sự xếp gấpnhiều bậc kế tiếp nhau trong sự đóng gói ADN làm cho mỗi nhiễm sắc thể chứa được lượngkhổng lồ ADN Vai trò của sự đóng gói ADN trong sự kiểm soát biểu hiện gen hầu như chưa
biết đầy đủ ngoại trừ một số ít trường hợp đặc biệt hấp dẫn Một trường hợp như vậy là thể
Barr (Barr body) được tìm thấy trong các tế bào ở cá thể cái của Động vật có vú Thể Barr là
Trang 11dạng nhiễm sắc thể X được đóng gói rất chặt Hầu hết các gẽn trong nhiễm sắc thể X là bị mấthoạt tính Khi con cái sinh ra, một trong hai nhiễm sắc thể X của các tế bào xoma là thể Barr(hình 1.4) và vì vậy mất hoạt tính Nhiễm sắc thể X trong tế bào nào đó bị mất hoạt tính làhoàn toàn ngẫu nhiên Kết quả là trong dị hợp tử cái đối với các gen trên nhiễm sắc thể X củacác tế bào khác nhau biểu hiện ra thành các alen khác nhau.
(Nguồn: Sinh học phát triển thực vật - Nguyễn Như Khanh)
Một ví dụ gây ấn tượng sâu sắc về ảnh hưởng đến kiểu hình của thể Barr là mèo calico
- Điều tiết sự biểu hiện gen ở mức phiên mã
Điều tiết sự biểu hiện gen ở mức phiên mã trong tế bào có nhân thường diễn ra như
trong cơ thể Prokaryota Kiến thức phần này cho đến nay chủ yếu là dựa vào các thành tựu
nghiên cứu trên đối tượng động vật Đối tượng được nghiên cứu tỉ mỉ về mặt di truyền là ruồi
giấm (Drosophila melanogaster) Sự biểu hiện ở mức phiên mã đã được phát hiện ở các tế
bào tuyến nước bọt của ấu trùng ruồi giấm là sự minh chứng về cơ chế điều tiết quá trìnhphiên mã trong các tế bào của cơ thể có nhân Đói với thực vật, mô hình biểu hiện gen đang
được nghiên cứu ở cây Arabidopsis thaliana (cải soong).
Trang 12Thực nghiệm đã cho thấy sự điều tiết hoạt tính biểu hiện gen liên quan đến các tín hiệuhóa học Các hoocmon là tín hiệu hóa học Chẳng hạn hoocomon steroid điều tiết sự phiên
mã của một số gen xác định bằng cách liên kết với protein điều hòa và hoạt hóa nó Trongtrường hợp này, protein điều hòa là một chất hoạt hóa (activator) Chất này hoạt hóa các genbằng cách liên kết các trình tự nucleotit (các gen đặc hiệu)
Người ta đã định rõ được số lượng lớn các protein hoạt hóa trong tế bào có nhân.Giống với các protein điều hòa trong cơ thể tiền nhân, nhiều protein hoạt hóa trong cơ thể cónhân hoạt động theo cách gắn vào ADN và bằng cách nào đó ảnh hưởng đến khả năng củaARN- polimeraza bắt đầu phiên mã
- Sự khác biệt trong tổ chức bộ gen của tế bào có nhân
(Nguồn: Sinh học phát triển thực vật - Nguyễn Như Khanh)
Trang 13Trong số lớn cơ thể có nhân, mỗi gen mã hóa một polipeptit đơn Bộ gen trong nhâncủa cơ thể có nhân không chứa operon trừ một số ngoại lệ (khoảng 25% số gen trong con
giun tròn Caenorhabitis elegans ở trong các operon Operon các ARN phiên mã trở thành các mARN có thể thực hiện mã hóa các polipeptit đơn (monocistronic mARNs) bằng cách phối
hợp sự phân cắt, poliadenin hóa và tách intron ra khỏi ARN (Kuersten và CS., 1997) Ngoài
ra, các gen trong cơ thể có nhân được phân thành các miền mã hóa gọi là exon và các miền không chứa mã thông tin gọi là intron (hình 1.5).
- Sự điều tiết sau phiên mã
Sau khi phiên mã từ ADN thành ARN gọi là tiền mARN (pre- mARN) hay ARN phiên
mã (RNA transcript) ARN này còn chứa các intron, do đó chưa có thể thực hiện sự dịch mã(tổng hợp protein) tiếp ngay như trường hợp vi khuẩn được Tiền ARN này phải trải qua quátrình chin (quá trình xử lí sau phiên mã) bao gồm công đoạn cắt bỏ các intron và nối các exonthành ARN gọi là ARN nối (RNA splicing), tiếp theo còn phải thực hiện quá trình tạo mũ(capping) và quá trình nối đuôi poly- A Khi đã hoàn tất các công đoạn xử lí đó, tiền ARN(pre- ARN) đã chin và gọi là ARN nối (mARN), mARN này phải rời khỏi nhân đi vào tế bàochất để khởi đầu sự dịch mã tổng hợp ra các protein tương ứng (hình 1.5)
+ Quá trình cắt bỏ intron và liên kết exon thành ARN nối có thể xảy ra theo hai cơ chế:
1 Quá trình được phức hệ protein và các ARN phân tử bé xúc tác; 2 Trong những trườnghợp xác định khác, sự nối kết các exon xảy ra hoàn toàn không có protein hay ARN phân tử
bé tham giá, ARN phiên mã (tiền ARN) tự xúc tác quá trình Nói cách khác, ARN hoạt độngnhư một enzim
Trang 14(Nguồn: http://thuviensinhhoc.violet.vn/entry/show/entry_id/1838862)
+ Chức năng sinh học của intron là gì? Hiện nay chưa có câu trả lời đầy đủ Tuy
nhiên, các nhà sinh học đã có những nhận xét về vai trò của intron như sau: Một số ADNkhông có intron không chứa những trình tự nucleotit bằng cách nào đó điều tiết hoạt tính gen.Quá trình cắt bỏ intron có thể giúp kiểm soát được dòng mARN từ nhân đến tế bào chất Hơnnữa, trong một số trường hợp, tế bào có thể thực hiện sự cắt bỏ intron và nối kết exon theocách khác nhau và do đó có thể tạo ra những phân tử mARN khác nhau từ cùng một tiềnmARN (hình 1.6)
Trang 15(Nguồn: Sinh học phát triển thực vật - Nguyễn Như Khanh)
Với cách như vậy, mỗi cơ thể có thể sản ra nhiều kiểu polipeptit từ một gen đơn Sựphân hóa giới tính cũng là do sự khác biệt lớn trong hình mẫu phân hóa của quá trình tạoARN nối (Neil A Campbell và CS., 1997)
Các intron cũng có thể góp phần vào tính đa dạng trong phát triển Chẳng hạn, sự traođổi chéo trong giảm nhiễm là một trong những nguồn chủ yếu của sự biến dị di truyền trong
cơ thể có nhân Sự có mặt của intron làm cho ADN dài ra bằng cách tăng số lượng các điểm,
nơi có thể diễn ra sự trao đổi chéo giữa hai alen của một gen Trong tính đa dạng di truyền
do sự có mặt của các intron có thể có ý nghĩa quan trọng trong sự tiến hóa của cơ thể có nhân
Trang 16(Nguồn: http://trithucsangtao.vn/i485-ctnnsh-bai-6 tu-dna-sang-rna-su-phien-ma.aspx)
Trước khi cắt bỏ intron, tiền mARN được chụp mũ bằng cách thêm mũmetylguanilat vào đầu 5’ mARN phiên mã được gắn mũ ngay sau khi bắt đầu tổng hợpmARN Một trong các chức năng của mũ 5’ là bảo vệ ARN đang được hình thành khỏi bịenzim ARN- aza phân giải Tại một bước về sau, trong quá trình tổng hợp sản phẩm phiên mãđầu tiên (ARN phiên mã) tại một vị trí đặc hiệu, đầu 3’ bị phân cắt và được gắn thêm đuôipoly- A (hình 1.7) thường gồm từ 100 đến 200 gốc adenilic
(Nguồn: Sinh học phát triển thực vật - Nguyễn Như Khanh)
Trang 17Đuôi poly- A có một sô chức năng: 1 Bảo vệ ARN khỏi ARN- aza và làm tăng tính ổnđịnh của phân tử mARN trong tế bào chất; 2 Đuôi poly- A và mũ tại 5’ cần cho sự chuyểnARN qua lỗ nhân; 3 Tăng hiệu suất phiên mã trên riboxom.
Các tác nhân phiên mã chung (general transcript factors) gắn vào phức hệ khởi đầuphiên mã (transcription inititionx complex) tại hộp TATA (TATA box) của trình tự khởi đầunằm trong 100 Cb tại vị trí bắt đầu phiên mã của gen
(Nguồn: http://murj.mit.edu/features/31) Các trình tự điều hòa dạng cis bổ sung như hộp CAAT (CAAT box) hay hộp GC (GC
box) liên kết với các tác nhân phiên mã có tác dụng tăng sự biểu hiện gen Các trình tự
nucleotit điều hòa từ xa phân bố xa hơn điểm ngược dòng (upstream) liên kết với các tác nhân
phiên mã khác được gọi là các chất hoạt hóa (activator) hay các chất ức chế (repressor).Nhiều gen thực vật cũng được các gen tăng cường (enhancer), những trình tự điều hòa dươngtính từ xa, điều khiển
Mặc dầu phân tán suốt khắp bộ gen, nhiều gen trong tế bào có nhân đều là gen cảmứng và cũng được điều tiết Các gen được điều tiết nhịp nhàng có các trình tự điều hòa dạngcis chung trong gen khởi đầu của chúng Hầu hết các nhân tố phiên mã trong thực vật chứanhịp chìa khóa cơ bản (bZIP)
Trang 18Trong cơ thể thực vật có nhóm quan trọng các tác nhân phiên mã: các gen phát sinhđồng nguồn (gen đồng dạng) chứa miền MADS (chữ cái đầu tiên của năm thành phần đầu củalớp gen: gen nấm men MCM- 1 mã hóa tác nhân phiên mã, các gen đồng dạng của cơ quanhoa AGAMOUS và DEFICIENS, tác nhân trả lời huyết thanh của thú, mammalian serum).
Quá trình tổng hợp hầu hết protein trong tế bào có nhân được điều tiết ở mức phiên
mã Sự phức tạp trong phiên mã của tế bào có nhân so với tế bào tiền nhân được biểu hiệntrong các khác biệt sau:
Đặc điểm cấu trúc cơ bản là sự biến động của nhịp khóa loxin có chứa những axit aminghét nước thay thế loxin và miền liên kết ADN chứa các axit amin Ví dụ hai protein chưa rõtrong cây ngô, các tác nhân hộp G chứa các gen điều hòa phitocrom, các tác nhân phiên mãliên kết các yếu tố trả lời liên kết axit abxixic (ABA)
Thứ nhất, tồn tại ba polimeraza khác nhau trong tế bào có nhân: I, II, III polimeraza I định cư trong nhân con và có chức năng tổng hợp hầu hết ARN riboxom, ARN- polimeraza II cũng phân bố trong cơ chất nhân (nucleoplasm) có chức năng tổng hợp tiền
ARN-mARN, ARN- polimeraza III cũng phân bố trong cơ chất nhân chịu trách nhiệm tổng hợp
những ARN bé như tARN và rARN 5s
Thứ hai, ARN- polimeraza tế bào có nhân đòi hỏi các protein bổ sung gọi là các tác nhân phiên mã chung được chính xác vào vị trí khởi đầu (initition site) Còn ARN-
polimeraza trong tế bào tiền nhân cũng đòi hỏi các polipeptit phụ có tên gọi là tác nhân
sigma (δ)) Các polipeptit này là các bộ phận dưới đơn vị của ARN- polimeraza Ngược lại,
các tác nhân sau phiên mã chung tạo thành phức hệ khởi đầu phiên mã nhiều kiến trúc dướiđơn vị (multisubunit) Ví dụ, bảy tác nhân phiên mã chung cấu thành phức hệ khởi đầu(initition complex) của ARN- polimeraza II, mỗi một tác nhân phải được bổ sung theo mộttrật tự xác định trong thời gian tập hợp
Thứ ba là sự khác biệt trong tính phức tạp của gen khởi đầu, trình tự ngược dòng (5’)
của vị trí khởi đầu điều tiết sự phiên mã Có thể chia cấu trúc của đoạn khởi đầu thành haiphần: Phần lõi (core) hay phần khởi đầu tối thiểu (minimum promoter) gồm trình tự ngượcdòng tối thiểu (minimum upstream sequence) cần cho sự biểu hiện gen và các trình tự điềuhòa bổ sung thực hiện sự kiểm tra hoạt động của phần hoạt động lõi
Mỗi một trong ba ARN- polimeraza có kiểu các đoạn khởi đầu khác nhau
Các trình tự ADN tự chúng hoạt động được gọi là trình tự dạng cis vì chúng ở sát kề
với các đơn vị phiên mã mà chúng điều hòa Các tác nhân phiên mã gần với trình tự dạng cis
Trang 19gọi là các tác nhân dạng trans vì các gen mã hóa chúng phân bố tại đâu đó trong bộ gen.
Nhiều các trình tự dạng cis phân bố xa điểm ngược dòng của các trình tự đoạn khởi đầu gầntâm có thể kiểm tra dương hay âm đối với các phần khởi đầu trong tế bào có nhân Các trình
tự ấy được gọi là các trình tự điều hòa từ xa và chúng thường phân bố trong 1000 Cb của vị
trí bắt đầu phiên mã Các tác nhân phiên mã (protein) dạng dương tính liên kết vào các vị trí
ấy được gọi là các chất hoạt hóa, còn những tác nhân ức chế sự phiên mã gọi là chất ức chế.
Sự điều tiết biểu hiện gen do các hoocmon thực vật liên quan với hiện tượng mất hoạttính của các protein ức chế Các trình tự dạng cis liên quan với cơ chế điều tiết gen do
phitohoocmon hay do những tác nhân hóa học khác gọi là thành tố trả lời (response
elements) Các trình tự điều hòa dương tính phân bố xa gọi là gen tăng cường Gen tăng
cường có thể phân bố hoặc ngược dòng hoặc xuôi dòng so với gen khởi đầu Nhiều thành tốtrả lời điều tiết sự biểu hiện gen đã được nhận diện ở trong cơ thể thực vật
- Điều tiết sự biểu hiện gen ở mức trong và sau dịch mã
Ở cơ thể có nhân, sau khi đã xử lí ARN phiên mã thành mARN chin (đã loại bỏ intron,gắn mũ và gắn đuôi), mARN rời nhân vào tế bào chất Xuất hiện cơ hội điều tiết biểu hiệngen
+ Thời gian sống của phân tử mARN là tác nhân điều tiết biểu hiện gen ở mức dịch mã
Nói chung mARN sống lâu có thể tổng hợp được nhiều protein hơn so với mARN có
đời sống ngắn mARN trong cơ thể Prokaryote có thời gian sống rất ngắn, chúng bị các enzim
phân giải chỉ sau ít phút Đó là một trong các nguyên nhân làm cho vi khuẩn có thể thay đổinhanh protein của chúng trong phản ứng trả lời đối với môi trường biến đổi
Ngược lại, trong cơ thể Eukaryote mARN có thời gian sống hang giờ hoặc thậm chí
hàng tuần lễ Ví dụ ấn tượng nhất là thời gian sống lâu của mARN trong các tế bào hồng cầucủa Động vật có xương sống đến một tháng ở Chim và còn lâu hơn ở Bò sát, Ếch nhái, Cá
Trong cơ thể có nhân tồn tại những cơ chế điều tiết sau dịch mã:
Cơ chế điều tiết sau dịch mã bao gồm cắt các polipeptit thành các sản phẩm cuối cùng
bé hơn và hoạt tính hơn
Nhịp điệu ổn định hay phân giải các mARN khác biệt giữa các mô phụ thuộc vào trạng
thái sinh lí của cây Ví dụ, ở cây Đậu (Vicia faba) sự nhiễm bệnh nấm đã gây nên sự phân giải
mARN vốn mã hóa protein giàu prolin với vách tế bào cây Đậu Ví dụ khác về sự điều tiết
Trang 20biểu hiện gen của một trong các gen đối với cấu trúc dưới đơn vị bé của chất rubico trong rễ
cây bèo tấm (Lemma gibba) Rễ bèo tấm quang hợp và vì vậy nó biểu hiện gen đối với cấu
trúc dưới đơn vị rubico, nhưng sự biểu hiện của một trong các gen ở trong rễ thấp hơn trong
lá Jane Silverthorne và cộng sự đã cho thấy mức biểu hiện gen thấp như vậy ở bèo tấm là donhịp điệu phân giải cao của mARN của gen đó ở trong nhân (Peters and Silverthorne, 1995)
Tính ổn định trong dịch mã của các phân tử mARN cũng biến động Chẳng hạn, sự xếp
gấp ARN thành các phân tử có cấu trúc bậc hai, bậc ba biến đổi cũng gây ảnh hưởng đến khảnăng đạt đến riboxom của mã khởi đầu dịch mã (trình tự AUG đầu tiên)
Việc sử dụng mã cũng là một tác nhân khác có thể ảnh hưởng đến khả năng dịch mã của một mARN Sự dư thừa trong mã bộ ba vốn đặc hiệu với mỗi axit amin trong dịch mã và
mỗi một tế bào có nhịp điệu riêng đặc trưng cho mỗi tARN mang axit amin được gọi là độ
lệch mã (codon bias) Cuối cùng, vị trí của tế bào, nơi diễn ra sự dịch mã cũng ảnh hưởng đến
nhịp điệu của quá trình biểu hiện gen Những polixom tự do có thể dịch mARN với những tốc
độ rất khác nhau tùy thuộc vào mối liên kết polixom với màng lưới nội sinh chất, thậm chíbên trong lưới nội sinh chất cũng có thế tồn tại những nhịp điệu dịch mã khác nhau Có thểtóm tắt quá trình điều tiết biểu hiện gen trong tế bào có nhân như trên hình 1.8