1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐẠO ĐỨC Y HỌC, RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC NGƯỜI ĐIỀU DƯỠNG, KỸ THUẬT Y HỌC

63 341 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 378,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là học thuyết về nghĩa vụ người cán bộ y tế và cả trách nhiệm công dân của người ấy, không những trên bệnh nhân, trên đồng nghiệp mà cả toàn thể... Vai trò của chăm sóc  Theo đánh giá c

Trang 1

ĐẠO ĐỨC Y HỌC RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC

NGƯỜI ĐIỀU DƯỠNG, KỸ THUẬT Y

HỌC

Trang 2

1 Đạo đức Y học

(Déontologie médical)

1.1 Khái niệm về đạo đức Y học

Đạo đức y học là một bộ phận của đạo đức nghề nghiệp, là yêu cầu đặc biệt có liên quan đến việc tiến hành các hoạt động nhằm đem lại sức khỏe cho con người.

Là các quy tắc, nguyên tắc chuẩn mực của ngành y tế, nhờ đó mà mọi thành viên y tế (từ hộ lý đến bộ trưởng, ) phải tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích và tiến bộ của ngành y tế.

Trang 3

1 Đạo đức Y học

(Déontologie médical)

Là khoa học về lý luận, phẩm cách của người cán bộ y tế và bản chất giai cấp của vấn đề ấy Là học thuyết về nghĩa vụ người cán bộ y tế và cả trách nhiệm công dân của người ấy, không những trên bệnh nhân, trên đồng nghiệp mà cả toàn thể

Trang 4

1 Đạo đức Y học

- Quan hệ giữa cán bộ y tế với công việc

- Quan hệ giữa cán bộ y tế với khoa học

- Quan hệ giữa cán bộ y tế với đồng nghiệp

Lĩnh vực nghề nghiệp của ngành y có hai phạm vi nguyên tắc chuẩn mực: luật pháp hành nghề y tế, và tiêu chuẩn đạo đức người cán bộ y tế

Trang 5

1.2 Bản chất đạo đức y học XHCN

1.2.1 Đạo đức người cán bộ y tế trước hết phải có đạo đức của một công dân XHCN Người cán bộ y tế có đạo đức

không bao giờ bị luật pháp tước quyền công dân.

1.2.2 Người cán bộ y tế XHCN luôn coi trọng trách nhiệm nghề nghiệp và đạo đức Y học

Trách nhiệm và đạo đức người cán bộ y tế luôn hướng tới những điều kiện thuận lợi nhất cho sức khỏe người bệnh Sức khỏe người bệnh là trên hết “Đạo đức y học có mục đích cứu người, trách nhiệm nghề nghiệp yêu cầu người cán bộ y tế phải có trí thức khoa học, nghệ thuật

Trang 6

1.2.3 Phải có lòng nhân đạo đối với bệnh nhân: Lòng nhân đạo của người cán bộ y tế XHCN xuất phát từ bản chất chế độ, trách nhiệm lớn lao cao cả của người cán bộ y tế bắt nguồn từ bản chất XHCN.

1.2.4 Người cán bộ y tế XHCN hành nghề vì mục đích trong sáng

Người cán bộ y tế XHCN hết lòng vì người bệnh, không vụ lợi Nguyên lý y tế XHCN tạo tiền đề cho người cán bộ

y tế vừa thực hiện nghĩa vụ và lý tưởng của mình, vừa là điều kiện để nâng cao đạo đức

Người cán bộ y tế XHCN xem đồng tiền là phương tiện để phát triển nghề nghiệp, chứ không phải là mục đích.

Trang 7

1.3 Đạo đức y học Việt Nam

Đạo đức y học Việt Nam từ lâu mang màu sắc từ bi, bác ái, các thầy thuốc thường sống hoặc nương nhờ cửa phật làm điều thiện như nuôi trồng cây thuốc, bốc thuốc chữa bệnh không lấy tiền cho người nghèo.

1.3.1.Thế kỷ 13 Phạm Công Bân chữa bệnh cho dân nghèo không lấy tiền, tự bỏ tiền và nuôi dưỡng người nghèo người tàn tật, kẻ mồ côi, nêu cao tinh thần trách nhiệm củ người thầy thuốc.

Chu Văn An là thầy thuốc giáo có bản lĩnh, trong sáng, có đức độ và tài năng Về đạo đức Chu văn An rất coi trọng Nhân, Minh, Trí Trong đó nghề làm thầy

Trang 8

1.3.2 Thế kỷ 14: có Tuệ Tĩnh (Tuệ Tĩnh 1330-1339)

- Tuệ Tĩnh nêu cao tinh thần dân tộc

“Nam dược trị Nam nhân”.

- Cô đúc phương hướng phòng bệnh và chữa bệnh nhân đạo.

- Có lý tưởng làm cho dân bớt đau khổ.

1.3.3 Thế kỷ 15: bộ luật Hồng đức (triều Lê) có quy định quy chế hành nghề y, trừng phạt kẻ vụ lợi cố tình chữa bệnh dây dưa hoặc dùng thuốc mạnh gây chết người,

1.3.4 Thế kỷ 18: có Hải Thượng Lãn Ông

Lê Hữu Trác (1720-1791) Hải Thượng Lãn Ông quê cha ở làng Liêu Xá, Yên Mỹ, Hải Hưng, quê mẹ Sơn quán, Hương Sơn, Hà Tĩnh.

Trang 9

Quan điểm xử thế của Hải Thượng Lãn Ông

1 Làm nghề thuốc là một nhân thuật (lo cái lo của mọi người, vui cái vui của mọi người, giúp người, làm phận sự của mình mà không ham lợi kể công)

2 Chống tư tưởng vụ lợi.

3 Nêu gương sáng trong việc đối xử với bệnh nhân (bệnh gấp thì phục vụ trước, ).

4 Không xu nịnh kẻ giàu sang quyền thế

5 Hết lòng giúp đỡ người nghèo

6 Nêu cao đạo đức thầy thuốc, tận tụy phục vụ người bệnh

Trang 10

2 Vai trò người cán bộ y tế trong chăm sóc người

bệnh toàn diện

2.1 Vai trò của chăm sóc

Theo đánh giá của tổ chức Y tế Thế giới, dịch vụ chăm sóc sức khỏe của điều dưỡng và hộ sinh là một trong những trụ cột của hệ thống dịch vụ y tế, nó tác động trực tiếp tới chất lượng điều trị, tỷ lệ tử vong, tỷ lệ biến chứng, rút ngắn ngày điều trị và làm tăng sự hài lòng của người bệnh, nó vừa mang tính chất thiết yếu vừa mang tính chất phổ biến nên nhiều nước trên thế giới đã lựa chọn điều dưỡng và hộ sinh là công cụ chiến lược để thực hiện chính sách xã hội, nhằm tăng cường sự tiếp cận của người bệnh và người nghèo đối với dịch vụ y tế.

Trang 11

Ngày nay, khái niệm về sức khỏe

đã được mở rộng, người bệnh vào viện không chỉ có nhu cầu chăm sóc và điều trị bệnh mà còn có các nhu cầu về tinh thần và xã hội nên việc tổ chức chăm sóc người bệnh toàn diện đã trở thành phương thức chăm sóc phổ biến và đã được áp dụng rộng rãi ở khắp các bệnh viện trên thế giới.

Trang 12

Ở nước ta, Bộ Y tế đã ban hành Quy

chế chăm sóc người bệnh toàn diện (CSNBTD) Quy chế nêu rõ: CSNBTD là sự chăm sóc và điều trị của bác sĩ và điều dưỡng nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản của người bệnh cả về thể chất và tâm thần trong thời gian điều trị tại bệnh viện Nội dung cơ bản của quy chế CSNBTD là sự chuyển đổi phương thức phân công chăm sóc, từ lấy công việc làm trung tâm sang lấy người bệnh làm trung tâm và mở rộng nội dung chăm sóc không chỉ tập trung vào dịch vụ y tế mà còn đáp ứng những nhu cầu cơ bản của một con người cả về thể chất, tâm thần và xã hội

Trang 13

Vì vậy, thực hiện quy chế CSNBTD

là biện pháp cơ bản để tăng cường chất lượng phục vụ và sự hài lòng của người bệnh và là sự lựa chọn của bệnh viện Để thực hiện có hiệu quả quy chế CSNBTD thì việc cam kết đầu tư nguồn lực của lãnh đạo bệnh viện, sự mở rộng vai trò chủ động của điều dưỡng và đào tạo nâng cao kiến thức, kỹ năng chăm sóc toàn diện là yếu tố rất cơ bản.

Trang 14

2.2 Vì sao phải chăm sóc người bệnh toàn diện

Được chăm sóc toàn diện là quyền của người bệnh: CSNBTD là đúng với mong muốn của người bệnh khi nằm viện, họ không chỉ có nhu cầu chữa bệnh mà còn mong muốn được đáp ứng các nhu cầu về thể chất, tâm lý và xã hội.

CSNBTD là thúc đẩy chức năng chủ động của người y tá - điều dưỡng: trước đây, người điều dưỡng chỉ được đào tạo

ở trình độ sơ học và trung học, công việc chăm sóc phụ thuộc hoàn toàn theo y lệnh của thầy thuốc

Trang 15

Ngày nay, người điều dưỡng đã được đào tạo cao hơn và chuyên sâu hơn để làm được ba chức năng cơ bản: độc lập, phụ thuộc và phối hợp Thực hiện CSNBTD sẽ vừa là cơ hội vừa là một thách thức để người y tá - điều dưỡng thể hiện chức năng độc lập thông qua chủ động xây dựng kế hoạch chăm soúc cho mỗi người bệnh và phối hợp chặt chẽ với các thầy thuốc trong quá trình điều trị người bệnh.

Trang 16

2.3 Những thách thức trong việc thực hiện quy chế CSNBTD

- Mối quan hệ điều dưỡng và người bệnh còn rất yếu: điều dưỡng là hỗ trợ người bệnh bằng hành động và bằng thái độ, nhưng giao tiếp của điều dưỡng chưa gây được niềm tin nơi người bệnh Người bệnh hiện nay chưa được thuyết phục bởi sự chăm sóc và giao tiếp của người điều dưỡng

Giao tiếp của điều dưỡng chưa gây được niềm tin cho người bệnh đang là một trong những tồn tại phổ biến của điều dưỡng, đôi khi là đề tài của báo chí, và là nguyên nhân của những trách cứ và kiện cáo

Trang 17

Chất lượng chăm sóc còn ở mức thấp: điều dưỡng chủ yếu thực hiện chức năng phụ thuộc điều trị theo cách làm truyền thống Các dịch vụ chăm sóc mang tính chủ động như giáo dục sức khỏe, tư vấn, hướng dẫn cho người bệnh và người nhà còn ít Vì thiếu nhân lực điều dưỡng, nên các chăm sóc cơ bản như: vệ sinh cá nhân, thay đổi tư thế, ăn uống, hỗ trợ tinh thần do gia đình người bệnh đảm đương là chính Có thể nói rằng, hiếm có nước nào trên thế giới, việc chăm sóc cho người bệnh tại bệnh viện lại là trách nhiệm của gia đình người bệnh.

Trang 18

Phương thức cung cấp dịch vụ chăm sóc chưa hợp lý và khoa học: bệnh viện vẫn áp dụng phương pháp phân công điều dưỡng viên theo công việc là chính, hoặc áp dụng phương pháp nhóm nhưng bản chất vẫn là công việc thay cho phương thức phân công điều dưỡng viên theo người bệnh Các thủ tục hành chính còn rườm rà nên điều dưỡng viên làm các công việc gián tiếp nhiều hơn chăm sóc trực tiếp Ca làm việc kéo dài 24 giờ/24 giờ Điều dưỡng viên đang phải làm nhiều công việc không thuộc trách nhiệm nghề nghiệp của họ

Trang 19

Nhân lực điều dưỡng đã thiếu lại

bị huy động vào các công việc hành chính như thanh toán viện phí, thống kê, các dịch vụ hậu cần, cận lâm sàng không cung cấp tại khoa điều trị làm cho điều dưỡng viên đã thiếu lại xa rời buồng bệnh để làm công việc hành chính sự vụ, trong đó có nhiều việc không được đào tạo để làm.

Trang 20

Một số lãnh đạo chưa nhận thức và tích cực triển khai quy chế CSNBTD: CSNBTD nếu thực hiện tốt sẽ tác động trực tiếp tới sự sống và sự hài lòng của người bệnh, là biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng điều trị và là một việc cần phải làm Vì vậy, quy chế CSNBTD của Bộ Y tế đã khẳng định CSNBTD là nhiệm vụ của toàn bệnh viện, mọi bộ phận, mọi nhân viên đều có trách nhiệm tham gia CSNBTD

Trang 21

Mặc dù vậy, nhiều người cho rằng CSNBTD là trách nhiệm riêng của người điều dưỡng, của phòng y tá - điều dưỡng nên chưa chỉ đạo các bộ phận khác cùng phối hợp thực hiện Nguyên nhân cơ bản là

do thiếu quyết tâm của người quản lý bệnh viện, do thiếu nhân lực, thiếu phương tiện chăm sóc và trong đó phải kể tới nguyên nhân do chính người điều dưỡng.

Trang 22

2.4 Mục tiêu, nội dung và biện pháp tăng cường CSNBTD

2.4.1 Mục tiêu CSNBTD nhằm đạt được

ba kết quả mong muốn như sau:

- Tăng cường sự hài lòng của người bệnh.

- Tăng cường chất lượng chăm sóc và sự an toàn cho người bệnh.

- Chuẩn hóa các kỹ thuật và nề nếp làm việc.

Trang 23

2.4.2 Nội dung hoạt động chính của khoa CSNBTD

thuốc/điều dưỡng viên và nhân viên y tế giao tiếp giỏi.

- Xây dựng khoa chăm sóc - điều trị chất lượng cao.

- Xây dựng khoa chuẩn hóa các quy trình chuyên môn và hành chính.

Trang 24

2.4.3 Các biện pháp thúc đẩy CSNBTD

2.4.3.1 Nhận thức và cam kết của lãnh đạo

bệnh viện: CSNBTD tác động trực tiếp tới sự sống và sự hài lòng của người bệnh và là nhiệm vụ của toàn bệnh viện, trong đó vai trò của điều dưỡng là rất quan trọng Sẽ không có CSNBTD nếu thiếu sự ủng hộ của lãnh đạo bệnh viện Vai trò của ban chỉ đạo CSNBTD, trưởng khoa, điều dưỡng trưởng khoa và phòng Y tá điều dưỡng là chìa khóa để triển khai CSNBTD Để triển khai CSNBTD thành công, lãnh đạo bệnh viện cần cam kết nguồn lực cần thiết để hỗ trợ việc thực hiện.

Trang 25

2.4.3.2 Cải thiện kỹ năng giao tiếp

với người bệnh, người nhà người bệnh và khách: thực hiện đầy đủ quy định giao tiếp theo quyết định số 4031/2001/QĐ-BYT, ngày 27/9/2001 Xây dựng các chuẩn mực giao tiếp bắt buộc trong bệnh viện Sửa đổi những hành vi giao tiếp và lời nói do tập quán, thói quen không phù hợp Giáo dục cán bộ y tế vừa có “tâm” vừa có “tài”.

Trang 26

2.4 2 3 Tổ chức CSNBTD cần có ba yếu

tố:

Thành lập ban chỉ đạo CSNBTD: để lập

kế hoạch và chỉ đạo khoa điểm Ban chỉ đạo họp thường kỳ hàng tháng để đánh giá tiến độ và bàn biện pháp thực hiện Phòng Y tá - Điều dưỡng, Trưởng khoa, Điều dưỡng trưởng khoa chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện CSNBTD.

Trang 27

Tổ chức chăm sóc điều trị: áp dụng

phương thức chăm sóc theo đội và lấy người bệnh làm trung tâm Đội bao gồm cả bác sĩ, điều dưỡng viên, hộ lý, người nhà và các thành viên liên quan khác, trong đó vai trò của bác sĩ điều trị là rất quan trọng bảo đảm cho đội hoạt động chuyên môn có hiệu quả Trong các đội điều dưỡng làm việc theo nhóm, hoặc phân công điều dưỡng viên theo người bệnh, cố gắng tổ chức làm ba ca, tăng cường giáo dục sức khỏe cho người bệnh và người nhà.

Trang 28

Cải tiến phương thức cung cấp dịch vụ

của các bộ phận hậu cần, dược, nhà giặt, xét nghiệm: các bộ phận cận lâm sàng cần phải cung cấp dịch vụ tại khoa lâm sàng (lấy khoa lâm sàng làm trung tâm) Cách tổ chức như hiện nay, y tá - điều dưỡng vốn đã thiếu lại phải

xa rời người bệnh để đưa xét nghiệm,

đi nhận dụng cụ, nhận đồ vải, nhận thuốc từ khoa dược nên không còn đủ thời gian chăm sóc người bệnh Thời gian làm việc gián tiếp thì qúa nhiều và thời gian trực tiếp cạnh người bệnh lại quá ít.

Trang 29

Cải tiến quy trình hành chính: mọi

cải tiến về quy trình hành chính phải đảm bảo tính khoa học, giảm bớt thời gian gián tiếp để tăng thêm thời gian phục vụ người bệnh và phải bảo đảm an toàn, tránh phiền hà Mọi cải tiến của các đơn vị sẽ được thảo luận kỹ lưỡng trong các Ban chỉ đạo của từng bệnh viện Sau đó báo cáo Bộ Y tế (Vụ điều trị) cho ý kiến trước khi áp dụng thí điểm.

Trang 30

2.4.3.4 Tăng cường nguồn lực và chính

sách khuyến khích

Giải pháp về nhân lực: bố trí điều dưỡng viên làm đúng nghề, bố trí điều dưỡng viên các bộ phận hành chính làm thêm ngày chủ nhật, ngày lễ, các bộ phận hậu cần phục vụ tại khoa, hướng dẫn người nhà tham gia chăm sóc, tuyển hợp đồng thêm điều dưỡng viên

Tăng cường phương tiện chăm sóc, cân bằng giữa việc mua sắm trang thiết bị đắt tiền và các dụng cụ tiêu hao cần thiết cho mọi người bệnh Chú ý các phương tiện phòng hộ lao động và đồng phục cho điều dưỡng viên khoa điểm.

Trang 31

Khuyến khích về tinh thần và vật chất đối với nhân viên khoa điểm: lãnh đạo bệnh viện biểu dương, tổ chức cho các khoa học tập, thưởng vật chất cho nhân viên khoa CSNBTD nếu thực hiện có hiệu quả Tạo điều kiện cho nhân viên khoa điểm hoạt động và áp dụng những cải tiến mới Động viên các khoa hợp tác và hỗ trợ khoa điểm.

Trang 32

2.4.3.5 Đào tạo và huấn luyện: tổ chức các hình thức học tại chức (giao ban điều dưỡng, hội nghị, hội thảo, tài liệu) để cập nhật kiến thức và kỹ năng cho điều dưỡng, hộ lý Thực hiện nghiêm chỉnh các quy trình chuyên môn theo chuẩn mực quy định.

đãi ngộ, bảo hiểm nghề nghiệp cho nhân viên y tế.

Ngày đăng: 19/03/2016, 16:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w