Lượng khách quốc tế đến Việt Nam ngày càng tăng, doanh thu từ du lịchđóng góp một phần lớn vào GDP của cả nước, nhiều công ăn việc làm trong ngành du lịch được tạo ra.. Bố cục của khóa l
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH 3
I Một số khái niệm cơ bản về du lịch 3
1 Du lịch 3
1.1 Tiếp cận du lịch ở góc độ nhu cầu con người 3
1.2 Tiếp cận du lịch ở góc độ là một ngành kinh tế 3
1.3 Tiếp cận du lịch một cách tổng quát 4
2 Du khách 5
2.1 Khái niệm về du khách của Tổ chức Du lịch Thế giới (United Nations World Tourism Organization – UNWTO) 5
2.2 Khái niệm về du khách của Luật Du lịch Việt Nam số 44/2005/QH11 do Quốc hội ban hành ngày 14/6/2005 6
3 Sản phẩm du lịch 6
3.1 Khái niệm 6
3.2 Thành phần cấu thành của sản phẩm du lịch 6
3.3 Đặc điểm của sản phẩm du lịch 8
II Các lĩnh vực kinh doanh du lịch 8
1 Vận chuyển du lịch 9
2 Lưu trú 9
3 Ăn uống 10
4 Các hoạt động giải trí 10
5 Lữ hành và các hoạt động trung gian 10
III Các loại hình du lịch 11
1 Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi 11
2 Căn cứ vào mục đích của chuyến đi 11
3 Căn cứ vào loại hình lưu trú 12
4 Căn cứ vào thời gian của chuyến đi 13
5 Căn cứ vào hình thức tổ chức chuyến đi 13
Trang 26 Căn cứ vào lứa tuổi của du khách 13
7 Căn cứ vào việc sử dụng các phương tiện giao thông 13
8 Căn cứ vào phương thức hợp đồng 14
IV Điều kiện cần thiết để phát triển du lịch 14
1 Tài nguyên du lịch 14
1.1 Tài nguyên du lịch thiên nhiên 15
1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 15
2 Điều kiện sẵn sàng đón tiếp 15
2.1 Cơ sở vật chất – kĩ thuật trong du lịch 15
2.2 Lực lượng lao động trong du lịch 16
2.3 Tổng hợp điều kiện đón tiếp và phục vụ trong du lịch 16 V Các tác động của du lịch 17
1 Các tác động về kinh tế 17
2 Các tác động về xã hội 18
3 Các tác động về môi trường 19
CHƯƠNG II: KINH NGHIỆM CỦA THÁI LAN TRONG PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH 20
I Một số vấn đề cơ bản về ngành du lịch Thái Lan 20
1 Lịch sử hình thành và cơ quản quản lý 20
2 Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển ngành du lịch của Thái Lan .20
2.1 Thuận lợi 20
2.1.1 Tài nguyên thiên nhiên 21
2.1.2 Tài nguyên nhân văn 22
2.1.3 Nguồn nhân lực 23
2.1.4 Cơ sở vật chất kĩ thuật 23
2.2 Khó khăn 23
2.2.1 Sự bất ổn về chính trị 23
2.2.2 Thảm họa tự nhiên 24
2.2.3 Nạn dịch 24
Trang 33 Thực trạng hoạt động của ngành du lịch Thái Lan 25
3.1 Số lượng và doanh thu 25
3.2 Cơ cấu khách du lịch 27
4 Tác động của du lịch đối với Thái Lan 29
4.1 Tác động tích cực 29
4.2 Tác động tiêu cực 29
5 Đánh giá về ngành du lịch Thái Lan 30
5.1 Thành tựu 30
5.2 Hạn chế 31
II Kinh nghiệm của Thái Lan trong phát triển ngành du lịch 31
1 Kinh nghiệm trong quản lý du lịch 31
1.1 Trong tổ chức 31
1.2 Trong xây dựng chính sách 33
1.2.1 Chính sách xuất nhập cảnh 33
1.2.2 Chính sách thuế 34
1.3 Trong ứng phó với khủng hoảng 34
1.3.1 Dịch SARS 34 1.3.2 Dịch cúm gia cầm 35
1.3.3 Sóng thần 35
1.3.4 Bất ổn chính trị trong nước 36
2 Kinh nghiệm trong phát triển cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch 38
2.1 Trong phát triển cơ sở hạ tầng chung của xã hội 38
2.2 Trong phát triển cơ sở vật chất riêng của ngành du lịch 39
3 Kinh nghiệm trong phát triển nguồn nhân lực 41
3.1 Số lượng 41
3.2 Chất lượng 41
4 Kinh nghiệm trong phát triển các sản phẩm du lịch 42
4.1 Du lịch văn hóa 42
4.2 Du lịch sinh thái 43
4.3 Du lịch MICE 43
Trang 44.4 Du lịch chữa bệnh 44
4.5 Du lịch sex ( tình dục) 44
4.6 Du lịch tình nguyện 45
4.7 Du lịch nông nghiệp 45
4.8 Du lịch mua sắm 46 5 Kinh nghiệm trong marketing du lịch 46
CHƯƠNG III: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM 49
I Điều kiện phát triển du lịch của Việt Nam so với Thái Lan 49
1 Tài nguyên nhiên nhiên 49
2 Tài nguyên nhân văn 50
3 Điều kiện chính trị 50
4 Nguồn nhân lực 51
5 Cơ sở vật chất kĩ thuật 51
II Thực trạng hoạt động của ngành du lịch Việt Nam 51
1 Những thành tựu của ngành du lịch Việt Nam 51
1.1 Số lượng khách quốc tế 52
1.2 Doanh thu 53
1.3 Cơ cấu khách quốc tế 54
2 Hạn chế của ngành du lịch Việt Nam 57
2.1 Quản lý du lịch 57
2.2 Cơ sở vật chất kĩ thuật 59
2.2.1 Cơ sở hạ tầng chung của xã hội 59
2.2.2 Cơ sở vật chất kĩ thuật riêng của ngành du lịch 59
2.3 Nguồn nhân lực 61
2.4 Công tác marketing 61
2.5 Sản phẩm du lịch 62
III Các giải pháp để phát triển du lịch Việt Nam từ kinh nghiệm của Thái Lan trong phát triển ngành du lịch 63
1 Quan điểm, định hướng phát triển du lịch của Nhà nước Việt Nam 63
Trang 52 Các giải pháp nhằm phát triển ngành du lịch Việt Nam 64
2.1 Đối với nhà nước 64
2.1.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật và các chính sách liên quan đến phát triển du lịch 64
2.1.2 Đầu tư cơ sở hạ tầng cho ngành du lịch 66 2.1.3 Phát triển nguồn nhân lực 68
2.1.4 Hỗ trợ công tác xúc tiến quảng bá du lịch 69
2.1.5 Phát triển các sản phẩm du lịch có thế mạnh 70
2.1.6 Phát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường 71
2.1.7 Tăng cường hợp tác giữa ngành du lịch và các ngành liên quan 71
2.2 Đối với các doanh nghiệp kinh doanh du lịch 72
2.2.1 Giải pháp về chất lượng sản phẩm và dịch vụ 72
2.2.2 Giải pháp về thị trường, marketing 73
2.2.3 Giải pháp về nguồn nhân lực 74
2.2.4 Giải pháp về công nghệ thông tin 74
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77 PHỤ LỤC
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xã hội ngày càng phát triển, nền kinh tế ngày càng chuyển sang các ngànhdịch vụ Trong đó du lịch là một trong những dịch vụ được chú ý nhất hiện nay Dulịch không những là ngành kinh tế mũi nhọn của các quốc gia mà còn là cầu nốigiao lưu giữa các dân tộc, các quốc gia và các miền trong một nước Chính vì vậy,phát triển du lịch là một trong những ưu tiên trong chính sách phát triển kinh tế củacác quốc gia
Với tài nguyên du lịch phong phú, Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển dulịch Trong những năm trở lại đây, ngành du lịch Việt Nam đã có những chuyểnbiến rõ rệt Lượng khách quốc tế đến Việt Nam ngày càng tăng, doanh thu từ du lịchđóng góp một phần lớn vào GDP của cả nước, nhiều công ăn việc làm trong ngành
du lịch được tạo ra Nhận thức được tầm quan trọng của phát triển du lịch Đảng vàNhà nước ta đã có những chính sách quan trọng nhằm ưu tiên, đầu tư phát triển dulịch
Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực du lịch nước ta vẫn là một ngànhcông nghiệp non trẻ, phát triển chưa tương xứng với tiềm năng Theo đánh giá củangành du lịch, kể từ năm 2006 trở lại đây có tới hơn 70% du khách quốc tế đến ViệtNam không trở lại lần thứ hai Trong khi đó, Thái Lan – một đất nước có nhiều tàinguyên du lịch tương đồng với Việt Nam lại được mệnh danh là “Thiên đường dulịch ở Đông Nam Á” Thái Lan đã xây dựng cho mình một thương hiệu du lịch uytín
Vậy lý do tại sao ngành du lịch Thái Lan lại đạt được những thành công nhưvậy? Ngành du lịch Thái Lan đã làm gì và Việt Nam cần phải học hỏi những gì từcách làm của họ Người viết nhận thấy đây là một vấn đề mang tính thiết thực, có ýnghĩa kinh tế xã hội lớn lao và hấp dẫn đối với bản thân Chính vì vậy, người viết đã
chọn đề tài “Kinh nghiệm của Thái Lan trong phát triển ngành du lịch và bài học cho Việt Nam” để làm bài viết khóa luận tốt nghiệp
2 Mục đích của đề tài
Mục đích của đề tài này là phân tích tình hình phát triển của ngành du lịchThái Lan, tìm ra những thuận lợi, khó khăn, thành tựu, hạn chế và những biện pháp
Trang 7phát triển du lịch của chính phủ nước này, từ đó rút ra bài học giúp ngành du lịchViệt Nam phát triển tương xứng với tiềm năng du lịch của mình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở những lý luận cơ bản về dulịch, nghiên cứu về ngành du lịch của đất nước Thái Lan và các kinh nghiệm ápdụng cho Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: về không gian là đất nước Thái Lan và Việt Nam; vềthời gian là từ năm 1997 đến tháng 4 năm 2010
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê và phân tích
- Phương pháp lý luận biện chứng
- Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu
5 Bố cục của khóa luận
Khóa luận gồm có 3 phần:
Chương I: Một số vấn đề lý luận về du lịch
Chương II: Kinh nghiệm của Thái Lan trong phát triển ngành du lịch
Chương III: Bài học kinh nghiệm cho ngành du lịch Việt Nam
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng nhưng bài viết không tránh khỏi những thiếusót và hạn chế nên người viết rất mong nhận được những ý kiến, đóng góp phê bìnhcủa Quý Thầy Cô và các bạn
Người viết xin chân thành cảm ơn Thạc sỹ Trần Minh Nguyệt – Khoa kinh tếquốc tế đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ người viết hoàn thành khóa luận này
Trang 8có khái niệm thống nhất về du lịch Vì vậy khái niệm du lịch sẽ được tiếp cận ở cả
ba góc độ: người đi du lịch, giới kinh doanh du lịch và góc độ tổng quát
1.1 Tiếp cận du lịch ở góc độ nhu cầu con người
Thời kỳ trước thế kỷ XIX, du lịch chỉ là hiện tượng lẻ tẻ của một số ít ngườithuộc tầng lớp trên của xã hội Những người tham gia vào hoạt động du lịch thườngmang tính hoạt động tôn giáo, đi để thưởng ngoạn cảnh sắc thiên nhiên để lấy cảmhứng sáng tác thơ, ca, hội hoạ…Và thông thường khách du lịch tự lo lấy việc ăn, ở,
đi lại cho chuyến đi của mình, du lịch chưa được xem là một ngành kinh tế Ngàynay du lịch đã trở thành một hoạt động tương đối phổ biến của người dân thuộc mọitầng lớp trong xã hội
Điều 4 của Luật Du lịch Việt Nam số 44/2005/QH11 do Quốc hội ban hành
ngày 14/6/2005 ghi rõ: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [6] Hạn
chế của quan điểm này là đưa ra khoảng thời gian nhất định, nhưng chưa nêu cụ thể
là thời gian bao lâu Theo quy định chung của quốc tế thì thời gian đi phải lớn hơn
24 giờ và nhỏ hơn 12 tháng [2]
1.2 Tiếp cận du lịch ở góc độ là một ngành kinh tế
Thời kỳ sau chiến tranh thế giới lần thứ II kinh tế được khôi phục và pháttriển, thu nhập cá nhân cũng tăng lên, trình độ văn hoá của mọi người cũng nâng
Trang 9cao Dòng khách du lịch ngày càng đông Và du lịch được xem như là một cơ hộikinh doanh, là toàn bộ những hoạt động và những công việc phối hợp với nhaunhằm thoả mãn những nhu cầu của khách du lịch và tìm kiếm lợi nhuận thông qua
đó
Các nhà kinh tế du lịch thuộc trường Đại học Kinh tế Praha đưa ra khái niệm
về du lịch như sau: “Coi tất cả các hoạt động, tổ chức, kỹ thuật và phục vụ các cuộc hành trình và lưu trú của con người ngoài nơi cư trú với nhiều mục đích ngoài mục đích kiếm việc làm và thăm viếng người thân là Du lịch” [2].
Du lịch ngày càng phát triển, các hoạt động ngày càng gắn bó chặt chẽ vớinhau và phối hợp với nhau tạo thành một hệ thống rộng lớn và chặt chẽ Với góc độnày du lịch được xem như là một ngành công nghiệp, là toàn bộ các hoạt động cómục tiêu là chuyển các nguồn vốn, nguồn nhân lực và nguyên vật liệu thành nhữngdịch vụ, sản phẩm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch Vì vậy, trong giáo trình
Thống kê du lịch, Nguyễn Cao Thường và Tô Đăng Hải cho rằng " Du lịch là một ngành kinh tế xã hội, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ nhu cầu tham quan, giải trí nghỉ ngơi có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác [4]."
Trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận tốt nghiệp này, du lịch sẽ đượcnhìn nhận ở góc độ là một ngành kinh tế
Các chủ thể trên tác động qua lại lẫn nhau trong mối quan hệ của họ đối vớihoạt động du lịch:
+ Đối với khách du lịch, du lịch mang lại cho họ một sự hài lòng vì đượchưởng một khoảng thời gian thú vị, đáp ứng các nhu cầu giải trí, nghỉ ngơi, thăm
Trang 10viếng… của họ Những khách du lịch khác nhau có những nhu cầu du lịch khácnhau, do đó họ sẽ chọn những điểm du lịch khác nhau, với những hoạt động giải tríkhác nhau.
+ Đối với các đơn vị kinh doanh du lịch, họ xem du lịch như là một cơ hộikinh doanh nhằm thu lợi nhuận qua việc cung ứng hàng hoá dịch vụ du lịch cho dukhách
+ Đối với chính quyền, du lịch được xem như là một nhân tố thuận lợi đốivới nền kinh tế trong lãnh thổ của mình Chính quyền quan tâm đến số công việc mà
du lịch tạo ra, thu nhập mà cư dân có thể kiếm được, khối lượng ngoại tệ mà khách
du lịch quốc tế mang vào cũng như khoản thuế nhận được từ hoạt động kinh doanh
du lịch và từ khách du lịch
+ Đối với cộng đồng cư dân địa phương, du lịch được xem như là một cơ hội
để tìm việc làm, tạo thu nhập nhưng đồng thời họ cũng là nhân tố hấp dẫn du kháchbởi lòng hiếu khách và trình độ văn hoá của họ Ở các điểm du lịch, giữa khách dulịch và cư dân địa phương luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau Sự tác động này cóthể có lợi, có thể có hại, cũng có thể vừa có lợi vừa có hại
Đối với khách quốc tế được chia thành khách Inbound và Outbound
Khách Inbound: khách du lịch quốc tế vào nước mình Khi đón khách quốc
tế vào thì quốc gia nhận khách sẽ chủ động đón tiếp, chuẩn bị điều kiện phươngtiện, kỹ thuật … để tổ chức phục vụ cho khách
Trang 11Khách Outbound: khách nước mình đi du lịch nước ngoài Với đối tượngkhách này quốc gia gửi khách không phải chuẩn bị đón tiếp
Khách du lịch nội địa là người đang sống trong một quốc gia không kể quốc tịch nào đi đến một nơi khác trong quốc gia đó trong khoảng thời gian ít nhất là 24 giờ và không quá một năm với mục đích du lịch, thăm thân, hội họp, ngoài trừ làm việc lĩnh lương [2]
2.2 Khái niệm về du khách của Luật Du lịch Việt Nam số 44/2005/QH11 do Quốc hội ban hành ngày 14/6/2005
Theo Khoản 2 Điều 4 của Luật Du lịch Việt Nam 2005: “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến [6].”
Điều 34 của Luật Du lịch Việt Nam 2005 chỉ rõ [6]:
Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế
Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài vào Việt Nam du lịch, công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tạiViệt Nam ra nước ngoài du lịch
3 Sản phẩm du lịch
3.1 Khái niệm
Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên
cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho du khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng [2]
3.2 Thành phần cấu thành của sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch bao gồm tài nguyên nhiên nhiên nhằm thoả mãn nhu cầutham quan giải trí của du khách và các hàng hoá – dịch vụ kết hợp với nhau nhằmthoả mãn nhu cầu thiết yếu phát sinh khi du khách rời khỏi nơi cư trú thường xuyêncủa mình như: ăn, ngủ, vận chuyển đi lại…
Như vậy, ta có công thức sản phẩm du lịch là
Trang 12Sản phẩm du lịch = Tài nguyên du lịch + Các dịch vụ và hàng hoá du lịch
Các yếu tố cơ bản cấu thành nên sản phẩm du lịch:
- Dịch vụ ăn uống: để thoả mãn nhu cầu ăn uống khách du lịch có thể tự nấu
ăn khi đi picnic, cắm trại hoặc có thể đến các nhà hàng để ăn vừa tiết kiệm thời giannấu nướng dành thời gian cho việc tham quan vừa có thể thưởng thức những mónđặc sản của mỗi vùng mà họ không thể tự nấu được
- Dịch vụ vui chơi giải trí: là bộ phận quan trọng cấu thành nên sản phẩm dulịch Các dịch vụ vui chơi giải trí nhằm giúp du khách đạt được sự thú vị cao nhấttrong chuyến đi của mình Các hoạt động vui chơi giải trí bao gồm tham quan, vãngcảnh, chơi hoặc xem thể thao, tham dự các lễ hội, tham quan tượng đài, hay giải trítại các câu lạc bộ, các sòng bạc…
- Dịch vụ mua sắm: là hình thức giải trí không thể thiếu đối với nhiều dukhách Khi tham quan du lịch một địa phương du khách có nhu cầu mua sắm quàlưu niệm, hàng thủ công mỹ nghệ, tạp hoá, vải vóc… những sản phẩm đặc trưngcủa địa phương đó
Hạ tầng giao thông
Trang 13Du lịch gắn liền với sự di chuyển của khách du lịch ra khỏi nhà để đến chỗlưu trú Cho nên đường sá, sân bay, bến cảng… là những điều kiện để sự di chuyểndiễn ra trong những điều kiện tốt nhất và chi phí thấp nhất.
Cư dân địa phương
Du lịch tạo điều kiện cho du khách tiếp xúc với cư dân bản xứ Thường các
cư dân khác nhau có những nếp sống và văn hoá khác nhau Mối quan hệ giữa họ cóthể làm phát sinh mâu thuẫn Cho nên thái độ của dân bản xứ ảnh hưởng lớn đến sựcảm nhận mà du khách có đối với sản phẩm du lịch, vì vậy không nên coi nhẹ vấn
đề này
3.3 Đặc điểm của sản phẩm du lịch
- Tính vô hình: bộ phận dịch vụ chiếm tỷ trọng cao, không sản xuất rậpkhuôn, hàng loạt mà do nhiều cá thể tạo ra Sản phẩm du lịch không mang tính vậtchất, không thể cân, đong, đo, đếm như các hàng hoá tiêu dùng khác
- Tính không đồng nhất: sản phẩm du lịch về cơ bản là không cụ thể, vôhình, gây khó khăn cho nhà quản lý, không thể kiểm tra chất lượng sản phẩm trướckhi mua Chất lượng sản phẩm được đánh giá thông qua sự cảm nhận, thỏa mãn củakhách hàng sau khi tiêu dùng sản phẩm
- Tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng: việc tiêu dùng sản phẩm du lịchxảy ra cùng thời gian và địa điểm sản xuất ra chúng Do đó, sản phẩm du lịch không
dự trữ được Ngoài ra, với đặc điểm này nên khách du lịch không thể nhìn thấy sảnphẩm du lịch trước khi mua Ngoài ra, không thể vận chuyển sản phẩm du lịch đếnvới khách hàng mà du khách phải tự vận động đến nơi sản xuất ra sản phẩm du lịch
- Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch có tính thời vụ: đó là hiện tượng lúc thìkhông đáp ứng hết nhu cầu du lịch, lúc thì cầu du lịch lại quá thấp so với khả năngcung ứng Nguyên nhân chính là do trong du lịch lượng cung tương đối ổn địnhtrong thời gian tương đối dài, trong khi đó nhu cầu của khách hàng thì thườngxuyên thay đổi, làm nảy sinh độ chênh lệch thời vụ giữa cung và cầu, chính vì vậytrong kinh doanh du lịch có tính thời vụ
II Các lĩnh vực kinh doanh du lịch
Trang 141 Vận chuyển du lịch
Du lịch gắn liền với sự di chuyển và các chuyến đi Vì vậy mà vận chuyển dulịch trở nên không thể thiếu được
Phương tiện vận chuyển hàng không
Đây là loại phương tiện vận chuyển hiện đại, tiện nghi phù hợp với xu thếtoàn cầu hóa du lịch Tuy nhiên, đây lại là phương tiện vận chuyển có chi phí cao,chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ chi phí chuyến đi của du khách
Phương tiện vận chuyển đường bộ
Đây là phương tiện vận chuyển giữ vị trí quan trọng trong vận chuyển du lịch
do chi phí thấp, có thể phù hợp với mọi đối tượng, khả năng cơ động cao, có thể đếnhầu hết các điểm du lịch Tuy nhiên, phương tiện này còn chậm, thiếu tiện nghi,không đi được nơi có địa hình hiểm trở, chỉ phù hợp cho phát triển du lịch trongnước
Phương tiện vận chuyển đường sắt
Hiện nay phương tiện vận chuyển đường sắt đang có vị trí quan trọng trongphát triển du lịch do có nhiều lợi thế về chi phí, khả năng an toàn cao, tiện lợi có thểthỏa mãn nhu cầu ngắm cảnh
Phương tiện vận chuyển đường thủy
Phương tiện vận chuyển đường thủy xuất hiện từ lâu đời nhưng mới được sửdụng phục vụ cho du lịch nên còn mới mẻ Trong tương lai, du lịch bằng phươngtiện vận tải này có nhiều điều kiện để phát triển
2 Lưu trú
- Khách sạn: là cơ sở lưu trú đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng và tiện nghi cầnthiết phục vụ khách du lịch lưu trú, đáp ứng một số nhu cầu của khách về nghỉ ngơi,
ăn uống, vui chơi, giải trí và các dịch vụ khác
- Mô-ten (Motel): là cơ sở lưu trú được xây dựng gần đường giao thông, vớikiến trúc thấp tầng, bảo đảm các dịch vụ phục vụ lưu trú cho khách du lịch đi bằng
Trang 15phương tiện vận chuyển, có dịch vụ bảo dưỡng, sữa chữa phương tiện vận chuyểncho khách
- Làng du lịch: là cơ sở lưu trú bao gồm quần thể các ngôi nhà được quyhoạch, xây dựng với các tiện nghi và các dịch vụ phục vụ cho sinh hoạt, nghỉ ngơi
và vui chơi giải trí cần thiết của du khách
- Băng-ga-lâu (Bungalow): là cơ sơ lưu trú được làm bằng gỗ hoặc các vậtliệu nhẹ khác theo phương pháp lắp ghép đơn giản
- Biệt thự: là nhà kiên cố, có phòng khách, phòng ngủ, bếp, chỗ để phươngtiện giao thông, sân vườn phục vụ khách lưu trú
- Căn hộ cho thuê: là nhà kiên cố có đủ tiện nghi cần thiết phục vụ khách dulịch lưu trú
- Cắm trại: là khu vực được quy hoạch, có trang thiết bị phục vụ khách dulịch đến cắm trại, nghỉ ngơi…
3 Ăn uống
Ăn uống là nhu cầu không thể thiếu của khách du lịch và phục vụ ăn uốngtrở thành một hoạt động kinh doanh đáng kể trong du lịch Tham gia phục vụ ănuống có các loại hình như nhà hàng, quán bar, các quán cà phê…
4 Các hoạt động giải trí
Các hoạt động giải trí bao gồm các hoạt động tại các công viên giải trí, báchthảo, viện bảo tàng, các di tích lịch sử, các lễ hội dân gian, các hoạt động muasắm…
5 Lữ hành và các hoạt động trung gian
Lữ hành và các hoạt động trung gian thực hiện các hoạt động trung gian kếtnối khách du lịch với các nhà cung ứng hàng hóa và dịch vụ du lịch
Theo Khoản 14 Điều 14 Luật Du lịch Việt Nam 2005: Lữ hành là việc xâydựng, bán và tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch chokhách du lịch [6]
Trang 16Lữ hành và các hoạt động trung gian có khả năng cung cấp cho khách hàngnhững sản phẩm đồng bộ trọn gói thông qua việc liên kết các dịch vụ của các nhàcung ứng dịch vụ nhằm tạo ra cho khách hàng sự chủ động cao và hiệu quả trongcác chuyến đi du lịch
III Các loại hình du lịch
1 Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi
- Du lịch quốc tế: là những chuyến du lịch mà nơi cư trú của khách du lịch vànơi đến du lịch thuộc hai quốc gia khác nhau, khách du lịch đi qua biên giới và tiêungoại tệ ở nơi đến du lịch
Du lịch quốc tế bao gồm:
Du lịch quốc tế đến (Du lịch quốc tế nhận khách): là hình thức du lịch củakhách du lịch ngoại quốc đến một nước nào đó và tiêu ngoại tệ ở đó Quốc gia nhậnkhách du lịch nhận được ngoại tệ do khách mang đến nên được coi là quốc gia xuấtkhẩu du lịch
Du lịch ra nước ngoài (Du lịch quốc tế gửi khách): là chuyến đi của một cưdân trong một nước đến một nước khác và tiêu tiền kiếm được ở đất nước của mình.Quốc gia gửi khách được gọi là quốc gia nhập khẩu du lịch
- Du lịch nội địa: là hình thức đi du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến củakhách cùng nằm trong lãnh thổ một quốc gia
2 Căn cứ vào mục đích của chuyến đi
- Du lịch sinh thái: hấp dẫn những người thích tận hưởng bầu không khíngoài trời, thích thưởng thức phong cảnh đẹp và đời sống động thực vật hoang dã
- Du lịch văn hóa: thu hút những người mà mối quan tâm của họ chủ yếu làtruyền thống lịch sử, phong tục tập quán, nền văn hóa nghệ thuật của nơi đến
- Du lịch MICE: MICE là viết tắt của Meetings (hội họp), Incentives (khenthưởng), Conventions/Conferences (hội thảo/hội nghị) và Exhibitions/Events (hộichợ triển lãm/sự kiện) Du khách tham gia loại hình du lịch này thường kết hợp nghỉ
Trang 17ngơi, tham quan với việc tham dự các cuộc họp, hội thảo, hội nghị, triển lãm, sựkiện
- Du lịch chữa bệnh: mục đích chính của du khách là du lịch để chữa bệnh ởmột vùng đất khác vì chất lượng tốt hơn, mức giá hợp lý hơn
- Du lịch nghỉ dưỡng: loại hình du lịch giúp cho con người phục hồi sức khoẻ
và lấy lại tinh thần sau những ngày làm việc mệt mỏi, những căng thẳng thườngxuyên xảy ra trong cuộc sống
- Du lịch sex (tình dục): khách du lịch tham gia loại hình du lịch này để cóthể được dễ dàng thỏa mãn nhu cầu sex
- Du lịch tình nguyện: mục đích chính của du khách là đến giúp đỡ ngườidân ở những vùng đất còn gặp nhiều khó khăn, giúp họ xây nhà, dạy học cho trẻ
em, truyền bá lối sống văn hóa…
- Du lịch nông nghiệp: du khách đến khám phá các vùng nông thôn, cùngtham gia vào các hoạt động nông nghiệp với người dân như trồng trọt, chăn nuôi…
để hiểu biết hơn về cuộc sống của họ
- Du lịch mạo hiểm: du khách tham dự các hoạt động như leo núi, trekking(tức là khoác ba lô trên vai, đi bộ đến vùng nông thôn, vào rừng hoặc xuyên núi đểtìm hiểu thiên nhiên cũng như cuộc sống của người dân bản xứ) … khám phá nhữngvùng đất mà nhiều người chưa đến
- Du lịch thể thao: du khách viếng thăm các địa điểm để chơi các môn thểthao hoặc theo dõi các trận đấu mà có thần tượng của họ tham gia
3 Căn cứ vào loại hình lưu trú
- Du lịch ở trong khách sạn: là loại hình du lịch phổ biến nhất, loại hình nàyphù hợp với những người lớn tuổi, những người có thu nhập cao vì ở đây các dịch
vụ hoàn chỉnh hơn, có hệ thống hơn, chất lượng phục vụ cao hơn nhưng giá cả caohơn
Trang 18- Du lịch ở trong mô-ten: mô-ten là các khách sạn được xây dựng ven đường
xa lộ nhằm phục vụ cho khách du lịch bằng xe hơi Ở đây có các gara để xe cho dukhách Các dịch vụ trong mô-ten phần lớn là tự phục vụ
- Du lịch ở trong nhà trọ: nhà trọ là những khách sạn loại nhỏ của tư nhân.Giá cả thường rất phù hợp với các du khách có thu nhập thấp
- Du lịch cắm trại: là loại hình du lịch được phát triển với nhịp độ cao vàđược giới trẻ ưa chuộng Đầu tư cho loại hình du lịch này không cao, chủ yếu sắmlều, bạt, giường gấp và một số dụng cụ đơn giản rẻ tiền
4 Căn cứ vào thời gian của chuyến đi
- Du lịch ngắn ngày: chuyến đi thường vào cuối tuần từ 1 – 2 ngày trongphạm vi gần
- Du lịch dài ngày: thường là các chuyến đi có thời gian từ 1 tuần đến 10ngày trở lên
5 Căn cứ vào hình thức tổ chức chuyến đi
- Du lịch theo đoàn: các thành viên tham dự đi theo đoàn và thường có sựchuẩn bị tinh thần từ trước
- Du lịch cá nhân: khách du lịch đi riêng lẻ một hoặc hai người với nhữngcách thức và mục đích khác nhau
6 Căn cứ vào lứa tuổi của du khách
- Du lịch của những người cao tuổi
- Du lịch của những người trung niên
- Du lịch của tầng lớp thanh niên
- Du lịch của tầng lớp thiếu niên và trẻ em
7 Căn cứ vào việc sử dụng các phương tiện giao thông
- Du lịch bằng mô tô – xe đạp: trong loại hình du lịch này, mô tô và xe đạpđược làm phương tiện đi lại cho du khách từ nơi ở đến điểm đến du lịch Nó đượcphát triển ở nơi có địa hình tương đối bằng phẳng
Trang 19- Du lịch bằng tàu hỏa: được hình thành từ những năm 40 của thế kỉ 19.Ngày này do sự phát triển của ngành đường sắt, số khách du lịch bằng tàu hỏa ngàycàng đông Lợi thế của du lịch bằng tàu hỏa là: tiện nghi, an toàn, nhanh, rẻ, đi được
xa và vận chuyển được nhiều người
- Du lịch bằng xe hơi: là loại hình du lịch được phát triển phổ biến và rộngrãi nhất, nó có nhiều tiện lợi và được nhiều người ưa chuộng: nhanh, du khách cóđiều kiện gần gũi với thiên nhiên, có thể dừng lại ở bất kì điểm du lịch nào…
- Du lịch bằng máy bay: là loại hình du lịch có nhiều triển vọng nhất, nó cónhiều ưu thế: nhanh, tiện nghi Tuy nhiên, giá cả của loại hình du lịch này lại quácao so với nhiều người
- Du lịch bằng tàu biển: được phát triển ở những nước có bờ biển đẹp, cónhiều vịnh, đảo, hải cảng, sông hồ…
8 Căn cứ vào phương thức hợp đồng
- Chương trình du lịch trọn gói: là chương trình được doanh nghiệp kết hợpcác dịch vụ liên quan trong quá trình thực hiện chuyến đi du lịch thành một sảnphẩm dịch vụ tổng hợp chào bán theo một mức giá – giá trọn gói
- Chương trình du lịch từng phần: là chương trình có mức giá chào bán tùytheo số lượng các dịch vụ thành phần cơ bản
IV Điều kiện cần thiết để phát triển du lịch
1 Tài nguyên du lịch
Theo Khoản 4 Điều 4 Luật Du lịch Việt Nam 2005: tài nguyên du lịch làcảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao độngsáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đápứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch,tuyến du lịch, đô thị du lịch [6]
Tài nguyên du lịch càng phong phú đa dạng càng có khả năng hấp dẫn, lôicuốn du khách Điều này có nghĩa là điểm đó có thể là nơi để du khách hướng đến,thỏa mãn được nhu cầu đặc trưng của họ hay không
Trang 20Tài nguyên du lịch gồm có tài nguyên du lịch thiên nhiên và tài nguyên dulịch nhân văn
1.1 Tài nguyên du lịch thiên nhiên
Theo Điều 13 Luật Du lịch Việt Nam 2005: tài nguyên du lịch thiên nhiêngồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnhquan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch [6]
Chính sự phong phú của những cấu trúc địa chất như hang động, vách đá…
đã làm nên sự hấp dẫn của những danh lam thắng cảnh như Động Phong Nha, Vịnh
Hạ Long, Núi Ngũ Hành Sơn… Những vùng địa hình đa dạng tạo ra bộ mặt hấp dẫncủa thắng cảnh và là yếu tố đập vào mắt du khách, lôi cuốn du khách Ngoài ra điềukiện khí hậu mát mẻ, ôn hòa, hệ động thực vật phong phú càng làm tăng thêm sứchấp dẫn của các điểm du lịch
1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
Theo Điều 13 Luật Du lịch Việt Nam 2005: tài nguyên du lịch nhân văn gồmtruyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cáchmạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các disản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng nhằm phục vụ mục đích
du lịch [6]
Du khách đến khám phá một vùng đất không những chỉ tìm hiểu về điều kiệnthiên nhiên, ngắm cảnh sắc thiên nhiên mà còn để tìm hiểu về văn hóa, con người,phong tục tập quán của con người ở mảnh đất đó Chính vì vậy, các công trình kiếntrúc như chùa tháp, lăng tẩm, cung điện, viện bảo tàng… các lễ hội đặc trưng củamột vùng miền luôn thu hút sự khám phá của du khách bốn phương
2 Điều kiện sẵn sàng đón tiếp
2.1 Cơ sở vật chất – kĩ thuật trong du lịch
Các cơ sở vật chất – kĩ thuật trong du lịch bao gồm các phương tiện vật chấttham gia vào việc tạo ra và cung ứng các dịch vụ và hàng hóa du lịch (sản phẩm dulịch) Để du lịch phát triển thì cơ sở vật chất – kĩ thuật phải được đầu tư hiện đại vàđồng bộ
Trang 21Cơ sở vật chất kĩ thuật trong du lịch bao gồm cơ sở hạ tầng chung của xã hộiđược sử dụng trong du lịch như mạng lưới giao thông, điện, nước, hệ thống y tế,ngân hàng, bảo hiểm và cơ sở vật chất kĩ thuật riêng của ngành du lịch như các cơ
sở lưu trú, các cơ sở phục vụ ăn uống, các cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung (hộinghị, phòng tiệc, các quầy hàng lưu niệm, trung tâm thể thao, sòng bạc…), cácphương tiện chuyên chở
2.2 Lực lượng lao động trong du lịch
Con người – lực lượng lao động là một trong những yếu tố then chốt quyếtđịnh sự phát triển của ngành du lịch Để du lịch phát triển cần xây dựng một đội ngũnhân lực du lịch dồi dào về cả số lượng lẫn chất lượng Một trong những tố chấtquan trọng mà nhân viên du lịch cần có là sự thân thiện Sự thân thiện tạo cho dukhách cảm giác thoải mái, dễ chịu Ngoài ra, lao động trong ngành du lịch cần cókiến thức nghiệp vụ và trình độ chuyên môn thành thạo, có kĩ năng nghề nghiệpcao, có trình độ ngoại ngữ nhất định Một số yêu cầu khác đối với lao động trongngành du lịch là ngoại hình khá, sức khỏe tốt, khả năng giao tiếp tốt, hiểu biết tâm
lý khách, có những hiểu biết về xã hội, hội họa, thể thao…
2.3 Tổng hợp điều kiện đón tiếp và phục vụ trong du lịch
Đó là trình độ phối hợp các dịch vụ riêng lẻ thành các sản phẩm hoàn chỉnh
và tạo điều kiện dễ dàng cho việc mua sản phẩm của khách hàng Như vậy vấn đềcốt yếu ở đây là sự lớn mạnh của các đơn vị kinh doanh lữ hành, mối quan hệ giữacác đơn vị kinh doanh lữ hành với các đơn vị cung ứng dịch vụ du lịch và giữa cácđơn vị cung ứng dịch vụ du lịch với nhau
Đó là trình độ tổ chức và quản lý của cơ quan quản lý nhà nước trong ngành
du lịch thể hiện ở việc xây dựng và kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, tổ chứctuyên truyền, quảng bá, thanh tra các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanhnghiệp du lịch Trong đó công tác tuyên truyền quảng bá du lịch đóng một vai tròquan trọng trong việc tăng cường thông tin cho du khách về tiềm năng du lịch củađất nước
Trang 22Đó là các điều kiện cần thiết để đảm bảo an toàn cho du khách, bao gồm sự
ổn định về chính trị và sự đảm bảo về vệ sinh tại điểm du lịch nhằm bảo vệ sứckhỏe và tính mạng của khách du lịch trong cả chuyến đi
V Các tác động của du lịch
1 Các tác động về kinh tế
Sự phát triển của ngành du lịch ở một vùng, quốc gia sẽ tạo nên những phảnứng, ảnh hưởng tích cực đối với nền kinh tế của vùng, quốc gia đó
Du lịch góp phần tăng GDP cho nền kinh tế quốc dân
Hiện nay, ở nhiều nước du lịch là một trong những ngành kinh doanh chủyếu, góp phần đáng kể vào GDP (tổng sản phẩm quốc nội)
Khi du khách rời khỏi nhà để thực hiện chuyến du lịch, họ vẫn có nhu cầu ănngủ, đi lại, vui chơi giải trí Điều này tạo điều kiện nảy sinh các ngành nghề kinhdoanh dịch vụ du lịch như kinh doanh nhà hàng, khách sạn, vận chuyển du lịch, lữhành, khu vui chơi giải trí để đáp ứng nhu cầu của du khách Du lịch càng pháttriển không chỉ kéo theo sự phát triển của các ngành kinh doanh du lịch mà còn cácngành kinh tế khác như sản xuất hàng tiêu dùng, mỹ nghệ, trồng trọt, chăn nuôi
Và kết quả của nó sẽ đem về thu nhập cho nền kinh tế, góp phần tăng GDP cho nềnkinh tế quốc dân
Du lịch là ngành kinh tế mang về ngoại tệ cho đất nước, góp phần cân bằng cán cân thanh toán quốc tế.
Khi khách du lịch thực hiện chuyến đi du lịch ở nước ngoài, họ phải chi trảmột khoảng tiền cho chuyến đi của mình Thông thường khoảng 35% chi tiêu chochuyến đi của du khách được giữ lại nước xuất phát để chi trả cho phí làm hộ chiếu,visa, vé máy bay 65% chi tiêu còn lại của du khách sẽ được dịch chuyển đếnquốc gia nhận khách để mua các hàng hoá, dịch vụ du lịch như lưu trú, ăn uống, vậnchuyển, thăm quan, giải trí để thoả mãn các nhu cầu cho chuyến đi [2] Điều này
đã góp phần làm tăng lượng ngoại tệ cho quốc gia nhận khách
Trang 23Tác động này có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động thanh toán quốc tế., gópphần bổ sung thêm lượng ngoại tệ cho quốc gia nhận khách, cân bằng cán cân thanhtoán quốc tế
Du lịch phát triển sẽ kích thích đầu tư
Nhìn chung, sự phát triển của bất kỳ ngành nào cũng tạo ra cơ hội đầu tư.Nhưng khác với các ngành khác, ngành du lịch có một cấu trúc độc đáo – đó làngành được tạo nên bởi rất nhiều doanh nghiệp của hàng loạt các loại hình dịch vụkhác nhau Vì vậy, sự đầu tư của nhà nước vào cơ sở hạ tầng (hệ thống đường sá,công viên…) và cả kiến trúc thượng tầng (nghệ thuật, lễ hội, văn hóa dân gian…)nhằm tạo điều kiện cho du lịch phát triển, sẽ kích thích sự đầu tư rộng rãi của cáctầng lớp nhân dân và của các doanh nghiệp
Du lịch phát triển sẽ mở rộng khả năng sử dụng lao động nhàn rỗi
Ở những ngành sản xuất truyền thống, một mặt do tốc độ tăng trưởng bịchậm lại, mặt khác do quá trình hiện đại hoá qui trình sản xuất nhu cầu sức lao độngtrong ngành này ngày càng giảm
Trong khi đó, du lịch “ngành công nghiệp không khói” với sự phát triểnnhanh chóng đang tạo cơ hội tìm kiếm công ăn việc làm trong nền kinh tế quốc dân.Đặc biệt tại các vùng nông thôn việc phát triển mô hình du lịch dựa vào cộng đồng
sẽ giải quyết việc làm cho người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo Ở những nước
du lịch phát triển, tình trạng thất nghiệp sẽ giảm bớt một phần
2 Các tác động về xã hội
Hoạt động du lịch ngày càng trở nên một hiện tượng phổ biến trong xã hội,ngoài việc thoả mãn nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch còn giúp cho du khách mở rộng kiếnthức, hiểu biết thêm về phong tục tập quán của nhân dân các địa phương khác nhau,tạo sự giao lưu văn hoá giữa các dân tộc
Do sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc mà giảm đi những hiểu lầm, thùghét lẫn nhau Đây chính là nguồn cổ vũ quan trọng cho hoà bình thế giới
Trang 24Bên cạnh sự du nhập ào ạt của du khách với nền văn hóa xa lạ, cách sống xa
lạ đôi khi lại gây tác động xấu đến nền văn hoá xã hội ở nước nhận khách, làm hủyhoại thuần phong mỹ tục, gia tăng các tệ nạn xã hội (mại dâm, bệnh tật…)
Tại nhiều địa điểm du lịch môi trường thiên nhiên bị tàn phá và ô nhiễmnghiêm trọng Chính con người đang hủy hoại môi trường sống của mình và tự đánhmất cơ hội tái sử dụng chúng trong tương lai
Như vậy, khi nhìn nhận ở từng góc độ khác nhau sẽ có những khái niệm khácnhau về du lịch Ở góc độ là một ngành kinh tế, du lịch đóng một vai trò hết sứcquan trọng trong nền kinh tế quốc dân Để phát triển ngành kinh tế này chúng ta cần
có sự kết hợp giữa nguồn tài nguyên du lịch và các điều kiện sẵn sàng đón tiếp
Trang 25CHƯƠNG II:
KINH NGHIỆM CỦA THÁI LAN TRONG PHÁT TRIỂN
NGÀNH DU LỊCH
I Một số vấn đề cơ bản về ngành du lịch Thái Lan
1 Lịch sử hình thành và cơ quản quản lý
Cơ quan quản lý
Cơ quan quản lý của ngành du lịch Thái Lan là Tổng cục Du lịch Thái Lan(Tourism Authority of Thailand - TAT) được thành lập vào ngày 18 tháng 3 năm
1960 Đây là tổ chức đứng đầu ở Thái Lan chịu trách nhiệm về việc xúc tiến, quảng
bá du lịch TAT cung cấp thông tin và các dữ liệu về du lịch ở các địa phương chocông chúng, quảng bá đất nước và con người Thái Lan nhằm khuyến khích dukhách trong và ngoài nước đến du lịch Thái Lan; chỉ đạo việc nghiên cứu để xác lậpcác kế hoạch phát triển du lịch ở các địa điểm du lịch; hợp tác và hỗ trợ việc pháttriển sản phẩm cũng như nguồn nhân lực cho du lịch
Từ khi thành lập văn phòng đại diện đầu tiên ở Chiang Mai vào năm 1968đến nay TAT đã có 22 văn phòng đại diện ở trong nước TAT cũng đã thành lậpnhiều văn phòng dại diện ở ngoài nước và văn phòng đầu tiên là ở New York.Trong suốt 30 năm qua, TAT đã thành lập thêm 15 văn phòng đại diện ở khắp nơitrên thế giới [45]
2 Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển ngành du lịch của Thái Lan 2.1 Thuận lợi
Trang 26Tài nguyên nhiên nhiên và tài nguyên nhân văn phong phú cùng với cơ sở hạtầng hiện đại và nguồn nhân lực dồi dào chất lượng cao là những thuận lợi cho TháiLan trong phát triển ngành du lịch
2.1.1 Tài nguyên thiên nhiên
Vị trí địa lý
Nằm ở vị trí chiến lược giữa Châu Âu, Châu Đại Dương, Châu Phi và Châu
Á, Thái Lan được coi là cửa ngõ vào Châu Á Vị trí này tạo cơ hội lớn cho Thái Lanthu hút nhiều khách quốc tế
Thái Lan có đường biên giới tiếp giáp với Malaysia ở phía nam, Myanmar ởphía tây, Lào ở đông bắc, và Campuchia ở đông nam Chính vì vậy nền văn hóaThái Lan phát triển từ rất sớm, kế thừa và pha trộn, ảnh hưởng nhiều nét độc đáocủa các dân tộc láng giềng tạo nên một Thái Lan với những bản sắc văn hóa riêng,hấp dẫn du khách
Mê Kông như Myanmar, Lào, Việt Nam và tỉnh Vân Nam – Trung Quốc Ở phíanam có rất nhiều hòn đảo xinh đẹp và có những bãi biển thuộc loại đẹp nhất ở châu
Á như Phuket, Pattaya Đây là một điều kiện thuận lợi để Thái Lan phát triển dulịch biển với các khu nghỉ dưỡng cao cấp [5]
Hệ động thực vật
Thái Lan có một hệ động thực vật phong phú Hiện nay Thái Lan có ít nhất 8loại rừng khác nhau, trong đó không những chỉ có rừng mưa nhiệt đới với các loại
Trang 27rừng lá hỗn hợp và rừng đước trên thủy triều mà còn có các loại rừng tre, thông vàmột số dạng ôn đới ở độ cao 1.600 mét
Vùng biển Inđô - Mã Lai là trung tâm của các loài sinh vật biển nên ở TháiLan có rất nhiều sinh vật biển sinh sống Ở các vùng biển của Thái Lan có hơn2.000 loài cá biển, chiếm 10% tổng các loài cá trên thế giới Thái Lan còn có xấp xỉ2.000 loài động vật thân mềm và 11.900 loài động vật không xương sống ở biển.Thái Lan có khoản 1.774 loài động vật xương sống ở cạn (động vật có vú, chim, bòsát, động vật lưỡng cư) Đây là quốc gia có nhiều loài động vật quý hiếm trên thếgiới sinh sống, nổi bật nhất là hổ, voi và bò tót khổng lồ [40]
Sự phong phú của các loài thực vật được thể hiện ở số lượng loài cây trongmột hecta đất rừng: đối với rừng nhiệt đới là hơn 100 loài/ha, đối với rừng hỗn hợp
là xấp xỉ 30 loài/ha, đối với rừng thường xanh là xấp xỉ 54 loài/ha Thái Lan nằmtrong vùng khí hậu nhiết đới ẩm nên thuận lợi cho sự phát triển của hệ động thựcvật nhiệt đới Thái Lan có xấp xỉ 15.000 loài thực vật, chiếm 8% tổng số loài thựcvật được tìm thấy trên thế giới [39]
2.1.2 Tài nguyên nhân văn
Du khách đến Thái Lan không những bị thu hút bởi cảnh sắc thiên nhiên tươiđẹp mà còn bởi nền văn hóa, các di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, các công trìnhvăn hóa vật thể và phi vật thể đặc trưng
Thái Lan có nhiều di tích lịch sử, mà điển hình là kinh đô cổ Ayutthaya vớinhiều di tích lâu đài, cung điện nguy nga Ngoài ra, với 95% dân số theo đạo Phật,Thái Lan là một xứ sở của chùa chiền với nhiều công trình Phật giáo đồ sộ Theo sốliệu thống kê năm 2008, Thái Lan có 40.717 chùa Phật giáo trên toàn quốc, trong đóchỉ tính riêng Bangkok cũng đã có hơn 400 ngôi chùa
Thái Lan còn là một đất nước của lễ hội Ở Thái Lan có những lễ hội truyềnthống của Phật giáo diễn ra trên toàn quốc như Magha Puja (các tín đồ tụ tập đểnghe đạo Phật), lễ Visakha (kỷ niệm các ngày phật đàn), lễ hội té nước Ngoài racác vùng miền lại có những lễ hội riêng như lễ hội đua thuyền, lễ hội hoa… ở miềnBắc, ở miền Nam thì các lễ hội có sự pha trộn giữa Hồi giáo và Phật giáo Các bộlạc trên núi, các tín đồ Hồi giáo có những lễ hội riêng đặc trưng của mình
Trang 282.1.3 Nguồn nhân lực
Theo số liệu thống kê đến năm 2008, 70,3% dân số Thái Lan đang trong độtuổi làm việc Đây là một điều kiện thuận lợi để Thái Lan có thể huy động nhân lựcphát triển ngành du lịch Ngoài ra, chất lượng nguồn nhân lực của Thái Lan khá tốt.Trình độ ngoại ngữ, tính chuyên nghiệp của các hướng dẫn viên du lịch Thái Lanluôn được du khách đánh giá cao
2.1.4 Cơ sở vật chất kĩ thuật
Cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại là một thuận lợi lớn đối với sự phát triển của
du lịch của Thái Lan Ở Thái Lan, hệ thống giao thông vận tải đường không, đườngsắt, đường bộ, đường biển đều được đầu tư phát triển Ngoài ra, hệ thống cơ sở vậtchất kĩ thuật riêng của ngành du lịch như cơ sở lưu trú, ăn uống, giải trí, mua sắm và
tổ chức sự kiện đều rất hiện đại, đáp ứng được nhu cầu của du khách Năm 2009,trong bảng xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh lữ hành và du lịch (Travel &Tourism Competitiveness Index - TTCI) của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WorldEconomic Forum - WEF) Thái Lan xếp thứ 40/133 nước về cơ sở hạ tầng du lịch[32]
Vào tháng 12 năm 2008 những người áo đỏ (ủng hộ cựu Thủ tướng Thaksin)biểu tình chống lại chính phủ, phong tỏa hai sân bay chính ở Bangkok trong vòng 1tuần khiến 350.000 du khách bị kẹt tại Thái Lan
Sang năm 2009 tình hình chính trị ở Thái Lan vẫn chưa hết bất ổn Vào 11/4các lực lượng áo đỏ xông vào nơi dự định tổ chức Hội nghị thượng đỉnh các Quốcgia khu vực Đông Nam Á (Association of Southeast Asia Nations – ASEAN) ở khunghỉ mát Pattaya Trong quý II năm 2009, sau khi Hội nghị cấp cao ASEAN tại
Trang 29Pattaya bị hủy bỏ, lượng khách du lịch tới Thái Lan cũng giảm hẳn, chỉ còn 2,9triệu lượt khách so hơn 3,5 triệu lượt khách cùng kỳ năm 2008 [10] Sự kiện này đãlàm cho ngành du lịch Thái Lan bị thiệt hại 200 tỷ baht và đánh mất 257.000 việclàm [43]
Gần đây nhất, vào ngày 12/3/2010 lực lượng áo đỏ lại tiến hành biểu tình ởthủ đô Bangkok yêu cầu thủ tướng Abhisit từ chức và giải tán quốc hội Cuộc biểutình biến thành bạo lực vào ngày 10/4 làm 21 người thiệt mạng và ít nhất 874 ngườikhác bị thương Từ đó đến nay thỉnh thoảng vẫn có người bị thiệt mạng hoặcthương tích trong cuộc biểu tình của những người áo đỏ 47 quốc gia đã cảnh báocông dân nên trì hoãn các chuyến du lịch tới Thái Lan Trong đó có 10 quốc gia đã
để tình trạng cảnh báo ở mức cao nhất [48]
2.2.2 Thảm họa tự nhiên
Nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới nóng ẩm nhiều mưa, lại tiếp giáp với
Ấn Độ Dương nên Thái Lan cũng phải thường xuyên đối đầu với những trận lũ lụt
và sóng thần
Gần đây nhất là trận sóng thần năm 2004, trận sóng thần này đã làm hơn5.000 người tại Thái Lan thiệt mạng trong đó có khoảng 2.000 du khách quốc tế.Trận sóng thần cũng đã nhấn chìm nhiều cơ sở vật chất của ngành du lịch như nhàhàng, khách sạn, các di tích lịch sử… 6 tỉnh bị ảnh hưởng đều là những trung tâm
du lịch lớn của Thái Lan có doanh thu từ du lịch chiếm 17% tổng doanh thu du lịchcủa cả nước Các vùng bị ảnh hưởng có tới 1.130 khách sạn với tổng số phòng là40.272 Thiệt hại đối với cơ sở vật chất du lịch ước tính lên tới 14.648,3 triệu baht[31]
2.2.3 Nạn dịch
Các nạn dịch như AIDS, SARS, cúm gia cầm H5N1 cũng là cản trở đối với
sự phát triển của ngành du lịch Thái Lan
Du lịch sex (Du lịch tình dục) là một loại hình du lịch hợp pháp và đem lạinguồn thu lớn cho ngành du lịch Thái Lan nhưng đây cũng chính là nguyên nhângây nên sự lây lan của đại dịch HIV/AIDS Kể từ năm 2006 trở lại đây trung bìnhmột năm Thái Lan có thêm khoảng 17.000 ca HIV/AIDS Tính đến năm 2009 Thái
Trang 30Lan có 516.000 ca nhiễm HIV/AIDS Đại dịch HIV/AIDS là một trong những hậuquả của sự phát triển du lịch sex ở Thái Lan và cũng chính là một mối đe dọa đốivới sự phát triển bền vững của ngành du lịch nước này
Năm 2003, dịch SARS bùng nổ khắp toàn cầu gây những thiệt hại nặng nềcho ngành du lịch thế giới và ngành du lịch Thái Lan cũng không phải ngoại lệ.Lượng khách du lịch quốc tế đến Thái Lan từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2003 (thời kìbùng nổ của dịch) giảm 30% so với cùng kì năm 2002 Doanh thu từ ngành du lịchgiảm 5% và ngành du lịch nước này bị thua lỗ 40 tỷ bath [38]
Vào ngày 3/1/2004 ở Thái Lan xuất hiện trường hợp nhiễm cúm gia cầmH5N1 đầu tiên và trong suốt tháng 2, tháng 3 nhiều du khách, đặc biệt là du khách
từ Trung Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan, Singapore đã hủy các chuyến dulịch đến Thái Lan
3 Thực trạng hoạt động của ngành du lịch Thái Lan
3.1 Số lượng và doanh thu
Nhìn chung, lượng khách quốc tế đến Thái Lan có xu hướng gia tăng theocác năm Sau đây là bảng thống kê về tình tình số lượng và doanh thu từ kháchquốc tế của Thái Lan [44]:
Bảng 2.1: Số lượng và doanh thu từ khách quốc tế của ngành du lịch Thái Lan
Tăng giảm so với năm trước
(%)
199
Trang 31( Nguồn: Tổng cục Du lịch Thái Lan, www2.tat.or.th/stat/web/static_index.php)
(1baht=0,030995 USD theo tỷ giá liên ngân hàng ngày 10/05/2010)
Năm 1998 TAT phát động chiến dịch “Amazing Thailand” (“Sửng sốt TháiLan”) để thu hút du khách Từ tháng 11 đến tháng 12 năm 1998 chiến dịch đại hạgiá “Grand sale” được khởi động Các trung tâm mua sắm, các cửa hàng đã hợp táccùng nhau và mức giá được giảm tới 70% Lượng du khách đến tham dự Asiangames lần thứ 13 cũng là một nhân tố góp phần giúp du lịch Thái Lan đón 7,76 triệu
du khách quốc tế, tăng 9,7% so với năm 1997
Vào năm 2000, doanh thu của ngành du lịch Thái Lan tiếp tục tăng 12,75
% đạt 285.272 triệu baht Chiến dịch “Amazing Thailand” tiếp tục góp phần giúp
du lịch nước này đạt được mức tăng trưởng trong năm 2001 và 2002
Năm 2003 được coi là một năm tồi tệ của ngành du lịch Thái Lan Lượngkhách du lịch giảm 800.000 người, tương đương giảm 7,36% so với năm trước Đâychính là do hậu quả của cuộc chiến tranh Iraq và sự bùng nổ của nạn dịch SARS
Trang 32Năm 2004 với nhiều biện pháp khắc phục ngành du lịch Thái Lan đã cónhững bước phục hồi Thái Lan đã đón 11,73 triệu du khách, tăng 16,42% so vớinăm 2003 Doanh thu tăng 84 tỷ baht, tương đương mức tăng 24,28%
Sang năm 2005, Thái Lan là một trong 3 quốc gia được Hội đồng Du lịch và
Lữ hành Thế giới (World Travel and Tourism Council – WTTC) công bố chịu ảnhhưởng nặng nề nhất của thảm họa sóng thần vào tháng 12 năm 2004 bên cạnhMaldives và Sri Lankan Tuy nhiên Chính phủ Thái Lan đã có những biện pháptăng cường hỗ trợ marketing, quảng bá khôi phục hình ảnh du lịch Thái Lan nênlượng khách vào Thái Lan chỉ giảm 13.000 người, tương đương giảm 1,51% so vớinăm trước
Năm 2006, bất chấp cuộc đảo chính quân sự và những bất ổn về chính trịThái Lan vẫn có mức tăng kỉ lục trong số lượng du khách với mức tăng 20,1% sovới năm 2005, đạt 13,38 triệu du khách Doanh thu cũng đạt mức tăng cao 31,29%.Một trong những nhân tố góp phần tạo nên mức tăng trưởng ấn tượng này là chiếndịch “Lễ hội siêu giảm giá Thái Lan 2006”
Năm 2007 Thái Lan đón 14,46 triệu du khách quốc tế, thu về 547.319 triệubaht Sang năm 2008 và năm 2009 du lịch Thái Lan phải gánh chịu những ảnhhưởng từ cuộc khủng hoảng chính trị trong nước và cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu.Tuy nhiên, với những biện pháp tích cực của TAT năm 2008 lượng khách quốc tếđến Thái Lan vẫn tăng 5,26% so với năm 2007, đạt 15,22 triệu người, mức doanhthu đạt 683.535 triệu baht, tăng 24,9% Sang năm 2009 lượng khách du lịch giảm8%, đạt 14,09 triệu người trong khi đó doanh thu đạt 527.013 triệu baht, giảm2,97% [46]
Năm 2010, cuộc biểu tình của phe áo đỏ đã gây những thiệt hại nặng nề chongành du lịch Thái Lan Lượng khách du lịch quốc tế đến Thái Lan trung bình hàngngày chỉ đạt 20.000 người thay vì 30.000 người như trước thời điểm cuộc biểu tìnhdiễn ra Theo ông Suraphon Tổng cục trưởng của TAT cuộc biểu tình trong tháng 3
và tháng 4 đã làm doanh thu của ngành du lịch Thái Lan thiệt hại 2,5 tỷ baht trongtháng 3 và 5 tỷ baht trong tháng 4 [48]
3.2 Cơ cấu khách du lịch
Trang 33Trong cơ cấu khách du lịch đến Thái Lan, phần lớn vẫn là du khách Châu Á,trong đó chủ yếu là du khách đến từ Đông Á Tiếp đó là du khách đến từ Châu Âu,Châu Mỹ, Châu Đại Dương, Trung Đông và Châu Phi
Trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế châu Á 1997-1999 top 10 nước cólượng khách đến Thái Lan đông nhất là Nhật Bản, Malaysia, Trung Quốc,Singapore, Đài Loan, Hồng Kông, Anh, Mỹ, Đức, Australia Trong giai đoạn 2000-
2009 lượng khách đến từ Hàn Quốc gia tăng mạnh, giúp Hàn Quốc đứng vào top 10nước có lượng khách đến Thái Lan đông nhất thay cho Australia
Đối với khu vực Châu Á, lượng khách đến từ Đông Á luôn chiếm hơn mộtnửa lượng khách quốc tế đến Thái Lan do những thuận lợi trong vị trí địa lý Lượngkhách đến từ Đông Á chiếm khoảng 60% thị phần (Tham khảo phụ lục 1)
Số liệu thống kê trong năm 2008 được tính căn cứ vào quốc tịch của dukhách Theo đó, lượng khách Đông Á đạt 7.612.912 người, chiếm 52,37%, trong đóchủ yếu là khách đến từ Malaysia (1.825.379 người) [42] Sang năm 2009, lượngkhách đến từ Đông Á vẫn chiếm thị phần lớn nhất, 53,02% với 7.470.518 người
So với khu vực Đông Á, lượng khách đến từ Nam Á chiếm một phần nhỏhơn, trung bình 3,5% thị phần toàn thế giới giới (Tham khảo phụ lục 1) Năm 2008,lượng khách đến từ Nam Á đạt 7.611.931 người, chiếm 52,63% thị phần toàn thếgiới [42]
Châu Âu đứng vị trí số 2 trong số các khu vực có đông du khách tới TháiLan, với thị phần trung bình 23,5% Trong năm 2003 do ảnh hưởng của dịch SARS,lượng khách đến từ Châu Âu giảm 7,33% Năm 2005 mặc dù bị ảnh hưởng củasóng thần nhưng lượng khách Châu Âu đến Thái Lan không hề giảm mà vẫn tăng2,28% (Tham khảo phụ lục 2)
Theo số liệu thống kê năm 2008 dựa vào quốc tịch của du khách, lượng dukhách Châu Âu đạt 3.957.096 người, chiếm 27,2% [42] Sang năm 2009, lượngkhách châu Âu đến Thái Lan đạt 4.055.118 người, tăng 1,77 % so với năm 2008[46]
Châu Mỹ đứng ở vị trí thứ 3 trong danh sách các khu vực có đông du kháchtới Thái Lan với thị phần trung bình 6% Lượng du khách từ Châu Mỹ đến Thái Lan
Trang 34có xu hướng gia tăng theo các năm, trung bình khoảng 700.000 người/năm Mỹ vàCanada là hai quốc gia Châu Mỹ có lượng khách du lịch đến Thái Lan đông nhất(Tham khảo phụ lục 3) Theo số liệu thống kê dựa vào quốc tịch, năm 2008 TháiLan đón 902.546 khách du lịch Châu Mỹ, chiếm 6,21% thị phần [42]
Lượng khách đến từ Châu Đại Dương trung bình chiếm khoảng 4% thị phầntrên thế giới, trong đó chủ yếu là du khách đến từ Canada và New Zealand (Thamkhảo phụ lục 4) Theo số liệu thống kê dựa vào quốc tịch, năm 2008 Thái Lan đón792.506 khách du lịch từ châu Đại Dương, chiếm 5,45% thị phần toàn thế giới [42]
Thị phần của khách du lịch Trung Đông đến Thái Lan chỉ chiếm từ 2% - 3%,với lượng khách dao động từ mức 200.000 đến 400.000 người (Tham khảo phụ lục5) Theo số liệu thống kê dựa vào quốc tịch, năm 2008 Thái Lan đón 449.395 khách
du lịch Trung Đông, chiếm 5,45% thị phần [42] Năm 2009, lượng khách đến từTrung Đông tăng 10%, đạt 494.382 người Du lịch chữa bệnh là loại hình du lịchcủa Thái Lan được khách du lịch Trung Đông hết sức ưa chuộng
Châu Phi là khu vực có số khách du lịch đến Thái Lan thấp nhất Trong giaiđoạn 1998-2007 thị phần của khách du lịch châu Phi vẫn chưa đạt mức 1% (Thamkhảo phụ lục 6) Theo số liệu thống kê dựa vào quốc tịch, năm 2008 Thái Lan đón117.572 khách du lịch châu Phi, chiếm 0,81% thị phần toàn thế giới [42]
4 Tác động của du lịch đối với Thái Lan
4.1 Tác động tích cực (phần 4.1 trước kia là phần 3 Vai trò của ngành du lịch trong nền kinh tế Thái Lan)
Sự phát triển của du lịch đã tạo nên tác động tích cực đối với nền kinh tếThái Lan Thành công của ngành du lịch không những đóng góp tích cực vào tốc độtăng trưởng kinh tế của quốc gia này, mà còn góp phần mở rộng một số ngành côngnghiệp có liên quan như khách sạn, nhà hàng, vận chuyển… đóng góp làm tăngGDP, tạo công ăn việc làm cho một lượng lớn người lao động, thúc đẩy xuất khẩu
Du lịch là một trong những lĩnh vực đem lại nguồn ngoại tệ lớn cho TháiLan Mỗi năm ngành du lịch mang lại khoản thu 450 tỷ baht (khoảng 15,4 tỷ USD)cho Thái Lan, chiếm hơn 6% GDP Vào năm 2009, ngành du lịch Thái Lan đem lại
Trang 3516 tỷ USD Hiện nay ngành du lịch Thái Lan tạo ra hơn 2 triệu việc làm, chiếm tới7% lực lượng lao động của cả nước [51]
4.2 Tác động tiêu cực (Trước kia là phần 5.2 – hạn chế của ngành du lịch Thái Lan nhưng theo em tình trạng mại dâm, buôn người, ô nhiễm môi trường là tác động tiêu cực của du lịchThái Lan hơn là hạn chế Hạn chế duy nhất của nó mà
em tìm được là quá lạm dụng du lịch sex ạ )
Bên cạnh những tác động tích cực sự phát triển của du lịch đã đem lại nhữngtác động tiêu cực nhất định đối với Thái Lan
Với tình trạng lạm dụng quá mức hình thức du lịch sex, Thái Lan đã trởthành một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất bởi căn bệnhAIDS ở châu Á Đại dịch HIV bùng nổ ở Thái Lan vào cuối những năm 1980 1/5các trường hợp lây nhiễm HIV/AIDS ở Thái Lan là do quan hệ tình dục Đặc biệttheo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization - WHO) vàonăm 1989 có tới 40% gái mại dâm hoạt động trong du lịch sex ở thành phố ChiangMai bị nhiễm HIV Vào năm 1997, có tới 20% gái mại dâm hoạt động trong du lịchtình dục ở nông thôn bị nhiễm HIV dương tính Từ năm 2003 đến 2005 tỷ lệ lâynhiễm HIV do quan hệ tình dục ở Thái Lan tăng từ 17% đến 28% [53]
Một vấn đề cũng đáng báo động là tình trạng lạm dụng tình dục trẻ em vànạn buôn người Số lượng trẻ em bán dâm ở Thái Lan dao động từ 200.000 đến800.000 người Thái Lan luôn là một điểm nóng về nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em
Kể từ năm 1990 đến 1997, 80.000 phụ nữ và trẻ em đã bị bán sang Thái Lan đểphục vụ cho ngành công nghiệp tình dục, hầu hết là từ Myanmar, Lào, Trung Quốc,Việt Nam, Nga [39] Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nạn buôn người đã giảm
đi đáng kể do Chính phủ Thái Lan đã đưa điều luật chống buôn người vào thi hành
Dù sao đây cũng là vấn đề hết sức nghiêm trọng, làm suy đồi đạo đức, giá trị vănhóa truyền thống của đất nước Thái Lan
Ngoài ra cũng như các quốc gia khác trên thế giới Thái Lan đang phải đốimặt với tình trạng ô nhiễm môi trường tự nhiên do sự phát triển của du lịch Nhiềubãi biển nguyên sơ ở nơi đây bị tàn phá nặng nề như bãi biển Patong nổi tiếng ở
Trang 36Phuket không thể tắm được nữa, kênh đào Mae Kah ở Chiang Mai đen đặc và ônhiễm nặng nề
5 Đánh giá về ngành du lịch Thái Lan
5.1 Thành tựu
Trong tiến trình phát triển của mình ngành du lịch Thái Lan đã khẳng địnhđược thương hiệu du lịch uy tín Những thành tựu của ngành du lịch Thái Lan đạtđược đã được các tổ chức quốc tế có uy tín đánh giá
Trong 8 năm liên tiếp 2002-2009, Thái Lan được tạp chí Travel News củaThụy điển bình chọn là “Điểm du lịch tốt nhất thế giới” Trong 7 năm liên tiếp2003-2009, Thái Lan được tạp chí Travel News của Na Uy bình chọn là “Điểm dulịch tốt nhất thế giới” Trong năm 2008, Thái Lan đã dành được tổng cộng 187 giảithưởng do các tổ chức quốc tế bình chọn Trong đó đáng lưu ý như các giải thưởng
về môi trường do Hiệp hội Du lịch châu Á - Thái Bình Dương (PATA – PacificAsia Travel Association) bình chọn, giải thưởng “Địa điểm du lịch gia đình tốt nhấtthế giới” do tạp chí Today’s traveller của Ấn Độ bình chọn, giải thưởng “Thươnghiệu uy tín về thiên đường du lịch” do các nhà lãnh đạo du lịch Hồng Kông bìnhchọn…
Năm 2009, bất chấp sự sụt giảm của ngành du lịch toàn cầu, ngành du lịchThái Lan đã dành được nhiều giải thưởng và đạt được thứ hạng cao trong các cuộcbình chọn Điều này đã thể hiện uy tín của ngành du lịch Thái Lan cũng như chấtlượng sản phẩm và dịch vụ du lịch của Thái Lan Thái Lan dành được nhiều giảithưởng như: “Địa điểm du lịch du thuyền được ưu thích ở châu Á”, “Địa điểm dulịch được ưa thích nhất” do Câu lạc bộ các khách sạn bình, “Điểm đến thân thiệnnhất dành cho những người xa xứ” theo cuộc điều tra của ngân hàng HSBC, “Địađiểm du lịch trăng mật lý tưởng nhất cho du khách Tây Ban Nha” do câu lạc bộGood Tourism bình chọn… Cũng trong năm 2009 trong danh sách 50 và danh sách
500 khách sạn tốt nhất thế giới do độc giả của tờ Travel Leisure Magazine - một tờbáo có uy tín tại Bắc Mỹ bình chọn có tới 19 khách sạn của Thái Lan
5.2 Hạn chế
Trang 37Bên cạnh những thành tựu đạt được ngành du lịch Thái Lan vẫn còn hạn chếnhất định đó là sự lạm dụng quá mức hình thức du lịch sex dẫn đến các tệ nạn xãhội, tình trạng lạm dụng tình dục trẻ em và nạn buôn người Đây là một bài học màcác quốc gia theo sau nên rút kinh nghiệm để không đi theo “vết xe đổ”
II Kinh nghiệm của Thái Lan trong phát triển ngành du lịch
1 Kinh nghiệm trong quản lý du lịch
du lịch có nhiệm vụ bảo tồn những điểm du lịch hiện có và phát triển các địa điểm
du lịch mới hấp dẫn Văn phòng này phải liên kết chặt chẽ với chính quyền địaphương vì hiến pháp Thái Lan cho phép chính quyền địa phương được quyền pháttriển và quản lý các sản phẩm du lịch Văn phòng này cũng có nhiệm vụ quản lý cáchoạt động liên quan như thu hút các nhà làm phim nước ngoài để tăng thêm nguồnthu nhập Bên cạnh đó Chính phủ Thái Lan cũng đã thiết lập cảnh sát du lịch từ năm
1982 để bảo vệ cho du khách Chính sự phân công rõ ràng trách nhiệm đã tạo thuậnlợi cho công tác quản lý ở Thái Lan
Sự liên kết chặt chẽ giữa khu vực nhà nước và tư nhân trong ngành du lịchThái Lan cũng hết sức chặt chẽ Theo điều 18 của bộ luật B.E.2522 (1979), bangiám đốc của TAT bao gồm 11 thành viên của cả khu vực nhà nước và tư nhân.Ngoài ra còn có các nhóm chuyên gia cố vấn cao cấp (có sự tham gia của tư nhân)hàng năm cung cấp thông tin hai chiều, giúp hoạch định và đồng bộ hóa các hoạtđộng của khu vực nhà nước và tư nhân Các nhóm chuyên gia cố vấn giúp TAThoạch định kế hoạch tương lai cho phát triển ngành và phân bổ ngân sách Các hoạt
Trang 38động bao gồm vận động hành lang để đơn giản hóa chính sách visa, xúc tiến việcmua sắm, tổ chức các lễ hội mua sắm, tổ chức các triển lãm, hội chợ về du lịch vàcác hoạt động khác đều có sự tham gia của tư nhân Hội đồng Du lịch Thái Lan làmột tổ chức của tư nhân chịu trách nhiệm liên lạc với khu vực nhà nước [33]
Ngoài ra, các doanh nghiệp trong ngành du lịch Thái Lan cũng hợp tác chặtchẽ với nhau thông qua việc thành lập các hiệp hội cấp quốc gia như Hiệp hội SpaThái Lan (Thailand Spa Association - TSPA), Hiệp hội các Đại lý du lịch Thái Lan(Association of Thai Travel Agents - ATTA), Hiệp hội du lịch MICE Thái Lan(Thailand Incentive and Convention Association - TICA), Hiệp hội Khách sạn TháiLan (Thailand Hotels Association - THA), Hiệp hội Du lịch nội địa (TheAssociation of Domestic Travel - ADT), Hội đồng Du lịch Thái Lan (TourismCouncil of Thailand), Hiệp hội các nhà điều hành tour chuyên nghiệp (ProfessionalTour Guide Assiciation), Hiệp hội du lịch mạo hiểm và sinh thái Thái Lan (ThaiEco-tourism And Adventure Association) Chính sự thành lập các hiệp hội này đãgiúp các doanh nghiệp hợp tác với nhau cùng vì lợi ích chung, tránh sự cạnh tranhkhông lành mạnh Đây cũng là nguyên nhân giúp giá tour ở Thái Lan có tính cạnhtranh trong khu vực và trên thế giới bởi vì các dịch vụ được tổ chức khép kín và liênkết với nhau (phần này là bổ sung)
1.2 Trong xây dựng chính sách
1.2.1 Chính sách xuất nhập cảnh
Thái Lan là một trong những quốc gia tiên phong trong việc thực hiện chínhsách “Bầu trời mở” Thái Lan đã có những biện pháp để đơn giản hóa thủ tục visacho công dân các nước vào du lịch Thái Lan
Hiện nay công dân của 41 quốc gia và 1 khu vực hành chính đặc biệt - HồngKông không cần visa vào Thái Lan nếu đến Thái Lan với mục đích du lịch và ở lạikhông quá 30 ngày đối với mỗi lần viếng thăm Nếu như công dân của những nướcđến du lịch Thái Lan thông qua các điểm nhập cảnh ở các nước tiếp giáp biên giớivới Thái Lan thì sẽ được miễn visa du lịch trong thời hạn 15 ngày, ngoại trừ côngdân Malaysia được miễn visa du lịch nếu lưu trú không quá 30 ngày Thái Lan đã cóthỏa thuận song phương về miễn visa với các nước như Brazil, Hàn Quốc và Pê ru,
Trang 39Ác-hen-ti-na, Chi Lê Các thỏa thuận này cho phép công dân các nước trên có hộchiếu ngoại giao hay phổ thông đều được miễn visa đối với mỗi lần viếng thămThái Lan không quá 90 ngày [40]
Công dân nước ngoài viếng thăm Thái Lan với mục đích kinh doanh có thểdùng visa loại “B” trong vòng 3 năm Loại visa này được phát hành cho giới doanhnhân và có giá trị trong vòng 3 năm, cho phép người giữ visa có thể viếng thămthường xuyên mà không cần xin visa cho mỗi lần đi trong thời hạn 3 năm và ở tạicác khách sạn của Thái Lan trong thời gian không quá 90 ngày đối với mỗi lầnviếng thăm [40]
Ngoài ra tại các điểm xuất nhập cảnh đã có những thay đổi nhằm làm giảmbớt các thủ tục phức tạp, tốn thời gian Năm 2007, Thái Lan được xếp thứ 15/127nước về những cải tiến trong thủ tục visa
Ngoài ra, các địa điểm bán hàng thủ công địa phương của Thái Lan cũngđược chính phủ miễn thuế Các công ty lữ hành có thu nhập thấp hơn 600.000 bahtcũng được miễn thuế VAT Trong những giai đoạn khó khăn như cuối năm 2008chính phủ Thái Lan đã đồng ý khấu trừ thuế 200% đối với các chi phí phát sinhtrong việc tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề và đào tạo du lịch trong nước.Biện pháp này sẽ được kéo dài đến hết tháng 3/2011 [50]
1.3 Trong ứng phó với khủng hoảng
1.3.1 Dịch SARS
Năm 2003 dịch SARS gây thiệt hại lớn cho ngành du lịch Thái Lan Lượngkhách Châu Âu giảm 70% còn khách Châu Á giảm 90% Dịch SARS đã trực tiếpgây thiệt hại 1 triệu USD cho ngành du lịch Thái Lan Các khách sạn, các doanh
Trang 40nghiệp kinh doanh du lịch và lữ hành đã nghiêm chỉnh tuân theo những quy địnhcủa Bộ Y tế Thái Lan
Do có những quy định nghiêm ngặt, Thái Lan không có trường hợp nào tửvong TAT đã đưa ra gói xúc tiến du lịch 70 triệu USD trong vòng 6 tháng, và góicứu trợ 25.000 USD dành cho các buổi biểu diễn đường phố Chính Thủ tướng TháiLan đã thông báo rằng bất cứ gia đình nào có du khách bị chết do nhiễm SARS ởThái Lan sẽ được bồi thường 100.000 USD Chính phủ cũng có những biện pháp hỗtrợ cấp tín dụng đối với các doanh nghiệp có tính thanh khoản bị ảnh hưởng bởidịch SARS Các doanh nghiệp cũng hưởng ứng cùng với chính phủ bằng cách tăngcường quảng bá tại nước ngoài, giảm giá các dịch vụ liên quan Các công ty lữ hành
đã giảm giá tới 70% cho những gói du lịch kết hợp cả dịch vụ lưu trú và máy bay.Bốn hãng hàng không (Thai Airways International, Bangkok Airways, AirAndaman and Phuket Air) đã đưa ra mức giám giá vé máy bay tới 25% Các sảnphẩm và dịch vụ du lịch chất lượng cao ở các địa điểm như Bangkok, Chiang Mai,Hat Yai, Pattaya, Phuket, Korat, Surat Thani và trên toàn quốc cũng đưa ra mứcgiảm từ 10%-80% Chính những biện pháp hữu hiệu đã giúp du lịch Thái Lan đạtmức tăng trưởng 16% vào năm 2004 trước khi xảy ra trận sóng thần vào sáng26/12/2004 [34]
1.3.2 Dịch cúm gia cầm
Dịch cúm gia cầm bùng nổ ở Thái Lan vào năm 2004, tuy nhiên ngành dulịch Thái Lan không bị ảnh hưởng nặng bởi nạn dịch này do biện pháp ứng phó kịpthời và hiệu quả
Thủ tướng Thái Lan lúc bấy giờ Thaksin đã cùng các thành viên trong chínhphủ ăn cơm trưa bằng thịt gà và bữa cơm này được phát sóng trên truyền hình vớimục đích tuyên truyền với người dân địa phương và khách du lịch rằng thịt gà TháiLan hoàn toàn an toàn Cùng với sự hỗ trợ của Chính phủ, PATA đã tiến hành mộtchương trình để xây dựng lại uy tín của du lịch Thái Lan, cung cấp thông tin về dịchcúm cho du khách Thai Airways đã phát động chương trình “Most Hygienic In-cabin Environment”(tạm dịch là “Môi trường trong cabin đảm bảo vệ sinh nhất”)trong đó đề ra những tiêu chuẩn vệ sinh cao hơn cả tiêu chuẩn của WHO đề ra Các