Do đó, những giá trị vănhóa của dân tộc Cơtu tại đây sẽ góp một phần không nhỏ trong việc phát triển loạihình du lịch sinh thái – văn hóa độc đáo, hấp dẫn thu hút được nhiều khác du lịch
Trang 1Để đạt được kết quả này, trước hết tôi xin gởi lời cảm ơn đến Ba Mẹ là người
đã sinh ra, nuôi dưỡng và luôn tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi học tập Tiếp theotôi xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến nhà trường nơi tôi được học tập, được rèn luyện
Và một lời cảm ơn chân thành đến khoa khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt tôimuốn gởi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn đến Thầy Nguyễn Thanh Sinh,người đã tận tình, tận tâm trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này Nhânđây tôi cũng xin cảm ơn Sở Văn Hóa Thể Thao và Du Lịch Đà Nẵng đã tạo điềukiện, giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập và cung cấp tài liệu cho khóa luận tốtnghiệp
Dù đã có rất nhiều cố gắng, song luận văn chắc chắn không thể tránh khỏinhững thiếu sót và hạn chế Kính mong nhận được sự chia sẻ và những ý kiến đónggóp quý báu của Hội đồng và các thầy cô giáo
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn
Đà Nẵng, tháng 4 năm 2011 Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Hoài My
SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH Trang 1
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài này là do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn củaThầy Nguyễn Thanh Sinh Tất cả tài liệu mà tôi dùng để tham khảo đều được tôi liệt
kê đầy đủ ở mục tài liệu tham khảo.
Đà Nẵng, tháng 4 năm 2011 Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Hoài My
SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH Trang 2
Trang 3A – LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với sự có mặt của
54 dân tộc anh em phân bố từ Bắc đến Nam Mỗi dân tộc đều mang những bản sắcriêng, độc đáo và hấp dẫn Điều này đã tạo nên cho nước ta một nền văn hóa hết sứcphong phú và đa dạng Đặc biệt hơn nữa chính sự đa dạng và phong phú này đã đemlại cho Việt Nam phát triển ngành Du lịch – ngành công nghiệp không khói đem lạihiệu quả kinh tế cao
Đà Nẵng là một vùng đất không chỉ có bề dày lịch sử, văn hóa mà còn cónhiều tài nguyên về tự nhiên và tài nguyên nhân văn để phát triển du lịch Nói đến
Đà Nẵng người ta sẽ nghĩ đến một thành phố trẻ, sôi động với nền kinh tế đang trên
đà phát triển và những bãi biển xinh đẹp Và sẽ ít ai biết đến một dân tộc thiểu sốCơtu đang sinh sống tại đây Tuy chỉ tập trung trên mấy làng nhỏ ở huyện HòaVang – thành phố Đà Nẵng nhưng sự có mặt của tộc người Cơtu trên địa bàn huyện
đã góp phần tô điểm cho bức tranh văn hóa của thành phố Đà Nẵng
Hiện nay, ở huyện Hòa Vang - Đà Nẵng đang phát triển một cách tự phátloại hình du lịch cuối tuần của người dân trung tâm thành phố và cũng có nhiều dự
án đầu tư, quy hoạch thành một điểm du lịch của Đà Nẵng Do đó, những giá trị vănhóa của dân tộc Cơtu tại đây sẽ góp một phần không nhỏ trong việc phát triển loạihình du lịch sinh thái – văn hóa độc đáo, hấp dẫn thu hút được nhiều khác du lịchkhông chỉ trong thành phố và các vùng lân cận mà còn cả khách du lịch trong cảnước, thậm chí du khách quốc tế khi đến Đà Nẵng nếu được khai thác tốt Nhưngtrong xu thế hội nhập ngày nay thì dường như những nét văn hóa truyền thống củadân tộc Cơtu đang dần bị mai một Chính vì vậy, việc nghiên cứu văn hóa dân tộcCơtu trên địa bàn huyện một cách toàn diện và sâu sắc nhằm định hướng cho việcbảo tồn, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa về lâu dài và để khai thác các giá trị
đó để phục vụ du lịch – ngành kinh tế đang ngày càng đem lại nguồn thu to lớn cho
địa phương là một việc làm hết sức bức thiết Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Khai thác văn hóa dân tộc Cơtu để phục vụ du lịch ở huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng ”
làm đề tài nghiên cứu với hi vọng sẽ góp một phần nhỏ vào việc khai thác, nghiên
SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH Trang 3
Trang 4cứu các giá trị văn hóa ở đây góp thêm một chút tư liệu trong nghiên cứu lịch sử,văn hóa thành phố Đà Nẵng để nói riêng.
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Nhiệm vụ:
Tìm hiểu văn hóa tộc người Cơtu ở huyện Hòa Vang có thể tìm hiểu về cácluồng di cư, di dân, các tộc người ở đây trong lịch sử, nắm được các thành phần tộcngười, đặc biệt là tìm hiểu được một cách sâu sắc những nét văn hóa của tộc ngườinày, góp phần làm sáng tỏ vấn đề lịch sử, văn hóa của thành phố Đà Nẵng
Bên cạnh đó, góp thêm tư liệu cho việc nghiên cứu dân tộc, văn hóa huyệnHòa Vang, vận dụng chính sách phát triển vùng sâu, vùng xa, nhất là những vùngdân tộc thiểu số một cách hợp lý, và đặc biệt sẽ là nguồn tư liệu để các nhà đầu tư,kinh doanh du lịch khai thác những giá trị văn hóa đó xây dựng nên một điểm dulịch sinh thái – văn hóa hấp dẫn cho thành phố Đà Nẵng
SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH Trang 4
Trang 5dân tộc khác “Truyện kể về phong tục, truyền thống văn hóa của các dân tộc ViệtNam” Tập 1 - Nguyễn Trọng Báu – NXBGD Sách miêu tả và kể lại phong tục, tậpquán của 54 dân tộc anh em, trong đó có giới thiệu về nguồn gốc cũng như một sốtục của dân tộc Cơtu như: tục săn máu, tục cướp vợ,…“Luật tục của người Tà Ôi,Cơtu, Bru-Vân Kiều ở Quảng Trị, Thừa Thiên Huế’ - Nguyễn Văn Mạnh – NXBThuận Hoá Trình bày về các luật tục trong ăn uống, làm nhà, hôn nhân, trang phục,
…của người Tà Ôi, Cơtu, Bru-Vân Kiều
Nhìn chung, các dân tộc được giới thiệu trong các cuốn sách này đã trình bàykhá chi tiết, cụ thể về các mặt của đời sống xã hội.Tuy nhiên, với việc nghiên cứucác giá trị văn hóa của các dân tộc này để phục vụ cho việc phát triển du lịch thìdường như là chưa có một công trình nào
Đối với huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng, dân tộc Cơtu có lịch sử vănhoá lâu đời Trong quá trình hình thành và phát triển, tộc người Cơtu ở đay đã tạocho mình vốn văn hoá truyền thống đặc sắc vừa có nét tương đồng, vừ có nhữngđiểm riêng biệt được thể hiện trong đời sống vật chất và tinh thần hết sức dộcđáo.Do dân số ở đây ít địa bàn cư trú lại ở phía Tây Đà Nẵng – vùng núi cao hiểmtrỏ, trước đây giao thong đi lại khó khăn.Vì vậy, cũng chưa có một công trình nàonghiên cứu một cách thật sâu sắc, kỹ lưỡng về loại hình văn hoá truyền thống của
họ cũng như các loại hình văn hoá để phát triển du lịch
5 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận:
Nghiên cứu đề tài này, tôi đứng trên lập trường của chủ nghĩa Mác-Lênin,quan điểm của Đảng về nghiên cứu, xem xét sự vật, hiện tượng
* Phương pháp cụ thể:
- Thu thập tài liệu, so sánh, tổng hợp và đánh giá theo nghiên cứu của đề tài
- Vận dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic trong việc trình bày vấnđề
Ngoài ra, tôi còn coi trọng công tác điền dã
6 Kết cấu của bài báo cáo
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về huyện Hòa Vang và dân tộc Cơtu trên địa bàn huyện
SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH Trang 5
Trang 6Chương 2: Các giá văn hóa dân tộc Cơtu có thể khai thác để phát triển du lịch.Chương 3: Thực trạng và một số giải pháp, định hướng khai thác các giá trị văn hóadân tộc Cơtu để phát triển du lịch
SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH Trang 6
Trang 7B – PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HUYỆN HÒA VANG VÀ DÂN TỘC CƠTU
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN1.1 Tổng quan về huyện Hòa Vang:
Hòa vang là huyện ngoại thành duy nhất của Thành phố Đà Nẵng, với cơ cấukinh tế chủ yếu là nông nghiệp Sau khi thực hiện nghị định 102/2005/NĐ-CP ngày
05 tháng 8 năm 2005 của Chính phủ về việc chia tách địa giới hành chính một số xãcủa huyện để thành lập mới quận Cẩm Lệ, địa giới hành chính huyện còn lại 11 xãvới tổng diện tích tự nhiên 73.691 ha
1.1.1 Đặc điểm địa lý, tự nhiên
* Về vị trí địa lý:
Kinh độ: 15°56' Bắc đến 16°13' Bắc Vĩ độ: 107°49' Đông đến 108°13' Đông Phía đông giáp quận Ngũ Hành Sơn, quận Liên Chiểu, quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng, phía tây giáp huyện Đông Giang tỉnh Quảng Nam, phía nam giáp huyện Đại lộc, Điện Bàn tỉnh Quảng Nam, phía bắc giáp huyện Nam Đông, Phú
Lộc tỉnh Thừa Thiên Huế
Địa giới hành chính gồm 11 xã gồm 03 xã đồng bằng (Xã Hòa Châu, HòaTiến, Hòa Phước), 04 xã Trung du (Xã Hòa Nhơn, Hòa Phong, Hòa Khương, HòaSơn) và 04 xã miền núi (Xã Hòa Liên, Hòa Ninh, Hòa Phú, Hòa Bắc)
Vị trí địa lý thuận lợi giúp cho Hòa Vang có thể khai thác tốt hơn nguồn tàinguyên thiên nhiên, nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội
* Về địa hình:
Địa hình Hòa Vang rất đa dạng, bao gồm 3 loại địa hình là miền núi, trung
du và đồng bằng
Vùng đồi núi: phân bố ở phía Tây, có diện tích khoảng 56.476,7 ha, bằng
78,84% tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện Là nơi tập trung nhiều rừng đầunguồn có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái của thành phố Đà Nẵng Địa hình đấtđai của vùng này thích hợp cho việc phát triển lâm nghiệp, nông nghiệp và du lịch
SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH Trang 7
Trang 8Vùng trung du: chủ yếu là đồi núi thấp có độ cao trung bình từ 50m đến
100m, xen kẽ là những cánh đồng hẹp với diện tích 11.170 ha, chiếm 15,74% diệntích toàn huyện Địa hình và đất đai ở đây phù hợp cho việc trồng cây can, có nhucầu nước ít, chịu được hạn
Vùng đồng bằng: tập trung ở phía Đông với diện tích là 3.087 ha, chiếm
4,37% diện tích tự nhiên Đây là vùng nằm ở độ cao 2 – 10m, hẹp nhưng tương đốibằng phẳng Đất phù sa ven sông và đất cát là hai loại đất đặc trưng của vùng, thíchhợp cho việc rồng rau, lúa, hoa màu Tuy nhiên, có yếu tố không thuận lợi là do địahình thấp, khu vực này thường bị ngập lụt trong những ngày mưa lũ lớn
Địa hình đa dạng của Hòa Vang cùng với kết cấu đất vững chắc thuận lợicho bố trí các công trình hạ tầng kỹ thuật, tạo cho huyện tiềm năng phát triển mộtnền kinh tế với thế mạnh nông nghiệp và du lịch nhưng đồng thời cũng có nhiềukhó khăn, thác thức như hạn hán, lũ lụt,…cần giải quyết
* Về khí hậu, thủy văn:
Hòa Vang nằm trong vùng khí hậu giao thoa giữa Bắc Hải Vân với Nam HảiVân, giữa Đông Trường Sơn với Tây Trường Sơn, tạo nên nền khí hậu nhiệt đới giómùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động Mỗi năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưakéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng cónhững đợt rét mùa đông không đậm và không kéo dài
Nhiệt độ trung bình hằng năm lầ 25,80C, cao nhất vào các tháng 6, 7, 8 vớinhiệt độ trung bình 28 – 300C, thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2; trung bình khoảng
18 – 230C Riêng vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500m nên có nhiệt độ trungbình khoảng 200C
Độ ẩm trung bình hằng năm là 1164 mm, mưa lớn tập trung vào hai tháng 10
và 11 Các hướng gió thịnh hành là gió mùa đông bắc từ tháng 11 đến tháng 2; giómùa đông nam và tây nam vào tháng 5 và tháng 7 Huyện thường xuyên chịu ảnhhưởng của bão, trung bình hằng năm có một đến 2 cơn bão đi qua
Số giờ nắng bình quân hàng năm 2.067,9 giờ; nhiều nhất là vào tháng 5, 6trung bình từ 233 đến 262 giờ/tháng; ít nhất là vào tháng 12 và tháng 1, trung bình
58 đến 122 giờ/tháng
SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH Trang 8
Trang 9Hòa Vang có khá nhiều song với 3 sông chính là sông Cu Đê, sông Cẩm Lệ,sông Vĩnh Điện, một số sông nhỏ như sông Yên, sông Bầu Sấu và nhiều ao hồ khác.Nhìn chung chất lượng các sông đều đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất, trừsông Cẩm Lệ và sông Cu Đê bị nhiễm mặn thủy triều vào thời gian mùa khô từtháng 5 đến tháng 6.
* Về tài nguyên đất:
Theo số liệu thống kê năm 2008, tổng diện tích đất tự nhiên của Hòa Vang là73.691 ha Hai nhóm đất có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp lànhóm đất phù sa ở khu vực đồng bằng thích hợp với thâm canh lúa, trồng rau, hoaquả và nhóm đất đỏ vàng ở vùng đồi núi thích hợp với cây công nghiệp dài ngày,chăn nuôi gia súc
* Về tài nguyên rừng:
Huyện Hòa Vang có nguồn tài nguyên rừng phong phú, đây là một thế mạnhcủa huyện Diện tích đất nông nghiệp hiện có là 53.406,3 ha, chiếm 88,84% Trong
đó đất rừng sản xuất là 29884,61 ha (41% diện tích đất tự nhiên ), đất rừng phòng
hộ là 12658,72 ha ( chiếm tỉ trọng 17,9% diện tích tự nhiên ), đất rừng đặc dụng là
10853 ( 15,3% diện tích tự nhiên ) Tỉ lệ che phủ rừng khoảng 70% ( năm 2007)
Tài nguyên rừng của huyện có vai trò quan trọng đối với đời sống kinh tế xãhội của nhân dân trong huyện Ngoài vai trò phòng hộ cho huyện và thành phố ĐàNẵng, rừng còn thế mạnh, có nhiều tiềm năng trong việc phát triển các ngành mũinhọn như khai thác chế biến lâm sản, dịch vụ du lịch
* Tài nguyên khoáng sản:
Tài nguyên khoáng sản ở Hòa vang chủ yếu là các loại khoáng sản làm vậtliệu xây dựng, bao gồm: đá ốp lát, đá phục vụ xây dựng, đá mỹ nghệ, tập trung chủyếu ở các xã trung du và miền núi hư: Hòa Sơn, Quá Giáng Đất sét với trữ lượnglớn để sản xuất gạch ngói có hầu hết các xã đồng bằng và trung du Ngoài ra, đãphát hiện quặng Volfram ở Hòa Ninh, quặng thiếc ở Đồng Nghệ (Hòa Khương)nhưng trữ lượng không lớn
Với các đặc điểm địa lý, tự nhiên trên cho thấy, Hòa Vang có nhiều lợi thế đểphát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, những đặc điểm này cũng đã gây ra nhiều khó
SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH Trang 9
Trang 10khăn về lũ lụt do vậy, huyện Hòa Vang cần có những chính sách hợp lý để khaithác có hiệu quả hơn những lợi thế và đồng thời cũng hạn chế những khó khăn.
1.1.2 Vài nét về lịch sử, văn hóa
Vùng đất Hòa Vang xưa vốn là vùng đất Chiêm Thành, cha ông ta đã theobước chân của các vua chúa, đi mở mang bờ cõi, khai phá vùng đất mới Qua baonhiêu thế hệ kế tiếp nhau phải đổ biết bao nhiêu mồ hôi công sức, trên rừng xanhdưới mảnh đất ruộng vườn, cũng hơn một thế kỷ sau mới hình thành được Làngxóm, Thôn ấp
Và cũng từ đây, các xóm làng như Túy Loan (1470), Bồ Bản (1476) Phong
Lệ, Cẩm Toại, Đại La được hình thành và gắn liền với địa danh Hòa Vang ngày
ấy Theo sách Đại Nam nhất thống chí thì huyện Hoà Vang được ghi danh vào bản
đồ của nước Việt Nam vào năm 1605 - đầu bản triều - tức là đầu nhà Nguyễn
Qua từng giai đoạn lịch sử khác nhau, Hòa Vang cũng có chuyển biến theo
nó Đó là sự chia tách và sáp nhập lại của chính quyền vua chúa để dễ dàng cho việccai quản, từ đó lỵ sở của huyện Hòa Vang cũng thay đổi theo như ở đời Gia Longthứ nhất (1802), đóng tại Ái Nghĩa, đến năm Minh Mệnh thứ V (1824) lại dờixuống Hoá Khuê Trung Tây Đến năm Tự Đức thứ hai (1848) lại trở về đóng tạiphía Tây bắc của xã Ái Nghĩa Năm 1899 lại dời về xã Bình Thuận và huyện HòaVang thuộc phủ Điện Bàn gồm có 7 tổng: Bình Thái, Thanh An, An Phước, PhướcTường, Hòa An, Tổng Giáo với 158 xã, thôn
Sau khi kí hiệp ước Geneve, triều đình nhà Nguyễn lại cắt một số đất củahuyện Hòa Vang làm nhượng địa cho thực dân Pháp Trước sự đàn áp và bóc lột,quân và dân ta đã đứng lên đoàn kết chống lại quyết liệt Từ Chi bộ Phổ Lỗ Sỹ, Chi
bộ Phú Lộc ra đời đầu tiên thời kỳ năm 1939-1940 cho đến khi Huyện uỷ lâm thờiđược thành lập để lãnh đạo nhân dân kháng chiến Để thuận lợi cho việc hoạt độngcũng như tránh được sự càn quét của kẻ thù, Huyện uỷ Hoà Vang và cán bộ cácngành đoàn thể về tạm ở Đồng Nghệ sau lên Đồng Xanh xây dựng khu căn cứ đểbám trụ Đây là một vùng núi hoang vu, ở phía tây xã Phước Hiệp, trên triền núiphía nam có xóm Orây của đồng bào dân tộc ít người, có đường tắt qua Đá Nhảylên Trung Man, chỉ có một con đường độc đạo đi ra Đồng Nghệ rồi xuống đường 14
do đó đây là căn cứ rất an toàn
SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH Trang 10
Trang 11Trước CMT8 – 1945, Quảng Nam thuộc liên khu V, huyện Hoà Vang bấygiờ hợp xã nhất từ các xã cũ thành 28 xã mới Sau năm 1954, chính quyền Sài Gònchia tỉnh Quảng Nam thành hai tỉnh: Quảng Nam và Quảng Tín, các huyện đổithành quận, quận Hoà Vang được chia làm 5 khu Đến giữa 1958, lại tách quận HoàVang ra thành 2 quận: Hoà Vang và Hiếu Đức
Trong giai đoạn 1954-1960 dưới chế độ độc tài Ngô Đình Nhiệm - tay saicủa đế quốc Mỹ, với chính sách “tố cộng” và luật 10/5, Hoà Vang đã bị biến thànhnhà tù rộng lớn, bắt bớ, giam cầm, chém giết hàng vạn cán bộ, đảng viên và nhândân Chúng biến nhà lao Phú Hòa, Tùng Sơn, Túy Loan thành “địa ngục trầngian”, tra tấn cực kỳ dã man, để bắt cán bộ đảng viên ly khai với Đảng, khai báo cán
bộ, cơ sở cách mạng đang hoạt động
Để thuận tiện cho việc cai quản khu Trung bộ, ngày 31/7/1962 chính quyềnmiền Nam do tổng thống Việt Nam Cộng Hoà ký sắc lệnh số 162-NV chia tỉnhQuảng Nam thành 2 đơn vị hành chính là Quảng Nam và Quảng Tín Quảng Tín từ
bờ nam sông Thu Bồn trở vào, tỉnh Quảng Nam từ bờ bắc sông Thu Bồn trở ra HoàVang thuộc tỉnh Quảng Nam Ngược lại, chính quyền kháng chiến tỉnh Quảng Namquyết định chia tỉnh Quảng Nam thành 2 đơn vị hành chính: tỉnh Quảng Tín từ bờbắc sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Đà từ bờ nam sông Thu Bồn trở về Hoà Vang thuộctỉnh Quảng Đà
Trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, đội quân viễn chinh Mỹ đổ bộ vào
Đà Nẵng, tiến hành cuộc “chiến tranh cục bộ” tại niềm Nam Việt Nam Hòa Vangnhận nhiệm vụ lịch sử, chạm trán đầu tiên với đội quân xâm lược này bằng cuộc đấutranh vũ trang và đấu tranh chính trị quyết liệt Từ Hải Vân đến Ngũ Hành Sơn, cóthể nói nơi nào trên mảnh đất Hòa Vang cũng biến thành chiến trường ngút ngànkhói đạn bom, nơi nào cũng gánh chịu nhiều đau thương tang tóc, nhưng nơi nàocũng in dấu chiến công oanh liệt của quân và dân ta đánh Mỹ thắng Mỹ Địch muốnbiến Hòa Vang thành vành đai trắng để bảo vệ căn cứ chiến lược liên hợp hải-lục-không quân tại Đà Nẵng, để tiêu diệt lực lượng cách mạng, giành thế tiến công chủđộng trên toàn chiến trường Do đó chiến dịch trực thăng vận, chiến xa vận, càntrắng, bình định cấp tốc địch đều thực hiện hết sức quyết liệt tại đây Chỉ trongvòng 3 năm, từ 1966-1968 gần như toàn bộ xóm làng trên toàn huyện đều bị địch
SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH Trang 11
Trang 12đánh phá hoang tàn, kể cả núi rừng sấm uất của Hòa Vang cũng bị bom đạn Mỹđánh phá trơ trụi Nhân dân 4 vùng của Hòa Vang đều bị địch bắt vào các trại tậptrung vơi mưu đồ đánh mất chỗ dựa của cách mạng.
Sau 1975, Uỷ ban nhân dân Cách mạng Khu Trung bộ ra Quyết định số 119/
QĐ vào ngày 10/4/1975 hợp nhất hai tỉnh Quảng Đà và Quảng Nam thành một đơn
vị hành chính với tên gọi tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng Với những chiến công đãdành được trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cũng nhưthành quả trong công cuộc xây dựng quê hương, 30 năm qua Đảng bộ và nhân dânhuyện Hoà Vang đã vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng các danh hiệu caoquý như sau: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước vào năm 1978, Anh hùng Lực lượng công an nhân dân trong thời kỳchống Mỹ Đây là điểm son sáng chói, ghi nhận những đóng góp của quân và dânHòa Vang trong sự nghiệp bảo vệ Tổ Quốc và xây dựng đất nước Hiện nay, toànhuyện có 636 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 4.806 liệt sỹ, 1.602 thương binh, 970chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày, có 9/14 xã được phong tặng danh hiệu Anhhùng lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó xã Hòa Tiến được 3 lần phong tặngdanh hiệu Anh hùng Đó là truyền thống vinh quang, niềm tự hào và hành trang đểnhân dân và cán bộ huyện Hòa Vang bước vào thời kỳ đổi mới
Tại kỳ họp lần thứ 10, quốc hội khoá IX nước ta (từ ngày 13/10/1996 đến12/11/1996) đã quyết định tách tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng thành 2 đơn vị hànhchính là tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung Ương Ngày23/01/1997, Chính phủ ra Nghị định số 07/CP về việc thành lập các đơn vị hànhchính trực thuộc thành phố Đà Nẵng gồm 5 quận và 2 huyện Huyện Hoà Vangđược sáp nhập cùng với thành phố Đà Nẵng và huyện Hoàng Sa trở thành 7 quậnhuyện: Hải Châu, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Liên Chiểu, Thanh Khê, huyện HoàVang, huyện Hoàng Sa trở thành thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương HoàVang lúc bấy giờ bao gồm 14 xã Đến ngày 05/8/2005, Chính phủ ban hành Nghịđịnh số 102/2005/NĐ thành lập quận Cẩm Lệ thuộc thành phố Đà Nẵng và huyệnHoà Vang đến thời điểm này bao gồm 11 xã: Hoà Châu, Hoà Tiến, Hoà Phước, HoàPhong, Hoà Nhơn, Hoà Khương, Hoà Phú, Hoà Sơn, Hoà Ninh, Hoà Liên, Hoà Bắc,
cơ quan huyện đóng tại xã Hoà Phong
SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH Trang 12
Trang 13Có thể nói, Hòa Vang không chỉ là vùng đất có bề dày lịch sử, kiên cườngtrong chiến đấu, cần cù trong lao động sản xuất mà còn là vùng đất có truyền thốngvăn hóa lâu đời.
Hòa Vang đã trải qua nhiều nền văn hóa Thời tiền sử, Hòa Vang có văn hoáBàu Dũ, văn hoá Sa Huỳnh, sau đó lại gắn liền với văn hoá Chăm của vương quốcChiêm Thành Và văn hoá Chăm và văn hoá Việt đã có sưn giao lưu, hỗn hợp lẫnnhau Trên nền tảng truyền thống, cư dân Hoà Vang đã tiếp biến các tinh hoa vănhoá Chăm và các nguồn văn hoá ngoại nhập tạo nên sức sống mới cho văn hoá nơiđây Làng xã Hoà Vang được thành lập từ sớm với nhiều nét cũng giống làng xã cổtruyền của cư dân Việt phía Bắc
Về ở, đầu thế kỉ XX, người Hoà Vang chủ yếu vẫn ở nhà tranh, vật liệu chủyếu là tre, 2 khu được tạo thành hai chái và một gian lợp tranh Nhà thấp, nền cao,đêm sụp cửa xuống, ngày cống củă lên làm phần hiên nhà Ngày nay, người dân đã
bỏ cửa phên tre, dung loại cửa khép mở Thời Pháp thuộc, một số gia đình giàu cólàm được nhà tường lợp ngói âm dương, sang trọng Đến thời Mỹ xâm lược, vật liệulại thay bằng tôn, phên che bằng ván ngo, ván ép Nay nhà cửa của người dân đãkhang trang đúc bằng bê tông cốt thép kiên cố
Về đi lại, ngay từ khi vào Nam khai cơ lập nghiệp, các tộc họ ở Hoà Vang đi
bộ là chủ yếu, có khi đi ghe trên song Cổ Cò Đường làm rất hẹp với một hệ thốngđường nông thôn chi thít cắt dọc ngang thành nhiều làng xóm Người ta đi lại chủyếu bằng chân đất Nhà giàu có thể sắm được đôi guốc xà lan Xuân Dương hoặcgốc tự đẽo bằng tre, bằng gỗ mức hoặc bằng các loại mo Ngày nay, nhiều loại guốckhác nhau bằng da bền đẹp, sang trọng Phương tiện giao thông thì đa dạng, hiệnđại
Ăn uống của cư dân Hoà Vang khá dân dã, đơn giản Hằng ngày họ ăn haibữa cơm: trưa và tối Lúc đầu cuộc sống khó khăn nên người ta thường độn các loại
củ như sắn, bắp,…vào nấu chung với gạo Đến đầu thế kỷ XXI mới chấm dứt.Ngoài cơm còn có xôi được nấu vào những ngày giỗ kị, việc tộc, việc phổ Bêncạnh đó còn có những loại bánh như: bánh tét, bánh tổ bánh gai…
Để ăn với cơm, thực phẩm lấy từ nguồn nguyên liệu tại chỗ như cá, luơn,ếch,…, lại còn có mít non, thịt rừng rất phong phú, đa dạng Rau vẫn là thức ăn chủ
SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH Trang 13
Trang 14yếu trong bữa cơm của họ.Ngày nay, khi cuộc sống đổi thay thì có nhiều thực phẩmhơn, rất đa dạng và phong phú và nó đã trở thành đặc sản riêng của Hoà Vang như:
Mì quảng Tuý Loan, bánh tráng cuốn thịt heo, nem chả Hoà Vang…
Về uống, nước chè xanh Phú Thượng là chủ lực, hoặc lá gối (vối) Vào ngàymùng 5 tháng 5 âm lịch hằng năm có lá “mùng 5” là lá tập trung đủ các loại hái về
từ các gò đồi
Về trang phục, trước kia, cái quần mặc thường ngày của người Hoà Vangvẫn là các loại đũi, thao mua từ các làng dệt Điện Bàn, Duy Xuyên ra là chủ yếu.Trứoc, quần may theo kiểu đáy ngang, lưng thắt dây bốn múi Áo thường là áo bà
ba cỏ kiềng, nhuộm màu nâu hoặc màu đen Mùa hè thì mặc những chiếc áo vảiphong phanh, mùa đông thì mặc một lúc hai ba cái áo chồng lên nhau không có laọinào khác
Những ngày lễ trọng, người ta lại mặc những chiếc áo dài cổ truyền bằngchất liệu thao, đũi là chủ yếu Ngày nay, thì trang phục của người dân Hoà Vang đãkhác, cũng như các vùng khác trong cả nước
Hoà Vang là huyện có làng nghề thủ công truyền thống được hình thành khásớm Một số làng nghề truyền thống hiện nay vẫn còn như: chiếu lát Cẩm Nê, nón
lá La Bông, bánh khô mè Cẩm Lệ,…
Lễ hội ở Hoà Vang cũng vô cùng phong phú Các lễ hội đó gắn với lao động,sản xuất, với sinh hoạt, với tín ngưỡng như lễ hội Mục Đồng làng Phong Lệ, lễ hộiĐâm trâu của người Cơtu, lễ hội tắt bếp làng Thái Lai, làng Trà Kiểm, lễ hội ĐìnhLàng Tuý Loan,…
Nhân dân Hoà Vang cũng có tín ngưỡng như người Việt trong cả nước, thờcúng ông bà tổ tiên, thờ Thành Hoàng,…Bên cạnh đó, học còn tiếp thu một số tínngưỡng của người Chăm như thờ Bà Mẹ xứ sở Bồn Xứ Nhân dân Hoà Vang theobốn tôn giáo chính là Phật giáo, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành và đạo Cao Đài Trongquá trình đó có sự kết hợp đan xen với văn hoá Chăm, Hoa, Phương Tây tạo nêntính cách riêng cho Quảng Nam – Đà Nẵng nói chung và Hoà Vang nói riêng Vàngày nay, cư dân Hoà Vang đang ra sức xây dựng và phát triển kinh tế, văn hoá,giáo dục, y tế, để phát huy truyền thống xây dựng quê hương trong thời kỳ mới,
SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH Trang 14
Trang 15để đóng góp nhiều hơn nữa cho sự nghiệp chung của thành phố Đà Nẵng nói riêng
và cả nước nói chung
1.1.3 Đặc điểm dân cư
Hòa Vang là vùng đất có nguồn dan cư đông đảo, đa dạng tộc người Conngười đã cos mặt tại Hòa Vang từ rất sớm Trãi qua diễn trình lịch sử, Hòa Vang làđịa bàn của nhiều nền văn hóa lớn chồng lên nhau như văn hóa Bàu Dũ, văn hóa saHuỳnh, văn hóa Chămpa Phần lớn dân cư Hòa Vang có nguồn gốc từ bắc Trung
Bộ, mà đông đảo phát nguồn từ Thanh Hóa, Nghệ An Sau năm 1975, với sự biếnđộng mạnh mẽ của các luồng dân cư, Hòa Vang có thêm nhiều tộc người như: Hoa,Thái, Nùng, Raglay Người Kinh chiếm tới 95% dân số
Theo kết quả điều tra dân số năm 2010, Hòa Vang có 155.287 người Mật
độ : 211 người/km², thấp hơn nhiều so với mật độ dân số toàn thành phố (599người/km2 )
Hiện nay, Hòa Vang chủ yếu có 3 dân tộc sinh sống là người Kinh, ngườiViệt gốc Hoa và người Cơtu Trong đó, người Kinh chiếm vị trí đông đảo nhất vớitrên 90%, người Cơtu sinh sống ở hai xã: Hòa Bắc và Hòa Phú
Nhân dân Hòa Vang theo 4 tôn giáo chính là Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo,Tin Lành và Đạo Cao Đài Bên cạnh việc đi theo tôn thì tín ngưỡng thờ cúng ông bà
tổ tiên và một số tín ngưỡng dân gian khác cũng được nhân dân giữ gìn và phát huy
Non nước xứ Quảng đã hun đúc khí thiêng, sinh ra không ít anh hung trong
sự nghiệp dựng nước và giữ nước Người Quảng Nam nói chung và người HòaVang nói riêng đã lập nên nhiều chiến tích hào hùng Nhân dân Hòa Vang có truyềnthống trong đấu tranh và vượt khó vươn lên Tinh thần chống ngoại xâm là nét tiêubiểu nhất cho người Hòa Vang Điều này được chứng minh qua những năm đầukháng khiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước Trải qua hằng trăm năm lập làngsinh sống, nhân dân Hòa Vang luôn có tinh thần đoàn kết trong đấu tranh cũng nhưtrong công cuộc xây dựng quê hương giàu đẹp như hôm nay
1.2 Khái quát chung về tộc người Cơtu
Trang 16Hòa Vang – Đà nẵng và ở vùng Tây Nam Thừa Thiên Huế (chủ yếu A Lưới, NamĐông) Đối với dân tộc Cơtu ở các thôn Tà Lang, Giàn Bí (xã Hòa Bắc) và Phú Túc(xã Hòa Phú) của huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng Người Cơtu không phải làdân bản địa ở đó mà là sự đi cư từ vùng Tây Bắc Quảng Nam sang, chủ yếu vào thế
kỷ XIX Đây là kết quả của lối sống hỏa canh truyền thống của người dân Cơtu vàdần dần họ đã định cư luôn ở đây do Hòa Vang có nhiều điều kiện tự nhiên thuậnlợi cho cuộc sống của họ Còn về tổ tiên của người Cơtu nói chung và của ngườiCơtu ở huyện Hòa Vang nói riêng thì đây là dân tộc có nguồn gốc lâu đời trên điểmnối kết vùng bắc miền Trung với Tây Nguyên – nơi mà từ những thế kỷ đầu côngnguyên, các cảng biển đã trở thành những điểm giao lưu thương mại và nó đã trởthành một địa bàn nhiều biến động
Địa bàn cư trú của người Cơtu là một vùng núi non trùng điệp, phần lớn đỏtheo hướng Tây Bắc – Đông Nam Ngọn A Touat là ngọn núi cao nhất ở vùng này(2500m) Khối núi ấy dựa vào cao nguyên Tahoi trải dài trên biên giới Việt – Lào
và cách sơn hệ phía bắc bởi các cao nguyên Điểm sinh sống của người Cơtu tậptrung dọc triền dốc và thung lũng của sông Giằng, sông Cái và sông Bung
Ở trong phạm vi nghiên cứu của người Cơtu Việt Nam hiện nay, có nhiều tácgiả cho rằng: vùng sinh sống của người Cơtu vốn ở vùng duyên hải và di chuyểnđến vùng đất hiện nay là do áp lực của tộc người Việt trong quá trình Nam Tiến.Nhưng cũng có ý kiến cho rằng, việc di cư từ cận biển lên núi đó là do sự khắcnghiệp của khí hậu ảnh hưởng đến việc trồng trọt Trên thực tế, địa bàn cư trú củangười Cơtu hiện nay là kết quả của xu hướng di cư bắt gặp ở nhiều tộc người thiểu
số miền Trung, do sự co lại dần của cây rừng vốn trải dài tận biển Với địa hình hẹpnhư miền Trung Việt Nam, hiện tượng khai thác tập trung và làm cạn dần ưu thế ởnhững mặt bằng tương đối thuận lợi ở chân sườn của dãy Trường Sơn, sẽ dẫn conngười tiến dần về đỉnh dốc Đó là nguyên nhân tạo nên hướng di chuyển từ Đôngsang Tây của những tộc người sống trên địa bàn hiện nay
Cộng đồng người Cơtu được chia thành 2 nhóm: Cơtu cao và Cơtu thấp Đâykhông chỉ là sự phân chia đơn thuần về không gian địa lý mà nhiều sinh hoạt vănhóa, ngôn ngữ, phong tục, tín ngưỡng cũng trỏ thành những tiêu chí để phân biệt 2nhóm này Nhóm Cơtu cao chủ yếu sống ở huyện Hiên (Quảng Nam), vùng kế cận
SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH Trang 16
Trang 17phía Tây Nam Huế (Nam A Lưới) và các vùng cận biên giới Việt Lào Nhóm Cơtuthấp sống ở huyện Phú Lộc (Thừa Thiên Huế) Dân tộc Cơtu ở Hòa Vang thuộcnhóm Cơtu thấp.
1.2.2 Tên gọi, dân số và phân bố dân cư
Cơtu là một trong những tộc người mà việc lý giải tộc danh có nhiều điềukhá phức tạp Có rất nhiều tên gọi khác nhau như: Kato, Cao, Khat, Kaota, Canto,…nhưng tên phổ biến nhất vẫn là Cơtu, Katu
Từ “tu” trong ngôn ngữ Cơtu nhằm để chỉ vị trí đầu ngọn “Tu” là nguồnnước, “cơ” là nơi cư trú của họ
Dân số dân tộc Cơtu ở huyện Hòa Vang tương đối ít, chỉ khoảng hơn 1000người, được phân bố ở ba thôn: Tà Lang, Giàn Bí (xã Hòa Bắc) và Phú Túc (xã HòaPhú), các làng này tương đối độc lập về mặt địa lý và nằm ở những vùng núi nonkhá hiểm trở
SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH Trang 17
Trang 18CHƯƠNG 2 CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN TỘC CƠTU CÓ THỂ KHAI THÁC ĐỂ
PHÁT TRIỂN DU LỊCH
Văn hóa là một khái niệm rộng Văn hóa bao gồm tất cả các giá trị vật chất
và tinh thần do con người sáng tạo nên trong quá trình lịch sử Đối với dân tộc Cơtuhuyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng, những giá trị văn hóa của họ không chỉ phongphú, đa dạng mà còn đậm đà bản sắc từ văn hóa vật chất cho đến văn hóa tinh thần.Tuy nhiên, những giá trị có thể khai thác để phục vụ du lịch không phải là tất cả, ởđây chỉ bao gồm một số lĩnh vực thôi Chẳng hạn, đối với văn hóa vật chất chúng ta
có thể khai thác ở các lĩnh vực như: ẩm thực, trang phuc, cư trú Còn đối với vănhóa tinh thần thì nổi bật nhất và là nguồn tài nguyên du lịch to lớn cho huyện vàthành phố đó là lễ hội Những giá trị ấy đã tạo nên những nét riêng rất đặc trưng chocộng đồng dân tộc Cơtu nơi đây và chắc chắn nó sẽ để lại nhiều dư âm và ấn tượngkhó quên cho du khách khi đến với mảnh đất này
2.1 Văn hóa vật chất
2.1.1 Ẩm thực
Ăn uống là nhu cầu tất yếu của con người để đảm bảo sự tòn tại và phát triển.Tuy nhiên đằng sau cái hiển nhiên ấy, ăn uống còn là văn hoá, là nghệ thuật Ănkhong chỉ để ăn mà còn để thưởng thức cái hồn của món ăn, để khám phá cái lạ, cáihay, cái đẹp của thức ăn và cảm nhận sự sang tạo của nghệ thuật chế biến lẫn lailịch của nguyên liệu
Hoà Vang là vùng đất giàu truyền thống văn hoá và ẩm thực ở đây cũngkhông kém phần hấp dẫn với những món ăn nổi tiếng xưa nay mà chỉ cần nhắc đếnkhông thôi cũng đủ khiến người ta phải xuýt xoa, gợi bao nỗi niềm thương nhớ Đốivới dân tộc Cơtu ở huyện Hoà Vang, tuy chỉ tập trung ở mấy làng nhỏ nhưng ngữngnét đặc trưng về văn hoá ở đây thì không nhỏ chit nào và ẩm thực cũng góp mộtphần không nhỏ tạo nên nét văn hoá nơi đây
Sống trên địa bàn bao quanh là núi rừng, mặc dù cuộc sống định canh, định
cư, làm nông nghiệp là chủ yếu, nhưng rừng xanh vẫn là nguồn cung cấp sản vật vôcùng quang trọng và quý báu đối với con người Cơtu ở Hoà Vang Vì thế nguồn
SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH Trang 18
Trang 19thực phẩm trong các bữa ăn hằng ngày của người Cơtu chủ yếu là từ tự nhiên và từlao động Với những cách chế biến, cách thức trong ăn uống mang đăc trưng riêng,
họ có những món ăn đặc sản vô cùng đặc sắc và hấp dẫn mà bất cứ ai có diễm phúcđược thưởng thức một lần thì chắc hẳn không bao giờ quên
2.1.1.1 Ăn
* Nguồn thực phẩm tự nhiên
Đối với các dân tộc người thiểu số ở Trường Sơn – Tây Nguyên nói chung,
có thể nói sản phẩm thu được từ tự nhiên mà nguồn khai thác ở đây là núi rừng vớicác sản phẩm thu được từ săn bắn, hái lượm là nguồn thức ăn đóng vai trò quangtrọng Từ thú rừng, chim muông, côn trùng, từ rễ, củ,than, lá, hoa,…tất cả đều đivào bữa ăn hằng ngày của người dân tạo nên những món ăn đặc trưng của đồng bào
Với dân tộc Cơtu ở Hoà Vang, không phải là cư dân bản địa, với số lượng ít,chỉ tập trung trên 3 thôn nhỏ trên địa bàn huyện của thành phố có nền kinh tế pháttriển tương đối cao thì người Cơtu ở đây luôn được sự quan tâm, đầu tư đúng mực.Hiện nay, đời sống của họ đã được cải thiện rất nhiều với lối sống văn minh cũngnhư sự giao thoa, gần gũi với người Kinh trên địa bàn huyện và thành phố Do đó,sản xuất cũng giống người Kinh Tuy nhiên, sống trên địa bàn rừng núi, rừng đã trởthành người bạn thân thiết với họ và gắn bó với cuộc sống của họ Một thời gian dàitrong quá khứ, người Cơtu phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên
Nguồn thực phẩm từ tự nhiên của người dân Cơtu được phản ánh rõ néttrong cơ cấu bữa ăn, thức uống hằng ngày của họ Hiện nay, họ vẫn duy trì loại hìnhkinh tế săn bắn, hái lượm với các thực phẩm đặc trưng là chim, thú rừng, các loạirau, củ, quả rừng
Ngoài các động vật chăn nuôi đặc trưng, săn bắn đã mang lại nguồn thựcphẩm vô cùng quý giá của con người, góp phần cải thiện chất lượng bữa ăn cho họ.Hằng ngày, các thanh niên trai tráng sẽ vào rừng sâu, săn bắn các loại thú, phổ biếnnhất là con mang, chủ yếu là phương thức đặt bẫy Mang đựơc chế biến bởi nhiềumón ăn: nấu, hấp, nướng và còn được bán cho người Kinh Nguồn thực phẩm từsông suối cũng rất phong phú với các loại cá, tôm, cua, ốc,…dùng dể kho, nấu canh,nấu cháo Cá lớn có thể nướng, loại bé thì để nấu canh hay làm mắm Nói đến mắm,đây cũng là một món ăn rất đặc trưng của người Cơtu Tuy hiện nay nó không còn
SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH Trang 19
Trang 20phổ biến lắm nhưng vẫn có một số gia đình làm Vào mùa nắng, nguồn cá tương đốinhiều, người ta cho cá vào ché, bỏ muối thật nhiều để bảo quản được lâu, xóc đều,xong đậy kín nắp lại, để khoảng 10 – 15 ngày là có thể ăn đựơc Mắm có thể ăn vớicơm hoặc để chấm rau luộc.
Ngày trước, với những loại thú săn được, thông thường người Cơtu chỉ ănmột phần, còn lại đem phơi khô, bảo quản trong ống tre để dành những lúc thậtkhan hiếm thức ăn như những ngày giáp hạn hay để tiếp khách quý đến viếng thăm.Nhưng ngày nay, cuộc sống đã khá giả hơn nhiều, họ không còn chạy vạy từng bữa
ăn hằng ngày nữa nên những con thú săn bắn đựơc ấy được ăn liền hoặc đem báncho người Kinh
Có một món ăn rất bổ dưỡng, có thể nói là một vị thuốc bổ cho trẻ nhỏ, đó làcháo cóc Món này thường được dùng cho trẻ chậm đi, bị còi xương Tuy nhiên,cách chế biến món ăn này không phải là đơn giản Cóc bắt về lột sạch da, bỏ ruột,xong đem phơi khô để nấu dần Thịt cóc đã phơi khô đem rửa sạch Gạo nấu mềm,cho thịt cóc vào, sau đó nêm gia vị
Ngoài những món ăn được chế biến từ thịt động vật, các loại côn trùng cũng
là nguồn nguyên liệu chế biến nên nhiều món ăn đặc trưng mang đậm dấu ấn ẩmthực Cơtu như: kiến, nhộng, ong, mối,…
Loại kiến đỏ thường được người Cơtu ăn sống với muối ớt Trứng của loạikiến đen có thể ăn sống hoặc nướng trong ống tre, nứa cho vàng có tẩm muối ớt.Với nhộng ong, người ta đem tổ ong về để nguyên cái, cầm trên chop bóp mạnh đểnhộng nát ra và lấy nước đó, cho một ít nước lạnh, muối, mỳ chính vào đun sôi
Bên cạnh các loại thú rừng, côn trùng, các loại rau củ, quả rừng cũng đượckhai thác, trở thành những món ăn trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày của họ như: tàubay, cây môn, rau ruông,…các loại rau này thường không chế biến cầu kỳ mà chỉluộc rồi chấm với nước mắm Riêng cây Mơcha thì dùng để nấu canh chua Còn vớicây Mây (Adương) thì được chế biến thành nhiều món ăn như nấu cháo với gạo,nấu canh cùng với cà chua… Ngoài ra, còn có măng, nấm cũng như là những thức
ăn rất quên thuộc của người Cơtu Cùng với đó còn có một số loại củ phổ biến như:
củ mài, củ môn rừng, củ chuối,… Các củ này thường luộc lên rồi ăn hoặc thái nhỏ
để nấu canh
SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH Trang 20
Trang 21Đặc biệt, cây Tà Vạt cũng là một loại cây được người Cơtu ăn bằng cách lấynước Hiện nay, Tà Vạt là một loại cây có vai trò quang trọng đối với đồng bàoCơtu.
Ngoài các loại rau, củ, hạt vừa nêu, trái dại cũng là món ăn ưa thích của đồngbào Cơtu với một hệ trái rất phong phú như: chôm chôm, khế rừng, bây, mơ xiêng,
…Những loại quả này một thời làm vai trò thay thế lương thực khi khó khăn, khanhiếm hay khi đi rừng của người dân Cơtu Ngày nay, chúng là những loại quả ưathích của trẻ nhỏ
* Nguồn thực phẩm từ lao động:
Ngoài những thực phẩm bổ sung từ tự nhiên nói trên, cái ăn hằng ngày củangười dân Cơtu ngày nay vẫn chủ yếu là các sản phẩm từ bàn tay lao động: lúa, ngô,khoai, sắn,… Ngày nay, với cuộc sống định canh, định cư cùng với sự quan tâmcủa Đảng và Nhà nước, của UBND huyện, thành phố với việc đầu tư vốn, kỹ thuậtvào quá trình sản xuất nên nguồn thực phẩm từ bàn tay lao động đã đáp ứng đượckhá đầy đủ cuộc sống của người dân Cơtu
Cũng như người Kinh, người Cơtu ở Hòa Vang cùng trồng lúa nước Nhưng
do ruộng ít nên họ phải mua gạo của người Kinh Lúa cũng được xây thành gạo, nấuthành cơm, cháo trong bữa ăn hằng ngày Đối với gạo nếp được dùng để nấu xôi.Ngoài ra, gạo nếp còn được dùng để làm bánh vào những ngày quan trọng trong chu
kỳ đời người, có một loại bán phổ biến đó là bánh Acuốc Trong lễ hội, lễ tang củangười Cơtu cũng có một loại bánh rất phổ biến là bánh Pó
Cùng với lúa, các sản phẩm từ nương rẫy như ngô, sắn khoai cũng đượctrồng, đặ biệt là ngô Ngô không chỉ được trồng trên nương mà còn được trồngquanh nhà Khi bắp ngô còn non, người Cơtu hái về để luộc, nướng ăn hoặc đembán cho người Kinh Khi bắp già người ta thu hoạch, phơi khô nấu ăn dần hoặc xaythành bột để làm bánh, nấu cháo…Ngoài ra, người Cơtu còn trồng cả dậu như: đậuđen, đậu đỏ, đậu xanh,…Các loại cây ăn quả được người Cơtu trồng phổ biến trongvườn như: chuối, mít, dứa,…Riêng quả dứa, ngoài để ăn, người Cơtu còn dùng làmmắm
Và nguồn thực phẩm lấy từ chăn nuôi cũng đóng một vai trò hết sức quangtrọng trong cơ cấu bữa ăn của người Cơtu Vật nuôi phổ biến ở đây là: lợn, gà, vịt,
SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH Trang 21
Trang 22…Các loại động vật này cũng được chế biến thành nhiều kiểu khác nhau giốngngười Kinh như món nướng, hấp, luộc, xào,…
Gia vị được sử dụng để nấu các món ăn của người Cơtu cũng rất phổ biếnnhư; mắm, muối, gừng, tỏi, ớt, tiêu,…
2.1.1.2 Uống
Nước uống thường nhật của người Cơtu là nước sôi, nước trà như ngườiKinh, nhưng ngoài ra còn có thêm các loại nước uống được nấu từ các loại lá câyđặc trưng như nước ổi, nước gu (nấu từ cây gỗ gõ), nước Apất (nấu từ cây mâmxôi), nước Zơ rương, cây bo bo,…Hầu hết các loại nước này vừa để uống vừa đểchữa bệnh thông thường như đau bụng hay để bồi bổ sức khỏe
Những loại thức uống mang tính chất đặc trưng, độc đáo của dân tộc Cơtunói chung và dân tộc Cơtu huyện Hòa Vang nói riêng, đó là và những thứ nước giảikhát
Rượu có nhiều loại, được nấu từ các nguyên liệu khác nhau như: gạo, nếp,ngô, khoai, sắn hay các loại rễ, vỏ cây tạo men Rượu rất phổ biến trong sinh hoạt
và trong đời sống hàng ngày của người Cơtu, đặc biệt là trong các lễ hội Trong đó,đồng bào rất thích rượu cần và rượu Tà Vạt
Tà Vạt là loại cây thân thiết với người Cơtu Nước cây tiết ra màu vàng nhạt,
vị ngọt, mát, được chứa trong ống tre và có thể dùng như một thú nước giải khát.Nếu chúng được ngâm với vỏ cây chuồn sau khoảng 1 – 2 giờ thì nước Tà Vạt sẽtrở thành một nước uống có men Còn với rượu cần, đây cũng là thứ rượu không thểthiếu trong các nghi lễ, lễ hội Nguyên liệu để làm rượu cần là sắn hoặc nếp trộn vớimen và vỏ trấu cho vào ché, ủ kĩ rồi để khoảng 10 ngày là uống được Do nồng độrượu thấp và mang tính hàn nên có thể dùng như một thứ nước giải khát về mùa hè
2.1.1.3 Một số đặc sản
* Kdal um:
Kdal là một ấu trùng của một loại ấu trùng của loại ve sầu núi trước khi trởthành chú ve, có thân bằng ngón tay út người lớn, màu trắng ngà, hoặc trắng xanh,đầu và răng cứng, có hai cái răng nằm ngang, sống ở các bãi bồi ven sông hoặc tạicác vùng đất pha các và nhiều lá mục Đào được Kdal, nếu không biết xử lý ngaythì bị mất phẩm chất
SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH Trang 22
Trang 23Khi đào được nó, phải nhanh chóng dùng tay phải nắm đầu, tay trái dùngmóng tay xé khúc cuối da đuôi ra và dùng tay phải rảy mạnh, phần ruột đen sẽ văng
ra ngoài, phần còn lại trong lớp vỏ mềm là chất dịch như sữa đặc, tương tự chất dịchtrong con nhộng Kết thúc buổi đào, mang Kdal xuống suối để rửa sạch
Hằng năm khi đến vụ Đông Xuân, bà con nông dân, cày đất nà tỉa đậu, họthường mang giỏ đi theo sau đường cày để nhặt Kdal, vừa bảo vệ hoa màu saunày, vừa có tí mồi đặc biệt để bồi dưỡng và nhâm nhi vào buổi chiều với các nhànông để 'tính chuyện làm ăn “ Kdal um, không cần dầu ăn, người ta bắc xoong lênbếp cho nóng, cho nó vào khuấy đều, mỡ từ Kdal tươm ra, đủ để nấu chín Không
gì hấp dẫn hơn vào ngày đông rét mướt, hương thơm Kdal xào lan toả bên bếp lửahồng ấm áp của đồng bào và xúm xít người già, trẻ con quây quần thưởng thức
Kdal um với đọt cây Thiên niên kiện là món ăn truyền thống, hấp dẫn củađồng bào Cơtu Kdal chỉ xuất hiện trong thời gian ngắn trong năm và sau mùa mưalụt, nên rất hiếm và ít người có dịp thưởng thức Hiện nay, một số người Kinh đãbiết thưởng thức món ăn dân dã và ngon miệng này, xuất phát từ món ăn truyềnthống của đồng bào dân tộc Cơ tu và không quên trồng trong vườn nhà vài bụiThiên niên kiện vừa để làm cảnh, vừa để um, xào Kdal, thưởng thức hương vịthơm ngon của món ăn đậm đà truyền thống dân tộc này
* Mối rang:
Sau những cơn mưa chiều tháng tư (âm lịch), nhất là vào tầm chạng vạngtối, không khí ở miền núi thường rất mát mẻ Vì vậy, hàng đàn mối dày đặc từ tổchui ra với đôi cánh mỏng, bay lấp lánh, chập chờn trong bóng hoàng hôn, tụ vào
những nơi có ánh sáng Người dân gọi nhau bắt mối, dí dỏm trêu đùa: “Con ơi bắt mối đem rang /Nhanh tay không kẻo mối sang nhà người”
Công đoạn bắt mối chỉ diễn ra nhanh chóng trong khoảng nửa giờ Thường ởnhững vùng có điện, khi phát hiện có mối, đồng bào lập tức tắt các bóng trong nhà
và chỉ để lại một bóng duy nhất giữa sân, thu hút mối Dưới bóng điện người Cơtu
để một chậu nước để bẫy mối
Đối với những vùng chưa có điện, khi phát hiện có mối đang bay ra, người tathắp một cây đèn dầu, hoặc đèn cầy, cắm giữa cái thau lớn đặt ở nơi thuận tiệnngoài sân, trong thau đổ nước ngập một phần cây đèn Mối thấy ánh sáng, mối cùng
SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH Trang 23
Trang 24nhau sà xuống, gặp nước, ướt cánh chúng không bay lên được nên nằm lại trongthau Khi thau nhiều mối thì vớt bỏ vào bao nilon.
Sau khi đã bắt mối, đồng bào Cơtu dùng nước suối rửa nhẹ nhàng và nhiềulần cho sạch rồi vớt ra một để ráo nước Mối thành phẩm còn nguyên cánh mỏng,thân dài khoảng 1 cm, bụng lớn bằng sợi bún tươi, có viền đen quanh thân màuvàng nâu, ngực và đầu
Chế biến mối hết sức đơn giản Chảo được đặt lên bếp chờ đến khi nóng đềuthì cho mối, nêm thêm muối vào, đảo tới khi mối có mùi thơm và những tiếng nổ lẹtđẹt nho nhỏ là đã chín Lúc này, người Cơtu đổ mối ra mẹt, lấy các ngón tay đảonhẹ và sảy cho cánh mối bay đi, chỉ còn lại phần thân vàng ươm, béo ngậy
Khách, chủ cùng rôm rả bên đĩa mối rang, trò chuyện về mùa màng, cấy háihay thảnh thơi lắng nghe và hát theo tiếng đàn Hroa, một loại nhạc cụ độc đáo củađồng bào Cơ Tu và rỉ tai nhau nói rằng: "Không gì thú vị bằng sau những ngày lênnương, rẫy được thưởng thức hương vị thơm lừng, béo ngậy và ngọt bùi củamón clap padieng, chiêu thêm vài ly rượu Tà vạt "
* Zờ rá:
Zờ rá tuy là một món ăn rất phổ biến trong thực đơn của người Cơtu, nhưngthực tế đó không phải là tên gọi của một món ăn đuWocj làm từ một nguyên liệunào đó mà chúng hỗn hợp của nhiều vật liệu khác nhau, gồm động thực vật hỗnhợp, được đựng trong Loong Lo (ống bằng lồ ô dài khoảng 50 cm)
Nguyên liệu động vật chính để làm Zờ rá có thể là thịt nạt (tuyệt đối khôngđược lẫn xương vào), cũng có thể là cá, nhái, chim, chuột…, nhưng ngon nhất vàđược ưa chuộng nhất là ruột các động vật, phổ biến như gà, lợn Ruột này là loạiruột non, để nguyên, không được tuốt phần chất nhầy bên trong, ăn có vị đắng rấtđặc trưng
Ruột động vật hoặc thịt nạc, cá, thịt động vật được cắt nhỏ ra cho vào ốngLoong Lo cùng với thực vật như hoa chuối đã bóc lớp già, lấy lớp nõn, xé nhỏ xongthái ra hoặc phần lõm giữa của thân chuối thái từng khúc, thả vào nước đã đun sôihoặc cũng có thể là cây môn vọt, dọc mùng hay một số loại rau rừng khác
Sau khi các nguyên liệu được chọn và được sơ chế, người ta cho gia vị vàogồm có muối, mì chính, , có thể cho cả củ kiệu vào, trộn đều rồi cho vào ống Loong
SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH Trang 24
Trang 25Lo nướng trên bếp lửa cho đến khi ống chuyển sang màu vàng cháy thì đem xuống.Sau đó, người ta dùng dây mây có gai cho vào ống thọc nhiều lần để thức ăn đượctrộn đều Khi các thức ăn đã nhuyễn, đổ ra bát và xúc ăn.
* Chuột lam:
Trước Tết khoảng hơn 1 tháng, người Cơtu mang theo đồ dùng lên rừng,chọn những vị trí thuận tiện để vãi xuống mặt đất nhằm thu hút chuột kéo về ănngày càng nhiều và béo mập Trước Tết khoảng 10 ngày, họ mang bẫy kẹp lên vị trínày để gài bẫy bắt chuột rừng về dự trữ ăn Tết Trung bình, mỗi người gài khoảngvài trăm bẫy Sau đó, mỗi ngày từ sáng họ lên rừng để thu hoạch chuột mắc bẫy Cóngười bắt được tới vài chục con chuột một lần đi thăm bẫy
Chuột làm sạch rồi nhét chuột vào ống nứa tươi, sau đó lấy rau môn dóc (azóc - là loại rau dại mọc rải rác trong rừng, trông gần giống các loại khoai mônnhưng lá dài và nhỏ hơn) cuộn lại và nhét sâu vào ống để bịt miệng lại nhằm tạothêm hương vị thơm tho cho món ăn, cho ít muối vào ống Sau đấy, cầm ống nứa hỏtrên lửa, trở qua trở lại để nướng, khi ống nứa bắt đầu nám đen là được
Sau khi biết chắc chuột đã chín, dùng dao tách hai ống nứa để lấy chuột vàrau ra Mùi chuột nướng hòa quyện với rau môn dóc thơm ngào ngạt Sau khi bỏthịt chuột đã nướng ra đĩa, món chuột nướng chấm với muối tiêu rừng (a mất) Mónnày rất ngon và thú vị vì thịt có mùi thơm đặc trưng, vị ngọt, xương dòn
Ngày Tết, đồng bào Cơtu có thể chế biến nhiều món ăn từ chuột rừng như:chuột hầm đu đủ, chuột xào măng, chuột nấu "giả cầy", chuột nướng trực tiếp trênthan hoa, chuột kho mặn dậy mùi thơm quyến rũ…
SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH Trang 25
Trang 26đập khoảng một vài giờ Sau 4 hoặc 5 lần đập, cắt ngang cuống buồng trái Sau đódùng cọng cây môn nước giã dập và bịt ngay đầu mới cắt, bên ngoài bọc bằng lárừng và buộc lại Động tác này gọi là “nhử nước” Tuỳ theo cây, có thể nhử ba hoặcbốn lần mới ra nước, khi thấy mặt vết cắt nhỏ giọt nhanh, đều thì gạt bỏ lớp “chấtnhử” và treo một cái can 10 lít để hứng Có thể dùng ống nhựa, lồ ô, giang … đểdẫn nước vào can
Chất nước này lúc vừa chảy ra thì hơi trong, thơm và ngọt, hấp dẫn các loạicôn trùng như kiến, ong… nên phải đậy kín Để dung dịch này lên men, người Cơtudùng vỏ cây chuồn (một loại cây chắc, nặng), đập cho mềm rồi bỏ vào can rượu.Tùy theo khẩu vị mà đưa vỏ cây chuồn vào can nhiều hay ít Muốn rượu có nồng độcao hơn, vị đắng, thì cho vỏ chuồn nhiều và ngược lại Khi rượu đã lên men thìnước có màu đục, trắng
Một cây Tà Vạt cho từ 10 đến 15 lít rượu, mỗi ngày, hai lần, sáng và chiềungười ta đi lấy rượu Cây Tà Vạt có thể cho rượu trong thời gian 2-3 tháng, với sốlượng khoảng 300 lít Tà Vạt ra hoa, có trái liên tục nên rượu Tà Vạt có thể sản xuấtquanh năm, nhưng rượu có chất lượng tốt nhất là cuối tháng tư âm lịch
Cây Tà Vạt giống như cây dừa nên người Kinh đặt tên là “dừa núi” hay còngọi là cây đoát, có tên khoa học: Arrenga sacchariferasp Tà Vạt là loại cây thân to,nhiều đốt dày, lá thưa, rễ chùm và sống ở gần khe, hố, để hút nước nuôi cây Lá cây
Tà Vạt còn dùng để lợp nhà, lợp chuồng gia súc, trâu, bò Tất nhiên, cái đặc sắc vàhấp dẫn nhất của cây là làm rượu tà vạt
2.1.1.4 Một số luật tục trong ăn uống
Nếu ăn uống của người Kinh đã trở thành một nghệ thuật thì đối với ngườiCơtu, họ quan niệm ăn uống chỉ là điều kiện để sinh tồn và nhất là đảm bảo nhu cầutôn giáo tín ngưỡng Vì thế, đi liền với vấn đề ăn uống không phải là kỹ thuật chếbiến mà những quy định về kiêng kị
* Về thức ăn:
Kiêng ăn những con vật như rắn, trăn, những con thú có hình dạng và màusắc lạ thường Theo đồng bào quan niệm, đó là hiện thân của ma quỷ, ăn vào sẽ bịđộc; hoặc những con thú chết bất thường (không phải do đánh bẫy), nhất là conmang ăn vào sẽ biến thành ma lai
SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH Trang 26
Trang 27Không giết thịt những loài thú gắn với sự tích dòng họ (vật tổ), đồng bào tinrằng nếu ăn những con vật này thì sẽ bị đau, ốm, bệnh tật,…
Những thực phẩm dùng trong cúng bái chỉ người nhà ăn mà tuyệt đối khôngđược mời khách (cúng lợn: phần đầu, đuôi, ruột, gan và hai miếng thịt lưng khôngmời khách), đồng bào cho rằng nếu mời khách thì không linh ứng
Lúa mới tuốt xong, chưa làm lễ thì không được nấu ăn vì nếu ăn thì năm sau
sẽ khó được mùa
* Về cách thức trong ăn uống:
Trước khi uống rượu cần, người chủ tế phải lấy một ít gạo rải lên bàn thờ xinYàng Pua, người phù hộ cho ché rượu thơm ngọt, nếu không lần sau sẽ bị hỏng
Khi làng có lễ hội, người lớn tuổi, chức sắc luôn được ưu tiên ngồi nơi caonhất, ăn những thức ăn ngon, uống trước, sau đó mới đến lượt các thành viên
Trong hôn nhân; những đồ lễ nhà gái mang sang, nhà trai không được đem ratiếp họ nhà gái Đồng thời, nhà trai không được ăn những thứ mình chuẩn bị bởi nếukhông, họ cho đó là hành vi trả lễ cưới, một cách từ chối khéo, khi mà hai gia đình
có mâu thuẫn
Trong tiếp khách: khi làng có khách, mọi gia đình trong làng đều có nghĩa vụđưa cơm đã khách (mỗi gia đình một bữa), để đáp lại khách phải ăn mỗi nhà một ít
mà không được thiên vị
Ăn uống gắn với lao động: nếu làm bẫy vượn, khi ăn không được ngẩng đầulên để dấu mặt; làm bẫy thắt, khi ăn không được cầm chén nếu không thú sẽ tuột; đirừng tránh ăn thịt mang để tránh tai nạn
Những qui định trên, không phải điều nào cũng hợp lý, cũng giải thích được,bởi có những qui định hình thành từ quan niệm tín ngưỡng hoặc từ kinh nghiệmthực tế, lâu dần trở thành tập quán bắt buộc mọi người phải tuân theo
2.1.2 Trang phục
Cũng như ẩm thực, trang phục cũng là một yếu tố rất quan trọng góp phầnlàm nên bản sắc văn hóa của cộng đồng dân tộc nói chung và của tộc người Cơtunói riêng Với người Cơtu ở Hòa Vang, trang phục truyền thống của họ cũng không
có gì khác so với trang phục của người Cơtu ở Quảng Nam hay Thừa Thiên Huế.Tuy nhiên, hiện nay do sự giao lưu mạnh mẽ với người Kinh nên trang phục của họ
SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH Trang 27
Trang 28cũng có nhiều thay đổi, đặc biệt là giới trẻ Dường như bộ đồ truyền thống chỉ đượcmặc trong các dịp lễ hội, còn trang phục thường ngày của họ không khác ngườiKinh là mấy.
Sắc màu chủ đạo của trang phục Cơtu là màu đen thẫm chen lẫn các dải màucùng những chuỗi hạt cườm lóng lánh Người Cơtuu quan niệm rằng: màu chàmđen là màu của đất (abhuyh-Catiếc), màu đỏ là màu của mặt trời (Abhuyh-Plêếng).Đây là hai màu sắc của hai vật thiêng không thể thiếu trong đời sống và trong trangphục của người Cơtuu Màu vàng trên trang phục được người Cơtu dùng rất ít chỉ lànhững nét mảnh, nhằm để tạo nên những hoạ tiết hoa văn
2.1.2.1 Trang phục đàn ông
Trang phục đàn ông Cơtu có đặc điểm rất giống với trang phục của nhiều dântộc khác mà ta thường thấy, đó là chiếc khố Khố thường có màu trắng hoặc đen,được trang trí bằng hoa văn Có nhiều loại khố với những chiều dài, chiều rộng khácnhau Thông thường, chiều dài của khố là 1,5 – 2,0m , rộng khoảng 25 – 40cm Hoavăn trang trí đơn giản, thường được kết theo chiều dọc và chủ yếu là sợi màu, gọi làkhố ngắn
Với loại khố dài hơn: chiều dài 4 – 8m, rộng 30cm, hai mảnh trước và sauphủ tận mắt cá chân thì được người đàn ông Cơtu mặc trong các dịp lẽ hội hay mùađong lạnh giá
Khi mặc khố, người đàn ông Cơtu giữ một đầu khố ở phía trước bụng, phầncòn lại luồn qua 2 chân ra phía sau, vòng lên phía hông phải, quấn quanh bụng vàluồn qua mảnh khố phía trước hai vòng, phần còn lại sẽ giắt ngược lên giữ phần khố
đi qua hai chân với các vòng phía trên, sau đó thả ra phía sau tạo thành hai mảnh vảiche trước và sau Còn với loại khố rộng 1m trở lên, khi mặc được gấp đôi lại theochiều rộng có thể quàng qua phía trước bụng và bắt chéo hình chữ X sau lưng lênhai vai, đầu múi bên phải nhét vào vòng quấn trước bụng, múi còn lại luồn qua phải
và giắt ngược trỏ lại, hoặc cũng cách quấn nhue thế nhưng chéo hình chữ X phíatrước ngực
Trang 29Váy dài (cơđơ-ớch) của phụ nữ Cơtu có chiều dài khoảng 6m được khâu lạithành hai lớp và có chiều dài khoảng 3m, chiều rộng khoảng từ 1.5m đến 1.7m (tuỳthuộc vào chiều cao của mỗi người) Váy cũng có nhiều hoạ tiết hoa văn cách điệunhư khố của đàn ông nhưng nhìn chung các hoa văn lại tập trung thành mặt phẳnglớn ở phần dưới của thân váy Các hoạ tiết hoa văn ở phần thân váy thường đứngriêng lẻ bằng các vạch sọc như: hoa văn Ablơm (hoa tình yêu), lá trầu, dây buộc nhàGươl, múa dadá (múa nữ) màu sắc đơn giản, các hoạ tiết hoa văn được thể hiệndưới dạng hình học Váy được quấn quanh người từ ngực trở xuống thay thế cho cảváy áo và phần dưới ngực cũng thắt lại bằng dây thắt váy Dây thắt váy tuy là mộtphần phụ nhưng nó rất cầu kỳ Dây thắt váy được dệt bằng sợi vải rộng khoảng 3 –4cm, dài hơn 1m, màu trắng chen lẫn những hoa văn nhỏ màu đen nhạt, hai đầu dâythường có tua vải dài để kết những hạt cườm.
Váy ngắn (o réch) có chiều dài từ 80cm đến 1m, rộng 70-80cm để nguyênquấn phần dưới người hoặc được khâu lại bằng chỉ, tạo cho váy có hình ống Khiphụ nữ Cơtuu mặc vào, thân trên ở tầm ngang bụng và để khỏi bị tuột váy họ dùngdây buộc Người phụ nữ cũng có thể mặc váy ngắn cùng với áo Tay áo thườngkhoét sâu sát nách, không có ống tay, không có cúc áo và cũng phân biệt được mặttrước và mặt sau
Ngoài trang phục là váy, ta còn nhận thấy một nét khác biệt của người phụ
nữ Cơtu Hòa Vang đó là chiếc vòng đội đầu Nhưng không phải người phụ nữ Cơtunào cũng đều đội vòng mà chỉ dành cho những cô gái chưa chồng Vòng đội đầuđược làm từ hạt cây giang, từ tre, nứa, phía trước có hai múi nhô lên khoảng 20cmtạo thành những hình chữ V rất mềm mại Vòng đội đầu được các cô gái đội trongcác dịp lễ hội
2.1.2.3 Trang sức
Cũng giống một số dân tộc thiểu số khác, dân tộc Cơtu huyện Hòa Vangcũng sử dụng rất nhiều trang sức để làm đẹp, đặc biệt là phụ nữ Hệ thống trang sứccủa người phụ nữ Cơtu huyện Hòa Vang rất phong phú gồm nhiều loại: vòng cườm,hoa tai,…, riêng các loại vòng thì hết sức đa dạng: vòng mã não, vòng đồng,…đượcđeo khắp nơi trên cơ thể: cổ, tay, chân
SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH Trang 29
Trang 30Vòng đeo cổ là loại vòng hết sức đặc trưng của người phụ nữ Cơtu Vòng cổthường là vòng bạc, có đường kính 25 -30cm, hình tròn Phần giữa của vòng thườnglớn hơn hai đầu Nơi được uốn móc có hình dấu hỏi hoặc hình trôn ốc, khi đeo vào
cổ người phụ nữ dùng tay móc hai đầu lại hoặc lấy đầu vòng xoắn bên này đan vàobên kia Trang sức cổ còn một loại khá phổ biến nữa là chuỗi mã não được kết từnhưngx hạt mã não lại với nhau Hạt mã não thường có hình thoi, ô trám, khi kếtthành chuỗi thì giữa hai hạt mã não thường được chen vài ba hạt cườm nhỏ Đầuchuỗi thường được kết theo kiểu khuy áo, khi đeo người phụ nữ dùng tay mócchúng lại với nhau Ngoài hai loại trang sức cổ trên còn có một loại nữa mà hiệnnay vẫn còn được nhiều phụ nữ Cơtu đeo, đặc biệt là những người già, đó là nhữngchuỗi cườm được kết thành những hạt bé tí ti hình tròn hoặc hình đa giác với đủmàu sắc rất bắt mắt làm tăng vẻ đẹp cho người phụ nữ Những chuỗi cườm này cóthể đeo vào cổ hoặc có thể quấn vào cổ tay tạo thành vòng cườm cũng rất đẹp
Cùng với vòng cổ,vòng tay, vòng chân cũng là loại vòng được người phụ nữCơtu hết sức ưa chuộng Vòng tay, vòng chân thường được làm bằng bạc hoặc bằngđồng đỏ đeo như vòng cổ nhưng có cấu tạo đặc biệt hơn là hai đầu để hở hoạc uốnkiểu xoắn trôn ốc ôm lấy toàn bộ cẳng tay hoặc ống chân
Ngoài ra, những chiếc khuyên tai độc đáo cũng là trang sức được nhiềungười phụ nữ Cơtu sử dụng để tăng thêm sự duyên dáng cho khuôn mặt mà hầu nhưngười phụ nữ Cơtu nào cũng ưa chuộng Khuyên tai có nhiều loại với những đườngkính tiết diện khác nhau Loại nhỏ có đường kính chừng 2,5cm, loại lớn có đườngkính 5 -7cm xoắn thành nhiều vòng đồng tâm, tiết diện hình cầu hoặc bán cầu rộngkhoảng 1,0 – 1,5cm Tuy nhiên, ngày nay những loại khuyên tai này ít người phụ nữHòa Vang đeo nữa mà thay vào đó là những loại khuyên tai gọn nhẹ, đẹp bằng vànghoặc bạc như người Kinh
Trước đây, không chỉ người phụ nữ Cơtu mới biêtd làm đẹp bằng trang sức
mà người đàn ông cũng có phương cách làm đẹp bằng những trang sức riêng củamình Người đàn ông Cơtu truyền thống sẽ làm dẹp và phô bày sự giàu có bằngnhững chiếc nanh lợn đeo ở cổ, một chiếc vòng đội đầu được trang trí bằng nhữnghạt chì, đeo khuyên tai bằng những vòng bạc hay những vòng cổ bằng mã não gồmcác hạt tròn lớn đủ màu sắc, những vòng tay bằng đồng, bạc như người phụ nữ
SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH Trang 30