Để giải quyết được vấn đề này thì những nước tiếp nhận lao động cần phải có những bằng chứng về độ tin cậy của hệ thống trình độ đào tạo của các quốc gia cung cấp lao động.. Trong bối cả
Trang 1BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC DẠY NGHỀ
BÁO CÁO TÓM TẮT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CẤP BỘ NĂM 2012
Tên đề tài:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG
HỆ THỐNG KHUNG TRÌNH ĐỘ NGHỀ QUỐC GIA
HƯỚNG TỚI CỘNG ĐỒNG ASEAN 2015
MÃ SỐ: CB2012-01-08
HÀ NỘI, THÁNG 02 NĂM 2012
Trang 2ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
1 Tên đề tài: Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng hệ thống khung trình độ
nghề quốc gia hướng tới cộng đồng ASEAN 2015
2 Mã số đề tài: CB2012-01-08
3 Cơ quan quản lý đề tài: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
4 Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Nghiên cứu Khoa học Dạy nghề - Tổng cục Dạy nghề
5 Thời gian thực hiện: Năm 2012
6 Ban chủ nhiệm đề tài:
- Chủ nhiệm: PGS.TS Dương Đức Lân, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dạy
nghề
- Thư ký: ThS Nguyễn Quang Việt - Viện Nghiên cứu Khoa học Dạy nghề
- Thành viên:
+ TS Nguyễn Hồng Minh - Tổng cục Dạy nghề
+ KS Cao Quang Đại - Tổng cục Dạy nghề
+ Michael Buchele - Chuyên gia CIM, Viện NCKHDN
+ ThS Đặng Thị Huyền – Viện NCKHDN
7 Các cộng tác viên:
- TS Steffen Horn - Chuyên gia CIM, Viện NCKHDN
- ThS Nguyễn Quang Hưng - Viện NCKHDN
- CN Nguyễn Lê Hương - Viện Nghiên cứu Khoa học Dạy nghề
8 Các cơ quan phối hợp:
- Các Vụ của Tổng cục Dạy nghề
- Vụ Giáo dục Chuyên nghiệp – Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Đại học Quốc gia Hà Nội
- Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
Trang 3I ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, mối quan hệ hợp tác giữa các nước thuộc Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tiếp tục phát triển và ngày càng chú trọng vào vấn đề phát triển nguồn nhân lực, trong đó dạy nghề được coi là yếu
tố quyết định để bảo đảm phục hồi và tăng trưởng bền vững của các quốc gia trong khu vực Đồng thời, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN năm 2010, các nhà lãnh đạo ASEAN cũng khẳng định tiến tới cộng đồng ASEAN vào năm 2015 Một trong những hoạt động được xác định là yếu tố hết sức quan trọng để tiến tới cộng đồng ASEAN là vấn đề công nhận kỹ năng nghề giữa các nước ASEAN để việc di chuyển lao động giữa các nước được thực hiện dễ dàng trong cộng đồng
Khi người lao động di chuyển đi làm việc tại một quốc gia khác, một trong những vấn đề quan trọng là người lao động cần phải được chủ sử dụng lao động công nhận và trả lương tương xứng với trình độ đào tạo và kỹ năng nghề của họ Để giải quyết được vấn đề này thì những nước tiếp nhận lao động cần phải có những bằng chứng về độ tin cậy của hệ thống trình độ đào tạo của các quốc gia cung cấp lao động Việc bảo đảm chất lượng của các trình độ trên toàn
hệ thống trình độ quốc gia đã xuất hiện gần đây và được coi là mục đích quan trọng nhất của khung trình độ quốc gia (KTĐQG) Mục đích này bao gồm cả mục đích bên trong và bên ngoài, nhằm bảo vệ cho người lao động, chủ sử dụng lao động và người học về chất lượng của văn bằng được cấp Nó bảo đảm cho chủ sử dụng lao động nước ngoài về chất lượng của trình độ được công nhận ở nước sở tại hoặc khẳng định với các doanh nghiệp có nhu cầu đầu tư vào nước sở tại rằng văn bằng được công nhận ở cấp quốc gia phù hợp với các chuẩn đầu ra đạt được KTĐQG tự nó không thể cung cấp chất lượng văn bằng quốc gia mà nó sẽ hình thành một cơ chế để bảo đảm chất lượng ở từng bậc trình độ
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, khoảng 2 thập kỷ trở lại đây, nhiều nước trên thế giới đã tập trung xây dựng KTĐQG trong đó một bộ phận vô cùng quan trọng của KTĐQG là khung trình độ nghề quốc gia (KTĐNQG)
Đối với Việt Nam, việc xây dựng KTĐQG và KTĐNQG cần đưa vào các văn bản chính sách, chiến lược phát triển giáo dục và dạy nghề Điều này cũng phù hợp với Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ XI để phát triển một nền giáo dục chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế Tiếp sau, cần thể chế hóa những chính sách, chiến lược để hình thành cơ chế đưa khung trình độ vào thực tiễn, để áp dụng cho hệ thống giáo dục và dạy nghề cũng như xử lý các quan hệ lao động và việc làm Hơn nữa, Việt Nam cần có KTĐNQG tham chiếu khung trình độ khu vực để tiến tới công nhận lẫn nhau
về trình độ và kỹ năng giữa các nước trong Cộng đồng kinh tế ASEAN 2015
Trang 4Việc xây dựng KTĐQG cũng như KTĐNQG là hết sức quan trọng trong bối cảnh hội nhập và nó trở nên cấp bách trong bối cảnh các nước ASEAN đang tiến tới là một cộng đồng vào năm 2015 Tuy nhiên, để xây dựng KTĐNQG, chúng ta đang còn thiếu nền tảng phương pháp luận và các căn cứ thực tiễn cho vấn đề này Chính vì vậy, việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng KTĐNQG nói riêng và KTĐQG nói chung có ý nghĩa rất lớn
II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Xác định cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng KTĐQG và KTĐNQG từ
đó đề xuất một số giải pháp xây dựng KTĐNQG của Việt Nam hướng tới Cộng đồng ASEAN 2015
III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Hệ thống chính sách về trình độ giáo dục và dạy nghề
- Hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề và đánh giá, công nhận trình độ kỹ năng nghề của người lao động
IV PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung nghiên cứu KTĐQG, KTĐNQG và khung trình độ khu vực KTĐNQG trong đề tài này, về bản chất và tên gọi đầy đủ, là khung trình
độ quốc gia về giáo dục kỹ thuật và đào tạo nghề
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Các phương pháp được sử dụng để nghiên cứu đề tài này bao gồm:
1 Phân tích tổng hợp;
2 Thống kê, so sánh các tư liệu thứ cấp;
3 Phương pháp chuyên gia
Trang 51.2 Khung trình độ quốc gia
KTĐQG là một công cụ để xây dựng và phân loại trình độ theo một bộ tiêu chí hoặc theo các tiêu chí dành cho các cấp độ học tập đã đạt được
Phạm vi của khung có thể bao gồm toàn bộ các thành tựu học tập đạt được
và các hình thức học hoặc có thể giới hạn ở một lĩnh vực học cụ thể, ví dụ như giáo dục ban đầu, giáo dục và đào tạo cho người trưởng thành hoặc một lĩnh vực nghề nghiệp
1.3 Khung trình độ nghề quốc gia
KTĐNQG được hiểu là khung trình độ giáo dục kỹ thuật và đào tạo nghề,
là “Một bộ phận của KTĐQG để xây dựng, phân loại và công nhận các kiến thức, kỹ năng và năng lực hành nghề theo các tiêu chí dành cho các cấp độ học tập đã đạt được trong phạm vi giáo dục nghề nghiệp và được định nghĩa bởi chuẩn đầu ra”
KTĐQG đã bao hàm KTĐNQG trong đó với tư cách một bộ phận hợp thành đã được tích hợp
1.5 Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia (TCKNNQG)
TCKNNQG là phạm trù thuộc sử dụng lao động và việc làm mà không thuộc phạm vi điều chỉnh nội tại của đào tạo và dạy nghề Nó đóng vai trò tham
Trang 6chiếu cơ sở cho thiết kế mục tiêu, phát triển chương trình và các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo nghề
TCKNNQG là những quy định về mức độ thực hiện và yêu cầu kiến thức,
kỹ năng, thái độ cần có để thực hiện các công việc của một nghề
1.6 Khung trình độ khu vực
Khung trình độ khu vực (KTĐKV) là một phương tiện giúp một KTĐQG
và KTĐNQG đề cập tới một khung quốc gia khác và một trình độ có đề cập tới trình độ khác được nêu trong một khung quốc gia khác
KTĐKV ASEAN được đề xuất đóng vai trò như một khung tham chiếu chung, tạo điều kiện so sánh trình độ giữa các nước trong khu vực ASEAN
1.7 Khung tín chỉ
Khung tín chỉ thực chất là “một bộ các mô tả dựa trên sự phân loại của khối lượng học tập và cấp độ học tập” Khung tín chỉ được thiết kế để giúp hỗ trợ việc xây dựng các khóa học và các trình độ, so sánh và định hướng trình độ,
và vì vậy, có thể tạo ra sự gắn kết vững chắc giữa các trình độ, bao gồm các gắn kết dựa trên tín chỉ
1.8 Chuẩn đầu ra
Trong phạm vi đề tài này, chuẩn đầu ra được hiểu một cách ngắn gọn là một bản diễn giải rõ ràng về những thứ mà người học kỳ vọng được biết, hiểu
và (hoặc) làm như là kết quả của một quá trình học tập
2 Sự cần thiết, vai trò và đặc điểm của KTĐNQG
2.1 Sự cần thiết xây dựng KTĐNQG
KTĐQG và KTĐNQG đã mở rộng đầu tiên từ các quốc gia nói tiếng Anh đầu những năm 1990 và lan sang các quốc gia ở tất cả các khu vực trên thế giới Các quốc gia đã thừa nhận KTĐQG và KTĐNQG đã mang lại nhiều lợi ích cho họ
Trong bối cảnh ASEAN hiện nay, KTĐNQG của Việt Nam có vai trò hết sức cần thiết không chỉ trong khuôn khổ quốc gia mà còn trong tiến trình hội nhập khu vực
Trang 7 Hỗ trợ việc công nhận kiến thức và kỹ năng nghề nhằm đạt được đủ tín chỉ của một trình độ đào tạo
Đặc điểm của KTĐNQG:
Các thành tố cơ bản của KTĐQG và KTĐNQG thường bao gồm:
Mức độ phức tạp của việc học, một KTĐQG có khoảng từ 6 đến 12 bậc trình độ và KTĐNQG trong đó thường có khoảng từ 3 đến 6 bậc trình độ
Có phần mô tả trình độ đầu vào, chuẩn đầu ra đối với tất cả các trình độ, văn bằng, hoặc cả hai;
Quy định hoặc hướng dẫn để liên thông các cấp trình độ, hoặc là cùng cấp (liên thông ngang) hoặc giữa các cấp trình độ khác nhau (liên thông dọc);
Quy định hoặc hướng dẫn về thời lượng học tập để đạt được một trình độ nhất định
3 Các yếu tố ảnh hưởng
3.1 Bối cảnh chung ASEAN
ASEAN là khu vực điển hình trên toàn cầu về mô hình phát triển KTĐQG Một số nước bao gồm Malaysia, Philippines và Indonesia đã thiết lập KTĐQG toàn diện, trong khi Singapore cũng có khung trong các lĩnh vực giáo dục kỹ thuật và đào tạo nghề Các quốc gia khác như Thái lan đã bắt đầu quy trình thành lập KTĐQG trong các lĩnh vực giáo dục đại học, đào tạo nghề và phổ thông
Việt Nam hiện mới ở giai đoạn ban đầu bàn thảo về nguyên tắc và quan niệm để đi tới thống nhất và xây dựng các khung này trên nền tảng kinh nghiệm của các nước trong khu vực cũng như tiến trình xây dựng khung trình
độ ASEAN
3.2 Các tuyên ngôn chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội
Cơ sở hình thành một khung trình độ khu vực ASEAN với các cấp trình
độ là thỏa thuận khung ASEAN về dịch vụ (AFAS) năm 1995
Trong năm 2007, kế hoạch kinh tế ASEAN (ASEAN 2007) đã được ký và ủng hộ cho các lĩnh vực hợp tác, bao gồm việc thừa nhận các trình độ chuyên nghiệp (ASEAN 2007)
Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 17 ngày 28/10 tại Hà Nội các nhà lãnh đạo ASEAN đã ra tuyên bố về phát triển nguồn nhân lực và kỹ năng cho phục hồi kinh tế và tăng trưởng bền vững
4 Phương pháp xây dựng KTĐNQG
Quy trình xây dựng KTĐNQG có thể áp dụng cho Việt Nam gồm các bước chính như sau:
Trang 81) Nghiên cứu những kinh nghiệm quốc tế trong việc thiết lập và thực hiện KTĐQG và khu vực: Anh, Úc, Malaixia, Indonesia, Thái Lan, Châu Âu
2) Xem xét lại chuẩn đầu ra của hệ thống trung học, dạy nghề, đại học; 3) Rà soát, đánh giá các bộ TCKNNQG đã ban hành (ban đầu sẽ tập trung vào những ngành nghề trọng điểm)
4) Xây dựng dự thảo KTĐNQG thông qua nghiên cứu, tập trung vào chuẩn đầu ra của mỗi cấp bậc trình độ giáo dục, dạy nghề để so sánh, phân tích với mức độ năng lực đòi hỏi của thị trường lao động
5) Lấy ý kiến chủ sử dụng lao động, người lao động, chuyên gia giáo dục
và giáo viên để phân tích sâu, tổng hợp và hoàn thiện
6) Xác định và hòa hợp những năng lực cốt lõi của mỗi bậc trình độ và năng lực chung Những người liên quan đến quá trình này đều phải có kinh nghiệm tốt trong KTĐQG/KTĐNQG và lập kế hoạch cho sự hợp tác tương lai trong phát triển năng lực chuyên biệt theo yêu cầu của các nghề trọng điểm 7) Lấy ý kiến của đại diện từng ngành nghề về dự thảo KTĐNQG
8) Phổ biến bản thảo KTĐNQG và tổ chức các cuộc hội thảo trên toàn quốc nhằm chuyển tải đến các đối tượng sử sụng hoặc có liên quan
5 Quy trình tham chiếu KTĐNQG hướng tới KTĐN khu vực
5.1 Chuẩn đầu ra
ASEAN hiện nay đang tham khảo gần như hoàn toàn mô hình Khung trình
độ Châu Âu (EQF) EQF bao gồm các chuẩn đầu ra và coi chuẩn đầu ra như một cơ sở để công nhận hình thức học tập không chính thức, phi chính quy và chính qui
Chuẩn đầu ra nhấn mạnh kết quả của việc học hơn là tập trung vào các dữ liệu đầu vào như thời gian học tập (EQF 2008)
Tuy nhiên, khung tham chiếu trong khu vực cần phải bổ sung và hỗ trợ các khung và hệ thống trình độ quốc gia khác nhau, nhằm ưu tiên cho các quốc gia thành viên Để đạt được điều đó cần có sự thảo luận sâu thêm giữa các nước ASEAN
5.3 Đánh giá khối lượng học tập
“Khối lượng học tập để hoàn thành các trình độ và các phần kèm theo được định nghĩa dưới dạng tín chỉ, trong đó một tín chỉ đại diện cho thời gian định mức để một người học trung bình đạt được chuẩn đầu ra của một phần
Trang 9trong một trình độ Giờ định mức bao gồm thời gian dành cho việc tiếp xúc trực tiếp (như học lý thuyết và phụ đạo), thực hành và đi thực tế, thời gian tự nghiên cứu và thời gian thực hiện việc đánh giá (thi hoặc kiểm tra)
Một tín chỉ tương đương với 10 giờ học định mức ở mức độ phù hợp Một năm học tập toàn thời gian (chính quy) tương đương với 120 tín chỉ Tổng khối lượng tín chỉ của một trình độ là tổng số các tín chỉ của các thành phần trong trình độ, có thể là các bài học, đơn vị học trình, mô đun, khóa học, tiểu luận hoặc năng lực được thể hiện dưới dạng số nguyên” (PQF, 2010)
5.4.Thuận lợi, khó khăn trong quá trình xây dựng KTĐNQG tham chiếu khung trình độ khu vực
Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, khi xây dựng KTĐQG/KTĐNQG thường có những thuận lợi và khó khăn đồng thời như dưới đây:
• Các KTĐQG/KTĐNQG đang được phát triển dưới áp lực đáng kể từ bên ngoài
• Sự thành công của các KTĐQG/KTĐNQG phụ thuộc vào sự chuyển đổi chuẩn đầu ra
• Sự thành công của các KTĐQG/KTĐNQG sẽ làm tăng cường khả năng tiếp cận và thúc đẩy liên thông trong giáo dục và đào tạo nghề và để hỗ trợ các chức năng như xác nhận việc học tập không chính quy và phi chính quy hay sự sắp xếp chuyển đổi tín chỉ
• Sự phát triển của các khung toàn diện có nguy cơ ít phù hợp cho mục đích của các tiểu hệ thống (giáo dục phổ thông, đào tạo nghề và giáo dục đại học) Thách thức trong thời gian tới là phải cân bằng tính thống nhất với tổng thể với những chuyên môn và đặc thù của ngành nghề
• Cần phát triển hệ thống giám sát, chiến lược nghiên cứu và đánh giá Các chỉ số cần được xây dựng để cho phép sự hiểu biết tốt hơn về các điều kiện để thành công (đến người sử dụng cuối cùng, cá nhân, người sử dụng lao động)
• Sự thành công của các KTĐQG/KTĐNQG cũng yêu cầu các vấn đề sau đây cần phải được giải quyết:
(a) Làm thế nào các khung trình độ được duy trì về tài chính? Ở nhiều quốc gia
sự phát triển khung trình độ dựa vào nguồn ngân sách nhà nước hoặc quỹ xã hội? Và sự hỗ trợ này có tiếp tục trong tương lai?
(b) Làm thế nào để phát triển KTĐQG/KTĐNQG thỏa mãn, đáp ứng những kỹ năng phát triển liên quan đến việc thay đổi công nghệ, kỹ năng thiếu hụt trong các nước thành viên?
(c) KTĐQG/KTĐNQG có thể liên kết các yếu tố đầu vào và kết quả để có thể được sử dụng cho phát triển chương trình đào tạo mới và các quy trình đánh giá?
(d) Làm thế nào KTĐQG/KTĐNQG có thể tiếp cận đối với những người sử dụng cuối cùng
Trang 10Chương 2
KINH NGHIỆM XÂY DỰNG KHUNG TRÌNH ĐỘ NGHỀ
QUỐC GIA VÀ KHU VỰC TRÊN THẾ GIỚI
1 Khung trình độ nghềkhu vực và một số quốc gia Châu Âu
1.1 Giới thiệu tổng quan
KTĐQG/KTĐNQG là chìa khóa cho sự phát triển của hệ thống giáo dục và đào tạo nghề tại một quốc gia Châu Âu là khu vực có hệ thống khung trình độ phát triển nhất quán và mạnh mẽ hơn cả
Sự phát triển KTĐ Châu Âu (EQF) được thực hiện từ năm 2004 và được chính thức thông qua bởi Hội đồng và Nghị viện Châu Âu năm 2008
Sự phát triển hệ thống EQF giúp cho việc công nhận trình độ giữa các nước
và thúc đẩy sự dịch chuyển linh hoạt từ nước này sang nước khác EQF giúp cho hệ thống KTĐQG/KTĐNQG của mỗi nước càng trở nên minh bạch, mạch lạc và dễ hiểu hơn
Hệ thống khung trình độ là chìa khóa quan trọng trong việc kết nối hệ thống KTĐQG/KTĐNQG với EQF
1.2 Căn cứ và mục tiêu chính sách của khung trình độ
và tăng cường các liên kết ngang và dọc trong hệ thống hiện có;
(d) Hỗ trợ việc học tập suốt đời bằng đưa ra những con đường học tập cho
họ lựa chọn và bằng những hỗ trợ, sự tham gia và quá trình thực hiện;
(e) Mở rộng sự công nhận kết quả học tập (bao gồm cả việc họp tập chính quy và không chính quy);
(f) Tăng cường sự liên kết và cải thiện thông tin giữa giáo dục và đào tạo nghề với thị trường lao động;
(g) Mở rộng hệ thống trình độ quốc gia với cả những trình độ đạt được bên ngoài hệ thống đào tạo
(h) Tạo nền tảng cho sự hợp tác và đối thoại ở một phạm vi rộng các đối tác; (i) Cung cấp nội dung tham chiếu để đảm bảo chất lượng
Ngoài những mục tiêu chung mà các quốc gia phải thực hiện thì cũng có những mục tiêu riêng của mỗi quốc gia Một mục tiêu quan trọng ở nhiều nước (ví dụ như Cộng hòa Séc, Malta, Bồ Đào Nha, Xlô-ven-ni-a) đó là sử dụng khung trình độ để tăng cường và kết hợp tốt hơn việc công nhận, xác định quá trình học không chính quy cũng như phi chính quy
Trang 111.3 Quy trình xây dựng và thực hiện
Các giai đoạn phát triển KTĐQG/KTĐNQG:
Sự hình thành và phát triển của khung trình độ quốc gia của 31 nước được xác định có thể theo những bước sau:
(a) Hình thành khái niệm và mô tả
2.1 Kinh nghiệm xây dựng KTĐQG của Úc
Khung trình độ Úc (AQF) được xây dựng vào những năm 1990 dựa trên những tiêu chuẩn trình độ đã được xây dựng từ trước đó và bắt đầu được áp dụng vào năm 1995 Trong 2 năm 2009, 2010, Hội đồng Khung trình độ Úc đã làm việc với những người sử dụng AQF và các bên liên quan để cập nhật AQF AQF sửa đổi được thông qua và bắt đầu áp dụng từ năm 2011
Các bậc trình độ và các loại văn bằng trong AQF 2011:
AQF bao gồm 10 bậc trình độ, từ bậc 1 đến bậc 10 Có 16 loại văn bằng được công nhận trong hệ thống AQF, trong đó loại trừ Chứng chỉ Trung học phổ thông không được xếp trong các bậc trình độ, 15 loại văn bằng còn lại được xếp vào một trong số 10 bậc của AQF
Bảng 2.2 Khung trình độ quốc gia của Úc
Trang 122.2 Kinh nghiệm xây dựng KTĐNQG của Singapore
Tại Singapore, công tác đào tạo và phát triển lực lượng lao động bao gồm hai thành phần chính, đào tạo tiền việc làm (PET) và giáo dục đào tạo thường xuyên (CET)
Hệ thống KTĐNQG Singapore (Trình độ kỹ năng của lực lượng lao động - WSQ) đã được phát triển trở thành hệ thống giáo dục đào tạo thường xuyên (CET) chính ở Singapore nhằm cung cấp cho nhu cầu giáo dục và đào tạo ở mọi cấp độ của lực lượng lao động
Mục tiêu của Hệ thống WSQ
Hệ thống WSQ được phát triển để hỗ trợ sự phát triển kinh tế của Singapore và cho phép tất cả thành phần trong lực lượng lao động Singapore có thể truy cập các chương trình chất lượng, đáng tin cậy và thông tin liên quan tới CET
Quy trình đào tạo và học tập
Các cơ sở đào tạo WSQ (được công nhận ) chịu trách nhiệm cho việc phát triển và cung cấp các chương trình đào tạo và đánh giá WSQ Chất lượng đào tạo WSQ và các chương trình đánh giá được đảm bảo thông qua quá trình công nhận WSQ
WSQ bao gồm các cơ chế trước kiểm định và kiểm định thường xuyên
để đảm bảo chất lượng, độ tin cậy và sự công nhận của các chương trình WSQ, bằng cấp và giấy chứng nhận
Cấu trúc hệ thống WSQ của Singapore
Hệ thống trình độ WSQ bao gồm sáu bậc trình độ nghề, từ Giấy chứng nhận và chứng nhận cao hơn, chủ yếu nhằm vào các nghề lao động chân tay/kỹ thuật tới các Giấy chứng nhận nâng cao và Văn bằng nhằm mục tiêu mở rộng vào các công việc giám sát / quản lý và tới Văn bằng chuyên môn, Giấy chứng nhận tốt nghiệp/Văn bằng hướng tới các công việc đặc thù và chuyên môn hóa
WSQ hiện nay bao phủ 26 khu vực bao gồm các khung ngành công nghiệp “theo chiều dọc” như hàng không vũ trụ, an ninh, và xuyên chéo “theo chiều ngang” như quản trị kinh doanh, lãnh đạo và quản lý con người và dịch
vụ hoàn hảo
2.3 Kinh nghiệm xây dựng KTĐNQG Philipines
KTĐQG Phillipin cung cấp cơ sở cho một hệ thống tích hợp giáo dục suốt đời và bao gồm: trình độ cơ bản; đào tạo nghề; giáo dục đại học; nhằm tập trung vào việc đáp ứng nhu cầu của ngành công nghiệp địa phương, cũng như cung cấp hình thức liên kết với trình độ ở nước ngoài và công nhận cho các kỹ năng và trình độ của người lao động Philippin để tìm kiếm việc làm và học thêm ở nước ngoài Các trình độ chuyên môn đều dựa trên năng lực và việc xác nhận các bậc trình độ và chức danh liên quan do KTĐQG đề xuất