Cho đến nay việc quản lý bệnh thán thư trên cây ớt là một vấn đề rất khó khăn đối với các hộ nông dân.. Để quản lý bệnh này nông dân chủ yếu là sử dụng thuốc hóa học để phun phòng và phu
Trang 1Nghiên cứu quản lý Bệnh Thán thư hại ớt bằng biện pháp sinh học
MỤC LỤC
Trang CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU …… 2
1.1.Đặt vấn đề 2
1.2.Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1.Mục tiêu tổng quát 3
1.2.2.Mục tiêu cụ thể 3
1.3.Nội dung nghiên cứu 3
1.4.Giới hạn của đề tài 4
1.5.Ý nghĩa khoa học và thực tiển của đề tài 4
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ….5
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 6
3.2 Phương tiện nghiên cứu 6
3.3 Phương pháp nghiên cứu 6
3.3.1.Bố trí thí nghiệm 6
3.3.2.Phương pháp xử lý 7
3.3.3.Chuẩn bị vật liệu 7
3.3.4.Chỉ tiêu theo dõi (theo quy chuẩn QCVN 01 - 160: 2014/BNNPTNT) 8
3.3.5.Phương pháp điều tra 9
3.3.6.Xử lý số liệu 9
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 10
4.1.Tỷ lệ bệnh 10
4.2.Chỉ số bệnh 11
4.3.Năng suất 14
4.4.Hiệu quả kinh tế 15
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
SỐ LIỆU NGHIÊN CỨU 19
Trang 2CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1.Đặt vấn đề
Cây ớt được đánh giá là 1 trong số những loại cây màu cho hiệu quả kinh tế cao
và thích hợp cho cơ cấu trồng màu trên đất lúa Cây ớt được xếp là loại cây công nghiệp nhiệt đới và cận nhiệt đới quan trọng đứng hàng thứ 4 trên thế giới và hàng đầu ở Châu Á Ớt có nhiều lợi thế ẩm thực bởi vì nó bao gồm nhiều hóa chất cụ thể
là, các loại dầu dễ bay hơi hơi nước, dầu mỡ, chất carotenoids, protein, chất xơ, một số yếu tố khoáng chất, kali và axit folic Bên cạnh đó trái ớt còn chứa các thành phần quan trọng đối với dinh dưỡng giá trị, hương vị, mùi thơm, kết cấu và màu sắc nhưng có rất ít natri và cholesterol Đặc biệt, ớt xanh tươi rất giàu vitamin (A, E, C) đây là nguyên nhân chính của việc tăng sản xuất ớt trên thế giới Theo nguồn thông tin và số liệu thống kê nông nghiệp toàn diện nhất trên thế giới, sản lượng ớt tươi đạt 31,1 triệu tấn, ớt khô là 3,3 triệu tấn vào năm 2013 trong khi năm
2008 sản lượng là 27,9 triệu tấn ớt tươi và 3,1 triệu tấn ớt khô Như vậy nhu cầu về sản lượng ớt trên toàn thế giới là rất lớn Đó chính là một nền tảng để nước ta có thể phát triển diện tích canh tác loại cây trồng này trong thời gian tới Riêng đối với vùng ĐBSCL, trước đây cây ớt được trồng nhiều ở các tỉnh Đồng Tháp, Tiền Giang Gần đây, cây ớt đang phát triển mạnh tại một số khu vực lân cận, trong đó
có Vĩnh Long Hiện ngành nông nghiệp Vĩnh Long đang thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng và trồng màu trên đất lúa đang là hướng đi mang nhiều lợi ích kinh tế cho nông dân Việc trồng cây ớt trên nền đất lúa đang trở thành một lựa chọn của rất nhiều nông dân tỉnh Vĩnh Long, trong đó có người dân huyện Mang Thít Tuy nhiên hiện tại nông dân trồng ớt gặp khá nhiều rủi ro trong canh tác nhất là việc quản lý dich hại trên cây ớt Trong đó, thán thư là đối tượng dịch hại chính gây thất thu phần lớn năng suất trên cây ớt Cho đến nay việc quản lý bệnh thán thư trên cây
ớt là một vấn đề rất khó khăn đối với các hộ nông dân
Bệnh thán thư trên ớt có tác nhân gây bệnh là do nấm Colletotrichum spp gây
ra Bệnh gây hại cả trên lá, trên thân, trên trái và trái già đến chín Vết bệnh lúc đầu
là những đốm tròn có màu xanh đậm, sau đó vết bệnh lớn dần có hình tròn hoặc bầu dục, vết bệnh lõm xuống có màu vàng nhạt đến trắng xám hoặc nâu đen Trên
Trang 3ẩm độ cao, mưa nắng bất thường Bệnh phát triển và lây lan mạnh vào mùa mưa, nhất là vào các tháng 7, 8, 9 dl Nấm gây bệnh tồn tại rất lâu trong đất, trên cây và trong hạt của trái ớt bệnh
Giống ớt Sừng Vàng Châu Phi thuộc loại ớt cay và trái hướng xuống đất Khả năng mẫn cảm của ớt Sừng vàng với bệnh thán thư là rất cao và hiệu quả phòng trị bệnh này là rất kém Nguyên nhân là do trái ớt hướng xuống nên khả năng bào tử nấm xâm nhập lên trái rất cao, nhất là khi trời mưa hoặc nông dân tưới tạt lên mặt liếp Thêm vào đó do đặc tính của giống ớt này là ra trái quanh năm nên khả năng
bị nấm bệnh tấn công và gây hại gần như là gần hết vụ, kể từ khi lứa trái đầu tiên xuất hiện
Để quản lý bệnh này nông dân chủ yếu là sử dụng thuốc hóa học để phun phòng
và phun trị Nhưng thật tế chúng ta thấy là hiệu quả không cao, cụ thể là nông dân không thể quản lý tuyệt đối bệnh, và thời gian cách ly là không thể đảm bảo Bên cạnh đó các mối nguy hại về sức khỏe con người, nguy hại cho môi trường và cho
hệ sinh thái là không thể tránh khỏi mà thậm chí là luôn tăng cao Chính vị vậy việc tìm ra một biện pháp quản lý bệnh hại trên cây trồng vừa hiệu quả lại vừa an toàn cho con người, thân thiện với môi trường là một vấn đề hết sức cần thiết và rất cần được quan tâm
1.2.Mục tiêu nghiên cứu
Trang 41.4.Giới hạn của đề tài
Chỉ nghiên cứu trên 1 nhân tố là bệnh thán thư mà chưa thể nghiên cứu cùng lúc trên nhiều đối tượng
1.5.Ý nghĩa khoa học và thực tiển của đề tài
Đề tài này được thực hiện với ý nghĩa khoa học là sẽ tìm ra một biện pháp khoa học để quản lý đối tượng dịch hại nghiêm trọng trên cây ớt, và đặc biệt là không cần sử dụng thuốc hóa học Điều này có ý nghĩa rất lớn trong vệ sinh an toàn thực phẩm
Về ý nghĩa thực tiển của đề tài này là tìm ra được phương pháp quản lý bệnh thán thư, giúp nông dân tránh được sự thiệt hại về kinh tế khi trồng ớt khi phải đối mặt với đối tượng dịch hại này Bên cạnh đó, việc sử dụng dịch trích để quản lý bệnh này còn có ý nghĩa rất lớn đối với môi trường, đó là biện pháp canh tác hoàn toàn thân thiện với môi trường, không gây mối nguy hại về ô nhiễm đất, nước và không khí Thêm vào đó, do không phải là hóa chất nên sẽ rất an toàn cho người sản xuất, cho người tiêu dùng Hơn nữa đây cũng là 1 biện pháp canh tác mà sẽ không làm mất cân bằng sinh thái trong nông nghiệp
Trang 5CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Theo tài liệu nghiên cứu của Tasiwal và các cộng sự được đăng trên tạp chí Khoa học Nông nghiệp Karnataka của Ấn Độ năm 2010 về nghiên cứu biện pháp quản lý bệnh thán thư trên cây đu đủ cho thấy tỏi, củ hành, nghệ cho kết quả ức chế
sự phát triển của nấm bệnh từ 38,33% đến 40,73% Bên cạnh đó cũng theo kết quả nghiên cứu của Rahman và các cộng sự năm 2011 được in trên tập chí Quốc tế nghiên cứu Nông Học và Nông Nghiệp các dịch trích chiết xuất từ nghệ, gừng, tỏi
và hành tây có độc tính với nấm thán thư cao nhất, ức chế nảy mầm của bào tử nấm, tỷ lệ lần lượt là 99,62%; 98,47%; 95,47% và 93,47%
Riêng đối với tình hình trong nước tại Việt Nam, tính đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có nghiên cứu nào được công bố về việc sử dụng các loại dịch trích trên để quản lý bệnh thán thư trên cây ớt Tuy nhiên theo thông tin của một số tờ báo thì nông dân đã tự chế tạo ra các loại thuốc trừ sâu bằng các loại thảo mộc, trong đó có gừng ta, tỏi ta đã được nông dân Lê Văn Đáo địa chỉ Khoái Châu, Hưng Yên (theo thông tin báo Tia Sáng Bộ Khoa Học và Công Nghệ, ngày đăng 21/2/2014) Còn theo nội dung được đăng bởi báo Hà Nội Mới ngày 11/3/2015, Trung Tâm Khuyến Nông Hà Nội đã hướng dẫn nông dân sử dụng củ hành tăm, gừng, tỏi làm thuốc để trừ sâu Tương tự như vậy gừng, tỏi, củ hành cũng đã được Trung tâm Thông tin và Ứng dụng tiến bộ KHCN Bình Thuận hướng dẫn nông dân huyện Bắc Bình sử dụng để phòng trừ các đối tượng như rệp, sâu đục lá, sâu đục trái, sâu đục chồi, bọ trĩ, bọ phấn (theo nội dung tờ báo Sở Khoa Học và Công Nghệ tỉnh Bình Thuận đăng ngày 18/09/2014)
Trang 6CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm thực hiện: khóm 3, Thị Trấn Cái Nhum, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long
Thời gian: từ tháng 7 đến tháng 10 năm 2015
Ngày xuống giống 01/7/2015
3.2 Phương tiện nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là bệnh thán thư trên giống ớt sừng Vàng Châu Phi
Diện tích nghiên cứu: 1.200 m2
30 ô thí nghiệm, mỗi ô có diện tích 40m2, bố trí trên 3 liếp khoảng cách mỗi ô là 5
m x 8 m, số lượng cây trên mỗi ô 75 cây, khoảng cách cây cách cây 0,4 m x 0,4 m, hàng cách hàng 0,8 m Cách bố trí sơ đồ ruộng thí nghiệm như sau:
Trang 7Tỏi 5 % Đối chứng 1 Tỏi 7,5 % Tỏi 7,5 %
7,5%
3.3.2.Phương pháp xử lý
Thời điểm xử lý sau khi trồng cây ớt được 40 ngày tiến hành phun dịch trích lần
1, sau đó các lần phun kế tiếp sẽ được thực hiện 7 ngày/1 lần Tuy nhiên, do cây ớt
ở giai đoạn từ 80-120 ngày, lúc này thời tiết mưa liên tục, có khi chúng tôi vừa phun thuốc xong thì trời mưa ngay lập tức nên chúng tôi phải tiến hành phun lại
Nghiệm thức đối chứng 1 phun theo tập quán nông dân và nghiệm thức đối chứng 2 không xử lý thuốc trị bệnh thán thư sau khi trồng 30 ngày phun thuốc phun thuốc định kỳ 5 ngày/1 lần Tuy nhiên, do cây ớt ở giai đoạn từ 80-120 ngày, lúc này thời tiết mưa liên tục, có khi nông dân vừa phun thuốc xong thì trời mưa ngay nên nông dân phải tiến hành phun lại
Lượng nước phun trung bình trên mỗi ô thí nghiệm là 4 lít hỗn hợp (nước và dịch trích) Theo khuyến cáo thì lượng nước phun cho 1 ha ớt là 400-600 lít nước, tuy nhiên đối với thí nghiệm này chúng tôi nhận thấy để phun ướt đều tán lá và cây
ớt thì lượng nước phun là phải 1000 lít cho 1 ha
3.3.3.Chuẩn bị vật liệu
Cây ớt Sừng Vàng Châu Phi sau khi được ươm khoảng 20-30 ngày thì được đem đi trồng trên đất ruộng đã được chuẩn bị sẵn Ruộng trồng ớt được lên liếp với kích thước liếp là 1,2 m, mặt liếp được xốc xới làm cỏ, xử lý vôi thật kỹ trước khi tiến hành bón phân lót và đậy màng phủ Cây ớt sẽ được trồng hàng đôi trên liếp với khoảng cách hàng cách hàng 0,8 m và cây cách cây 0,4 m Cây ớt được trồng
và chăm sóc theo đúng qui trình kỹ thuật, khi cây ớt ra hoa, kết trái vào giai đoạn khoảng 40 ngày sau khi trồng thì sẽ được tiến hành xử lý dịch trích
Trang 8Hình 1: Ớt trồng với khoảng cách 0,4 m x 0,4 m x 0,8 m
Chuẩn bị dịch trích: các loại củ dùng làm dịch trích sẽ được mua và cân để xác định trọng lượng Dịch trích sẽ được tạo ra bằng cách sử dụng máy xay sinh tố để xay các loại củ pha với nước theo tỷ lệ 1:1 (cứ 1 gram củ sẽ xay pha với 1 gram nước) thì dung dịch thu được sẽ là dịch trích nguyên chất Từ dung dịch nguyên chất trên sẽ được pha với nước để đạt được nồng độ cần thiết cho các nghiệm thức
Cụ thể, để áp dụng cho nghiệm thức củ nghệ 5% thì để có 1 lít hỗn hợp thì ta cần
50 ml nước nghệ nguyên chất pha với 950 ml nước Sau khi có được nồng độ như mong muốn, dung dịch sẽ được cho vào bình phun tay đeo vai và phun ướt đều cây
ớt đặc biệt là phần trái Hoặc cho nghiệm thức củ nghệ 7,5% thì để phun cho 1 ô thí
nước củ nghệ pha với 3700 ml nước
3.3.4.Chỉ tiêu theo dõi (theo quy chuẩn QCVN 01-160: 2014/BNNPTNT)
Chỉ tiêu tỷ lệ bệnh và chỉ số bệnh được đánh giá theo công thức
Trang 9n1: số (trái) lá bị bệnh ở cấp 1 với ≤ 5 % diện tích (trái) lá bị bệnh
n3: số (trái) lá bị bệnh ở cấp 3 với > 5-15% diện tích (trái) lá bị bệnh
n5: số (trái) lá bị bệnh ở cấp 5 với >15 - 25% diện tích (trái) lá bị bệnh
n7: số (trái) lá bị bệnh ở cấp 7 với >25 - 50% diện tích (trái) lá bị bệnh
n9: số (trái) lá bị bệnh ở cấp 9 với > 50% diện tích (trái) lá bị bệnh
N: tổng số (trái) lá điều tra
Hình 2: Phân cấp chỉ số bệnh thán thư hại cây ớt
3.3.5 Phương pháp điều tra
Mỗi ô chọn 5 điểm cố định nằm trên 2 đường chéo góc, mỗi điểm điều tra toàn
bộ số trái lá trên 4 cây cố định, các điểm này nằm cách mép ô khảo nghiệm ít nhất
1 hàng cây ớt
3.3.6 Xử lý số liệu
Số liệu về tỷ lệ bệnh và chỉ số bệnh ở các nghiệm thức được xử lý theo phương
Trang 10CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tỷ lệ bệnh
Bảng 1: Tỷ lệ ớt bị bệnh trên các nghiệm thức
Nồng độ xử lý Loại dịch trích
(Các chữ số a, b, c, d là sự khác nhau giữa các nhóm có ý nghĩa Chữ số giống nhau có nghĩa là sự khác biệt đó không có ý nghĩa trong thống kê nông nghiệp)
Biểu đồ 1: Tỷ lệ bệnh so sánh giữa các nghiệm thức
Trang 11Hình 3: Vết bệnh trên nghiệm thức đối chứng và nghiệm thức gừng 7,5%
Qua kết quả của bảng 1 cho thấy, có sự khác biệt với nhau rất rõ về số lượng trái
ớt bị bệnh trên các nghiệm thức Tỷ lệ bệnh trên các nghiệm thức nghệ, gừng và nông dân là thấp nhất so với các nghiệm thức còn lại trên cả hai nồng độ Mặc dù các khác biệt này không có ý nghĩa về thống kê, tuy nhiên nghệ ở 2 nồng độ 5% và 7,5% cho thấy có khả năng kiểm soát bệnh thán thư tốt nhất, cụ thể là khi chúng tôi dùng nghệ để xử lý thì số lượng trái ớt bị bệnh là ít nhất Kể cả khi chúng ta so sánh với nghiệm thức của nông dân thì tỷ lệ bệnh thán thư trên nghiệm thức chúng tôi xử
lý bằng nghệ vẫn là thấp hơn
4.2.Chỉ số bệnh
Bảng 2: Chỉ số bệnh trên các nghiệm thức
Nồng độ xử lý Loại dịch trích
Trang 12Biểu đồ 2: Chỉ số bệnh trên các nghiệm thức
9 là rất ít, và gần như là không có trên nghiệm thức củ nghệ 7,5 % (Hình 4) Đối với nghệ thì ở 2 nồng độ 5 % hay 7,5 % đều cho thấy có khả năng kiểm soát bệnh thán thư trên cây ớt sừng vàng châu phi rất hiệu quả, đặc biệt là ở nồng độ 7,5 % (chỉ số bệnh chỉ 0,11 so với nghiệm thức phun thuốc là 0,46) Riêng đối với nghiệm thức xử lý bằng củ gừng thì hiệu quả tương đương với nghiệm thức
xử lý thuốc hóa học, nếu xử lý với nồng độ 7,5% thì có kết quả tương đối tốt hơn so với xử lý thuốc hóa học mặc dầu khác biệt này không có ý nghĩa về mặt thống kê
Trang 13C) D)
Trang 144.3 Năng suất
Như biểu đồ 3 chúng ta thấy rằng năng suất trung bình giữa các nghiệm thức tính trên 1.000m2 dao động từ 900 đến 1.200 kg tùy theo nghiệm thức Trong đó nghiệm thức gừng là cho kết quả cao nhất, trong khi năng suất trên 2 nghiệm thức nghệ 7,5 % và nông dân là tương đương với nhau Mặc dù vậy sự khác biệt về năng suất này là không có ý nghĩ về mặt thống kê Nhưng qua đó một lần nữa cũng đã cho thấy sử dụng củ nghê và củ gừng ở nồng độ 7,5% là cho hiệu quả rất tốt trong quản lý bệnh thán thư hại ớt
Biểu đồ 3: Năng suất (kg/1000m 2 ) của từng nghiệm thức
Trang 154.4 Hiệu quả kinh tế
Bảng 3 : Hiệu quả kinh tế (nghìn đồng)
Nghiệm thức
Hạng mục
Nông dân
Nghệ 5%
Nghệ 7,5%
Gừng
5 %
Gừng 7,5 %
H.Tây 5%
H.Tây 7,5%
Tỏi 5%
Tỏi 7,5%
Đối chứng
Trang 16Qua kết quả thu thập chỉ tiêu về năng suất và chi phí cũng như giá bán, cho thấy
với nhau Qua bảng 3 chúng ta thấy rằng chi phí để sản xuất trên cùng 1 diện tích
có sự chênh lệch giữa nghiệm thức của nông dân có xử lý thuốc hóa học và các nghiệm thức sử dụng dịch trích, sự chênh lệch này dao động từ 1.400.000 đồng cho đến 2.800.000 đồng Trong đó sử dụng nghệ cho thấy là chi phí sản xuất thấp nhất
so với các nghiệm thức còn lại (ngoại trừ nghiệm thức đối chứng không phun thuốc) và khi sử dụng nghệ 7,5% chi phí chênh lệch so với sử dụng thuốc hóa học
là 2.200.000 đồng Giá thành để sản xuất ra 1 kg ớt chênh lệch giữa nghiệm thức nông dân có xử lý thuốc hóa học và nghiệm thức nghệ 7,5% là 2.600 đồng Sự chênh lệch này chủ yếu là do chênh lệch giữa tiền thuốc hóa học và tiền nghệ Trung bình mỗi bình thuốc hóa học nông dân tốn 50.000 đồng do đó giá thành sẽ tăng hơn rất nhiều
Về phía tổng thu nhập tính trên cùng một đơn vị diện tích thì tổng thu chênh lệch từ 12.000 đồng đến 2.275.000 đồng Sự chênh lệch này không đáng kể và hoàn toàn không có sự khác biệt về mặc thống kê