1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khai thác giá trị tri thức bản địa người Thái phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội ở các khu tái định cư thuộc dự án Thuỷ điện Sơn La Các chuyên đề

171 231 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 171
Dung lượng 764,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Di dân TĐC là nhiệm vụ mới quan trọng, toàn diện và nhạy cảm, liên quan đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế – xã hội như: đất đai, phong tục tập quán, tư tưởng,

Trang 1

Học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

W X

đề tài khoa học cấp bộ năm 2007

M∙ số: B07 - 25

“Khai thác giá trị tri thức bản địa người Thái phục vụ

yêu cầu phát triển kinh tế - x∙ hội ở các khu

tái định cư thuộc dự án thuỷ điện Sơn la”

Cơ quan chủ trì: Học viện Chính trị khu vực I

Chủ nhiệm đề tài : Th/s Nguyễn Thị Thanh Huyền

Thư ký: Th/s Nguyễn Việt Phương

các chuyên đề

Hà Nội - 2007

Trang 2

Tầm quan trọng của khai thác giá trị tri thức bản địa người Thái phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - x∙ hội tại khu tái định cư

thuộc dự án Thuỷ điện Sơn la

TS Lê Phương Thảo (*)

Sau nhiều năm nghiên cứu, chủ trương xây dựng Nhà máy thuỷ điện Sơn La đã được Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ quyết định xây dựng Thuỷ điện Sơn La với phương án 3 bậc trên sông Đà tại tuyến Pá Vinh

II, xã ít Ong, huyện Mường La tỉnh Sơn La Tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội (khoá X) ra Nghị quyết số 44/2001- QH 10 ngày 26-9-2001 quyết định chủ trương đầu tư xây dựng Dự án nhà máy Thuỷ điện Sơn La Ngày 02 tháng 12

năm 2005, Dự án bắt đầu khởi công xây dựng

Thuỷ điện Sơn La là công trình trọng điểm quốc gia, là công trình thuỷ

điện lớn nhất Việt Nam và có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Đồng thời đây cũng chính là vận hội lịch sử đối với các tỉnh Tây Bắc nói chung và Sơn La nói riêng trong chuyển dịch sơ cấu kinh tế, sắp xếp lại lao động và dân cư, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội

Thuỷ điện Sơn La là công trình lớn nên cũng chính là Dự án phải thực hiện công cuộc di dân TĐC lớn nhất ở nước ta cho đến thời điểm hiện nay Tổng số hộ dân chịu ảnh hưởng bởi dự án và phải di dân ở 3 tỉnh Sơn La,

Điện Biên, Lai Châu là 18.897 hộ với 91.100 nhân khẩu, trong đó người Thái chiếm 83,1% Riêng tỉnh Sơn La có nhiệm vụ tổ chức di dân, TĐC tính

đến năm 2010 là 12.497 hộ dân tương đương với 7 vạn dân phải di chuyển bắt buộc Theo Quyết định số 196/2004/QĐ-TTg ngày 29-11-2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể di dân, tái định cư Dự án Thuỷ điện Sơn La thì trên đại bàn tỉnh Sơn La có 10 vùng (thuộc 10 huyện),

83 khu (thuộc 83 xã), 218 điểm TĐC, bố trí 100% số hộ TĐC của tỉnh Dân cư bị ảnh hưởng gồm 7 dân tộc, dân tộc Thái chiếm tỷ lệ 88,14% Tổng số

(*) Nguyên Phó Giám đốc Học viện Chính trị khu vực I

Trang 3

diện tích đất bị ngập lụt là 23.333 ha: đất nông nghiệp là 7.670 ha, đất lâm nghiệp rừng là 3.170 ha, đất chuyên dùng là 879 ha, đất ở là 527 ha, đất chưa sử dụng là 11.087 ha Tổng hợp giá trị thiệt hại về tài sản và hộ tái định cư, công trình kiến trúc và và kết cấu hạ tầng khoảng 1.788 tỷ đồng: giá trị thiệt hại tài sản của các tổ chức là 373 tỷ đồng, giá trị thiệt hại tài sản của hệ gia đình và cá nhân là 1.051 tỷ đồng

Nhiệm vụ cơ bản đặt ra đối với công tác di dân TĐC thuộc dự án Thuỷ

điện Sơn La tính đến năm 2010 là đảm bảo di dân đến nơi ở mới an toàn,

đúng tiến độ thi công xây dựng công trình, từng bước ổn định sản xuất, đời sống, để người đến nơi ở mới có điều kiện sản xuất, đời sống tốt hơn nơi ở

cũ Di dân TĐC là nhiệm vụ mới quan trọng, toàn diện và nhạy cảm, liên quan đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế – xã hội như: đất đai, phong tục tập quán, tư tưởng, nhận thức, tâm lý dân tộc, môi sinh, môi trường, chế độ chính sách, đời sống, sản xuất, kinh tế, chính trị, văn hoá, trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc phòng… Mặt khác, công tác di chuyển dân phải tiến hành trong một thời gian ngắn, tập trung ở những xã, bản, vùng dân tộc ít người, đời sống khó khăn, dân trí thấp, lao động hầu hết chưa qua đào tạo, phong tục tập quán chủ yếu là thuần nông tự cấp tự túc, cộng với tâm lý đồng bào không muốn dời bỏ quê hương… đây chính là những khó khăn, thách thức lớn đặt ra đối với công tác TĐC thuộc dự án Thuỷ điện Sơn La

Trước các nhiệm vụ lớn đó, ngày 22 tháng 10 năm 2002, Bộ Chính trị

đã cho ra đời Thông báo số 84-TB/TW về Kết luận của Bộ Chính trị về Dự

án Thuỷ điện Sơn La Trong đó quan điểm chỉ đạo về công tác TĐC là:

“Tiếp tục hoàn chỉnh phương án TĐC, nhằm mục tiêu tạo điều kiện cho

đồng bào TĐC sớm ổn định được chỗ ở, cuộc sống, sản xuất, tiến lên thay

đổi cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, có cuộc sống vật chất và văn hoá tốt hơn để ổn định lau dài Xây dựng công trình Thuỷ điện Sơn La phải tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội cả vùng

Trang 4

Tây Bắc theo hướng CNH, HĐH, nâng cao đời sống nhân dân, giữ vững ổn

định chính trị - xã hội, quốc phòng an ninh, môi trường sinh thái” (1)

Quán triệt quan điểm chỉ đạo của Trung ương Đảng, Đảng bộ Sơn La

đã cho ra đời nhiều Nghị quyết về lãnh đạo công tác TĐC Dự án Thuỷ điện Sơn La theo các hướng sau:

Một là, quy hoạch bố trí di dân TĐC phải gắn với điều chỉnh lại dân cư,

bố trí lại sản xuất và phân bố lại lao động, chuyển đổi cơ cấu lao động phù hợp với chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm khai thác tốt tiềm năng, lợi thế của từng vùng để phát triển sản xuất nông lâm nghiệp hàng hoá, công nghiệp và dịch vụ; phát triển kinh tế gắn với giữ vững ổn định chính trị – xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, môi trường sinh thái

Hai là, di dân TĐC nội tỉnh là chính, chỉ khi không thể TĐC được

trong tỉnh mới di dân ra ngoài tỉnh Nhân dân di chuyển đến nơi định cư mới

và nhân nơi đón dân đều phải có cuộc sống tốt hơn trước và cùng được hưởng lợi từ đầu tư và phát triển sản xuất và xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng của Dự án Xây dựng cộng đồng dân cư đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau

Ba là, tổ chức di dân TĐC phải gắn với xây dựng bản mới, xây dựng

nông thôn mới theo hướng CNH, HĐH, xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với khả năng và xu hướng phát triển của lực lượng sản xuất, sử dụng đất hợp

lý, tiết kiệm, tạo ra giá trị kinh tế cao trên đơn vị diện tích, đạt hiệu quả kinh

tế – xã hội bền vững

Bốn là, cùng với hỗ trợ của Nhà nước, phát huy cao độ tinh thần sáng

tạo, tự lực, tự cường, thực hiện phương châm: “nhân dân và Nhà nước cùng hợp tác để xây dựng khu tái định cư”, chống tư tưởng trông chờ, ỷ lại Địa phương (tỉnh, huyện) làm quy hoạch tái định cư và tổ chức thực hiện là chính, Trung ương hỗ trợ

(1) ĐCSVN, Tỉnh uỷ Sơn La, Ban chỉ đạo di dân, tái định cư Thuỷ điện Sơn La, “Nha fmáy Thuỷ điện Sơn

La và công cuộc di dânm, tái định cư, Sơn La tháng 12 năm 2006, tr 9

Trang 5

Năm là, tiến độ quy hoạch và đầu tư xây dựng khu TĐC di dân ra khỏi

vùng sẽ bị nhập phải nhanh hơn, đi trước tiến độ xây dựng công trình Thuỷ

điện Sơn La, chủ động di dân theo hình thức “một chốn đôi quê”, không chờ nước dâng mới di chuyển dân

Sáu là, xây dựng những mô hình TĐC về nhà ở, về sản xuất và kết cấu

hạ tầng phù hợp với phong tục tập quán đồng bào các dân tộc và điều kiện

địa lý tự nhiên, khí hậu từng nơi, theo định hướng của Trung ương và của Tỉnh; coi trọng việc lấy ý kiến đóng góp của cán bộ nhân dân ở các vùng phải di dời cũng như ở vùng quy hoạch khu TĐC đối với các phương án TĐC

Nhận thức rõ tầm vóc và ý nghĩa của công trình Thuỷ điện Sơn La đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Tây Bắc, Nhà nước đã dành nguồn kinh phí lớn đầu tư quy hoạch, xây dựng các khu tái định cư (TĐC) cho các đối tượng thuộc diện di dời khỏi lòng sông Đà Song dự án TĐC mới bắt đầu vận hành

đã bộc lộ nhiều hạn chế Việc đưa một số lượng lớn cư dân phần lớn canh tác nương rẫy (xen lẫn canh tác ruộng nước thung lũng) với tập quán canh tác tự cấp tự túc là phổ biến chuyển sang sản xuất hàng hoá theo hướng công nghiệp hoá; việc chuyển từ phương thức sản xuất tuỳ thuộc chặt chẽ vào môi trường tự nhiên sang một môi trường nhân tạo với những quy hoạch chi tiết của Nhà nước; các tộc người thiểu số vốn có tập quán quần cư mang tính cộng đồng bền chặt với những bản sắc văn hoá đặc trưng ít nhiều bị xé lẻ để phục vụ cho các dự án TĐC; những yếu tố văn hoá truyền thống gắn liền với những không gian sinh tồn đặc trưng đã chuyển sang vận động trong cảnh quan mang tính nhân tạo là chủ yếu… đã tác động mạnh mẽ đến cuộc sống con người Một trong nguyên nhân của những bất cập ấy là thiếu những nghiên cứu cơ bản về văn hoá tộc người, tập quán canh tác, phương thức sản xuất, những giá trị tri thức bản địa của các dân tộc để vận dụng trong xây

dựng, quy hoạch các khu TĐC

Chúng ta đã áp dụng mô hình sản xuất hàng hoá cho cộng đồng cư dân chưa hề có quá trình chuẩn bị thích ứng với nó nên không tạo ra quá trình phát triển phù hợp về phương thức sản xuất Các khu TĐC với quy hoạch chi

Trang 6

con người với không gian cư trú, không gian sinh tồn (ruộng đất, vốn rừng, thảm thực vật, sông suối…) và những tập quán canh tác gắn với điều kiện tự nhiên ấy vốn đã gắn bó với cư dân bản địa từ bao đời nay.Trong môi trường,

điều kiện sinh tồn và canh tác truyền thống ấy, cộng đồng cư dân đã đúc kết

được hệ thống tri thức bản địa phản ánh những hiểu biết của mình về tự nhiên (sinh quyển, thảm thực vật, nguồn nước, vốn rừng…) Trong hệ thống tri thức đó thì tri thức bản địa của người Thái chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng bởi số lượng cư dân lớn nhất ở Tây Bắc, bởi trình độ phát triển cao hơn

và có ảnh hưởng lớn đến các dân tộc thiểu số có dân số ít hơn trong vùng, bởi chiếm tỷ lệ đa số trong 12 dân tộc thuộc đối tượng phải di dời đến các khu TĐC (chiếm 55.15% trong tổng số dân tái định cư) Hệ thống tri thức bản địa đó đã hàm chứa trong đó những giá trị tổng kết quan trọng về điều kiện tự nhiên và xã hội, nếu thiếu hiểu biết về nó và vận dụng phù hợp trong quy hoạch phát triển các khu TĐC thì các mục tiêu đặt ra rất khó thành công

và thậm chí đổ vỡ, thất bại

Nghiên cứu những giá trị tri thức bản địa tức là nghiên cứu những tri thức, kinh nghiệm có ý nghĩa tích cực đối với sự phát triển kinh tế – xã hội, phát triển văn hoá, phát triển con người … của một cộng đồng người nhất

định Việc nghiên cứu về những giá trị cơ bản tri thức bản địa của các tộc người thiểu số ở nước ta chủ yếu tập trung vào các khía cạnh sau đây:

- Tri thức địa phương trong sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp

- Tri thức địa phương về sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, bao gồm rừng, đất đai và nguồn nước

- Tri thức về tổ chức và quản lý cộng đồng

- Tri thức địa phương về y học dân gian và chăm sóc sức khoẻ

- Truyền thống giáo dục, trao truyền vốn tri thức dân gian trong phạm

vi cộng đồng làng bản, dòng họ, gia đình nhằm bảo tồn, phát huy và sử dụng

có hiệu quả những kiến thức đó vào phát triển cộng đồng

Tây Bắc là một vùng rộng lớn có địa - chính trị, kinh tế - văn hoá

độc đáo, có vị trí chiến lược rất quan trọng đối với sự phát triển của đất nước cả về an ninh, quốc phòng, chính trị, kinh tế, văn hoá Trong những năm đổi

Trang 7

mới vừa qua, đời sống kinh tế, xã hội và văn hoá ở vùng đồng bào các dân tộc Tây Bắc đã có bước tiến đáng kể khi sự đầu tư của Nhà nước vào một số các công trình trọng điểm trong thời kỳ CNH, HĐH Đi cùng với sự phát triển về kinh tế, bảo đảm ổn định về chính trị, an ninh, quốc phòng là việc giữ gìn bản sắc văn hoá vốn có ở khu vực này, biến nó trở thành động lực quan trọng trong việc thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH Trước những mục tiêu đó, việc khai thác một cách triệt để những giá trị tri thức bản

địa của người Thái vốn là tộc người thuộc diện di chuyển, TĐC chủ yếu của

Dự án là nhiệm vụ cần thiết, tạo cơ sở cho sự phát triển bền vững, ổn định của Tây Bắc nói chung và Sơn La nói riêng Mục tiêu đó đặt ra những yêu cầu cơ bản trong việc khai thác tri thức bản địa của cộng đồng người Thái - tộc người chiếm số đông trong các dự án TĐC của Thuỷ điện Sơn La như sau:

Một là, Dự án di dân, TĐC đối với tộc người Thái lưu ý khai thác những giá trị tri thức về việc lựa chọn địa bàn cư trú gắn với đặc điểm là cư dân trồng lúa nước, có tập quán định canh, định cư lâu đời

Việc triển khai dự án Thuỷ điện Sơn La để phục vụ cho lợi ích lớn lao của đất nước, của vùng Tây Bắc nhưng đồng thời cũng chính quá trình có tác

động mạnh mẽ nhất đối với sự ổn định vốn rất lâu bền của cộng đồng người Thái khi triển khai các các nhiệm vụ di dân, TĐC Di dân, TĐC thực chất là cuộc tái cấu trúc lại không gian sinh tồn, địa bàn cư trú và tất cả các hoạt

động kinh tế – xã hội, sinh hoạt văn hoá tinh thần của đồng bào… Mặt khác việc di dời đồng bào khỏi quê hương bản quán của mình, đặc biệt là người Thái có tập quán định cư lâu đời, thì đó là một sự hy sinh lớn vì lợi ích quốc

gia Chính vì vậy, di dân, TĐC đây thực sự là một vấn đề hết sức nhạy cảm

trên nhiều phương diện, nếu không được lưu tâm và có biện pháp phù hợp dễ

dẫn tới những tổn thương lớn về tâm lý, văn hoá tộc người Sau di dân,

nhiệm vụ quan trọng đặt ra là thực hiện TĐC gắn với việc tổ chức lại cuộc sống cho đồng bào, tạo ra sự phát triển kinh tế – xã hội bền vững hướng tới

các mục tiêu mà Dự án đề ra

Trong tổng thể mối tương quan giữa các tộc người thì người Thái là tộc

Trang 8

trưng của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước lâu đời nhưng cùng đậm sắc thái văn hoá của vùng núi rừng hào phóng, sơ khai Những giá trị tri thức đó

đã thực sự là những yếu tố bản sắc trong kho tàng văn hoá Thái Trong tổng

thể mục tiêu của Dự án TĐC Thuỷ điện Sơn La thì phát triển và phát triển

bền vững chính là mục tiêu bao trùm và có tính chiến lược Do đó, việc khai

thác, phát huy những giá trị tri thức bản địa, bản sắc văn hoá của người Thái – đối tượng chủ yếu của dự án TĐC là yếu tố có tính quyết định tới sự phát triển bền vững của vùng Tây Bắc trong quá trình CNH, HĐH

Hai là, khai thác giá trị tri thức bản địa của người Thái gắn với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển giao có hiệu quả tiến bộ khoa học -

kỹ thuật, khơi dạy những tiềm năng, lợi thế của vùng Tây Bắc trong sự nghiệp CNH, HĐH

Khai thác những giá trị tri thức bản địa của người Thái trong sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp, trong khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa quan trọng đối với công cuộc chuyển dịch cơ cấu kinh tế Những tri thức, kinh nghiệm của người Thái trong làm nương làm ruộng, trong xây dựng các công trình thuỷ lợi, trong giữ gìn và khai thác rừng, khai thác nguồn nước… thực sự có giá trị đối với việc phát triển một nền kinh tế mới phù hợp với địa hình, điều kiện tự nhiên ở đây Mặt khác, bản thân những tri thức bản địa luôn có tính động bởi nó là kết quả của một quá trình tích luỹ kinh nghiệm, đổi mới và thích nghi một cách liên tục nên

đây chính là điều kiện thuận lợi cho việc khai thác kiến thức bản địa kết hợp với việc đưa khoa học - kỹ thuật để phát triển kinh tế ở vùng TĐC Nhưng việc kết hợp giữa tri thức bản địa với những giá trị tri thức khoa học để tạo ra

sự hoà nhập trong xu thế phát triển bền vững luôn là vấn đề không đơn giản Những thất bại của việc đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật ở vùng phát triển vào vùng chậm phát triển, của việc đưa tri thức và kỹ thuật ở vùng đồng bằng lên

để quản lý môi trường và phát triển kinh tế - xã hội ở vùng miền núi và dân tộc những năm qua trên đất nước ta là những bài học thực tế cần lưu tâm

Ba là, khai thác giá trị tri thức bản địa người Thái trong xây dựng cơ cấu xã hội phát huy tính cố kết cộng đồng, những yếu tố tiến bộ của hệ thống luật tục và xây dựng một nền văn hoá tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc

Trang 9

Đối với người Thái, điểm nổi bật nhất trong những giá trị tri thức về xã hội đó là tính cộng đồng hết sức bền chặt, mọi thiết chế quản lý xã hội truyền thống của tộc người này đều được thực hiện trên nền tảng yếu tố bản sắc đó Đây là giá trị tri thức, tập quán quý báu tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện mục tiêu xây dựng cộng đồng cư dân đoàn kết, gắn bó, phát triển ổn định trên các vùng đất mới tại các điểm TĐC Nhưng chính tính cộng đồng bền chặt này của người Thái lại đặt ra nhiều yêu cầu khi di chuyển đồng bào đến nơi ở mới: như phải tính nhiều tới yếu tố tự nguyện, tính dòng họ, làng bản, sự hoà nhập của cộng đồng cư dân TĐC đối với dân

sở tại…

Việc di chuyển một cộng đồng dân tộc từ nơi này đến định cư một nơi khác không đơn giản là sự dịch chuyển cơ học mà TĐC chịu sự chi phối của rất nhiều yếu tố tự nhiên và xã hội; trong đó có vai trò đặc biệt của tri thức bản địa, của động lực văn hoá Động lực văn hoá các tỉnh vùng Tây Bắc thể hiện ở truyền thống văn hoá tốt đẹp của đồng bào các dân tộc trong cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là tình thần đoàn kết gắn bó, tương trợ giữa các dân tộc, đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi, cùng chung sức, chung lòng xây dựng quê hương Tây Bắc ngày càng giàu đẹp Đây là điểm then chốt để tạo nên sức mạnh của các đồng bào dân tộc Tây Bắc, tạo nên sự liên kết giữa các dân tộc Động lực văn hoá thể hiện ở ý thức dân tộc và tính tự giác của các đồng bào dân tộc trong việc bảo vệ, kế thừa , phát huy và phát triển các giá trị văn hoá của đồng bào dân tộc mình Các giá trị văn hoá này

được hình thành suốt chiều dài của lịch sử, tạo nên bản lĩnh, phong cách riêng của từng dân tộc Đây là cơ sở liên kết dân tộc và tạo nên sức sống của dân tộc trong giao lưu với các cộng đồng dân tộc khác trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam Động lực văn hoá thể hiện ở ý thức dân tộc và tính tự giác của các đồng bào dân tộc Do nó có bề dày lịch sử, nó có quá trình đan xen, thẩm thấu bên cạnh những bản lĩnh, phong cách riêng của từng dân tộc Vì

lẽ đó nó cũng chính là điều kiện để liên kết dân tộc và tạo nên sức sống của dân tộc trong giao lưu với các cộng đồng dân tộc khác trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam

Trang 10

Những làng, bản mới theo chủ trương định cư của Nhà nước có rất nhiều thay đổi về kết cấu, có bản di chuyền nguyên vẹn, có bản phải xé ra thành nhiều bản, lại có bản mới bao gồm nhiều bản cũ, có bản mới bao gồm nhiều dân tộc sinh sống với số lượng khác nhau, Nếu không có những chính sách hợp lý, tất yếu sẽ gây ra những hệ luỵ, thậm chí nó làm tổn hại

đến tình đoàn kết vốn có Trong trường hợp này, rõ ràng, văn hoá đóng một vai trò rất quan trọng, với sự nhạy cảm và đôi khi hết sức tự nhiên, nó sẽ gắn giữa các dân tộc với nhau bằng sợi dây vô hình và rất hiệu quả Việc giữ gìn

"bộ gen di truyền" văn hoá quý hiếm của từng dân tộc, là cơ sở để tạo nên sự

đa dạng, phong phú trong nền văn hoá Việt Nam thống nhất, đa dân tộc Đặc biệt đối với người Thái vốn là cư dân định cư lâu đời, có truyền thống canh tác lúa nước khá sớm và có một nền văn hóa rất phong phú thì di dân, TĐC

đặt ra nhiều yêu cầu đối với việc nghiên cứu về bảo tồn, khai thác và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống nói chung và tri thức bản địa nói riêng như khảo sát, khai quật, di dời, phục chế những di sản văn hóa vật thể

Đồng thời tiến hành nghiên cứu, sưu tầm, phân loại và lưu giữ bằng các hình thức dân gian và hiện đại những di sản văn hóa phi vật thể để phục vụ công tác nghiên cứu, phổ biến và phát huy các giá trị văn hóa đó Dự án nói trên cũng bao gồm cả việc khảo sát điều tra và xử lý các số liệu khoa học về những giá trị văn hóa của vùng đất đồng bào sẽ đến TĐC Do vậy, công trình thuỷ điện Sơn La rất cần một dự án quốc gia về văn hóa(1)

Bốn là, khai thác giá trị tri thức bản địa người Thái gắn với công tác nâng cao chất lượng hoạt động y tế, bảo vệ môi trường để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững

Một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đối với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH là chất lượng hoạt động của công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân gắn với các dịch vụ y tế Đối với đồng bào dân tộc thiểu số sống ở các vùng núi, vùng sâu, vùng xa nơi mà

điều kiện giao thông, cơ sở vật chất phục vụ cho việc sử dụng lợi ích từ các dịch vụ y tế là hết sức hạn chế Do đó, việc kết hợp chặt chẽ và có hiệu quả trong khai thác những giá trị tri thức bản địa của đồng bào về lĩnh vực chăm

(1) http://vietnamnet.vn/vanhoa/vandekhac/2003/4/8233 (truy cập ngày 15/7/2007)

Trang 11

sóc sức khoẻ với việc mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ

sở y tế là việc làm cấp thiết Song quá trình đó phải được thực hiện không thể tách dời với công tác bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình TĐC, làm thay đổi tập quán sinh hoạt thiếu vệ sinh của đồng bào Đồng thời đó cũng chính là quá trình gạt bỏ đi những biện pháp phòng chữa bệnh bằng các phương pháp pháp thuật, cúng lễ, mê tín dị đoan Song đây là vấn đề phải có sự cân nhắc kỹ lưỡng để giải quyết một cách cân bằng giữa việc giữ gìn bản sắc văn hoá truyền thống với việc nâng cao chất lượng sống cho nhân dân ở các vùng TĐC

Đối với nền văn hoá thung lũng việc cân bằng giữa môi trường sinh thái, bảo vệ môi trường thiên nhiên luôn có xu hướng mâu thuẫn với nhu cầu khai thác của con người, đặc biệt là khi dân số gia tăng, các nguồn lợi từ sự phát triển kinh tế chưa tạo ra sự thay đổi căn bản… Nguy cơ về tình trạng chặt phá rừng, nhất là rừng đầu nguồn luôn là vấn đề thường trực Nhưng

điều đó càng căng thẳng hơn nếu các dự án TĐC không mang lại sự chuyển

đổi cơ cấu kinh tế thực sự cho đồng bào, khi các nguồn viện trợ từ Dự án đã hết, khi sự thay đổi về địa bàn cư trú, đất đai canh tác thu hẹp, khi những yếu tố văn hoá truyền thống bị phá vỡ ở các vùng đất mới… Đây thực sự là một tác động đáng quan tâm khi chương trình TĐC Thuỷ điện Sơn La được

đặt trong tổng thể mục tiêu vì sự phát triển bền vững của vùng Tây Bắc trong

sự nghiệp CNH, HĐH

Như vậy, nghiên cứu những giá trị tri thức bản địa người Thái và khai thác những giá trị đó phục vụ cho quá trình tái thiết và phát triển kinh tế – xã hội ở các khu TĐC Thuỷ điện Sơn La là một nội dung khoa học có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc Làm tốt nhiệm vụ này không chỉ có ý nghĩa đối với việc hoàn thành công tác di dân, đảm bảo đúng tiến độ chất lượng công trình quốc gia mà vấn đề quan trọng là tạo tiền đề để Sơn La và Tây Bắc nói chung phát triển bền vững trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập

Trang 12

Quan điểm của Đảng cộng sản việt nam về việc bảo tồn giá trị văn hoá các dân tộc thiểu số khu vực tây bắc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp

hoá, hiện đại hoá

TS Do∙n Hùng *

Văn hoá là động lực cho sự phát triển Trong sự nghiệp đổi mới của đất nước ta hiện nay, việc bảo tồn những giá trị văn hoá các tộc người được đặt trong tổng thể mục tiêu xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc và là yếu tố có tính chất bản lề của quá trình thực hiện các mục tiêu chiến lược thời kỳ CNH, HĐH Tây Bắc là miền đất giàu truyền thống lịch sử, là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc anh em với sự đa dạng về sắc thái văn hoá Trải qua lao động, sản xuất, sống hoà nhập với thiên nhiên và đóng góp tích cực

đối với lịch sử của dân tộc ta, mỗi tộc người đều lưu giữ lại những bản sắc văn hoá, những giá trị tri thức bản địa rất phong phú có ý nghĩa lớn đối với

sự vươn lên của Tây Bắc trong giai đoạn hiện nay Những giá trị đó còn là lượng chất liệu lớn, quan trọng xây đắp nên nền văn hoá Việt Nam thống nhất trong đa dạng

Nhận thức rõ vai trò của văn hoá đối với sự nghiệp đổi mới đất nước, việc xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, giữ gìn những giá trị văn hoá truyền thống của các tộc người luôn là nhiệm vụ được Đảng

ta coi là có ý nghĩa chiến lược Quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc được trình bày qua nhiều văn kiện Về phương hướng chung: Các văn kiện Đại hội

Đảng, các nghị quyết chuyên đề và văn hoá của Đảng sau Đaị hội VIII và IX

đều thống nhất xác định là: Phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại

đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập, tự chủ, tự cường, xây dựng và bảo về Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại,

*

Giám đốc Học viện Chính trị Khu vực I

Trang 13

làm cho văn hoá thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực

sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội, công bằng, dân chủ, văn minh, tiến bước vững chắc lên CNXH

Về tư tưởng chỉ đạo, để thực hiện phương hướng nêu trên, trong xây dựng và phát triển văn hoá, trong nhiều văn kiện, nghị quyết Đảng ta đã đề

ra các tư tưởng chỉ đạo cơ bản Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII, 1993)

đã xác định cần nắm vững 5 tư tưởng chỉ đạo sau:

Một là, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là cốt lõi tư tưởng trong

văn hoá, văn nghệ nước ta Sự nghiệp văn hoá, văn nghệ là bộ phận khăng khít của sự nghiệp đổi mới Thấm nhuần và thực hiện quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh: “Văn hoá văn nghệ cũng là một mặt trận Anh chị em văn nghệ sỹ là chiến sỹ trên mặt trận ấy”

Hai là, đảm bảo dân chủ tự do cho mọi sự sáng tạo và hoạt động văn

hoá, vun đắp các tài năng đồng thời đề cao trách nhiệm của văn nghệ sỹ

tr-ước công chúng, dân tộc và thời đại

Ba là, phát triển văn hoá dân tộc đi liền với mở rộng, giao lưu với nước

ngoài, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, làm giàu đẹp thêm nền văn hoá Việt Nam Ngăn chặn và đấu tranh chống sự xâm nhập của các loại văn hoá độc hại, bảo vệ nền văn hoá dân tộc

Bốn là, nâng cao tính chiến đấu của các loại văn hoá và văn học, nghệ

thuật, khẳng định mạnh mẽ, sâu sắc những nhân tố mới, những giá trị cao

đẹp của dân tộc ta, khắc phục những gì cản trở quá trình đi lên của đất nớc Phê phán cái sai, lên án các ác, cái xấu là để hướng con người tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp Đấu tranh không khoan nhượng chống các luận điệu độc hại của các thế lực thù địch

Năm là, văn hóa, văn nghệ là sự nghiệp của toàn xã hội Phát triển các

hoạt động văn hoá, văn nghệ của Nhà nước, tập thể và cá nhân theo đường

Trang 14

hoá” các tổ chức văn hoá, văn nghệ và xu hướng “thưng mại hoá” trong lĩnh vực này

Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII đã bổ sung các quan điểm chỉ đạo của Hội nghị Trung ương 4 khoá VII, cụ thể là:

1 Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là

động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội

2 Nền văn hoá của chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Tiên tiến là yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập và chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàn diện của con người, mối quan hệ hài hoà giữa cá nhân

và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên Tiên tiến không chỉ về nội dung tư tưởng mà trong cả hình thức biểu hiện, trong công cuộc phương tiện chuyển tải nội dung Bản sắc văn hoá bao gồm giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp qua hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý trí tự lực, tư cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia

đình - làng xã - Tổ quốc, lòng nhân ái khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý,

đức cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống Bản sắc dân tộc còn đậm nét cả trong hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo

3 Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất đa dạng trong cộng

Trang 15

như sau: “làm cho văn hoá thấm sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình,

từng người, hoàn thiện hệ giá trị mới của người Việt Nam, kế thừa những truyền thống của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hoá của loài người, tăng sức đề kháng chống văn hoá đồi truỵ, độc hại Nâng cao tính văn hoá trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, và sinh hoạt của nhân dân” (1) Trên

nền tảng quan điểm chỉ đạo đó, Đại hội X đã vạch ra những nhiệm vụ cụ thể

đối với việc xây dựng nền văn hoá trong thời kỳ mới Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người trong điều kiện đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế Đảm bảo sự gắn kết giữ nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt với phát triển văn hoá - nền tảng tinh thần của xã hội Trong đó, đặc biệt coi trọng nâng cao văn hoá lãnh đạo quản lý, văn hoá trong kinh doanh và văn hoá trong nhân cách của thanh niên, thiếu niên; chống những hiện tượng phản văn hoá, phi văn hoá Đẩy mạnh xây dựng đời sống văn hoá đại chúng và môi trường văn hoá lành mạnh Bồi dưỡng các tài năng văn hoá, khuyến khích sáng tạo Nâng cao chất lượng và mở rộng diện phổ biến các sản phẩm văn hoá đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá ngày càng cao và đa dạng của các tầng lớp nhân dân…

Những tư tưởng chỉ đạo trên thể hiện sự sáng tạo to lớn của Đảng ta

trong việc nhận thức về tầm quan trọng của văn hoá trong thời kỳ mới Nó cũng là nền tảng để chúng ta có sự nhận dạng đúng hơn về văn hoá từng vùng, từng dân tộc Trên cơ sở đó sẽ có những chính sách tốt hơn trong việc xây dựng nền văn hoá mới, tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Tây Bắc bao gồm 6 tỉnh Hoà Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái và Lào Cai, là một vùng rộng lớn, có địa chính trị, kinh tế - văn hoá độc

đáo, có vị trí rất quan trọng đối với sự phát triển của đất nước cả về an ninh - quốc phòng, kinh tế, xã hội và văn hoá Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay,

Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, tạo

điều kiện để vùng Tây Bắc phát triển đồng đều và vững chắc, đóng góp vào

Trang 16

việc thực hiện mục tiêu chung của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH

Quá trình vận động, phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH của cả nước cũng như vùng Tây Bắc sẽ tác động sâu sắc và toàn diện đến sinh hoạt văn hoá, đến bản sắc và bản lĩnh văn hoá từng dân tộc Vấn đề đặt ra là làm thế nào để đồng bào các dân tộc vùng Tây Bắc chủ

động tham gia vào quá trình CNH, HĐH, vừa giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, khai thác động lực của nó để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, rút ngắn khoảng cách với miền xuôi và với các vùng khác trong cả nước Đảng có nhiều chủ trương, chính sách nhằm bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống ở Tây Bắc, biến nó trở thành động lực nhằm thúc đẩy các lĩnh vực khác phát triển, đóng góp vào thực hiện mục tiêu chung của đất nước là phấn đấu đến năm 2020, nước ta là một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã xác định cụ thể phương hướng phát triển khu vực trung du và miền núi Bắc Bộ là: tập trung khai thác thế mạnh về đất rừng, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng diện tích cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc với công nghiệp chế biến cấu trúc lại nền sản xuất xã hội theo hướng công nghiệp hiện đại Quá trình này

sẽ tác động sâu sắc và toàn diện đến văn hoá, đến bản sắc và bản lĩnh văn hoá của toàn dân tộc Vấn đề đặt ra là làm thế nào đồng bào các dân tộc vùng Tây Bắc vừa chủ động tham gia vào quá trình công nghiệp hoá, hiện

đại hoá, vừa giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, khai thác động lực của nó để phát triển kinh tế - xã hội

Tiếp theo nhà máy thuỷ điện Hoà Bình, nhà máy thuỷ điện Sơn La

đang được đầu tư xây dựng Đây là công trình trọng điểm của đất nước trong thời kỳ mới nhằm tạo nên bước đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội cũng như khơi dạy những tiềm năng phong phú của Tây Bắc cho phù hợp với yêu cầu phát triển Nhưng kết quả của quá trình thực hiện các mục tiêu chiến lược đó phục thuộc rất nhiều vào kết quả của công cuộc tái định cư cho nhân dân vùng lòng hồ sông Đà Trong đó, bảo tồn và khai thác tốt các giá trị văn hoá truyền thống, những giá trị tri thức bản địa để xây dựng nền văn hoá mới

Trang 17

và đưa văn hoá thực sự là động lực cho sự phát triển bền vững của Tây Bắc là vấn đề có ý nghĩa quyết định

Để thực hiện mục tiêu trên đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ

Trong đó, việc bảo tồn và phát huy những “bộ gien văn hoá truyền thống” tại

của vùng tái định cư nhằm biến nó trở thành động lực mới là giải pháp có tính định hướng cơ bản Bởi lẽ, đây chính là cơ sở liên kết tộc người và tạo nên sức sống của các tộc người trong giao lưu với các dân tộc khác trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam Từ đó tạo nên sự thống nhất trong đa dạng của nền văn hoá Việt Nam Việc kiểm kê các tài sản văn hoá vật thể, phi vật thể ở khu vực tái định cư gắn liền những quan niệm mới về văn hoá, đặc biệt

là ở những vùng khó khăn, xa xôi là một trong những việc làm cấp bách hiện nay của Đảng và Chính phủ, của bản thân mỗi tộc người và của các khu vực dân cư mới Việc xây dựng quy hoạch và phân bố dân cư theo một tổng thể nào đó tất yếu phải có sự quan tâm đặc biệt tới truyền thống và đặc điểm văn hoá Việc quy hoạch các làng bản mới cần phải tôn trọng ý kiến của cư dân sinh sống ở đây, tạo điều kiện để cư dân chuyển rời đến nơi cư trú mới giữ

được bản sắc văn hoá của gia đình và cộng đồng Do đó, mọi động thái cần phải xuất phát từ yêu câu về văn hoá và đặc điểm văn hoá của đồng bào thuộc khu vực tái định cư ở Tây Bắc để xây dựng làng bản mới, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội theo hướng CNH, HĐH và mở rộng giao lưu văn hoá lại giữ được bản sắc độc đáo của từng tộc người Bản sắc dân tộc không phải là cái bất biến, tĩnh tại, khép kín mà là ở xu thế động và mở, rút tỉa và tiếp nhận Nó mang tính lịch sử cụ thể và luôn tạo lập các giá trị mới để

thích ứng với yêu cầu phát triển chung của thời đại Vì vậy, bản sắc văn hoá

dân tộc phải được hiểu trong xu thế phát triển và phát triển là điều kiện để giữ gìn bản sắc Với chính sách phát triển vùng dân tộc và miền núi của

Đảng, chúng ta cần phải bảo lưu, khai thác cả cái cũ và mới trong những vùng dân cư mới để biến Tây Bắc thành vùng giàu mạnh của đất nước với một bản sắc văn hoá đa dạng và độc đáo trong sự thống nhất của nền văn hoá Việt Nam

Phát triển văn hoá chính là quá trình tạo nguồn lực con người, tạo nội lực cho sự phát triển, là mục tiêu và cũng là tạo động lực vô cùng quan trọng

Trang 18

trong việc phát triển kinh tế - xã hội Vì lẽ đó, định hướng và đưa ra những giải pháp đúng đắn là việc làm hết sức quan trọng để chúng ta có thể giữ vững và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống tại các khu vực tái định cư Định hướng tổng thể nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống ở khu vực Tây Bắc nớc ta trong tình hình mới là nhiệm vụ có tính chiến lược Giữ gìn và phát huy truyền thống yêu bản mường, quê hương, đất nước, con người; tinh thần lao động cần cù, chịu khó vì mục tiêu xoá đói giảm nghèo; duy trì truyền thống phong tục tập quán và lối sống đạo

đức vì cộng đồng, tôn trọng hương ước, quy ước bản mường, trung thực và mến khách, tinh thần tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau trong khó khăn hoạn nạn; duy trì những lễ hội truyền thống của đồng bào các dân tộc nơi

đây nhưng đồng thời từng bước loại bỏ những hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan Muốn làm được điều này có hiệu quả, tất yếu chúng ta phải có những định hướng cụ thể nhằm tạo ra những cơ sở, điều kiện cho việc bảo tồn các bộ gen văn hoá của đồng bào các dân tộc thiểu số khu vực Tây Bắc

Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn nhất quán chính sách đoàn kết, bình đẳng và tương trợ đối với đồng bào các dân tộc thiểu số Muốn xoá đói, giảm nghèo, đưa các dân tộc trong quốc gia Việt Nam đa dân tộc tiến lên, muốn giải quyết vấn đề dân tộc và phát triển, văn hoá và phát triển, muốn giải quyết tốt mối quan hệ thống nhất và đa dạng, truyền thống và hiện đại, thì trước hết phải nghiên cứu thật toàn diện các mặt của đời sống từng dân tộc, nắm vững đặc điểm từng dân tộc, đánh giá

đúng đắn di sản văn hoá truyền thống từng dân tộc, lấy đó làm xuất phát

Trang 19

- Tìm kiếm những giải pháp nhằm bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc thiểu số tại khu vực tái định cư phục vụ các công trình lớn, trong đó quan trọng nhất là các công trình thuỷ điện đã và đang xây dựng Có những đầu tư thích đáng cho công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá Xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ ngành văn hoá, hiểu biết rõ các giá trị văn hoá của đồng bào các dân tộc, biết lấy văn hoá làm nền tảng trong phát triển kinh tế - xã hội, chống lại những nọc độc văn hoá mới nảy sinh hoặc du nhập từ bên ngoài

Từ những chủ trương chung về công tác văn hoá trong thời kỳ mới

Đảng ta đã chú trọng bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyển thống của

đồng bào các dân tộc thiểu số Khu vực Tây Bắc đợc đặc biệt quan tâm nhất

là khi những công trình lớn của đất nước có những tác động trực tiếp đến văn hoá Những chủ trương, định hướng cũng như những giải pháp cụ thể là hết sức cần thiết để đạt được những kết quả tốt nhất trong công tác này./

Trang 20

Những giá trị Tri thức bản địa người Thái phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế ở các khu tái định cư thuộc dự án Thuỷ điện Sơn La

TS Nguyễn Ngọc Hà (*)

Công trình Thuỷ điện Sơn La là công trình trọng điểm quốc gia, có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển kinh tế – xã hội Tây Bắc Thực hiện dự án tái định (TĐC) cho đồng bào thuộc diện di dời khỏi lòng sông Đà được đặt trong tổng thể mục tiêu chuyển đổi cơ cấu kinh tế đưa Tây Bắc hội nhập với

lộ trình CNH, HĐH của các vùng, miền trong cả nước Mặc dù đã đầu tư một lượng kinh phí lớn song dự án tái định cư mới bắt đầu vận hành đã bộc

lộ không ít những khuyết tật Việc đưa một lượng lớn cư dân phần lớn canh tác nương rẫy (xen lẫn canh tác ruộng nước thung lũng) với tập quán canh

tác tự cấp tự túc là phổ biến chuyển sang sản xuất hàng hoá theo hướng công

nghiệp hoá; việc chuyển từ phương thức sản xuất tuỳ thuộc chặt chẽ vào môi trường tự nhiên sang một môi trường nhân tạo với những quy hoạch chi tiết của Nhà nước…đã tác động mạnh mẽ đến cuộc sống con người Nếu không

có quy hoạch và biện pháp đúng đắn, sáng tạo thì quá trình di dời đến các khu TĐC không những không đưa lại hiệu quả kinh tế như mong muốn, mà nhiều khi còn làm đảo lộn đời sống cư dân, làm gia tăng nguy cơ đói nghèo cho đồng bào ở các tỉnh vốn ở trong tình trạng khó khăn và đặc biệt khó khăn của Tây Bắc

Từ thực tế công cuộc di dân TĐC Thuỷ điện Sơn La cho thấy, việc thiếu những nghiên cứu cơ bản về văn hoá tộc người, tập quán canh tác, phương thức sản xuất của các dân tộc để vận dụng trong xây dựng, quy

hoạch các khu TĐC là nguyên nhân chính của những bất cập nêu trên Việc

áp dụng mô hình sản xuất hàng hoá cho cộng đồng cư dân chưa hề có quá trình chuẩn bị thích ứng với nó đã không tạo ra những bước đi phù hợp cho

sự chuyển đổi về phương thức sản xuất Với quy hoạch chi tiết cả diện tích canh tác lẫn phương thức sản xuất tại các điểm TĐC, trên thực tế đã tách rời

(*) Trưởng khoa Lịch sử Đảng - Học viện Chính trị Khu vực I

Trang 21

con người với không gian cư trú, không gian sinh tồn (ruộng đất, vốn rừng, thảm thực vật, sông suối…) và những tập quán canh tác gắn với điều kiện tự nhiên ấy vốn đã gắn bó với cư dân bản địa qua nhiều thế hệ Trải qua lao

đông, sản xuất, sống gắn bó, hoà nhập với thiên nhiên, các tộc người Tây Bắc đã đúc kết được hệ thống tri thức bản địa trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế và kinh tế nông nghiệp

Trong hệ thống tri thức đó thì tri thức bản địa của người Thái chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng Những giá trị cơ bản của tri thức bản địa người Thái liên quan đến phát triển kinh tế là hệ thống những tri thức về

điều kiện tự nhiên (sinh quyển, khí hậu, thảm thực vật, sông suối, đất rừng, vốn rừng…); về ứng xử của con người đối với môi trường tự nhiên nhằm

đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững (bảo tồn nguồn gien thiên nhiên, kết hợp giữa khai thác với bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái); về tập quán canh tác và phương thức sản xuất (sử dụng công cụ sản xuất, phương thức quản lý của cộng đồng và cá nhân với tư liệu sản xuất, kinh nghiệm tổ chức sản xuất…) Nghiên cứu những giá trị tri thức bản địa trong lĩnh vực kinh tế của người Thái sẽ là cơ sở hình thành những giải pháp cho

sự phát triển kinh tế ở các khu TĐC thuộc dự án Thuỷ điện Sơn La

1 Những giá trị tri thức cơ bản của người Thái có liên quan đến thực hiện mục tiêu chuyển đổi cơ cấu kinh tế tại các khu TĐC

Người Thái ở Tây Bắc nói chung và người Thái ở Sơn La nói riêng có tập quán định cư trên địa hình có đặc điểm chung là nhiều núi, đồi cao, thấp gối kề nhau chạy theo hướng Tây bắc- Đông nam xen kẽ với những vùng cao nguyên rộng lớn, những vùng bình nguyên lòng chảo, những khe, vực, suối, sông Qua các thế hệ xây dựng bản, mường với sức lao động sáng tạo của mình, người Thái đã tạo ra một địa vực cư trú ổn định Trừ một số người sống lẻ tẻ xen lẫn với các tộc người anh em khác ở vùng rẻo giữa và rẻo cao, hầu hết họ sống tập trung trong các thung lũng, bình nguyên lòng chảo hay vùng cao nguyên mà ngày nay ta vẫn gọi chung là “vùng thấp” Qua nhiều thế hệ sống gắn bó với sông, suối, người Thái còn tích luỹ được nhiều tri thức, kinh nghiệm trong lợi dụng sức chảy của nước mà uốn dòng suối, tránh

Trang 22

của người Thái vẫn bám chắc trên những dải đất kề bên sông, suối mặc dù phải trải qua nhiều biến cố, thiên tai Đây là vùng đất vốn có nhiều ưu thế cho phát triển một nền nông nghiệp tự cung, tự cấp Từ cuộc sống và lao

động sản xuất, đồng bào đúc rút kinh nghiệm cho quá trình chọn lựa địa bàn cư trú và sản xuất đảm bảo có đất canh tác, có nước để cấy trồng và kiếm cá Trên cơ sở những kinh nghiệm, những tri thức dân gian đó, tộc người Thái ở Tây Bắc, người Thái Sơn La có thể chủ động khai thác nguồn tài nguyên vô tận để sinh sống và phát triển Những vùng đất ven sông, suối khai thác thành ruộng đồng phì nhiêu; sông, suối là nguồn thuỷ lợi cung cấp cho ruộng đồng, là kho chứa đựng nguồn thuỷ sản và phục vụ nhu cầu hàng ngày của đồng bào ở ven sông, ven suối, bản mường của người Thái dựng lên từng nhóm, từng cụm, tạo nên một cuộc sống quần cư, gắn bó Người Thái vốn là cư dân nông nghiệp trồng lúa nước lại canh tác trên địa hình thổ nhưỡng phức tạp nên để duy trì sự phát triển, đồng bào đã rất sáng tạo trong việc lựa chọn các phương pháp canh tác Trong đó, đặc biệt là những tri thức, kinh nghiệm về chọn lựa, phân loại đất trồng trọt với nhiều phương pháp khác nhau Phương pháp chọn đất bằng cách nhìn màu của đất đã được

đúc kết bằng câu tục ngữ: “đất đen trồng dưa, đất đỏ trồng bông” (đin đăm

pú teng, đin đeng pú khẩu) Đất trồng dưa có thể trồng được một số loại đậu, rau xanh và đất trồng bông thì thông thường có thể trồng lúa được Đất màu

đỏ sẫm gọi là “đin cắm khôn phán” theo họ thì trồng gì cũng được ăn

Người Thái còn lựa chọn đất canh tác bằng cách dùng dao chém đất hoặc lấy thuổng chọc xuống rồi nhổ lên Đất có thể trồng trọt được thường bám trên lưỡi dao hoặc thuổng Nhờ phương pháp này, đồng bào có thể xác định được

đất có độ ẩm cao, hay thấp tức là có thể trồng trọt được hoặc không Người Thái còn dùng cả phương pháp nếm đất để thử độ chua, độ đậm của đất Nhưng phương pháp này rất khó đòi hỏi phải có nhiều kinh nghiệm canh tác nên chỉ có các lão nông trong bản mới dùng Phương pháp chọn đất được người Thái dùng phổ biến hơn cả là nhìn thực vật nơi đất định chọn Ví dụ như đất trồng ngô thường tốt hơn cả là nơi có rừng chuối và bên dưới có cỏ,

gọi là “nhả nhung” Từ kinh nghiệm lao động sản xuất của nhiều thế hệ,

người Thái rất ưa thích lựa chọn những vùng đất có quần thực vật phát triển

Trang 23

mạnh và đa dạng về chủng loại Dân gian Thái thường truyền nhau câu: “cỏ

cây tốt, lúa bông cũng tốt” (mạy nhả chăn, khẩu phải cọ chăn)

Người Thái thường gọi đất trồng trọt được là “đất làm nên” (đin pá dượn) còn đất không thể trồng trọt được gọi là “đất không làm nên” (đin

báu pá dượn) Đối với loại đất không thể trồng trọt được gồm những đất

“nhạt” hay bạc màu gọi là “đin chứt đin cháng”; đất cằn gọi là “đin kẻ

dẻng”, đất sét gọi là “đin đeng pẳn mỏ” (đất đỏ nặn nồi) Đất đầm lầy gọi

là: “đin bướm” Đối với loại đất này chẳng những không trồng trọt được mà còn là nơi kiêng kỵ Từ kinh nghiệm truyền thống, người Thái đã phân loại

rất rõ ràng việc sử dụng loại đất cho phù hợp với từng loại cây để mang lại

hiệu quả kinh tế Đất cát, sỏi hay răm gọi là “đin he, đin sái” được dùng để trồng mía, ngô, đậu hay dâu tằm Đất bãi vùng cao nguyên gọi là “đin

phiêng” thường làm nương trồng bông, xen lạc, vừng và những loại dưa đặc

biệt của vùng Thái gọi là “má teng qua, má teng lái” (dưa bở, dưa vằn) Đất trũng, thấp, gần chân núi hoặc trong khe núi, gọi là “đin loọng” thường

được dùng để trồng ngô xen đậu “nho nhe” (một loại đậu có màu nâu đen gần như đậu đen ở dưới xuôi) Việc trồng xen đậu thực chất là tăng cường

đạm cho đất làm cho ngô tốt, đồng thời cây ngô cũng là điểm tựa cho đậu leo lên để đơm hoa kết trái Hệ thống xen canh này khá khoa học, đã tận dụng được đặc điểm sinh trưởng của từng loại cây, các loại cây không gây

trở ngại cho nhau mà còn hỗ trợ nhau phát triển Đất mùn gọi là “đin há”,

người Thái thường dùng để trồng lúa nếp, các loại rau xanh và cây ăn quả

Đất có độ ẩm cao lại ở nơi cớm nắng gọi là “đin ngăm chứm” thường dùng

để trồng một số loại cây dược liệu và cây “hỏm”- một loại cây chàm dùng để

nhuộm vải rất bền màu Đất bùn gọi là “đin pống” là “nguồn thóc, gạo”

Bên cạnh những tri thức quý về chọn đất trồng trọt, người Thái lựa chọn, lưu giữ được nhiều giống lúa cạn có giá trị thậm chí cho đến nay khoa học kỹ thuật vẫn chưa thể tạo giống lúa có nhiều ưu điểm hơn để thay thế cho các giống lúa truyền thống này Từ đặc điểm về điều kiện tự nhiên, về

địa vực cư trú, về tập quán và kỹ thuật sản xuất nên kinh tế trồng trọt là ngành kinh tế chủ đạo của xã hội người Thái Họ trồng nhiều loại cây nhưng chủ yếu vẫn là cây lúa Mọi hoạt động sản xuất đều xoay quanh việc làm ra

Trang 24

thóc gạo Nếu như người Kinh có câu: “quý hồ nhiều lúa là tiên” thì người Thái có câu: “thóc lúa ngồi trên, bạc tiền ngồi dưới” (khẩu nặm năng nưa,

ngấn cắm năng tẩu” Do đó, đối tượng trồng trọt của đồng bào là ruộng và

nương “ông nương bà ruộng” (po hay, mẹ na) Phương pháp canh tác trên

ruộng nước của người Thái nằm trong loại hình nông nghiệp dùng cày Trong đó, loại ruộng nước hay gọi là “na” chính là mảnh đất được người Thái coi trọng

Vốn là cư dân nông nghiệp trồng lúa nước nên vấn đề quan tâm thứ hai của người Thái sau đất chính là nguồn nước Trong lao động sản xuất, họ

đã tích luỹ được nhiều tri thức về cách sử dụng nguồn nước phục vụ cho sản xuất và đời sống Chính vì vậy, người Thái là cộng đồng đạt trình độ cao về công tác làm thuỷ lợi trên địa hình đa dạng của vùng núi Tây Bắc Người Thái luôn quan niệm nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của thành viên trong

cộng đồng là khai thác sử dụng nguồn nước: “có nước mới nên ruộng, có

ruộng mới nên lúa” (mí nặm chắng pên na, mi na chắng pên khẩu) Do đó,

trải qua hàng chục thế kỷ vừa lao động, vừa sáng tạọ, họ đã tích luỹ được nhiều tri thức về việc làm thuỷ lợi, hoàn chỉnh hệ thống dẫn nước tưới ruộng

và được tóm tắt trong câu thành ngữ “mương, phai, lái, lín” Nguồn nước cũng là một yếu tố rất quan trọng trong đời sống của nhiều tộc người Theo quan niệm của người Thái ở bản Văn (huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình), nước là một yếu tố không thể thiếu được trong việc hình thành và tồn tại của bản, lãnh địa của bản gồm: nà (ruộng), pá (rừng), nặm, huối (sông suối), văng hẻm (vũng cấm), văn xên (nơi ở của thần nước - tô luông) Người Thái

còn quan niệm rằng có nước mới có ruộng, có ruộng mới có lúa gạo (mí nặm

chắng pên na, mí na chắng pên kháu) Trong việc phân loại ruộng, người

Thái ở bản Văn cũng lấy tiêu chí nước làm cơ sở, như ruộng nước mưa (na nặm pha), ruộng nước ngâm (na nặm che) Hàng năm người Thái tổ chức lễ cúng và tu sửa nguồn nước Nếu ai làm bẩn nguồn nước sẽ bị phạt…(1) Do rất coi trọng việc gìn giữ và khai thác nguồn nước phục vụ sản xuất và đời sống nên trải qua nhiều thế hệ, người Thái đã tích luỹ được một lượng lớn

91) Trần Bình: “Tập quán quản lý và sử dụng nguồn nước của người Thái ở bản Văn” (Báo cáo khoa học, 1998) Dẫn lại theo Phạm Quang Hoan: “Tri thức địa phương của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam”, Sđd, tr

94 - 95

Trang 25

kiến thức quý về việc xây dựng các công trình thuỷ lợi nhằm khai thác triệt

để nguồn tài nguyên nước vốn rất dồi dào ở vùng Tây Bắc Nguồn tri thức đó

được thể hiện rõ nét trong việc xây dựng hệ thống phai, mương, lái, lín và những quy tắc trong quản lý bảo vệ nguồn nước, đặc biệt là nguồn nước phục vụ trồng cấy Do sinh sống ở vùng núi nên hệ thống ruộng của người Thái thường không cùng nằm trên địa hình phẳng Do đó, nguồn nước ở trong một con mương không thể tưới cho nhiều thửa ruộng nằm tại các độ cao khác nhau Khắc phục tình trạng trên, người Thái lựa chọn giải pháp đắp

phai, ngăn dòng chảy làm cho mực nước trong mương dâng cao lên Phai là

một loại đập ngăn suối được dựng bằng gỗ, tre, nứa và đất để dâng nước đổ vào mương, chảy tới ruộng Phai quyết định lưu lượng nước trong mương Trải qua thực tế lao động sản xuất, canh tác nông nghiệp, người Thái luôn tâm niệm phai vững thì mương có nước tưới cho ruộng và mùa màng bảo

đảm thu hoạch tốt; nếu phai vỡ, mương ruộng khô, mùa mang thất bát, bởi

vậy họ thường ví rằng: “… phai vỡ như cha chết” (Po tai phai phai pắng)

Phai của người Thái có nhiều ưu điểm: lực nước càng đẩy mạnh càng tăng thêm sức nén chặt của các tầng phai và phai càng bám vào đáy sông suối Việc ken đập bằng nguyên liệu thiên nhiên từ gỗ, tre, nứa ngoài ra không sử dụng kim loại, xi măng là một thành tựu to lớn của hệ thống thuỷ lợi Thái

Đương nhiên độ cao của phai phải phù hợp để nguồn nước trong mương khi dâng đến độ cao cần thiết thì tràn qua phai mà không thay đổi hướng của dòng chảy cũ Trong các trường hợp do ruộng cần tưới nằm ở độ cao lớn, sau khi đắp phai nước đã dâng lên mà vẫn chưa đủ độ cao để chảy trực tiếp vào ruộng thì người Thái lựa chọn giải pháp sử dụng guồng nước (cọn) để kéo nước lên Cũng có thể nước được đổ thẳng xuống ruộng, thửa ruộng nhận

nước trực tiếp từ cọn nước gọi là na lái, đây là loại ruộng quý vì luôn luôn

được cung cấp đủ nguồn nước Cọn nước của người Thái là một công cụ bằng tre, gỗ áp dụng nguyên tắc lợi dụng dòng nước chảy xiết gây một lực

tác động cho guồng quay rồi đưa nước lên ruộng cao Lái gồm những phai

của hệ thống con nước và những phai phụ của phai chính dùng để ngă nước

ở khúc mương hay bị vỡ, tiếp tục dâng nước cao cho chảy vào ruộng Từ lái,

nước được dẫn đến các thửa ruộng xa hơn, bằng các đường dẫn cũng được

Trang 26

là một công cụ bằng tre, gỗ áp dụng nguyên tắc lợi dụng dòng nước chảy

xiết gây một lực tác động cho guồng quay rồi đưa nước lên ruộng cao Lín là

hệ thống máng dẫn nước vào ruộng và cũng có rất nhiều loại phù hợp với các loại ruộng ở các địa hình khác nhau

Hệ thống thuỷ lợi mương - phai - lái - lín cho phép người Thái dẫn

được nguồn nước vào các thửa ruộng có độ cao khác nhau để trồng lúa mà không tác động nhiều vào dòng chảy tự nhiên, và không gây nên những sự

cố về môi trường Hệ thống thuỷ lợi theo phương pháp thủ công này đã đạt trình độ cao và trở thành một trong những hệ thống thuỷ lợi điển hình của khu vực Đông Nam á “Chính hệ thống thuỷ lợi kiểu Thái - Tày đã được dịch chuyển xuống đồng bằng Bắc Bộ khi con người khai khẩn vùng đất rộng lớn này Từ phai - mương của vùng thung lũng, hệ thống thuỷ lợi của vùng Đồng bằng Bắc Bộ đã khai triển thành hệ thống đập - kênh - mương”(1) Tuy diễn biến khí hậu của những vùng người Thái cư trú có nhiều diễn biến khác nhau nhưng tựu chung có thể chia thành hai mùa chủ yếu là mùa nóng, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5,6 đến tháng 10 dương lịch; mùa rét, hanh khô bắt đầu từ tháng 10,11 đến tháng 4,5 dương lịch Do tích luỹ được kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp, vào mùa nóng và mưa, đặc biệt là trong khoảng tháng 9-10, khi nhiệt độ và độ ẩm của đất tăng nhiều, người Thái tập trung gieo cấy lúa, tranh thủ trồng các loại cây ăn quả như xoài, muỗm, dứa, chuối, mít và những cây ưa nhiều nước mưa như ngô, đậu Mùa mưa chính

là mùa thời vụ khẩn trương của tộc người này Đây cũng là thời điểm, cư dân

đẩy mạnh săn bắt thuỷ sản phục vụ đời sống hàng ngày và tích luỹ trong mùa hanh khô Bước vào mùa hanh khô, giá rét, người Thái chuyển sang thực hiện một số hoạt động kinh tế khác Con trai thì săn bắn, đan lát, làm cối giã gạo ; con gái thì giã gạo, thêu thùa, dệt vải Đây cũng là mùa tiến hành sửa chữa hoặc dựng nhà mới, mùa của lễ hội, cưới xin Người Thái Đen thì tổ chức cúng “ma nhà” với ý nghĩa như ngày tết Do đó, người Thái còn gọi là mùa này là “mùa cơm, mùa rượu” (múa khẩu, múa lảu) Mùa hanh khô cũng là mùa làm nương khẩn trương của người Thái Vào cuối mùa cư

(1) Lê Sỹ Giáo: “Các đặc điểm của nông nghiệp truyền thống của người Thái Việt Nam”, Tạp chí Dân tộc

học, số 1- 1992, tr 40

Trang 27

dân tập trung đắp phai, sửa mương đưa nước vào ruộng, bắt đầu cày xới chuẩn bị cho vụ mùa tới Do sinh sống trên địa bàn có diễn biến thời tiết phức tạp nên người Thái là tộc người có nhiều kinh nghiệm về dự đoán thời tiết phục vụ trực tiếp cho sản xuất và đời sống của cộng đồng Có nhiều biện pháp dự đoán thời tiết được lưu truyền như: nếu con bọ “chong chỏ” (giống như con cào cào) kêu thì trời sẽ chuyển từ nắng sang mưa; kiến leo lên cao

là trời sắp mưa; nếu khó bắt cá thì trời sắp mưa…

Trong quá trình canh tác người Thái đúc rút được nhiều tri thức quý

Từ thực tế quy trình sản xuất nông nghiệp, người Thái rất coi trọng giai đoạn trước khi cấy và sau khi cấy Trước khi cấy, đồng bào thường đặt ra tiêu

chuẩn “bóc trần, giẫy sạch” (háy lỏn, chọn khao) tức là phải làm tốt các

khâu kỹ thuật như cày, làm cỏ, đắp bờ, bừa Trong đó, biện pháp cày ải đã

được đồng bào áp dụng từ lâu Tục ngữ Thái có câu “làm nước thì ủ cây, làm

ruộng thì cày ải” (dệt hay bốm cha, dệt na bốm phản) Để đảm bảo cho mùa

bội thu, vấn đề thời vụ được người Thái coi là yếu tố quyết định Ca dao

Thái có câu: “Tháng 10 (tháng 3 dương lịch) nhánh mạ xuống ruộng lo”

(lúa sớm) (bươm xíp kíp cả tốc na lo) Cấy vụ mùa thường phải nghe tiếng kêu của con “mèng ngoạng”(một loại ve sầu to kêu vào đầu mùa mưa) Ngoài ruộng nước, người Thái rất coi trọng việc canh tác ở nương Nương của đồng bào có nhiều loại: nương dốc, nương bằng, nương vụ một, nương vụ hai, nương lúa, nương ngô, nương bông, nương chàm… Đối với việc canh tác nương rẫy, khi chọn được mảnh đất ưng ý đồng bào làm “ta leo” cắm để khẳng định quyền chiếm hữu của mình Người Thái bắt đầu phát nương vào khoảng tháng 2 dương lịch (tháng 7 lịch Thái) Nếu đốt nương muộn quá sẽ gặp mưa, nếu đốt sớm quá cây cỏ sẽ mọc kín trước khi tra hạt Lịch thời vụ canh tác nương của người Thái được phản ánh trong câu

tục ngữ: “hoa ban nở thì đốt, hạt ban nảy mầm thì gieo hạt” (ban pún chọ,

ban ngọ năm) Nương phát xong được ủ trong khoảng 1 tháng để cây, lá khô Khi đốt nương, người Thái có biện pháp chống cháy lan bằng cách tạo vành đai không có cây cỏ xung quanh nương Người Thái cũng áp dụng chế

độ luân canh, hưu canh trong canh tác nương Canh tác trên nương luân canh

bỏ hoá theo “vòng quanh khép kín” từ 5 đến 10 năm có tác dụng nhất định

Trang 28

trong việc giữ độ phì của đất Do vậy, cuộc sống của họ tương đối ổn định trên ruộng và vùng nương, không phải chuyển dịch chỗ ở gây những xáo trộn lớn về dân cư

Trong các hoạt động phục vụ đời sống vật chất, ngoài ruộng, nương,

người Thái rất coi trọng việc trồng vườn: trồng các loại rau, rau thơm, trồng cây ăn quả Đối với họ, đặc biệt là phụ nữ, mảnh vườn còn là người bạn thân thích, thậm chí họ còn bị day dứt khi phải rời bỏ mảnh vườn nhỏ về nhà chồng(1) Vườn cây ăn quả của người Thái là nguồn vui của chủ nhà khi có khách đến chơi Theo người Thái, tiêu chuẩn để tiếp khách đầu tiên phải có

“của lạ, quả chín” (tục ngữ “khong lá má súc”)

Để phục vụ đời sống kinh tế tự cung tự cấp, các gia đình người Thái

đều tiến hành làm nghề thủ công Hầu hết đàn ông đều biết đan lát, làm đồ dùng cho nông nghiệp, đánh cá Nhiều nơi còn biết làm gốm, rèn sắt và làm các đồ trang sức như vàng, bạc Người phụ nữ Thái nổi tiếng với nghề dệt vải, dệt thổ cẩm và thêu thùa Những sản phẩm dệt không chỉ có ý nghĩa vật chất là thoả mãn nhu cầu về mặc cho các thành viên trong gia đình mà còn phục vụ cho tập quán của người Thái như dệt để có của cải, dệt cho con cháu, dệt để khi cưới và dệt để khi chết… Do đó, người Thái hết sức coi trọng giá trị của những tấm vải Nếu như người Kinh quan niệm về của cải là

“tiền bạc” (tức là “tiền” được gắn với “bạc”) thì người Thái lại nói: “vải tiền” (phải ngấn) và như thế “vải” lại gắn với “tiền” Người Thái chỉ mang

vải ra trao đổi trong trường hợp thật cần thiết Đó là những khi đói kém vì mùa màng thất bát phải mang vải ra đổi lấy thóc gạo, hoặc mang vải ra đổi lấy vàng bạc, châu báu Người Thái coi vải vóc, thổ cẩm là của để làm giàu

và còn là của “hồi môn” của cha mẹ dành cho con gái khi về nhà chồng Như vậy, vốn là cư dân gắn bó với nông nghiệp trồng lúa nước nên người Thái là tộc người tích luỹ nhiều vốn tri thức quý về cách sử dụng các loại đất, sử dụng nước, tận dụng những lợi thế về địa hình và khí hậu để trồng cấy và chăn nuôi Để phục vụ cho cuộc sống tự cung tự cấp, người Thái có vốn tri thức về phát triển một số ngành nghề phụ mang đậm bản sắc văn hoá tộc người Với nguồn tri thức đó, người Thái duy trì tập quán định

(1) Cầm Trọng, Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, H, 1987, tr 201

Trang 29

canh, định cư lâu dài ở các vùng thung lũng, xây dựng nên bản mường bền vững qua nhiều thế hệ Dưới những nếp nhà sàn xinh sắn, cộng đồng người Thái gắn bó đầm ấm ở những vùng đất đai tương đối trù phú giữa núi rừng hùng vĩ của miền Tây Bắc

Văn hoá Thái đặc trưng ở nhiều khía cạnh, trong đó nổi bật nhất là những luật tục ứng xử với rừng của bản và mường ẩn sâu những tập quán mang đầy tính tâm linh về đất, về rừng là những tri thức bản địa có giá trị của người Thái trong việc bảo vệ sản xuất, cuộc sống, và giữ gìn tính cố kết cộng đồng, mang đậm sắc thái của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước Vì vậy, nơi ở và các hoạt động kinh tế khác của tộc người này ở hầu hết trên sườn núi Vùng cư trú của người Thái thường được phát triển ở nơi tập trung các con suối nhỏ chảy từ các khe núi hợp thành suối lớn, sông con để rồi đổ

ra sông cái Do cư trú trên địa hình có mạng lưới sông, suối khá dày đặc nên người Thái Tây Bắc nói chung và người Thái ở Sơn La nói riêng trải qua các thế hệ đã đúc rút cho mình nhiều kinh nghiệm quý về lựa chọn nơi cư trú Người Thái kỵ việc dựng nhà ở miệng khe, vực Theo quan niệm dân gian thì

đó là những lối đi của nhiều loại ma tà Nhưng theo kinh nghiệm thực tiễn thì thực chất là họ tránh những luồng gió xoáy, gió lạnh và đặc biệt là tránh nước lũ đột ngột đổ xuốngTập quán ở nhà sàn vốn là một biểu hiện thống nhất về văn hoá vật chất cũng như tinh thần của người Thái Tục ngữ Thái đã

có câu: “Nhà người Thái có gác, bên sàn có cột” (hươn Táy hươn mí hạn,

quản mí xau) Nhà sàn của họ đại thể có thể chia thành hai loại Nhà sàn có hai trái đầu hội, cấu trúc hình tròn khum tựa mai rùa, gọi là “hướn tụp cống” (nhà mái cong), phân bố ở vùng Thái đen và Thái Trắng ở Mộc Châu Nhà sàn mái hồi bằng hình gần vuông hay chữ nhật, gọi là “hướn tụp lặt” (nhà mái bằng) phân bố ở vùng Thái Trắng miền Bắc

2 Những hướng chính của quá trình chuyển giao công nghệ trên cơ

sở khai thức triệt để những giá trị tri thức bản địa người Thái trên lĩnh vực kinh tế tại các khi TĐC

Chuyển đổi cơ cấu kinh tế thực chất là để sự thúc đẩy quá trình CNH, HĐH Để đạt được một cơ cấu kinh tế hợp lý và có hiệu quả trong từng thời

Trang 30

các vùng, các thành phần kinh tế, thực hiện triệt để tiết kiệm trong kinh doanh, tiêu dùng; khuyến khích thu hút công nghệ, vốn, thiết bị, chất xám…

để khai thác tối ưu nguồn lực hiện có nhằm tăng thu nhập bình quân đầu người hoặc thu nhập của nền kinh tế vùng, miền và của đất nước Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là xu thế phát triển tất yếu của đất nước ta, của các địa phương trong sự nghiệp CNH, HĐH, trong điều kiện nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng khan hiếm

Góp phần tạo ra những bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng Tây Bắc c là mục tiêu chiến Dự án di dân TĐC Thuỷ điện Sơn La Nhưng những bước chuyển dịch cơ cấu tại các điểm TĐC cần tính toán nhiều đến yếu tố thực tiễn, xuất phát điểm kinh tế của đồng bào các dân tộc ở đây để có định hướng đúng đắn, phù hợp Nghiên cứu những giá trị tri thức bản địa của người Thái cho thấy, trong kho tàng tri thức phong phú đó thì hệ thống tri thức về kinh tế, đặc biệt là kinh tế nông nghiệp là phong phú hơn cả Một trong những điểm sáng nhất trong khối lượng tri thức bản địa của người Thái

về kinh tế đó những kinh nghiệm sản xuất thích nghi với điều kiện địa hình, khí hậu và thổ nhưỡng của vùng núi rừng Tây Bắc Từ trong lao động sản xuất, các tộc người đã tích lũy được nhiều kinh nghiẹm về việc lựa chọn vùng đất và các loại cây, con phù hợp với từng vùng khí hậu Chính vì vậy

đến nay cộng đồng các tộc người thiểu số vùng Tây Bắc vẫn sở hữu độc quyền những giống lúa cạn mà khoa học chưa thể tìm ra giống lúa nào có ưu

điểm hơn để thay thế ở những địa bàn cư trú và canh tác phù hợp, đồng bào

có thể trồng thêm các loại cây phục vụ cho những nghề thủ công truyền thống Ví dụ như đồng bào Thái có thể trồng bông, trồng loại cây phụ liệu cho nghề dệt thổ cẩm truyền thống và có giá trị kinh tế cao, phát triển những mảnh vườn có sự phong phú chủng loại cây phục vụ cho cuộc sống vật chất

và tập quán mến khách của cộng đồng

Người Thái luôn chú trọng chọn lựa nơi cư trú và thường đặt bản làng của mình ở các vùng ven sông, suối vừa phục vụ thiết thực cho hoạt động kinh tế chính của đồng bào là trồng lúa nước nhưng cũng chính sông, suối là nơi cung cấp thực phẩm cho đồng bào, hình thành nhiều nghề phụ phục vụ trực tiếp cuộc sống của tộc người như đánh bắt, nuôi tôm cá… Với lượng tri

Trang 31

thức, kinh nghiệm lao động sản xuất phong phú được truyền từ đời này qua

đời khác và luôn được điều chỉnh, sáng tạo, tộc người Thái đã luôn tạo dựng

được cuộc sống ổn định, định canh, định cư và xây dựng được những bản làng trù phú ven các sườn núi vùng thung lũng

Nhưng sự trù phú ổn định của những bản làng của cộng đồng các dân tộc ở miền núi Tây Bắc, trong đó có tộc người Thái nhìn một cách khái quát cho đến nay cũng chỉ tồn tại trong tổng thể nền kinh tế tự cung tự cấp Do vậy, dự án di dân TĐC Thuỷ điện Sơn La là cơ hội tốt để tái cấu trúc lại cơ cấu kinh tế, hướng kinh tế vùng Tây Bắc phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá và hội nhập với công cuộc CNH, HĐH của đất nước Việc áp dụng, chuyển giao công nghệ mới để taọ ra sự phát triển mới cho miền đất này là yêu cầu cấp thiết Bản thân tri thức bản địa vốn là những tri thức, kinh nghiệm được lưu truyền qua nhiều thế hệ và luôn được bổ sung, phát triển nên nó vốn mang tính chất mở Đây là điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển giao, tiếp nhận giữa công nghệ với tri thức bản địa và ngược lại trong phát triển kinh tế Song quá trình chuyển giao công nghệ muốn đạt được những mục tiêu đề ra nhất là việc tạo ra chuyển biến lớn về cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá phải được chuẩn bị và tính toán chi tiết đối với mức độ, nội dung chuyển giao cho phù hợp với những giá trị tri thức bản địa của đồng bào về sản xuất Nếu không sẽ tạo ra sự đứt gãy giữa truyền thống

và hiện đại, giữa ý tưởng và thực tiễn… Bài học về việc trồng chè và dự án nuôi bò sữa tại khu TĐC mẫu Tân Lập đã cho thấy ra điều đó

Để quá trình chuyển giao công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội ở khu TĐC trên cơ sở phát huy có hiệu quả những giá trị tri thức bản địa của đồng bào cần tiến hành một cách đầy đủ các bước, của quá trình chuyển giao đó

Trước tiên, cần đẩy mạnh công tác điều tra, khảo sát địa bàn cư trú, canh tác và tư vấn một cách phù hợp với đặc điểm tập quán của từng cộng

đồng để hỗ trợ hữu hiệu cho công tác di cư theo phương thức tự nguyện Đây chính là bước chuẩn bị cơ bản, góp phần quan trọng vào việc đẩy nhanh tiến

độ của dự án di dân TĐC Thông qua đó, các chủ thể liên quan tới việc triển

Trang 32

của quá trình hình thành các điểm TĐC Sự tư vấn đúng đắn phù hợp của ban

dự án đối với đồng bào sẽ tạo ra động lực tinh thần, tạo niềm tin vào sự chăm lo, bù đắp của dự án đối với sự hy sinh của đồng bào TĐC vì lợi ích quốc gia

Sau khi ổn định đời sống của đồng bào TĐC, các ban ngành có liên quan cần xem xét kỹ những giá trị tri thức bản địa của các tộc người, nhất là của người Thái trong việc phân loại đất để trồng các loại cây cho phù hợp

Từ đó, hướng việc chuyển giao công nghệ mới cho phù hợp và trên cơ sở đó cải tiến tập quán canh tác của đồng bào nhằm tăng năng suất, chất lượng các sản phẩm từ việc trồng cấy Đồng bào Thái còn là tộc người vốn có nhiều tri thức về trồng vườn bên cạnh việc trồng cây trên nương rẫy và ruộng nước

Do đó, cần thiết phải có sự chuyển giao công nghệ phát triển kinh tế vườn

đồi của đồng bào Đồng thời với việc phân loại đất phục vụ trồng trọt, cần kết hợp giữa kinh nghiệm truyền thống với khoa học hiện đại để phân vùng nuôi các loại gia súc, gia cầm, nuôi thuỷ sản phù hợp với từng vùng khí hậu,

điều kiện tự nhiên của mỗi địa bàn từ đó phát triển tập quán chăn nuôi theo hình thức hoang dã, tự cung tự cấp của đồng bào thành ngành kinh tế hướng theo mô hình kinh tế hàng hoá với những loại cây, con có tính chất đặc sản của vùng núi rừng Tây Bắc

Tăng cường chuyển giao công nghệ phát huy những giá trị tri thức bản

địa của đồng bào trong một số nghề thủ công truyền thống điển hình Đây cũng chính là hướng đi quan trọng của quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng đa dạng ngành nghề Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, để phục

vụ cho cuộc sống tự cấp tự túc nên các dản phẩm dệt để phục vụ cho nhu cầu mặc của đồng bào đều mang đậm những giá trị tri thức bản địa và lắng đọng nhiều bản sắc văn hoá tộc người Điển hình nhất phải kể đến nghề dệt thổ cẩm của người Thái Sự mai một nghề truyền thống này ở các điểm TĐC là một dấu hiệu đáng lo ngại không chỉ trên góc độ kinh tế mà còn là nguy cơ

đối với việc bảo lưu những giá trị văn hoá truyền thống Do đó, chuyển giao công nghệ đối với nghề thủ công truyền thống cần thiết phải có quy hoạch chi tiết từ khâu chọn vùng nguyên liệu đến chuyển giao công nghệ mới

Trang 33

nhằm tăng năng suất, chất lượng các sản phẩm từ thổ cẩm để đáp ứng được nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế

Trong điều kiện cho phép, quá trình chuyển giao công nghệ cần hướng tới việc hình thành một số ngành nghề mới Trong điều kiện đất canh tác ngày càng thu hẹp, lao động nhàn rỗi tại các điểm TĐC có xu hướng gia tăng, việc hình thành một số ngành nghề mới trên cơ sở tính toán tới điều kiện tự nhiện, cơ sở vật chất, trình độ dân trí, tập quán kinh tế, văn hoá của từng cộng đồng… cho phù hợp, thiết nghĩ là hướng đi có thể tạo ra sự phát triển mới cho kinh tế Tây Bắc Trong đó, việc chuyển giao một số ngành nghề thủ công có giá trị kinh tế cao như như mây tre đan xuất khẩu, thêu thùa… cũng chính là những ngành nghề phù hợp với tố chất cần cù, sáng tạo của cộng đồng các tộc người Tây Bắc Tây Bắc không chỉ là miền đất trù phú về tài nguyên thiên nhiên, sông núi hữu tình, là bức tranh nhiều sắc màu của bản sắc văn hoá tộc người, hơn thế nữa, Tây Bắc chính miền đất ghi lại nhiều dấu ấn về lịch sử hào hùng của dân tộc Chính những giá trị đó là nguồn vốn quý cho quá trình triển khai xây dựng các khu du lịch sinh thái, các khu du lịch văn hoá lịch sử… Quá trình TĐC cũng chính là quá trình

đẩy mạnh việc tìm kiếm, khai thác lợi thế của những vùng đất mới trong tổng thể cảnh quan hài hoà của Tây Bắc chính là động lực cho sự đi lên của ngành công nghiệp không khói này

Chuyển giao công nghệ gắn liền với việc phát huy những giá trị tri thức bản địa trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế không thể tách rời với việc tăng cường trình độ văn hoá, dạy nghề cho đồng bào TĐC Đây chính là cơ sở quan trọng để quá trình chuyển giao công nghệ thực sự mang lại hiệu quả

Từ đó mở mang tư duy kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường cho đồng bào, gạt bỏ dần tập quán canh tác theo lối tự túc tực cấp vốn được bảo tồn qua nhiều thế hệ Động lực văn hoá thể hiện tập trung ở nguồn nhân lực của

đồng bào các dân tộc Tây Bắc thực hiện quá trình CNH, HĐH Việc đào tạo

và bồi dưỡng nguồn nhân lực ở đây cần tập trung trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ, liên quan nhiều đến lâm nghiệp, nông nghiệp chăn nuôi, chế biến nông lâm sản, phát triển nghề thủ công và các loại dịch vụ xã hội phù hợp với đặc thù của từng dân tộc, từng vùng, từng khu vực

Trang 34

Những giá trị tri thức bản địa của người Thái phục vụ quá trình quản lý, xây dựng x∙ hội mới tại các khu tái định cư thuộc dự án

Thuỷ điện Sơn la

TS Đoàn Minh Huấn (*)

Trong những năm gần đây ở Việt Nam, cụm từ “tri thức bản địa” (Indigenous Knowledge) hay “tri thức địa phương” (Local Knowledge) đã

được sử dụng trong một số công trình nghiên cứu với nhiều tên gọi khác nhau Tri thức bản địa nhiều khi được đồng nhất với “văn hóa truyền thống”,

“tri thức dân gian”, “kiến thức bản địa”, “kiến thức truyền thống” “kiến thức

địa phương” Đôi khi, tri thức bản địa còn được gọi là “bản sắc văn hóa tộc người” hay “tri thức tộc người”, “luật tục”

Mặc dù có nhiều cách gọi khác nhau những nhìn chung tri thức bản địa

là tri thức được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài, qua kinh nghiệm ứng xử của con người với môi trường và xã hội; được lưu truyền từ đời này qua đời khác qua trí nhớ, qua thực tiễn sản xuất và thực hành xã hội Tri thức bản địa chứa đựng trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống xã hội như sản xuất lương thực, thực phẩm, chăn nuôi; cất trữ và chế biến thức ăn; thu hái, sử dụng cây thuốc và cách chữa bệnh; truyền thụ kiến thức qua các thế

hệ trong giáo dục; bảo vệ, quản lý và khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên; tổ chức quản lý cộng đồng, giá trị xã hội, các luật lệ truyền thống trong làng bản…

Tri thức bản địa được hình thành, tồn tại và phát triển trong quá trình lao động sản xuất, ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội của mọi thành viên trong cộng đồng, được bổ sung, hoàn thiện dần dần, được truyền từ đời này sang đời khác thông qua nhiều hình thức như phổ biến kinh nghiệm, ca hát, câu đố, những tập tục, thói quen…

(*) Trưởng khoa Dân tộc và Tôn giáo Tín ngưỡng – Học viện Chính trị khu vực I

Trang 35

Như vậy, tri thức bản địa có những đặc điểm sau: Tri thức bản địa được hình thành trong lòng cộng đồng; tri thức bản địa vốn có ở một vùng địa lý

và văn hóa nhất định; tri thức bản địa là kiến thức về các vấn đề cơ bản như sản xuất, cuộc sống của người và vật, quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên; tri thức bản địa là cơ sở cho các quyết sách về các chiến lược sinh tồn; tri thức bản địa không được ghi lại bằng văn bản một cách có hệ thống, có tính truyền khẩu và tính địa phương; tri thức bản địa có tính động dựa trên sự

đổi mới, thích nghi và đúc rút kinh nghiệm

1 Những giá trị tri thức bản địa của người Thái về tổ chức và quản

lý cộng đồng

Người Thái rất trân trọng địa vực cư trú truyền thống mang đậm sự cố kết cộng đồng giữa các thành viên với quan niệm Đất Thái Đất Thái còn có nghĩa là xứ Thái dùng để chỉ khu vực mang bản sắc văn hoá Thái với nét đặc trưng "nhà có gác, sàn có cột" Cơ sở để người Thái hiểu chữ Đất của mình

là văn hoá như nói đến cộng đồng những người có tập quán ở nhà sàn Đành rằng tập quán ấy có nhiều dân tộc ở vùng Đông Nam á, nhưng tộc người này vẫn coi đó là một trong những đặc trưng văn hoá tiêu biểu của mình Trong vùng Đất đó, bên cạnh vai trò quản lý xã hội của hệ thống chính trị còn có sự tác động quản lý rất quan trọng thông qua sự gắn kết bằng các quan hệ tộc người, giữa những gia đình cùng quan hệ huyết thống với nhau, quan hệ thôn, xóm, bản làng

Dưới những nếp nhà sàn, các gia đình người Thái sống quây quần,

đoàn kết giữa các thế hệ, anh em, con cháu Hiện gia đình Thái tồn tại dưới hai dạng: gia đình nhỏ và gia đình lớn Gia đình nhỏ cũng có nhiều dạng khác nhau sống chung trong một nếp nhà sàn: dạng đơn giản nhất là gia đình thường chỉ có một cặp vợ chồng hoặc có chung một đàn con cháu; dạng gia

đình nhỏ nhưng đông thành phần là gia đình có một cặp vợ chồng nhưng có cha mẹ già, con, cháu, con dâu, con rể chưa ra ở riêng; dạng gia đình nhỏ nhưng gần giống gia đình lớn là loại gia đình có vài ba cặp vợ chồng của anh

em ruột cùng chung một cha mẹ (hoặc con nuôi), và đàn con cháu (kể cả con

Trang 36

tồn tại ở cộng đồng người Thái Đó là loại gia đình mà anh em, con cháu tuy

đã lập gia đình riêng (thậm chí có tới trên dưới 10 cặp vợ chồng) nhưng vẫn cư trú chung trong một nếp nhà sàn Trong ngôi nhà lớn, cứ mỗi một gian lại

có một bếp lửa của một gia đình nhỏ, của một cặp vợ chồng với đàn con

cháu của họ Gia đình lớn có tên gọi là chua hơn, “hơn” là nhà và “chua” là

thuật ngữ biểu thị tổ hợp những người cùng ông tổ sinh ra Ông tổ ấy chính

là người mang cái tên thuật ngữ hệ thống thân tộc là “Pấn” Từ nghĩa gốc

“chua hơn” còn có tên là “cha đẳm” và những thành viên ở trong cộng đồng

ấy gọi nhau bằng thuật ngữ hệ thống thân tộc là chùm ải mú nọng buôn đẳm,

còn gọi là “vả” hay “vả chặn” Người đứng đầu gia đình lớn mang tên là

Chưởng cốc hay Phủ cốc có nghĩa "người làm gốc của họ" Từ đời cha trở

lên thế hệ khác, hễ ai còn sống thuộc chi trên là anh thì người đó mặc nhiên

là Chưởng cốc Đây là tập quán duy trì lâu đời trong cộng đồng Thái

Gia đình lớn cũng là một đơn vị kinh tế thống nhất nên có khu ruộng

và nương riêng, có một kho thóc chung các gia đình hạt nhân tự do dùng, không có sự tính toán hơn thiệt Trâu, bò, ngựa, cầy, bừa, khẩu súng săn, chài lưới là của chung Các gia đình hạt nhân có nhu cầu tiêu dùng riêng, nếu nhỏ ít thì tự kiếm hoặc xin anh em trong nhà; nếu lớn, nhiều thì đề xuất với Chưởng cốc, khi được cho phép thì cứ lấy của chung mà dùng Khi đó, các gia đình hạt nhân thành viên không những không tị nạnh mà có nghĩa vụ giúp để thực hiện sao cho tiêu dùng thật tốt Khách riêng của mỗi gia đình hạt nhân đều được coi là khách chung của gia đình lớn Sống trong một nếp nhà mỗi cặp vợ chồng đều mang sẵn tâm lý thương yêu, đùm bọc anh chị em của mình Tất cả con cái, cháu, chắt trong nhà đều đựơc xem là của chung, mỗi cặp vợ chồng đều có nghĩa vụ chăm sóc y như con cháu mình trực tiếp sinh thành Thông thường, gia đình hạt nhân cũng có của riêng: gà, lợn, vịt, vải vóc thậm chí là cả vàng bạc Người Thái có tâm lý thống nhất vốn rất cần

cù, dũng cảm trong lao động và đấu tranh: “Yêu người khoẻ, mến người chăm làm” (hặc phủ hán, péng phủ dượn), “Mường có giặc thì ưa người gan dạ” (Mướng xắc pêng cốn han)… Người Thái là cộng đồng có lối sống thật

thà, chất phát, giản dị, làm nhiều, nói ít Tục ngữ Thái đã có câu: “lòng

thẳng như nước trong” (nặm xâu châu xư), “Chăm làm cố sức làm tới, chứ

Trang 37

không nên lắm lời” (xắc dệt mắn dướn, báu pá đảy quám lai) Người Thái ưa

thích sự tự do phóng khoáng, ít tính toán trong sinh hoạt, rất mến khách nên thường sống rộng lượng, cả tin Trong cuộc sống, người Thái luôn vun đắp xây dựng gia đình yên ấm, hoà thuận Về mặt tâm linh, ngoài chỗ thờ đẳm

trong nhà, các gia đình lớn còn có nghĩa địa chung gọi là heo đẳm, ở đó

người chết được chôn theo thế hệ rõ ràng, quy củ

Các gia đình Thái cùng dòng họ có quan hệ huyết thống gần thường cư trú thành từng cụm quây quần với nhau theo lối mật tập, hoặc ven sông, suối, khe, dọc Mỗi thành viên trong dòng họ luôn ý thức trách nhiệm cùng chia sẻ và đoàn kết, tương trợ nhau trong cuộc sống Tất cả trách nhiệm và quyền lợi được quy định thành lệ, luật tục Trong đó vai trò của người già, trưởng họ luôn được các thành viên trong dòng họ coi trọng, nhiều khi có tính quyết định trong một số công việc lớn có liên quan đến sự cố kết của dòng họ ấy như việc định cư, di cư, chuyển nơi canh tác, thờ cúng, bảo vệ môi trường… Các mối quan hệ thân tộc khăng khít, ràng buộc bởi các quan

hệ chằng chịt nhau của ba mối mà tiếng Thái gọi là “ải noọng”, “lúng ta”,

và “nhính xao” Trong mối quan hệ “ải noọng” thì đại bộ phận ở các bản

người Thái, nhất là bản Thái Đen thường có những gia đình cùng họ chiếm tuyệt đại đa số của dân số Hầu như những người cùng họ đều là “ải noọng” hay ít nhất cũng là những nhóm “ải noọng” có quan hệ gốc gác với nhau Khác với “ải noọng”, “lúng ta” là họ hàng nhà gái nói chung Đối tượng của các con gái trong nhóm “lúng ta” sẽ là các con trai của nhóm “nhính xao”

Do đó, “nhính xao” là học hàng nhà trai nói chung Thông thường nhóm

“nhính xao” luôn xem nhóm “lúng ta” là đối tượng hôn nhân

Trong bản của người Thái, kinh tế gia đình phát triển nhưng hoạt động dưới các khâu mang tính chất công cộng, đất đai thiên nhiêm vẫn là của bản

và được chia làm hai khu vực rõ rệt: khu đất đai, thiên nhiên do gia đình sử dụng và khu đất đai, thiên nhiên chung của toàn bản Trong đó, khu vực đất

đai, thiên nhiên do gia đình sử dụng bao gồm: ruộng, nương và đất trồng trọt khác; vùng thiên nhiên, kể cả sông suối; đất chuyên dùng Được bản thừa nhận, các gia đình hoàn toàn có quyền sử dụng về đất đai thiên nhiên đó Tổ chức bản luôn bảo đảm quyền bất khả xâm phạm vùng đất đai, thiên nhiên

Trang 38

của gia đình Khối công đồng thân tộc cũng là lực lượng hỗ trợ cho việc bảo

đảm bảo quyền bất khả xâm phạm đó Trong luật tục Thái khoản phạt về tội xâm phạm ranh giới ruộng được quy định ngang với tội hiếp dâm đàn bà

goá Người Thái có câu: “hiếp bà goá như xê dịch bờ ruộng” (hiếp me mải,

nhại cắn ná) Mức phạt cụ thể theo từng nơi quy định Chẳng hạn có nơi quy

định về tội này là là 5 yến lợn, 5 yến rượu, để làm lễ cúng hồn hco bà goá hoặc đèn bù số đất ruộng đã bị xâm phạm(1)

Như vậy, tính cộng đồng của người Thái thể hiện rất đậm nét, trong

đó lợi ích của mỗi gia đình đều được đặt trong lợi ích toàn bản và được bản

và thân tộc coi trọng, bảo vệ Song khi sử dụng, khai thác đất đai và thiên nhiên, các gia đình trong bản chỉ có quyền được cho nhau và phạm vi cho tặng chỉ trong nội bộ các thành viên trong bản Các gia đình có thể bỏ phần

đất đang sử dụng để nhận phần đất khác thuộc phạm vi của bản hoặc bất cứ nơi nào thuộc vùng cư trú của người Thái với điều kiện là dù ở đâu cũng phải tuân theo luật lệ của bản Người Thái luôn ý thức về việc xây dựng sự gắn

bó, tương trợ giúp đỡ nhau giữa các thành viên trong cộng đồng Các gia

đình mỗi khi có việc, hoặc cần phải khẩn trương hoàn thành các khâu trong quá trình sản xuất, sau khi tổ chức “bữa mời” theo phong tục, cộng đồng,

đặc biệt là những người thân tộc sẵn sàng đến giúp đỡ “Tục mời” (hịt van) này còn được mở rộng trong phạm vi khác của cuộc sống như “mời” toàn bản dựng nhà mới, “mời” toàn bản đào ao… Hoặc khi một gia đình nào đó thu hoạch được tổ ong vò vẽ, ong mật, hái quả chín ở trong rừng về thì đều

dù ít, dù nhiều đều giữ tục biếu thân tộc và bà con trong bản Trong phạm vi toàn bản lại có khu đất đai, thiên nhiên chung như rừng cấm, hay rừng dành riêng cho săn bắn tập thể gọi là “gò săn” (đon húa), rừng ma… Người Thái luôn coi trọng việc gìn giữ, bảo vệ những khu đất, thiên nhiên chung đó dưới nhiều hình thức Đây chính là yếu tố cốt lõi gắn kết các thành viên trong cộng đồng tộc người này trong sản xuất và đời sống Các gia đình trong bản mặc dù đã độc lập thực sự về kinh tế nhưng vẫn gắn bó về tinh thần trong mối quan hệ có tính chất huyết thống trong cộng đồng Yếu tố tinh thần đó

được thể hiện trong ý thức và các tập quán hoặc thực sự có quan hệ đã khiến

(1) Cầm Trọng, Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, H, 1987, tr.183

Trang 39

cho toàn bản trở thành một khối cộng đồng thân tộc Do coi trọng mối quan

hệ cộng đồng nên người Thái rất yêu thích câu ca dao:

“Tuy ở khác bản, nhưng chung mường

ở khác phương nhưng chung vùng

ở mỗi người một khe suối, nhưng có chung một vận mệnh”(1) Một trong những đặc điểm thể hiện tính thống nhất cộng đồng có tính truyền thống của người Thái là mặc dù có nhiều vùng thổ ngữ nhưng tiếng Thái luôn có chung phương ngôn nên về cơ bản là luôn thống nhất Ngôn ngữ Thái, nhất là Thái cổ có ảnh hưởng rất quan trọng trong việc hình thành ngôn ngữ Việt cổ Người Thái có chung một tâm lý biểu hiện về các mặt văn hoá vật chất và tinh thần thống nhất Tính cộng đồng của người Thái còn thể hiện rõ trong các lễ hội mang đậm bản sắc văn hoá của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước Hàng năm, cộng đồng Thái đều tổ chức các buổi lễ hội như:

Lễ Xên cha, Lễ Xên Mường, Xên lẻ khoa mương (lễ giải hạn cho toàn mường)… Ngoài những nội dung nổi bật trên, văn hoá truyền thống của người Thái còn thể hiện rất rõ trong các lễ hội truyền thống Trước hết, phải

kể đến nghi thức ăn mừng mùa thu hoạch được gọi là “ăn cơm mới” được

tiến hành bằng hội giã cốm và nấu các món ăn chế biến từ thịt những con vật săn bắn được như chuột, chũi, dím, sóc và đặc biệt với cá tôm đánh bắt

được ở sông suối (không được bắt trong ao hoặc ruộng) cùng với hoa chuối

thái lát mỏng với bột gạo nếp cùng các gia vị, gói lá bỏ vào chõ để đồ gọi là

mọk Những món thực phẩm này được bầy cùng xôi, thịt gà, thịt lợn luộc,

nải chuối, dóng mía, đặt lên mâm là lễ cúng tổ tiên Sau đó gia chủ cùng bà con gần xa vào dự tiệc ăn rượu ăn mừng năm được mùa Các bản mường Thái còn lưu giữ nhiều lễ hội khá đặc sắc như: “lễ gội đầu” thường được tổ chức ở những bản gần sông hoặc dòng xuối lớn; “lễ săn bắn” và “lễ hái lượm” được tổ chức ở những bản gần với núi rừng; lễ hội ném còn quy tụ nhiều chàng trai, cô gái từ nhiều bản mường lân cận, là cơ hội tốt để nhiều

đôi trai gái làm quen với nhau;

(1) Nguyên văn tiếng Thái là:

“Dú táng bản há huôm mướng

Trang 40

Người Thái có chung một loại hình cơ cấu kinh tế và xã hội cổ truyền Đó là loại hình tổ chức xã hội theo chế độ phìa tạo, phân chia địa hạt hành chính thành từng châu mường Mỗi châu mường (tương đương như một huyện hiện nay) Mọi thể chế xã hội người Thái đều dựa trên sự phân bố ruộng đất một cách trực tiếp Đất được mang danh nghĩa của toàn mường (công thổ) và ruộng cũng mang tên là ruộng toàn mường (ná háng mướng) thực chất là ruộng công điền Mọi người đều có quyền sử dụng ruộng đất nhưng phải chịu việc mường - một loại việc công ích Đây cũng chính là sự thể hiện tập trung sự phân chia quyền lợi cũng như sự giàng buộc trách nhiệm của mỗi thành viên đối với cộng đồng

Trong quản lý cộng đồng, người Thái vốn là tộc người sớm cho ra đời

hệ thống Luật tục khá chi tiết đã được văn bản hóa và thường mang một cái tên chung là “Hịt khoỏng” (Hịt khoỏng bản mường) Đây thực chất là những quy định chung về ranh giới bản mường, về hệ thống bộ máy quản lý, về quyền sở hữu, về hôn nhân gia đình, về lễ nghi và hội hè, về tội phạm và các hình thức xét xử và trừng phạt…

Đối với việc quản lý bản mường, trong bộ luật mường Mai Châu, trước khi trình bày 17 hình thức phạm tội và hình phạt, người ta dành hẳn phần

đầu tiên nói về 47 loại người trong mường Đó là các loại người: ăn trên, ăn cướp, ăn hiếp, người hay kiện tụng, người hám của, người dại khờ, người xỏ xiên, người lười biếng, người hớt lẻo, người khoác lác, người bất nhân, người nhẹ dạ, người gian ác, người tốt, người gan dạ, người nhân từ, người phúc

đức, người có tài…, trong quan niệm của người Thái, tất cả 47 loại người này có thể chia thành 2 loại người: người tốt và kẻ xấu và thái độ của cộng

đồng (thông qua luật tục) đối với từng loại người đó như thế nào Đây chính

là nét độc đáo trong quan niệm dân gian, vừa mang tính đạo đức ứng xử và phần nào mang tính luật pháp

Luật mường Mai Châu trình bày các điều luật về các lĩnh vực sau đây:

1 Luật tranh chấp ruộng và nguồn nước; 2 Luật về dựng vợ gả chồng; 3 Luật để tang chồng; 4 Luật về bỏ vợ bỏ chồng; 5 Luật vợ chồng bỏ nhau; 6 Luật về người chết (tuyệt tự); 7 Luật đánh nhau chết; 8 Luật dân đi ở làng khác; 9 Luật giết người không có lệnh của tạo chu; 10 Luật về ăn cắp; 11

Ngày đăng: 20/03/2016, 00:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w