1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của ngành du lịch trong nèn kinh tế và biện pháp phát triển bền vững du lịch việt nam

81 361 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 508 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau hội nghị thượng đỉnh của trái đất họp tại Rio de Janeiro – Braxin từ ngày3-14/6/1992 thì: “Phát triển bền vững được hình thành trong sự hoà nhập, xen càithoả hiệp của ba hệ thống tươ

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan mọi số liệu cũng như nghiên cứu trong chuyên đề này làhoàn toàn không sao chép từ bất kì một đề tài cũng như luận văn nào khác ,nếu cóđiều gì sai sót và vi phạm em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước nhà trường vàpháp luật

Trang 2

tư ), anh Thắng ( phó vụ trưởng vụ Kinh tế dịch vụ - Bộ Kế Hoạch và Đầu tư) đãgiúp đỡ em trong thời gian thực tập vừa qua giúp em đạt được hiệu quả tốt nhất

Trang 3

MỤC LỤC

Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển bền vững du lịch 1

I) Các khái niệm về du lịch và vai trò của du lịch đối với phát triển kinh tế xã hội 1

1) Khái niệm về du lịch và các loại hình du lịch 1

1.1 Khái niệm về du lịch 1

1.2 Các loại hình du lịch 2

1.3 Vai trò và vị trí của du lịch đối với phát triển kinh tế xã hội 3

2.Phát triển du lịch bền vững 4

3.Các tiêu chí đánh giá phát triển bền vững du lịch 4

3.1.Dấu hiệu về kinh tế 4

3.1.1 Số lượng khách du lịch quay trở lại lần thứ hai 4

3.1.2 Hiệu quả hoạt động của các điểm du lịch đã được quy hoạch 6

3.2.Dấu hiệu về xã hội 6

3.2.1 Mức độ đóng góp của ngành du lịch cho phát triển kinh tế, xã hội địa phương 6

3.2.2.Mức độ đóng góp của cộng đồng địa phương vào các hoạt động du lịch 7

3.3.Dấu hiệu về môi trường 8

3.3.1 Tỷ lệ các khu , điểm du lịch được bảo vệ 8

3.3.2 Quản lý áp lực môi trường tại các điểm du lịch 9

3.3.3 Mức độ đóng góp của ngành du lịch cho công tác bảo tồn, tôn tạo 9

3.4.Một số dấu hiệu khác 10

3.4.1 Tăng trưởng về đầu tư cho du lịch 10

3.4.2 Tỷ lệ GDP du lịch trong cơ cấu GDP cả nước 10

III) Sự cần thiết phát triển du lịch bền vững 10

1 Do tính chất của ngành du lịch 11

2 Do tác động môi trường của du lịch 11

2.1 Tác động của du lịch lên các yếu tố sinh thái tự nhiên 11

2.2 Tác động của du lịch lên xã hội - nhân văn 11

3 Lợi ích của phát triển du lịch bền vững 12

4 Những nguyên tắc phát triển du lịch bền vững 12

4.1.Sử dụng nguồn lực một cách bền vững 12

4.2 Giảm sự tiêu thụ quá mức và giảm chất thải 13

Trang 4

4.3 Duy trì tính đa dạng 14

4.4.Hợp nhất du lịch vào quá trình quy hoạch 15

4.4.1 Du lịch và hoạch định chiến lược phát triển 16

4.4.2 Du lịch và đánh giá tác động môi trường 16

Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch bền vững 17

của vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long 17

I Giới thiệu về vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long và tiềm năng du lịch của vùng: 17

1 Những nhận định chung 17

2.Tiềm năng du lịch của Đồng Bằng Sông Cửu Long 17

2.1.Tài nguyên du lịch thiên nhiên 17

2.1.1 Địa hình 17

2.1.2.Khí hậu 19

2.1.3.Thuỷ văn 19

2.1.4.Sinh vật 20

2.1.5.Sự phân bố tài nguyên du lịch tự nhiên theo địa phương 21

2.2.Tài nguyên du lịch nhân văn 23

2.2.1 Tài nguyên du lịch nhân văn 23

2.2.3 Đánh giá chung về tài nguyên nhân văn 25

III) Thực trạng phát triển bền vững du lịch Đồng Bằng Sông Cửu Long 26

1 Về kinh tế 26

1.1.Khách du lịch 26

1.1.1 Khách du lịch quốc tế 26

1.1.2.Khách du lịch nội địa 30

1.1.3 Đánh giá chung về khách du lịch 33

1.2.Doanh thu từ du lịch 34

1.2.1.Doanh thu 34

1.2.2.Giá trị gia tăng ngành du lịch 35

2 Về xã hội 35

2.1 Hiện trạng lao động trong du lịch 35

2.1.1 Số lượng 35

2.1.2 Chất lượng 36

2.1.3.Thu nhập và việc làm 37

2.2 Kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch 37

2.2.1 Giao thông vận tải 37

Trang 5

2.2.2 Hạ tầng cơ sở điện, nước 44

2.2.3 Bưu chính viễn thông 47

2.2.4 Đánh giá về cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển du lịch 48

3 Về môi trưòng 49

3.1 Ô nhiễm nước 49

3.2 Thực trạng khai thác quá mức tài nguyên du lịch 50

3.3 Vần đề bảo vệ môi trường ở các điểm du lịch 50

3.4 Vấn đề nhận thức môi trường 51

Chương 3: Giải pháp phát triển bền vững du lịch Đồng Bằng 52

Sông Cửu Long trong giai đoạn 2011-2020 52

I Định hướng phát triển du lịch Đồng Bằng Sông Cửu Long thời kỳ 2011-2020. 52

1.Quan điểm và mục tiêu phát triển bền vững du lịch Đồng Bằng Sông Cửu Long 52

1.1.Quan điểm 52

1.2 Mục tiêu phát triển 53

1.2.1 Mục tiêu kinh tế 53

1.2.2 Mục tiêu văn hoá xã hội 53

II.Một số giải pháp chủ yếu để phát triển bền vững du lịch Đồng Bằng Sông Cửu Long 54

1.Giải pháp về phía nhà nước , chính quyền địa phương 54

1.1 Giải pháp về cơ chế chính sách 54

1.2 Giải pháp về tổ chức quản lí và hoàn thiện qui hoạch 56

1.2.1 Công tác tổ chức quản lí qui hoạch 56

1.2.2.Công tác hoàn thiện qui hoạch 57

1.3.Xây dựng kết cấu hạ tầng 57

1.4 Tôn tạo các di tích văn hoá - lịch sử và phát triển lễ hội truyền thống phục vụ du lịch 58

1.5.Bảo vệ môi trường 59

2.Giải pháp về phía các công ty du lịch : 60

2.1 Giải pháp về đào tạo phát triển nguồn nhân lực 60

2.2 Giải pháp về thị trường , xúc tiến phát triển du lịch, hợp tác quốc tế 61

2.3.Đầu tư 63

2.3.1 Giải pháp về cơ cấu đầu tư 63

2.3.2.Giải pháp về vốn 64

Trang 7

Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển bền vững du lịch

I) Các khái niệm về du lịch và vai trò của du lịch đối với phát triển kinh

Vào năm 1941, các giáo sư Thụy Sĩ là Hunziker và Krapf đã đưa ra địnhnghĩa: “Du lịch là tổng hợp các hiện tượng và các mối quan hệ nảy sinh từ việc đilại và lưu trú của những người ngoài địa phương-người không có mục đích định cư

và không liên đến bất kỳ hoạt động kiếm tiền nào” Với khái niệm này du lịch mới

chỉ được giải thích ở hiện tượng đi du lịch

Theo Guer Freuler, du lịch là một hiện tượng thời đại của chúng ta dựa trên

sự tăng trưởng của nhu cầu khôi phục sức khỏe và sự thay đổi của môi trường xungquanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp của tự nhiên

Theo nhà kinh tế Kalfiotis, du lịch là sự di chuyển tạm thời của cá nhân haytập thể từ nơi này đến nơi khác nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, đạo đức do đó tạonên các hoạt động kinh tế

Theo M.Coltman, du lịch là tổng thể những hiện tượng và những mối quan

hệ phát sinh từ tác động qua lại lẫn nhau giữa khách du lịch, nhà kinh doanh du lịchchính quyền sở tại và cộng đồng dân cư dịa phương trong quá trình thu hút và lưugiữ khách du lịch

Theo quan điểm của Robert W.Mc Intosh, Charles R.Goeldner, J.RBrentRitcie du lịch là tổng hợp các mối quan hệ nảy sinh từ tác động qua lại giữa khách

du lịch, nhà cung ứng, chính quyền sở tại và cộng đồng dân cư chủ nhà trong quátrình thu hút và đón khách du lịch

Với cách tiếp cận tổng hợp ấy, các thành phần tham gia vào hoạt động du lịch:

Trang 8

-Khách du lịch

-Các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách du lịch

-Chính quyền sở tại

-Cộng đồng dân cư địa phương

Theo định nghĩa của tổ chức du lịch thế giới (UNWTO):

“Du lịch được hiểu là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt độngkinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bênngoài nơi cư trú thường xuyên của họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến khôngphải là nơi làm việc của họ”

Tại Việt Nam, mặc dù du lịch là một lĩnh vực khá mới mẻ nhưng các nhànghiên cứu của Việt Nam cũng đưa ra các khái niệm xét trên nhiều góc độ khác nhau

Thứ nhất: du lịch trên góc độ cầu-góc độ người đi du lịch: Du lịch là một dạngnghỉ dưỡng sức, tham gia tích cực của con người nơi cư trú với mục đích nghỉ ngơi,giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật

Thứ hai: du lịch được xem xét trên góc độ một ngành kinh tế: Du lịch là mộtngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về tựnhiên, truyền thống, lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tìnhyêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặtkinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn có thể coi là hìnhthức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ

Luật du lịch Việt Nam đã nêu ra khái niệm về du lịch như sau: “du lịch là cáchoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyêncủa mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí nghỉ dưỡng trong 1khoảng thời gian nhất định”

1.2 Các loại hình du lịch

Ngày nay tồn tại một số loại hình du lịch chủ yếu là:

Du lịch biển: là loại hình du lịch lấy biển làm nơi diễn ra các hoạt động nghỉ

ngơi, vui chơi, giải trí của du khách Loại hình du lịch này có lịch sử phát triển từ rấtsớm và ngày càng phát triển mạnh mẽ bởi vẻ đẹp tự nhiên và lợi ích mà nó mang lại

Trang 9

Các hoạt động du lịch biển rất đa dạng và phong phú, bao gồm du lịch bằngthuyền, du lịch lặn, bơi lội, hoạt động thể thao trên biển,

Du lịch sinh thái: là du lịch hòa mình vào thiên nhiên với rất nhiều mục tiêu

khác, chủ yếu liên quan tới các yếu tố tự nhiên có khí hậu trong lành, ít bị tác độngcủa con người như rừng, núi Các hoạt động diễn ra chủ yếu là leo núi, thám hiểm,trượt tuyết, khám phá tự nhiên Trong du lịch sinh thái, xu hướng du lịch điền dã,đến các làng quê, bản làng đang thu hút ngày càng nhiều khách du lịch như du lịchkênh rạch, du lịch miệt vườn,

Du lịch văn hóa : là loại hình mà du khách muốn thẩm nhận bề dày lịch sử, bề

dày văn hóa của mỗi vùng Khách du lịch đến đó và khám phá những đặc trưng củavùng đó, thăm những khu di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, đền, chùa,, nhà thờ, Chẳng hạn như du lịch ở cố đô Huế, phố cổ Hội An, Quốc Tử Giám-Hà Nội,…

Du lịch làng nghề : là loại hình du lịch mà du khách đến với mục đích tìm

hiểu, khám phá những ngành nghề trưyền thống của vùng đó Chẳng hạn du lịchlàng nghề Bát Tràng- Hà Nội,

Du lịch mua sắm : Đây là loại hình du lịch mới xuất hiện, du khách đi du

lịch kết hợp với việc mua sắm

1.3 Vai trò và vị trí của du lịch đối với phát triển kinh tế xã hội

Ngày nay, du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và chiếm vị trí hếtsức quan trọngtrong đời sống kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới Kinh tế dulịch được coi là ngành công nghiệp không khói, ngành dịch vụ, kinh doanh hoạtđộng trong lĩnh vực cung ứng sản phẩm du lịch, thoả mãn nhu cầu cho du khách,nhằm đem lại lợi ích kinh tế, chính trị , xã hội thiết thực cho đất nước

Phát triển kinh tế nói chung và ngành kinh tế du lịch nói riêng có mối quan

hệ như giữa tổng thể và bộ phận Phát triển kinh tế bền vững tạo ra một khuôn khổchung cho sự phát triển của các ngành

II) Phát triển bền vững du lịch

1.Khái niệm về phát triển bền vững

Phát triển bền vững là “sự phát triển đáp ứng những nhu cầu của hiện tại mà khônglàm tổn hại tới năng lực của các thế hệ tương lai đáp ứng nhu cầu của bản thân họ”

Trang 10

Sau hội nghị thượng đỉnh của trái đất họp tại Rio de Janeiro – Braxin từ ngày3-14/6/1992 thì: “Phát triển bền vững được hình thành trong sự hoà nhập, xen càithoả hiệp của ba hệ thống tương tác là hệ tự nhiên, hệ kinh tế và hệ văn hoá-xã hội”.Theo quan điểm này, phát triển bền vững là kết quả tương tác qua lại và phụ thuộccủa ba hệ thống nói trên, và để phát triển bền vững không cho phép con người vì sự

ưu tiên phát triển hệ thống này mà gây ra sự suy thoái và tàn phá đối với các hệthống khác

2.Phát triển du lịch bền vững

Theo Hội đồng Du lịch lữ hành quốc tế (WTTC) 1996 thì: “ Du lịch bềnvững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn đảmbảo những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai”

Theo định nghĩa của tổ chức Du lịch thế giới (WTO) đưa ra tại hội nghị vềmôi trường và pháp triển của Liên hợp quốc năm 1992: “ Du lịch bền vững là việcpháp triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách dulịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo cácnguồn tài nguyên cho việc pháp triển hoạt động du lịch trong tương lai Du lịch bềnvững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thoả mãn các nhu cầu vềkinh tế, xã hội, thảm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn vềvăn hoá, đa dạng về sinh học, sự pháp triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗtrợ cho cuộc sống của con người”

Theo các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch và các lĩnh vực khác có liên quan

ở Việt Nam: “ Phát triển du lịch bền vững là hoạt động khai thác có quản lý các giátrị tự nhiên và nhân văn nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, cóquan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảotồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì sự toàn vẹn về văn hoá để phát triển dulịch trong tương lai, cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần năng cao mứcsống của cộng đồng địa phương”

3.Các tiêu chí đánh giá phát triển bền vững du lịch

3.1.Dấu hiệu về kinh tế

3.1.1 Số lượng khách du lịch quay trở lại lần thứ hai.

Khách du lịch là yếu tố quyết định trong việc hình thành nên “cầu” du lịch, làmột trong những tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá sự phát triển du lịch của một

Trang 11

điểm du lịch cụ thể Các chỉ tiêu về khách có thể cho biết rất nhiều thông tin, cụ thể

là thước đo của sự phát triển du lịch, của sự nổi tiếng của điểm du lịch, của sức hấpdẫn của điểm du lịch, của khả năng “cung” và đáp ứng các nhu cầu của du khách của điểm du lịch… Các đánh giá về khách là bức tranh về hoạt động du lịch củađiểm du lịch, các đánh giá về khách sẽ làm cơ sở cho nhiều đánh giá liên quan kháccũng như đưa ra những định hướng phát triển du lịch trong tương lai Để có nhữngđánh giá cụ thể về khách cần thường xuyên tổ chức các cuộc điều tra nhằm đánh giámức độ hài lòng của du khách đối với các dịch vụ du lịch cũng như thái độ đón tiếpcủa chính quyền và cộng đồng địa phương tại các điểm du lịch

* Đối với khách du lịch quốc tế

Phát triển du lịch bền vững dưới góc độ đánh giá các tiêu chí về khách dulịch quốc tế đó là việc có được những đánh giá cụ thể của du khách trong việc

“mong muốn dược quay trở lại điểm du lịch đó lần thứ hai, thứ ba ”, nói cách khácphát triển du lịch bền vững theo tiêu chí về khách du lịch là việc phân tích “tỷ lệ

khách du lịch quốc tế quay trở lại lần thứ hai, thứ ba, thứ n” trong cơ cấu khách

quốc tế Các giá trị này có được thông qua việc tiến hành các cuộc điều tra, phỏngvấn khách du lịch tại các khu điểm du lịch trên toàn lãnh thổ hoặc thông qua việcphối hợp với các hãng lữ hành trên toàn quốc tổ chức các cuộc phỏng vấn Tỷ lệkhách du lịch quốc tế quay trở lại lần thứ hai càng cao chứng tỏ rằng hoạt động dulịch tại khu vực đó, quốc gia đó đang phát triển đúng hướng, có hiệu quả cao Đốivới Việt Nam, trong khi tiến hành điều tra phỏng vấn khách, cần tập trung chú ý vàocác thị trường khách có khả năng chi trả cao, có thời gian lưu trú dài ngày và thịtrường đó phải là thị trường có lượng khách outbound lớn như Nhật Bản, Anh,Pháp, Mỹ, và một số nước trong cộng đồng Châu Âu

Ngoài ra tiêu chí về sự ổn định và tăng trưởng của lượng khách quốc tế từcác thị trường nguồn trọng điểm đến Việt Nam cũng có ý nghĩa quan trọng để đánhgiá tính bền vững của phát triển du lịch

* Đối với khách du lịch nội địa

Khách du lịch quốc tế là đối tượng được tập trung chú ý như một nguồn thungoại tệ chính đối với ngành du lịch thì khách du lịch nội địa có vai trò duy trì sựphát triển và tăng trưởng chung của ngành du lịch Việc khuyến khích được ngườidân trong nước đi du lịch đã tạo điều kiện phân phối lại thu nhập giữa các thành

Trang 12

phần lao động trong xã hội, góp phần tạo thêm công ăn việc làm cho xã hội, hỗ trợtích cực cho các chương trình cứu trợ của Chính phủ như các chương trình xoá đóigiảm nghèo, nâng cao nhận thức cho cộng đồng Như vậy đã góp phần quan trọngtrong việc thực hiện thành công mục tiêu đặt ra của phát triển bền vững cả dưới góc

độ về kinh tế và góc độ xã hội

“Tỷ lệ người dân Việt Nam đi du lịch trong một năm” là cơ sở để đánh giámức độ phát triển bền vững của du lịch Việt Nam, con số này càng cao thì mục tiêuđặt ra cho phát triển bền vững càng có cơ sở thành công

3.1.2 Hiệu quả hoạt động của các điểm du lịch đã được quy hoạch

Đối với một chiến lược hoặc kế hoạch phát triển du lịch của một quốc gia,một vùng lãnh thổ hoặc một điểm du lịch cụ thể thì công tác quy hoạch luôn nắmvai trò quan trọng và quyết định Đặc biệt với quy hoạch cho phát triển bền vững thìyếu tố thiết kế dự án quy hoạch, thực hiện và giám sát thực hiện quy hoạch lại càngquan trọng hơn bao giờ hết

“Số lượng các địa phương có Quy hoạch tổng thể du lịch được phê duyệt” và

“Số lượng các khu, điểm du lịch có trong danh mục các điểm du lịch quốc gia đãxây dựng Quy hoạch chi tiết” là những chỉ số quan trọng trong việc đánh giá tínhbền vững trong mục tiêu phát triển của ngành Việc tiến hành xây dựng Quy hoạchđánh dấu thời điểm Nhà nước bắt đầu tập trung các nguồn vốn cho việc xây dựng,

mở rộng các hạng mục công trình vui chơi giải trí, đa dạng hoá các sản phẩm dulịch của khu vực cũng như việc đầu tư cho các công trình hạ tâng cơ sở, hạ tầng kỹthuật và các kế hoạch duy tu, bảo dưỡng hàng năm

Bên cạnh đó, hiệu quả kinh doanh của các khu du lịch đã được Quy hoạchcũng đưa lại những kết luận chính xác về tính bền vững trong mục tiêu hoạt độngcủa khu du lịch đó Hiệu quả hoạt động kinh doanh của một khu du lịch được thểhiện thông qua các số liệu về doanh thu, lượng khách, số lượng buồng phòng kháchsạn và công suất sử dụng buồng phòng

3.2.Dấu hiệu về xã hội

3.2.1 Mức độ đóng góp của ngành du lịch cho phát triển kinh tế, xã hội địa phương

Du lịch tự bản thân nó là một ngành kinh tế tổng hợp, trực tiếp khai thác cácthế mạnh tài nguyên thiên nhiên, do vậy để có thể phát triển bền vững cần có sự tập

Trang 13

trung cho công tác bảo tồn và cần sự tham gia của mọi bên liên quan, đặc biệt làcộng đồng tại các điểm du lịch.

Để đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịch, trước hết chúng ta phải có

được những số liệu báo cáo cụ thể về “mức độ đóng góp của ngành du lịch cho

công tác bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên du lịch”

* Đối với các nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên: Tài nguyên du lịch tự nhiênthường là các loại tài nguyên sẵn có trong tự nhiên, và thường rất khó phục hồi lạinhư cũ nếu như chúng bị khai thác quá giới hạn cho phép hoặc bị các tác động từphía du khách hoặc các thành phần tham gia phục vụ du lịch làm cho biến đổi so vớihình dạng ban đầu của nó Tính bền vững của các nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên

được đánh giá thông qua “số lượng các loài sinh vật đặc hữu quý hiếm đang bị đe

doạ tuyệt chủng trên tổng số các loài được điều tra”

* Đối với tài nguyên du lịch nhân văn: Khác với tài nguyên du lịch tự nhiên,

tài nguyên du lịch nhân văn là nhóm tài nguyên du lịch có nguồn gốc nhân tạo,nghĩa là do con người sáng tạo ra Theo quan điểm chung được chấp nhận hiện nay,toàn bộ những sản phẩm có giá trị về vật chất cũng như tinh thần do con người sángtạo ra đều đưọc coi là những sản phẩm văn hoá

Không phải sản phẩm văn hoá nào cũng đều là những sản phẩm du lịch nhânvăn, chỉ những sản phẩm văn hoá nào có giá trị phục vụ du lịch mới được coi là tàinguyên du lịch nhân văn(1) “Tỷ lệ các tài nguyên du lịch nhân văn được khai thác

phục vụ du lịch trên tổng số tài nguyên du lịch nhân văn được thống kê” sẽ là cơ sở

đánh giá mức độ khai thác cũng như hiện trạng tái đầu tư cho công tác bảo tồn

3.2.2.Mức độ đóng góp của cộng đồng địa phương vào các hoạt động du lịch

Cho dù cộng đồng không tham gia trực tiếp vào hoạt động du lịch nhưng họđóng vai trò quan trọng trong du lịch Họ có thể thực hiện nhiều vai trò trực tiếptrong ngành du lịch như :

- Cho thuê đất cho việc phát triển

- Làm việc bán thời gian, đầy đủ thời gian hoặc tạm thời cho những nhà điềuhành tư nhân

- Cung cấp những dịch vụ cho các nhà điều hành tư nhân như thức ăn ,hướng dẫn viên, giao thông , nhà nghỉ

Trang 14

- Hình thành liên kết với các nhà điều hành tư nhân , những người cung cấpthị trường , hậu cần , hướng dẫn viên đa ngôn ngữ , trong khi đó thì cộng đồng cungcấp những dịch vụ còn lại

- Thực hiện các chương trình du lịch dựa vào cộng đồng không phụ thuộc Cho dù họ không tham gia trực tiếp vào ngành du lịch , nhưung họ cũngđóng nhiều vai trò gián tiếp mà tác động đến sự thành công của bất cứ doanh nghiệp

du lịch bền vững nào Sự giao lưu không chính thức của cộng đồng địa phương với

du khách có vai trò lớn trong việc mở thêm những trải nghiệm của du khách vềnhững cái tích cực và tiêu cực như du khách cảm thấy được sự hiếu khách , an toàn

và tiện nghi Các chủ đất địa phương cũng có thể có vai trò quan trọng đối với sựlành mạnh sinh thái của vùng , đặc biệt là ở vùng đệm của KBTB , gần bờ biển ,xung quanh cửa sông … Và tất nhiên là các cộng đồng ven biển cũng bị tác độngbởi các hoạt động của du lịch Nhà cửa, thị xã, gia đình và cuộc sống cũng sẽ bịthay đổi nếu du lịch trở thành một phần quan trọng của vùng này Để tạo ra nhữnggiao lưu giữa cộng đồng địa phương và du khách những lợi ích qua lại và để làmcho du lịch bền vững thành công, điều quan trọng là phải hiểu được lợi ích và cảnhững đe doạ của du lịch với người dân địa phương

3.3.Dấu hiệu về môi trường

3.3.1 Tỷ lệ các khu , điểm du lịch được bảo vệ

Phát triển du lịch được coi là bền vững nếu như số lượng các khu, điểm dulịch cũng như các nguồn tài nguyên du lịch được quan tâm đầu tư, bảo vệ chiếm tỷ

lệ cao Tại nhiều quốc gia trên thế giới, các khu du lịch được Chính phủ giao trựctiếp cho các hộ tư nhân và các doanh nghiệp tư nhân trong một thời gian xác định,mọi hoạt động phát triển du lịch đều nằm dưới sự kiểm soát của tư nhân, vai trò củaNhà nước đối với các khu điểm du lịch lúc này chỉ là việc định ra những địnhhướng phát triển, quy định trong khai thác, cũng như các yêu cầu đặt ra cho bảo tồn,tôn tạo

Ở Việt Nam, hầu hết các nguồn tài nguyên du lịch đều được đặt dưới sự quản

lý của Nhà nước, mọi hoạt động khai thác hay đầu tư đều phải tuân theo các văn bảnpháp quy quy định Đây chính là một đặc điểm cơ bản của du lịch Việt Nam Vì vậy,

việc phân biệt giữa điểm du lịch “được bảo vệ” với điểm du lịch “chưa được bảo

Trang 15

vệ” để đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch là điểm du lịch đó có được Nhà nước quan

tâm đầu tư tôn tạo, xây dựng các hệ thống xử lý, và kiểm soát chất thải hay không

Để đánh giá tính bền vững của các khu điểm du lịch trên lãnh thổ Việt Nam

nhất thiết phải dựa vào “tỷ lệ các khu du lịch được đầu tư bảo vệ, tôn tạo trong tổng

số các khu du lịch nằm trong danh mục được Nhà nước phê duyệt” Theo Tổ chức

du lịch thế giới - WTO nếu tỷ số này vượt quá 50% thì được đánh giá là phát triểnbền vững

3.3.2 Quản lý áp lực môi trường tại các điểm du lịch

Quản lý áp lực từ hoạt động du lịch lên môi trường thực chất là việc giới hạncác tác động tiêu cực từ du lịch lên môi trường, trong đó việc giới hạn và quản lý

“sức chứa” của điểm du lịch đó được đặt lên hàng đầu Bản chất của việc này là hạnchế lượng khách du lịch tập trung quá đông tại một khu, điểm du lịch trong cùngmột thời điểm Mục tiêu của phát triển bền vững là tạo ra một sự phát triển và tăngtrưởng ổn định về kinh tế, do đó việc khai thác quá giới hạn cho phép của một điểm

du lịch sẽ đưa lại những tác động tiêu cực, làm suy giảm tính bền vững của một khuvực, phá vỡ khả năng phát triển bền vững của ngành

3.3.3 Mức độ đóng góp của ngành du lịch cho công tác bảo tồn, tôn tạo

Tài nguyên du lịch khi được khai thác phục vụ mục đích du lịch đều đem lạimột nguồn thu nhất định đối với ngành du lịch nói chung và cộng đồng địa phương.Nguồn thu này có thể có được từ việc bán vé tham quan, vé cho các dich vụ vuichơi giải trí, từ việc bán các sản phẩn lưu niệm hay các đặc sản của địa phương…

và được tính vào doanh thu cho ngành du lịch Sự đóng góp của ngành du lịch cho

bảo tồn thể hiện ở “tỷ lệ doanh thu du lịch được trích lại cho chính quyền địa

phương hoặc cơ quan chủ quản các nguồn tài nguyên du lịch đó phục vụ công tácbảo tồn và tôn tạo”

Du lịch là một ngành kinh tế có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao.Chính vì vậy tỷ lệ doanh thu mà ngành du lịch trích lại cho cơ quan chủ quản cácnguồn tài nguyên du lịch càng cao chứng tỏ khả năng phối hợp liên ngành tốt Việcđánh giá khả năng phát triển bền vững của ngành bắt buộc phải dựa trên yếu tố này,kết quả thu được có thể có xác suất do nhiều khi doanh thu du lịch trích lại khôngđược dùng vào mục tiêu bảo tồn, tôn tạo các nguồn tài nguyên nói trên nhưng phần

Trang 16

3.4.Một số dấu hiệu khác

3.4.1 Tăng trưởng về đầu tư cho du lịch

- Đối với các nguồn vốn huy động trong nước: tỷ lệ vốn quay vòng từ cáchoạt động kinh doanh du lịch, vốn trích từ quỹ phát triển ngành cho công tác bảotồn và các nguồn vốn Ngân sách Nhà nước hỗ trợ cho phát triển Nhưng nhìn chungnguồn vốn này thường mang tính chất hỗ trợ hơn là việc khuyến khích phát triển

- Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là nguồn vốn quan trọng thúc đẩy sựphát triển của hầu hết các ngành kinh tế trong nền kinh tế quốc dân trong đó có dulịch Trong một khoảng thời gian nghiên cứu xác định (có thể là 5 năm, 10 năm)mức độ biến đổi của các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào du lịch sẽ chochúng ta những nhận định cơ bản về tương lai phát triển của ngành Trong đó tỷ số

k sẽ cho chúng ta những nhận định cụ thể về tính bền vững của ngành du lịch

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào du lịch

k =

Tổng lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nền kinh tế

3.4.2 Tỷ lệ GDP du lịch trong cơ cấu GDP cả nước

n

m = Tổng sản phẩm quốc nội GDP

-Trong đó:

n = GDP du lịch có sự hỗ trợ của các chính sách bền vững - GDP du lịch

Chỉ số m này phản ánh tình trạng phát triển thực tế của ngành du lịch trong

nền kinh tế quốc dân Giá trị m càng cao, ổn định và tăng theo thời gian thì ngành

du lịch càng phát triển gần với mục tiêu phát triển bền vững.

Bên cạnh đó chúng ta cũng có thể đánh giá khả năng bền vững của ngành du

lịch thông qua mức độ đóng góp vào ngân sách Nhà nước của ngành du lịch.

III) Sự cần thiết phát triển du lịch bền vững

Phát triển bền vững là xu thế chung của toàn xã hội đã được nghiên cứu, xemxét từ lâu xong chỉ những năm gần đây phát triển Du lịch bền vững mới được nhắcđến Có hai lý do cơ bản sau

Trang 17

1 Do tính chất của ngành du lịch

Xét về bản chất du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liênvùng Điều đó thể hiện ở chỗ bất cứ nơi nào du lịch phát triển thường kéo theo sựphát triển của một loạt các ngành khác như: giao thông vận tải phục vụ cho việc đilại của khách, kinh doanh nhà hàng khách sạn, đồ lưu niệm, xây dựng cung cấp cơ

sở lưu trú, hệ thống thông tin liên lạc…Ngược lại cần có sự bổ trợ của các ngànhnói trên thì du lịch mới tồn tại và phát triển

2 Do tác động môi trường của du lịch

Môi trường ở đây được hiểu theo hai nghĩa: môi trường tự nhiên và môitrường xã hội Hoạt động du lịch tác động trực tiếp đến cả loại môi trường này

2.1 Tác động của du lịch lên các yếu tố sinh thái tự nhiên

a) Tác động tích cực

 Tạo cho du khách hiểu thêm sâu sắc về tự nhiên, thấy được giá trị của thiênnhiên đối với đời sống con người Nhờ vậy du lịch sẽ góp phần tích cực vào sựnghiệp giáo dục về môi trường và năng cao ý thức bảo vệ môi trường của con người

 Nhu cầu du lịch nghỉ ngơi tại những khu vực có nhiều cảnh quanthiênnhiên cũng lại kích thích việc tôn tạo , bảo vệ môi trường

 Tác động qua lại giữa quá trình tiêu dùngvà cung ứng sản phẩm du lịch

 Đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nước

 Làm kích thích mạnh mẽ các ngành kinh tế có liên quan

 Là cầu nối hoà bình giữa các dân tộc trên thế giới, giúp các dân tộc xích lạigần nhau hơn

Trang 18

b) Tác động tiêu cực

 Du lịch nhiều khi gây rối loạn kinh tế của một vùng

 Du lịch thường kéo theo sự quá tải dân số , dịch bệnh dễ lan truyền từ nơinày đến nơi khác, hay một số tệ nạn xã hội nhưmại dân, cờ bạc, buôn bán ma tuý…

3 Lợi ích của phát triển du lịch bền vững

Lợi ích cho nhà cung cấp : các nhà cung cấp kinh doanh do lợi ích có thể cónhiều loại hình , sản phẩm du lịch lớn hơn để có thể cung cấp cho khách du lịchnhiều sản phẩm , dịch vụ phong phú hơn và có thể thu được lợi nhuận lớn hơn Dotính chu kì sống của sản phẩm du lịch và điểm du lịch nên khi phát triển du lịch bềnvững sẽ kéo dài tuổi sống của các điểm , các khu du lịch hơn Nhà cung cấp cũng

có thể phát triển mở rộng qui mô hoạt động , giảm được rủi ro trong kinh doanh

Lợi ích cho khách du lịch : Khách du lịch có thể được tiếp cạn và khám phá ,nghiên cứu về các nền văn hoá , phong tục tập quán lâu đời trường tồn qua thời gian, được chiêm ngưỡng , khám phá các phong cảnh, cảnh quan tự nhiên, hoang sơ kếthợp với sự tu bổ , kết hợp với các công trình văn hoá , lịch sử cổ kính và hiện đại ,được sử dụng các sản phẩm và du lịch tốt nhất chi phí thấp

Lợi ích cho điểm du lịch : ban quản lí của các điểm du lịch có thể cung cấpsản phẩm dịch vụ cho các đơn vị kinh doanh và khách du lịch và từ đó thu lợi nhuận

và tiếp tục đầu tư để cải tạo và nâng cấp , bảo vệ cho khu du lịch , tạo điều kiệncông ăn việc làm cho người dân địa phương

Trang 19

du lịch đang tăng cường áp dụng các chính sách môi trường Ví dụ công viên disney

ở Florida, tập đoàn khách sạn Sheraton and Intercontinental đang nêu ra các vấn đề

xử lý chất thải, tao chế và bảo vệ nguồn nước Tổng cục du lịch Thái Lan nhấnmạnh sự cần thiết phải giáo dục cho du khách và cư dân địa phương về “ Sự hiểubiết và sự cần thiết phải bảo vệ các tài nguyên du lịch

-Tác động tiêu cực:

Gây ô nhiễm nguồn nước

Gây ô nhiễm không khí do chất phát thải do các phương tiện giao thông vàthiết bị

Việc quy hoạch cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật không hợp lý cũng gâytác hại đến cảnh quan của các điểm tham quan du lịch

Việc xác định sức chứa của các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiênkhong hợp lý cũng gây tác hại quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của các hệsinh thái

4.2 Giảm sự tiêu thụ quá mức và giảm chất thải

Giảm sự tiêu thụ quá mức và giảm chất thải sẽ tránh được những chi phí tốnkém cho việc hồi phục tổn hại về môi trường và làm tăng chất lượng của du lịch

Mọi người có nhận thức rằng sự tiêu thụ quá mức sẽ dẫn đến sự hủy hoạimôi trường trên toàn cầu và đi ngược lại sự phát triển bền vững

Các dự án được triển khai không có đánh giá tác động môi trường hoặckhông thực thi những kiến nghị về đánh giá tác động của môi trường đã dẫn đến sựtiêu dùng tài nguyên môi trường và các tài nguyên khác một cách lãng phí khôngcần thiết

Đây là nguyên nhân gây ra sự ô nhiễm và xáo trộn về văn hóa xã hội

Trang 20

Các chất thải từ các công trình không được quan tâm xử lý đúng mức, dẫnđến sự xuống cấp về môi trường một cách lâu dài

Một số các dự án không được lập kế hoạch một cách nghiêm túc, đặc biệt làtrong thàh phần tư nhân đã gây ra những hậu quả, dẫn đến các cơ quan nhà nướcphải bỏ chi phí và công sức ra để phục hồi những tổn thất Chính vì vậy cần thiếtphải có các biện pháp để giảm sự tiêu thụ quá mức và giảm chất thải

+ Các doanh nghiệp du lịch và ngành du lịch phải giảm tiêu thụ các nguồnlực du lịch

+ Ưu tiên các nguồn lực hiện có ở địa phương hơn là nhập khẩu theo xuhướng thích hợp và thích hợp

+ Giảm nguồn rác thải và đảm bảo việc xử lý rác thải do du lịch thải ra mộtcách an toàn

+ Sử dụng công nghệ xử lý rác thải, tái chế rác thải

+ Có trách nhiệm phục hồi những tác hại nảy sinh từ các dự án du lịch

+ Tránh tổn thất thông qua công tác tiền hoạch định đúng đắn và theo dõi,giám sát liên tục

4.3 Duy trì tính đa dạng

Việc duy trì và tăng cường tính đa dạng của thiên nhiên, văn hóa xã hội làhết sức quan trọng cho du lịch bền vững và cũng là chỗ dựa sinh tồn của ngànhcông nghiệp du lịch

+ Sự đa dạng của môi trường tự nhiên, văn hóa và xã hội là một thế mạnh,mang lại khả năng phục hồi cho những đột biến và áp lực, và đồng thời tránh việcquá phụ thuộc vào một hay một vài nguồn hỗ trợ sinh tồn

+ Môi trường thiên nhiên được đặc trưng bởi tính đa dạng nhưng việc pháttriển kinh tế và du lịch đã phá hủy sinh thái trên phương diện rộng

+ Có tính toán cho rằng trong vòng 50 năm tới, có khoảng 25% các loài độngvật sẽ bị hủy diệt

Ngày nay, ở nhiều vùng đất ngập nước có 80% các rạn san hô và 50% cáckhu rừng nguyên sinh trên hành tinh đã bị mất đi

Trang 21

+ Phát triển du lịch bền vững phải để lại cho các thế hệ tương lai một gia tài

đa dạng về thiên nhiên và nhân văn không ít hơn những gì được thừa hưởng của thế

hệ trước đa dạng

+ Đa dạng văn hóa là một trong những tài sản hàng đầu của ngành du lịch, dovậy, nó cần phải được giữ gìn, bảo vệ Sự đa dạng văn hóa bản địa sẽ mất đi khi nó bịxuống cấp, bởi cư dân biến nó thành một món hàng hóa đem bán cho du khách

Các biện pháp để duy trì tính đa dạng

+ Trân trọng giữ gìn tính đa dạng của thiên nhiên và nhân văn + Đảm bảonhịp độ, qui mô và lọai hình phát triển để bảo vệ tính đa dạng của văn hóa bản địa

+ Ngăn ngừa sự phá hủy đa dạng sinh thái thiên nhiên bằng cách tôn trọngsức chứa của mỗi vùng, áp dụng phương pháp tính tóan sức chứa và nguyên tắcphòng ngừa trước

+ Giám sát tác động của du lịch đồi với hệ sinh thái, đặc biệt đối với các loàiđộng thực vật

+ Khuyến khích đa dạng kinh tế, xã hội bằng cách lồng ghép du lịch vào cáchoạt động của cộng đồng địa phương

+ Ngăn ngừa sự thay thế các ngành nghề truyền thống lâu đời bằng chuyênmôn phục vụ du lịch

+ Khai thác tốt các đặc trưng đặc thù của vùng hơn là áp đặt các chuẩn mựcđồng nhất

+ Đảm bảo qui mô, nhịp độ và loại hình du lịch nhằm khích lệ lòng yêu mếnkhách và sự hiểu biết lẫn nhau

+ Phát triển du lịch phù hợp với văn hóa bản địa, phúc lợi và nhu cầu phát triển

4.4.Hợp nhất du lịch vào quá trình quy hoạch

Hợp nhất phát triển du lịch vào trong khuôn khổ hoạch định chiến lược cấpquốc gia và địa phương, tiến hành đánh giá tác động môi trường, làm tăng khả năngtồn tại lâu dài của ngành du lịch

Việc phát triển hợp nhất dựa trên hai quy tắc sau:

Trang 22

4.4.1 Du lịch và hoạch định chiến lược phát triển

Khi sự phát triển du lịch là một bộ phận hợp nhất của một kế hoạch cấp quốcgia, nó xem việc phát triển và quản lý môi trường là một tổng thể thì sẽ mang lại lợi íchtối đa và dài hạn cho nền kinh tế, quốc gia va địa phương ( trong đó có ngành du lịch)

4.4.2 Du lịch và đánh giá tác động môi trường

Trong việc thiết kế các sơ đồ dự án qui hoạch du lịch, đánh giá tác động môitrường là bắt buộc để xem qui mô hay loại hình phát triển u lịch đó có phù hợp haykhông và cân nhắc xem nó đem lại lợi ích thật sự gì cho khu vực, cho vùng hayquốc gia hay không?

Các biện pháp cụ thể

+ Phải tính tới các nhu cầu trước mắt của cả cư dân địa phương và cả du khách+ Hợp nhất tất cả các mặt kinh tế môi trường xã hội và văn hóa địa phươngvào trong việc quy hoạch

+ Tôn trọng chính sách địa phương, khu vực và quốc gia các ngành côngnghiệp, nông nghiệp, nhà cửa đất đai, nhà cửa và phúc lợi

+ Giảm thiểu các tổn hại về môi trường, xã hội và văn hóa với cộng đồng địaphương bằng cách thực hiện đánh giá tác đông môi trường toàn diện có sự tham giacủa cư dân

Trang 23

Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch bền vững

của vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long

I Giới thiệu về vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long và tiềm năng du lịch của vùng:

1 Những nhận định chung

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong những đồng bằng châuthổ rộng và phì nhiêu ở Đông Nam Á và thế giới, là vùng đất thuộc lưu vực sôngMekong với tổng diện tích tự nhiên là 3,96 triệu ha bằng 5% diện tích toàn lưu vực.ĐBSCL có dân số là 17,4 triệu người chiếm 21% dân số cả nước Kinh tế chủ yếucủa vùng là nông nghiệp Tăng trưởng GDP hàng năm cao và ổn định, giai đoạn1996-2000 là 7,9%, giai đoạn 2001-2005 là 10.13%, giai đoạn 2005-2007 là12.67%, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của vùng năm 2007 ước đạt 4.18 tỷ USD,GDP bình quân đầu người năm 2007 ước đạt 678 USD

ĐBSCL nằm trong khu vực có đường giao thông hàng hải và hàng khôngquốc tế quan trọng, giữa Nam Á và Đông Á cũng như Châu Úc và các quần đảokhác trong Thái Bình Dương Vị trí này hết sức quan trọng trong giao thương quốc

tế và phát triển du lịch

Trong những năm qua, ngành du lịch Việt Nam đang được khách quốc tế biếtđến Là một vùng châu thổ thuộc con sông huyền thoại Mekong, ĐBSCL đã cónhững đóng góp chung trong phát triển du lịch của cả nước Lượng du khách quốc

tế gia tăng đều qua các năm, từ hơn 2 triệu lượt năm 2000 lên 7 triệu lượt trong năm

2007 trong đó có 680 ngàn khách quốc tế cho thấy ngành du lịch đã đạt mức tăngtrưởng cao và ổn định

2.Tiềm năng du lịch của Đồng Bằng Sông Cửu Long

2.1.Tài nguyên du lịch thiên nhiên

2.1.1 Địa hình

Đồng Bằng sông cửu long là vựa lúa lớn nhất của Việt Nam – có diện tích là39952km2( trong khi châu thổ Bắc bộ chỉ có 15000km2).Bề mặt bằng phẳng và làvùng đồng bằng phù sa mới có nguồn gốc sông biển

Trang 24

Phần thượng Châu thổ có những vùng trũng rộng lớn , nông và khó tháonước , thường được giới hạn bởi các gờ sông (giồng ) Các vùng trũng giữa giồngsông Tiền và sông Hậu có dạng đĩa nối đuôi nhau nằm giữa hai sông Do các giồng

có sườn thoải dần nên nước mưa đọng lại ở rốn vùng trũng tạo nên một hệ thốngdòng chảy phụ độc lập với các nhánh chính của sông , hình thành một mạng lướithuỷ văn dày đặc , chằng chịt và độc đáo rất hấp dẫn đối với du lịch nhất là du lịchsông nước Phần lớn các vùng trũng đều trở thành đầm lầy , mùa mưa ngập sâunước , mùa khô lại chỉ còn những vũng nước tù rải rác như ở Đồng Tháp Mười…

-Phần hạ châu thổ được tính từ nơi hai sông Tiền và sông Hậu bắt đầu chianhánh Bề mặt đồng bằng thấp (khoảng 1-2m), có các khu vực trũng sót thấp hơn1m bị ngập nước vào mùa mưa nhưng ven các cửa sông và bờ biển lại có những dảiđất cát cao đến hơn 3m do tác động bồi đắp của thuỷ triều và sóng

Dạng địa hình đáng chú ý ở vùng này là các đảo lớn nhỏ ở các cửa sông Dễnhận thấy nhất là những đảo – cù lao , cồn – như cù lao Dài ( Vĩnh Long ), cù laoTròn , cù lao Nai( Sóc Trăng ), cồn Bà Nở ( Mỹ Tho) Những đảo lớn khó nhậnthấy hơn có đỉnh nằm ngay ở chỗ sông bắt đầu chia nhánh và đáy lồi ra biển như :

cù lao cực lớn giữa sông Tiền và sông Hậu là lãnh thổ của các tỉnh Vĩnh Long ,TràVinh , một phần An Giang …hay tỉnh Bến tre là do hai cù lao Minh , cù lao Bảo(giữa sông Mỹ Tho và sông Cổ Chiên ) có sông Hàm Luông chảy giữa hợp thành Như vậy vùng hạ châu thổ gồm toàn những đảo lớn nhỏ được bao bọc bởi các sôngchia nhánh ngày càng toả rộng ra phía biển Đây là nơi có điều kiện thuận lợi hìnhthành nên các vùng cây ăn quả - các miệt vườn – với đủ các loại hoa trái nhiệt đớihấp dẫn khách du lịch đi theo các tuyến du lịch đường sông

Ngoài hai bộ phận chính là thượng châu thổ và hạ châu thổ ra, đồng bằngNam Bộ còn gồm các đồng bằng phù sa ở rìa như đồng bằng cửa sông hình phễuthuộc sông Đồng Nai , đồng bằng Cà Mau Đồng bằng Cà Mau không cao hơn mặtbiển bao nhiêu , nhất là nửa phía Tây chỉ cao hơn mặt biển 1m Rừng ngập mặn vàrừng U Minh chiếm phần lớn diện tích đồng bằng này Bờ biển phía tây đồng bằng

là bãi Sú vẹt phẳng và thấp , tiến ra biển ở một vài nơi nhưng nhiều nhất ở Mũi CàMau với tốc độ 60-80m/năm

Cảnh quan đặc biệt có giá trị thu hút khách du lịch của miền đất này là hệsinh thái rừng ngập mặn với những đầm lầy , những sân chim…Ví dụ như rừng Cà

Trang 25

Mau, đảo Hòn khoai , Đồng Tháp Mười, Rừng U Minh , sân chim Ngọc Hiển ,Tràm Chim Tam Nông Rừng ngập mặn ở đây rất điển hình , chỉ đứng sau rừngAmazon của Nam Mỹ

2.1.2.Khí hậu

-Nhiệt độ trung bình năm của khu vực là 26-27 độ C, biến thiên nhiệt độtrung bình là 3-3,5 độ c Tổng nhiệt độ trung bình năm là 7500 độ C, tối đa khoảng9000-10000 độ C

-Nắng : tổng số giờ nắng hang năm có 2000h, tháng có nhiều h nắng nhất làtháng 2,3 vói 8-9h/ngày

-Ẩm độ trung bình nhiều năm là 82-83%, mùa mưa chịu ảnh hưởng của giómùa tây nam , phổ biến khi các vùng áp thấp nhiệt đới xuất hiện trên lục địa châu ÁMùa nắng gió mùa đông bắc lại chiếm ưu thế do sự hiện diện của các trung tâm ápcao từ vùng Siberi Mông cổ chuyển xuống ,DBSCL ít chịu ảnh hưởng của bão hơn

so với miền Bắc và Miền Trung Trong vòng 55 năm chỉ có 8 cơn bão đổ bộ vào bờbiển Nam bộ Lượng mưa ở DBSCl khá lớn , trung bình 1400-2200mm/năm Tỉnh

có lượng mưa cao nhất là Cà Mau(2200mm/năm) còn tỉnh có lượng mưa thấp nhất

là Đồng Tháp(1400mm/năm).Lượng mưa trung bình là 2335mm/năm với số ngàymưa 189 ngày/năm

2.1.3.Thuỷ văn

Hệ thống sông Cửu Long- hạ lưu sông Mê Kông ,chảy vào nước ta theo 2nhánh : Tiền Giang và Hậu Giang Càng về hạ lưu, sông càng phân nhánh và toảrộng hơn ,cuối cùng đổ ra biển qua 9 cửa sông – có lẽ vì thế mà có tên là CửuLong Sông đã bồi đắp nên vùng đồng bằng Châu thổ phì nhiêu và rộng lớn vào bậcnhất Việt Nam và vào loại lớn nhất của thế giới Không những thế , mạng lưới kênhrạch chằng chịt nối các nhánh sông cũng hết sức phong phú với tổng chiều dài4900km(0.12km/km2) Đây là hệ thống thuỷ văn độc đáo và hiếm có trong khu vực

và trên thế giới Nó không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn có giá trị rất lớn đối với

du lịch ,có sức hấp dẫn đối với du khách Theo các kênh rạch , du khách có thể đếnvới các cù lao , các miệt vườn với đủ các loại hoa quả quanh năm Đây thực sự làtài nguyên du lịch của vùng

Trang 26

Ngoài ra vùng Châu thổ Đồng Bằng Sông Cửu Long có phù sa màu mỡ ,làvựa lúa lớn nhất nước ta Ngoài ra rừng còn có diện tích đất ngập nước khá lớn với

hệ sinh thái rừng ngập mặn có thể coi là tài nguyên du lịch phong phú của nhữngvùng đầm lầy nhiệt đới – nơi cư ngụ của nhiều loại động vật, đặc biệt là chim …làmột loại tài nguyên du lịch đặc thù của đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, vùngNam Trung Bộ -Nam bộ cả nước nói chung

2.1.4.Sinh vật

DBSCL trừ những rặng dừa mọc trên các giồng ven sông và những vườn quả, lớp phủ thực vật tự nhiên chủ yếu là cỏ dại và cây thuỷ sinh mọc ven sông nhưôro, ô môi , dừa nước Rừng thực sự ở đây đều là rừng nước mặn ở đây rộng300000ha So với rừng nước mặn ở Bắc Bộ , rừng ở đây điển hình và có giá trị kinh

tế cao hơn nhiều : dưới các rừng đước và sú vẹt là tôm , cua , cá nhiều vô kể , gỗđước cung cấp loại than củi tốt vào bậc nhất và nhất là rừng chàm đem lại khôngkhí trong lành , là nơi cư ngụ của các loài chim và ong mật với sản phẩm mật ongchàm nổi tiếng ngon

Ngoài ra rừng còn thấy trên các đảo ngoài khơi với rất nhiều loìa gỗ quí nhưgụ,sao,trắc, dầu , bời lời ,song,mây, móc ở Côn Đảo, Phú Quốc .Riêng PhúQuốc ,ngoài 35000km2 rừng cây gỗ, đảo còn khoảng 20000ha đất trồng lúa và hồtiêu Sản lượng hồ tiêu của đảo có năm lên tới 25 tấn

Rừng ngập mặn của vùng DBSCL là nơi tập trung nhiều các loài chim : vịtnước , ngỗng , giang , sếu sống tập trung hang đàn như ở Tràm Chim(Tam nông-Đồng Tháp) Sân chim Ngọc hiển , Vĩnh Thành , Tân Hương (Minh Hải),TriTôn(Bến tre)…trong đó có loài đặc hữu như Sếu đầu đỏ(loài tưởng đã tuyệtchủng,nay chỉ còn thấy ở Tràm Chim-Việt Nam).Ngoài ra ở đây còn có những loài

bò sát như trăn hoa, cá sấu ….Dưói các đầm lầy và rừng ngập mặn vùng DBSCL làcác loại tôm, cua ,cá với số lượng rất lớn , trong sông Cửu Long cá đi thành 6 lớp(lớp trên cùng là Sặc Bồi,thứ hai là cá chàng,cá leo, cá hô, lớp thứ 3 là cá rô, dưới là

cá lóc (chuối), cá bông ,tiếp là trê vàng và dưới cùng là trê trắng).Theo thống

kê ,vùng biển Nam Bộ có tới hơn 200 bãi cá ,ngoài ra còn có đồi mồi,trai ngọc , hảisâm , bào ngư, hải yến ,rau câu , ngọc điệp và nhiều loại cá lớn khác

Trang 27

2.1.5.Sự phân bố tài nguyên du lịch tự nhiên theo địa phương

Dòng sông Mêkong bồi đắp phù sa màu mỡ cho ĐBSCL, với 2 nhánh sôngchính là sông Tiền và sông Hậu, ĐBSCL được hình thành từ những trầm tích phù sa

và bồi dần qua những lỉ nguyên thay đổi mực nước biển ,qua từnggiai đoạn kéo theo

sự hình thành những giồng cát chạy dọc theo bờ biểnnhững hoạt động hỗn hợp giữasông và biển đã hình thành những vạt đất phù sa phì nhiêu ,màu mỡ dọc theo vensông lẫn dọc theo một số giồng (dải đất cao) cát ven biển và đất phèn trên trầm tíchđất mặn trũng thấp như vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên –Hà Tiên vàbán đảo Cà Mau.Dễ dàng nhận thấy toàn vùng có cấu trúc địa hình khá tương đồngvới tài nguyên thiên nhiên phong phú và đặc sắc với hệ sinh thái biển-đảo,hệ sinhthái sông,hồ,hệ sinh thái rừng ,hang động ,kênh rạch có khả năng tạo ra những sảnphẩm du lịch đặc thù so với cả nước và khu vực, hệ thống kênh rạch chằng chịt giaothoa cùng núi rừng, biển đảo đã hình thành một vùng sinh thái đa dạng, tạo nênnhững cảnh quan đặc sắc, hùng vĩ, chứa bao điều kỳ thú mời gọi du khách gầnxa.Vị trí địa lí, điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu tạo ra hệ thống gia trị tìa nguyênthiên nhiên của vùng Vốn được thiên nhiên ưu đãi với hệ thống sông ngòi chằngchịt ,đa dạng sinh học cao với các khu rừng nguyên sinh ,vùng đất ngập nước tạonên nhiều vườn cây trái xanh tươi ,nhiều sân chim là những tiềm năng quí vô tận đểphát triển du lịch sinh thái Đó là Rừng dừa Bến Tre màu xanh đam mê cho tráixum xuê với nhiều sản phẩm từ dừa; tràm chim Tam Nông, làng nghề hoa kiểng SaĐéc (Đồng Tháp) nổi tiếng; chợ nổi Cần Thơ- Tiền Giang với hàng ngàn loại tráicây; biển đảo Hà Tiên và Phú Quốc (Kiên Giang) với hàng trăm đảo nhấp nhô giữabiển khơi gió lộng; phong cảnh Thất sơn Bảy núi (An Giang); rừng đước Năm Căn,đất mũi Cà Mau đã đi vào lịch sử như một huyền thoại; đặc biệt là những cánh đồnglúa vàng mênh mông như thảm lụa, những xóm thôn ấm áp bên các dòng kênh dàinhư vô tận, hòa quyện với một không gian sông nước ngút ngàn, thơ mộng…cuốn hút và hấp dẫn du khách.Giá trị của những tài nguyên du lịch tự nhiên nàycàng được khẳng định ,đánh giá và xếp hạng như hệ thống vườn quốc gia ,khu bảotồn tự nhiên Đến nay ,trong vùng đã được công nhận:

-2 khu dự trữ sinh quyển : khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang,khu dự trữ sinhquyển Mũi Cà Mau ;

Trang 28

-5 Vườn quốc gia :Vườn quốc gia Mũi Cà Mau ,Vườn quốc gia U MinhThượng, Vườn quốc gia U Minh Hạ, Vườn quốc gia Tràm Chim và vườn quốc giaPhú Quốc với tổng diện tích lên tới trên 93.500ha;

-4 khu bảo tồn tự nhiên : Ấp Canh Điền –Bạc Liêu,Hòn Chông-KiênGiang,Láng Sen-Long An,Thạch Phú-Bến Tre;

-3 khu bảo tồn loài :Lung Ngọc Hoàng-Hậu Giang,Sân chim Đầm Dơi-CàMau,Vườn chim Bạc Liêu;

-7 Khu bảo vệ sinh cảnh:Gò Tháp-Đồng Tháp;Núi Sam,Thoại Sơn ,TràSư,Tức Dụp-An Giang;

-1 khu rừng nghiên cứu thực nghiệm khoa học :Trung tâm nghiên cứu ứngdụng rừng ngập mặn Minh Hải-Cà Mau

*Các sở văn hoá , thể thao và Du lịch của các địa phương đã phối hợp cùngvới các doanh nghiệp du lịch tiến hành khảo sát tại các điểm du lịch và nghiên cứuthị trường Đến nay đã xây dựng được một số chương trình đưa vào khai thác cóhiệu quả :

-Các chương trình tham quan du lịch tịa các địa danh : Vĩnh Thành , ChợLách , Tân Thạch , Quới Sơn , Phú Túc , An Khánh, Mỹ Thạnh An, Giồng Trôm ,

Ba Tri, Bình Đại , Thới Sơn , Phụng Hiệp , Cái Bè…Các sản phẩm du lịch chủ yếu

là tham quan du lịch sinh thái nhà vườn , tham quan các di tích văn hoá lịch sử , dulịch làng nghề

-Chương trình du lịch nối tour du lịch với các địa phương trong nước nhằmtăng cường khả năng liên kết khai thác du lịch Đến nay, đã phối hợp gửi khách đếncác thị trường trong khu vực tiểu vùng Mê Kông , tp Hồ Chí Minh , Bà rịa- VũngTàu , Kiên Giang , Tây Ninh, Bình Thuận , Tây Nguyên , Nha Trang …

-6 chương trình du lịch outbound đến Campuchia, Hồng Kông , TrungQuốc , Thái Lan , Singapore, Malaisia

Ngoài ra vẫn đang tiếp tục tiến hành nghiên cứu các thế mạnh đặc thù, khaithác các địa danh, các di tích văn hóa lịch sử để đưa vào khai thác nhiều tour, tuyến

du lịch mới Tăng cường liên doanh , liên kết , với các doanh nghiệp , các hộ giađình nhằm tạo nguồn khách , tạo sản phẩm mới …

Trang 29

2.2.1 Tài nguyên du lịch nhân văn

Bên cạnh tài nguyên tự nhiên , vùng ĐBSCL còn có nguồn tài nguyên nhânvăn vô cùng phong phú và đặc sắc Vùng có mật độ dân số cao thứ hai trên cảnước , đứng sau đồng bằng sông Hồng Đây là nơi sinh sống của gần 18 triệu ngườidân (chiếm khoảng 20% dân số cả nước)gồm nhiều dân tộc như kinh, Khơme,Hoa…Cũng giống như mọi vùng miền khác của đất nước , ĐBSCL có lịch sửphát triển lâu đời, nền văn hoá giàu bản sắc với nét đặc trưng của các đền , chùa, lễhội văn hoá, nghi thức của các dân tộc …nơi đây tập trung rất nhiều các di tích lịchsử,văn hoá, cách mạng, kiến trúc, nghệ thuật, các di chỉ khảo cổ,làng nghề Tính tớitháng 9-2009, ĐBSCL có 158 di tích xếp hạng trong đó di tích kiến trúc là 49, lịch

sử 92, khảo cổ là 08 và thắng cảnh là 09.bên cạnh đó, ĐBSCL là nơi lưu trữ nhiềugiá trị văn hoá phi vật thể như đờn ca tài tử(vọng cổ,cải lương, hò đối đáp…) và các

lễ hội, nghi thức của các dân tộc riêng biệt của vùng, miền như Lễ hội Oóc-om-bóc,

lễ hội đua bò đây chính là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn để vùng ĐBSCL khaithác và phát triển du lịch văn hoá , du lịch cộng đồng và nghỉ dưỡng

Liên hoan lễ hội: Liên hoan diễn ra nhằm trình diễn các loại hình văn hoá ,nghệ thuật đặc sắc của cộng đồng các dân tộc Kinh, Chăm, Hoa, Khmer và nhữngchương trình có chủ đề tuyên truyền về điểm đến chung của các tỉnh ĐBSCL.Quảng

bá tiềm năng và các sản phẩm du lịch văn hoá, lễ hội ẩm thực , du lịch sinh tháimiền sông nước , miệt vườn của Nam Bộ Bên cạnh các chương trình biểu diễn,còn có phần hội chợ với hàng trăm gian hàng , trưng bày và triển lãm các di sản ,sản vật đặc trưng của tiểu vùng Mê Kông

Khai thác những thế mạnh và nguồn tài nguyên sãn có ĐBSCL đã phát triển

du lịch và các dịch vụ liên quan Khách du lịch tới ĐBSCL chủ yêú bằng đườngthuỷ và đường hàng không, tập trung chủ yếu vào một số điểm du lịch quan trọng

có ý nghĩa của vùng

Năm 2008, ĐBSCL đón trên 1,2 triệu lượt khách quốc tế và trên 8 triệu lượtkhách nội địa Khách du lịch nội địa và quốc tế tới vùng chủ yếu với mục đíchtham quan thắng cảnh , tận hưởng giá trị văn hoá tinh thần , chủ yếu từ NhậtBản ,Trung quốc, Hàn Quốc , Đài Loan, Hoa kì , Pháp, Anh, Đức , Hà Lan và khốiASEAN Tuy nhiên thời gian lưu trú của khách quốc tế tại vùng rất thấp ( thời gian

Trang 30

lưu trú trung bình năm 2006 la 1,8 ngày ) do sản phẩm du lịch đơn điệu và hầu nhưkhông có tính khác biệt

Lịch sử hình thành phát triển của vùng ĐBSCL đem lại cho vùng đất nhữnggiá trị , di sản văn hoá phi vật thể sinh động vô song Những giá trị văn hoá này vẫntiếp tục được lưu giữ và tồn tại trong sinh hoạt của người dân địa phương Khách dulịch đến ĐBSCL được cùng tham gia vào những lễ hội , nghi thức văn hoá riêngbiệt mang đậm bản sắc văn hoá miền Tây Nam Bộ

Tuy nhiên , du lịch văn hoá – lịch sử mới chỉ dừng ở việc khai thác những disản , di tích mà chưa chú ý tạo ra những sản phẩm văn hoá phục vụ nhu cầu vui chơigiải trí khác nhằm thu hút và đáp ứng các nhu cầu thưởng thức văn hoá cảu du kháchtrong và ngoài nước Cho tới nay , hoạt động vui chơi giải trí của vùng chỉ gói gọntrong một số hoạt động như karaoke,massage, bơi lội và đánh tennis Hiện nay cácđiểm bể bơi , sân tennis, điểm massage và điểm vũ trường ,karaoke đều nằm trongcác khách sạn Các tiện nghi nói trên đều phân tán , nằm ngoài khu du lịch và chấtlượng thấp Các tiện nghi vui chơi giải trí ngoài khách sạn như câu lạc bộ đêm ,casino…, các điểm tham quan và các hoạt động tiêu khiển cũng thiếu Đây cũng làmột trong những lí do làm cho du lịch của vùng kém hấp dẫn ,không thu hút khách vàthời gian lưu trú ngắn , chi tiêu của du khách tại địa điểm du lịch thấp

Bảng 1:Các Loại di tích đã được xếp hạng tại vùng du lịch ĐBSCL

( đơn vị : di tích)

Tỉnh,

thành phố

Lịchsử

Khảocổ

Thắngcảnh

Kiếntrúc-NT

Lichsử-CáchMạng

Lichsử-Kiếntrúc-NT

Lichsử-Thắngcảnh

Kiếntrúc-NT-Thắngcảnh

Tổngsố

Trang 31

(nguồn: cục bảo tồn bảo tàng – bộ Văn hoá thông tin) _(2008)

2.2.3 Đánh giá chung về tài nguyên nhân văn

Tiềm năng du lịch nhân văn là một loại tài nguyên du lịch quan trọng, bởi vìmột trong các nội dung chính của du lịch là tìm hiểu văn hoá, các phong tục tậpquán cảu cư dân địa phương du lịch Do vậy cần phải đặc biệt quan tâm đến loại tàinguyên này trong thiết kế qui hoạch các khu du lịch

Hiện nay các tiềm năng du lịch nhân văn đã bước đầu được chú ý quản lí và

tổ chức khai thác Nhiều di tích lịch sử văn hoá nghệ thuật đã được qui hoạch tôntạo và đưa vào phục vụ du khách tham quan , nhiều loại hình sinh hoạt văn hoá dântộc đã được khai thác , các ngành nghề thủ công truyền thống cũng đã được chú ýkhôi phục Đáng kể nhất là việc tu sửa các di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật nhưcác chùa chiền ,các đền tháp , tiêu biểu là các tháp Chàm

Tuy nhiên hiện trạng quản lí bảo vệ di tích vẫn còn chưa tốt Nhiều di tích bị

bỏ mặc cho hoang phế Nhiều di vật quý bị đánh cắp, có nhiều tượng đá quí đẹpcủa tháp cổ bị ăn cắp , các bệ đá bị đập vỡ lấy đi để tạc thành các tượng nhỏ đembán Bên cạnh đó nhiều di tích được trùng tu, phục chế không theo tiêu chuẩn khoahọc , làm mất đi giá trị của khu di tích

Trang 32

Nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa nghệ thuật truyền thống đang có nguy cơ

bị mai một theo thời gian , theo trào lưu văn hoá hiện đại như các loại hình ca nhạc

cổ truyền

Nhìn chung các tài nguyên nhân văn còn đang nằm trong dạng tiềm ẩn, chưađược tổ chức quản lí khai thác phục vụ du lịch theo đúng nghĩa của nó Để khaithác được các tiềm năng trên cần phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa các ngành ,nằmdưới sự điều hành chỉ đạo chung của các cấp chính quyền từ TW đến địa phương Cần phải xác định một cơ chế quản lí thống nhất các khu di tích , có phân côngtrách nhiệm rõ ràng giữa các ngành , các cơ quan Có như vậy mới tránh được cáchiện tượng tiêu cực vẫn đang diễn ra ở các khu di tích hiện nay

III) Thực trạng phát triển bền vững du lịch Đồng Bằng Sông Cửu Long

1 Về kinh tế

1.1.Khách du lịch

1.1.1 Khách du lịch quốc tế

a) Số lượng khách:

Sau năm 1975 đất nước được thống nhất , hoạt động kinh doanh du lịch thực

sự trở nên sôi động trong hơn một thập kỉ vừa qua, đặc biệt từ khi Đảng và Nhànước thực hiện chính sách “đổi mới” Cùng với sự tăng trưởng cao về số lượng ,hiện nay xu hướng và thành phần cơ cấu của dòng khách du lịch quốc tế đếnĐBSCL cơ bản thay đổi Những biến động về chính trị , kinh tế ở các nước Đông

Âu và Liên xô cũ đã làm giảm đi phần lớn số khách đến Việt Nam từ các nước này Thay vào đó là khách du lịch từ các nước trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương ,Tây Âu và Bắc Mỹ Đặc biệt từ khi Mỹ bỏ lệnh cấm vận với Việt Nam , khách dulịch quốc tế nói chung và khách Mỹ nói riêng vào Việt Nam tăng nhanh

Năm 1970 Việt Nam mới đón được 1.816 khách quốc tế , đến năm 1986 đãđạt được 54353 khách ( 1970-1986 tăng trung bình năm là 23,7%) Năm 1987 đónđược 73367 khách ; năm 1988 đạt 110390 khách ; năm 1989 đạt 187526 khách( giai đoạn 1987-1989 tăng trung bình là 59,9%)

Năm 1990 Việt Nam đón được 250000 khách quốc tế ; năm 1991 đạt 300000khách ; năm 1992 đạt 440000 khách ; năm 1993 đạt 670000 khách , năm 1994 đónđược 1.018.062 khách và đến năm 1995 đã đạt được 1.357.182 khách( giai đoạn

Trang 33

1990-1995 tăng trung bình năm là 40.3%) Năm 2006 cả nước đã đón được trên3.500.000 khách quốc tế ; đến năm 2008 đón 4,253 triệu và năm 2009 có 3,772 triệu.

ĐBSCL là nơi có tốc độ tăng trưởng lượng khách quốc tế khá cao trog giaiđoạn 1990-2000 (31,2%/năm ) Giai đoạn gần đây theo báo cáo của cơ quan du lịchđịa phương số lượng khách du lịch vẫn tăng hàng năm

Bảng 2: Sự phân bố khách du lịch quốc tế đến vùng du lịch ĐBSCL

giai đoạn 2001-2009( ngàn lượt)

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

2009Đ

BSCL

350

320

450

500

440

520

580

640

613

tp Hồ CHí Minh đưa đến Cần thơ là thành phố lớn nhất vùng , đồng thời được xácđịnh là trung tâm du lịch của ĐBSCL nhưng chỉ có rất ít doanh nghiệp lữ hành quốc

tế Cả vùng chỉ có 18 doanh nghiệp lữ hành quốc tế trên 629 doanh nghiệp trên cảnước Thậm chí có tỉnh không có doanh nghiệp lữ hành quốc tế nào la Long An,Bạc Liêu , Cà Mau, Hậu Giang, Trà Vinh và Sóc Trăng.Trong giai đoạn 2000-2008,lượng khách quốc tế đến tham quan du lịch trong toàn khu vực Đồng bằng sôngCửu Long hàng năm chiếm khoảng 4,3-6,5% so với cả nước

b).Thành phần cơ cấu khách :

Trong tổng số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong những năm vừa quatrung bình có tới 75% đi bằng đường hàng không ; 15% đi bằng đường bộ và 10%

Trang 34

đi bằng đường thuỷ Mục đích của khách quốc tế đến Việt Nam cũng khác nhau Khách du lịch nước ngoài có mục đích du lịch nghỉ dưỡng chiếm trung bình 43,8%;thương mại chiếm 21,6%; thăm than nhân chiếm 19,6%; khách có mục đích khácchiếm 15% Riêng khách du lịch là người Việt Kiều có mục đích du lịch thuần tuý ,thăm thân chiếm tới 76,4%; mục đích thương mại chỉ chiếm 2,8%;khách có mụcđích khác chiếm 20,8%.

Giai đoạn 2002-2006, tốc độ tăng trưởng khách du lịch quốc tế đến ViệtNam thuộc vào loại khá so với nhịp độ tăng trưởng trung bình trên thế giới và đạtmức 8,6%/năm ,những nếu tính đến hết năm 2009 thì tốc độ này chỉ còn đạt 2,15%

do cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng diễn ra đầu năm 2009 Tính theo cơ cấukhách trong thời gian qua có nhiều biến động , giai đoạn 2002-2006 khách HànQuốc tăng trưởng cao nhất :40%/năm; sau đó đến khách Úc: 22,2 %/năm ;kháchMỹ: 11,9%/năm v.v….Tuy nhiên về trị số tuyệt đối , khách trung Quốc chiếm vị tríhàng đầu với 516.286 khách sau đó đến khách Hàn Quốc : 421.741 khách ; kháchMỹ: 385.654 khách ( số liệu năm 2006)… Tính đến hết năm 2009, các chỉ số trêncho thấy khách Hàn Quốc có mức gia tăng cao nhất , tăng trung bình 21,9 %/nămtrong giai đoạn 2004-2009, khách Mỹ tăng 11,6%/năm ; khách úc tăng 15,9 %/năm

do có những biến động trên thị trường khách thế giới và trong vùng

Khách du lịch là Việt Kiều cũng tăng trưởng khá nhanh ( đạt 23% giai đoạn2002-2006) Năm 2006 có 596907 khách về thăm quê hương ( chiếm 15% số kháchquốc tế đến Việt Nam ).Số Việt kiều định cư ở Mỹ về thăm quê hương chiếm tỉ lệcao nhất 50,5%; sau đó đến Việt Kiều ở Úc chiếm 11,8%; Việt kiều ở Canadachiếm 7,6% , ở Pháp chiếm 7.6%v…Năm 2008 riêng số khách Việt Kiều qua cửakhẩu Tân Sơn Nhất chiếm 27,9% tổng số khách quốc tế đến tp Hồ Chí Minh( 2707340 luợt) chứng minh rằng thị trường khách Việt Kiều mặc dù chưa phải làlớn nhất nhưng là thị trường ổn định và bền vững đối với Việt Nam

Đối với vùng ĐBSCL trong những năm gần đây thị trường khách du lịchquốc tế đã thay đổi căn bản Nếu như trog thời kì bao cấp thị trường khách du lịchchính của vùng là các nước đông âu và Liên xô cũ thì khi chuyển sang nền kinh tếthị trường các thị trường truyền thống này hầu như không còn , mà thay vào đó làthị trường Tây Âu , Bắc Mỹ , Châu Á- Thái Bình Dương, các nước Đông Nam Á-ASEAN…

Trang 35

Cơ cấu của thị trường khách quốc tế của vùng du lịch ĐBSCL có thể chiathành 4 nhóm chính : khách Châu Á, khách Châu Âu , khách Châu Mỹ và Việt Kiều.Số khách Châu Á( Đài Loan , Hông Kông ) vẫn chiếm đa số mặc dù số khách Tây

Âu và Pháp cũng có tăng lên rõ rệt Mục đích của khách du lịch quốc tế đến vùngchủ yếu là tham quan du lịch ( chiếm 44,4%), điều này đặc biệt đúng đối với kháchChâu Âu; mục đích thương mại chiếm 31,1% và chủ yếu là khách Châu Á; mụcđích thăm than chiếm 19%(đa số là Việt Kiều ); số còn lại là có các mục đíchkhác(chiếm 5,5%) Về giới tính, tỉ lệ nữ trong tổng số khách quốc tế đến Vùng là23,4%; trong đó cao nhất là Việt Kiều (35,7%) và thấp nhất là nhóm khách châuÁ(6,5%).Về tuổi tác , phần lớn nằm trong độ tuổi 30-39 tuổi ( 36,9%); tiếp theo là40-49 tuổi (27%); từ 20-24 tuổi chiếm 14%; số còn lại là các lứa tuổi khác Đa sốkhách du lịch quốc tế đến vùng là lần đầu tiên ( chiếm 64,5%)

Cơ cấu khách du lịch đến vùng ĐBSCL như sau: Châu Âu ( 54% ) chiếmphần lớn thị phần ,còn lại là khu vực Châu Mỹ ( 6% ), Đông Bắc Á ( 10%) , ĐôngNam Á ( 20%) còn lại là Châu Úc và các tiểu vùng khác ( số liệu năm 2007 do công

ty du lịch tp Hồ CHí Minh cung cấp ) Như vậy ta thấy khu vực ĐBSCL thu hút chủyếu là khách du lịch đến từ Châu Âu , Đông Á ( Nhật Bản , Hàn Quốc , Đài Loan ,Hồng Kông ) do nhu cầu du lịch của khách Châu Âu , Bắc Mỹ với mục đích chính

là đi du lịch biển , du lịch mạo hiểm , thiên nhiên , sinh thái còn khách Đông Á( chủ yếu là Nhật Bản và Đài Loan ) lại hay tập trung ở đô thị , chủ yếu là các đô thịlớn để mua sắm hàng hoá , tham quan , tìm hiểu văn hoá , cuộc sống của dân địaphương Ngoài ra khách du lịch Đông Bắc Á đến du lịch ở vùng này còn có mụcđích tìm cơ hội đầu tư mới tại một số đô thị lớn

c).Thời gian lưu trú trung bình :

Cùng với sự gia tăng nhanh tổng số lượng khách quốc tế đến Việt Nam nóichung và khách quốc tế đến ĐBSCL nói riêng , thời gian lưu trú trung bình cũngđược tăng lên đáng kể Nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng ngày lưu trú trung bìnhcủa khách có nhiều , nhưng cơ bản vẫn là : các sản phẩm du lịch của Việt Nam ngàycàng phong phú hơn , có chất lượng hơn : tổ chức được nhiều tuyến , tour du lịch cósức hấp dẫn du khách ; Việt Nam đang trong thời kì đổi mới nên thu hút nhiều nhàđầu tư, nghiên cứu đến tìm hiểu và tìm kiếm cơ hội đầu tư v.v…

Trang 36

Năm 2002, thời gian lưu trú trung bình của một khách du lịch đến Việt Namkhoảng 8 ngày , năm 2006 đã lên đến 11 ngày , trung bình mỗi năm tăng lên 0,3ngày Thời gian lưu trú trung bình của khách du lịch quốc tế đến ĐBSCl cũngkhông ngừng tăng lên ,tuy nhiên vẫn còn rất thấp , thời gian lưu trú trung bình năm

2006 là 1,8 ngày) do sản phẩm du lịch đơn điệu và hầu như không có tính khác biệt

d).Khả năng chi tiêu của khách :

Trong những năm qua , sản phẩm du lịch của các địa phương trong Vùng dulịch ĐBSCL chưa phong phú và đặc sắc ,chất lưưọng chưa cao , còn nghèo nàn vàđơn điệu , chính vì lẽ đó đã hạn chế khả năng chi tiêu của khách du lịch Hiện nay ,trung bình mỗi ngày một khách du lịch quốc tế đến Việt Nam chi tiêu khoảng 70-90USD , trong khi đó ở ĐBSCL đạt khoảng 50 USD Phần lớn nguồn chi tiêu cảukhách du lịch ở các tỉnh trong vùng tập trung vào lưu trú và ăn uống ( chiếm tới trên65%), sau đó là mua sắm hàng lưu niệm ,vận chuyển và các dịch vụ khác còn rấthạn chế bởi vì các cơ sở kinh doanh du lịch cũng như các cơ sở sản xuất hàng thủcông mỹ nghệ chưa tạo ra được những sản phẩm đặc sắc có chất lượng đặc trưngcho địa phương mình ; chưa có các trung tâm vui chơi giải trí tổng hợp ; các dịch vụ

bổ sung khác còn nghèo nàn ; chưa tổ chức được các tour du lịch hấp dẫn v.v…

Chi tiêu của khách du lịch cho lưu trú và ăn uống là nhu cầu không thể thiếuđược và có giới hạn ,song chi tiêu cho việc mua sắm hàng lưu niệm , cho các dịch

vụ khác là không có giới hạn Vì vậy muốn tăng nguồn thu thì việc chuyển dịch cơcấu chi tiêu của khách du lịch là một yếu tố rất quan trọng , các cơ sở kinh doanh dulịch phải biết hướng cho khách chi tiêu nhiều hơn vào việc mua sắm hàng hoá , vàovận chuyển và các dịch vụ khác v.v…

Trang 37

10,4%/ năm Khách du lịch nội địa có nhiều loại khác nhau, nhưng chủ yếu làkhách tham quan , nghỉ dưỡng ,lễ hội , hành hương , công vụ v.v…

Khách du lịch nội địa đến vùng ĐBSCL có xu hướng tăng lên, trong giaiđoạn 1992-2000 thị phần khách nội địa đến vùng ĐBSCL đã tăng gấp 6 lần nếu sosánh năm 2000 với năm 1992.Năm 2002 có 2,340 triệu lựơt khách nội địa đếnĐBSCL, năm 2005 có 3,989 triệu lựơt khách nội địa đến ĐBSCL, đến năm 2009thì đạt 4 triệu lượt khách du lịch nội địa , bình quân thời kì 2002-2009 tốc độ giatăng bình quân khách du lịch nội địa đến vùng ĐBSCL là 11,1%/ năm.Mục tiêu đếnnăm 2015 đạt 5,2 triệu lượt khách du lịch nội địa và đến năm 2020 là 6,5 triệu lượtkhách du lịch nội địa

b)Các hình thức du lịch :

Khách du lịch nội địa có nhiều loại khác nhau về sở thích , giới tính , tuổitác, khả năng chi tiêu , mục đích đi du lịch v.v…nhưng chủ yếu là đi theo các hìnhthức du lịch chính như sau :

-Du lịch tắm biển : đây là loại hình du lịch phổ biến nhất ở nước ta hiện nay ,

nó thu hút hầu hết các đối tượng khách du lịch và chiếm tỉ lệ cao trong tổng sốkhách du lịch nội địa của cả vùng Du lịch tắm biển thường chỉ tập trung vào mùa

hè ở những nơi có bãi biển đẹp như Phú Quốc ,còn gọi là hòn đảo ngọc vì không chỉ

có nhiều tiềm năng kinh tế mà còn là thắng cảnh đẹp Nơi đây có các thắng cảnhthuộc các đối tượng tự nhiên khác nhau như biển , sông suối , rừng , núi, đảo , nênđảo Phú Quốc được đánh giá là một nơi du lịch hoàn chỉnh.Đến đây khách tắm biểnthường đi theo gia đình , theo nhóm v.v…

-Du lịch lễ hội- hành hương : trong mấy năm gần đây khách du lịch lễ hội –hành hương phát triển nhanh Đối tượng chính của loại hình du lịch này là nhữngngười lớn tuổi , những người buôn bán kinh doanh …Mùa du lịch lễ hội- hànhhương thường tập trung vào những tháng sau tết Nguyên đán khi mà ở khắp nơidiễn ra các lễ hội , đồng thời vào thời gian này thương trường bớt biến động nên cácnhà kinh doanh buôn bán thường đi đền chùa , lễ hội để cầu may , cầuphúcv.v….Loại khách du lịch lễ hội –hành hương đến vùng ĐBSCL chủ yếu tậptrung những nơi tâm linh như Núi Sam(An giang), chàu Dơi, chùa Vĩnh Tràngv.v……

Trang 38

-Du lịch tham quan – nghỉ dưỡng : Loại hình du lịch này thường thu hút đốitượng khách du lịch là những người lớn tuổi Du lịch tham quan – nghỉ dưỡngthường tập trung ở những nơi có danh lam thắng cảnh đẹp , có khí hậu trong lành( như biển và núi )phù hợp cho việc nghỉ dưỡng và phục hồi sức khoẻ Loaị hình dulịch này có thể diễn ra quanh năm , tuy nhiên vào những tháng giá rét hoặc mưa cũnghạn chế khả năng đi lại của du khách Đà Lạt là nơi tham quan , nghỉ dưỡng lý tưởngtrong vùng và hàng năm thu hút hàng trăm ngàn lượt khách với mục đích này

Du lịch thương mại , công vụ : Đây là loại hình du lịch cũng tương đối phổbiến với vùng ĐBSCL Đối tượng chính của loại hình du lịch này là cán bộ côngnhân viên trong các cơ quan Nhà nước, các doanh nghiệp.thường kết hợp giữa côngtác và du lịch Khả năng chi trả của các đối tượng du lịch này là rất cao, nên họthường sử dụng các dịch vụ du lịch cao cấp hơn Loại hình du lịch này cũng thườngdiễn ra quanh năm Thành phố Cần Thơ và các đô thị lớn trong vùng là nơi thu hútphần lớn loại khách du lịch này

-Du lịch chữa bệnh: ở nước ta nói chung và vùng ĐBSCL nói riêng loại hìnhnày chưa phổ biến và mới chiếm tỉ lệ nhỏ trong tổng số khách du lịch nội địa Đốitượng của loại du lịch này là người già , người tàn tật và thường tập trung ở nhữngnơi có nguồn nước khoáng nóng với mục đích nghỉ ngơi và chữa bệnh

c)Thời gian lưu trú trung bình :

Cũng như khách du lịch quốc tế, trong những năm vừa qua khách du lịch nộiđịa của vùng ĐBSCL gia tăng nhanh chóng không những về số lượng mà cả về thờigian lưu trú trung bình Do tình hình chính trị ổn định , đời sống của nhân dânkhông ngừng được cải thiện và nâng cao , chất lượng cuộc sống được nâng lên mộtbước, đường sá được mở mang và nâng cấp nên số người đi du lịch ngày càng nhiều

và thường tổ chức các chuyến đi dài ngày hơn , đi đến nhiều điểm du lịch hơn

Năm 2002 thời gian lưu trú trung bình của khách du lịch đến ĐBSCL là 1,1ngày ,đến năm 2006 đã là 1,3 ngày , tuy nhiên đến năm 2008 thì thời gian lưu trúcủa khách nội địa đến đây chỉ là 1,3 ngày , nói chung biến động khôngnhiều Khách du lịch nghỉ dài ngày chỉ có các khu du lịch lớn như Cần Thơ, KiênGiang

d)Khả năng chi tiêu của khách :

Trang 39

Khả năng chi tiêu của khách du lịch nội địa phụ thuộc vào nhiều yếu tố ,nhưng cơ bản nhất vẫn là hai yếu tố chính sau đây :

-Khả năng thu nhập của khách du lịch

-Khả năng đáp ứng các dịch vụ của các cơ sở kinh doanh du lịch

Đất nước đang trong thời kì hội nhập , nền kinh tế bao cấp chuyển sang nềnkinh tế thị trường , hàng hoá nhiều thành phần , thu nhập của nhiều tầng lớp lao độngkhông ngừng được tăng lên Ngoài việc chi tiêu cho cuộc sống hàng ngày, người dânlao động đã tích luỹ được ít nhiều cho các chuyến đi du lịch của mình , khả năng chitrả cho các dịch vụ du lịch được nâng lên Khách nội địa đã bắt đầu sử dụng các dịch

vụ du lịch cao cấp hơn; Tuy nhiên , đứng về phía các cơ sở kinh doanh du lịch thìviệc đáp ứng đầy đủ các dịch vụ cho khách du lịch là còn bị hạn chế Chính vị thếhiện nay khách du lịch nội địa cũng dành phần lớn nguồn chi tiêu của mình cho lưutrú và ăn uống Trung bình mỗi ngày một khách du lịch nội địa ở ĐBSCL chi tiêukhoảng trên dưới 200 ngàn (10$ ) trong đó chi cho lưu trú và ăn uống chiếm khoảng60% , còn lại chi cho mua sắm hàng lưu niệm và các dịch vụ khác

1.1.3 Đánh giá chung về khách du lịch

Trong bối cảnh chung của cả nước, những năm gần đây ngành du lịch củacác tỉnh, thành phố thuộc ĐBSCL tăng trưởng nhanh, đặc biệt là tốc độ tăng trưởngkhách du lịch Thời kì 2000-2008 tốc độ gia tăng khách du lịch đến vùng ĐBSCLđạt mức trung bình 16,4%/năm Thị trường khách du lịch quốc tế đến vùng ĐBSCLcũng hoàn toàn thay đổi Nếu như trước đây , thị trường khách du lịch chính cảuvùng là các nước Đông Âu và Liên Xô cũ thì nay khách đến từ các thị trường này làkhông đáng kể Thay vào đó là khách du lịch đến từ các nước Tây Âu nhưPháp ,Đức ; các nước Bắc Mỹ ;các nước Châu á-Thái Bình Dương như Nhật Bản,Hồng Kông , Đài Loan , Úc và các nước ASEAN Mục đích của khách du lịch quốc

tế đến vùng ĐBSCL là tham quan , du lịch, thăm thân các mục đích khác

Khách du lịch nội địa đến vùng ĐBSCL cũng tăng nhanh đáng kể và đạt mức

11 %/ năm ( thời kì 2000-2008) Tốc độ tăng trưởng nhanh của số lượng khách dulịch nội địa cũng chứng tỏ đời sống vật chất tinh thần của người lao động ngày càngđược nâng cao Nhu cầu nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, nhu cầu nâng cao dân trí , tìmđến cái mới , cái lạ của người dân là một nhu cầu khách quan Mục đích đi du lịch

Trang 40

của khách du lịch nội địa đến vùng ĐBSCL cũng rất đa dạng, nhưng chủ yếu là thamquan, tắm biển ,lễ hội – tín ngưỡng ; nghỉ dưỡng ; nghỉ cuối tuần , công vụ v.v…

Vùng ĐBSCl có thể rất khó trở thành điểm đến lý tưởng của khách du lịchnội địa – những cư dân nông nghiệp đã quá quen với cảnh ruông, vườn nhưng cóthể rất hấp dẫn với khách du lịch Châu Âu vốn dĩ lâu nay chỉ thấy các cánh đồng lúa

mì đặc thù của miền khí hậu ôn đới

1.2.Doanh thu từ du lịch

1.2.1.Doanh thu

Doanh thu từ du lịch bao gồm tất cả các khoản thu do khách du lịch chi trả, đó

là doanh thu từ lưu trú và ăn uống; từ vận chuyển khách du lịch; mua sắm hàng hoá;

từ các dịch vụ khác như vui chơi giải trí , dịch vụ y tế, ngân hàng , bưu điện , phimảnh, giao thông công cộng, bảo hiểm v.vv… Tuy nhiên trên thực tế ,tất cả các khoảnthu này không phải chỉ do ngành du lịch trực tiếp thu mà còn do nhiều ngành khácthu Chính vì lẽ đó mà theo thống kê sự đóng góp của ngành du lịch trong nền kinh

tế nói chung còn thấp, chưa phản ánh đúng thực trạng của ngành du lịch trong vùng

Mặc dù theo số liệu thống kê chưa đầy đủ , nhưng trong những năm gần đâycùng với sự gia tăng nhanh về khách du lịch, doanh thu từ du lịch của cả nước tăngtrưởng tương đối cao Năm 2000 doanh thu do ngành du lịch đạt được là 11,1 ngàn tỉđồng , doanh thu du lịch xã hội là 17400 tỉ đồng Năm 2002 là 23600 tỉ đồng , năm

2003 thu được 30208 tỉ đồng , năm 2005 thu được 45088 tỉ đồng và đến năm 2009thu được 70000 tỉ đồng , Trung bình tốc độ tăng truởng bình quân thời kì 2000-

2009 của doanh thu du lịch xã hội đạt 28%/năm

Năm 2000 doanh thu từ du lịch của vùng ĐBSCL đạt 383,669 tỉ đồng Năm

2001 là 472 tỉ đông, năm 2002 thu đươc 590 tỉ đồng, năm 2003 thu được 696 tỉđồng , đến năm 2008 doanh thu từ du lịch của riêng vùng ĐBSCL đã đạt đượckhoảng 2050 tỉ đồng.Trong giai đoạn 2000-2008 , doanh thu của du lịch tăng ở mức23,2 % /năm

Ngày đăng: 19/03/2016, 19:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1:Các Loại di tích đã được xếp hạng tại vùng du lịch ĐBSCL - Vai trò của ngành du lịch trong nèn kinh tế và biện pháp phát triển bền vững du lịch việt nam
Bảng 1 Các Loại di tích đã được xếp hạng tại vùng du lịch ĐBSCL (Trang 27)
Bảng 2: Sự phân bố khách du lịch quốc tế đến vùng du lịch ĐBSCL - Vai trò của ngành du lịch trong nèn kinh tế và biện pháp phát triển bền vững du lịch việt nam
Bảng 2 Sự phân bố khách du lịch quốc tế đến vùng du lịch ĐBSCL (Trang 30)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w