Trong lịch sử xã hội loài người, vàng gắn với quá trình hình thành các hình thái tiền tệ và trở thành vật ngang giá thước đo giá trị, thay thế tiền mặt trong nhiều giao dịch thanh toán và là tiền dự trữ quốc tế. Mặt khác, nhờ đặc tính lý hóa của nó, vàng được sử dụng trong một số ngành công nghiệp và trở thành đồ trang sức và trang trí sang trọng. Mặc dù, giá trị của vàng tăng dần theo thời gian và nguồn cung vàng ngày càng cạn dần, nhưng giá vàng tăng chậm và có thể cọi là ổn định. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, xu thế toàn cầu hóa đã gây ra nhiều xung đột tôn giáo phức tạp và không có hồi kết, vàng được coi là nơi ẩn náu an toàn của nhiều Ngân hàng Trung ương và nhà đầu tư, nên giá vàng biến động theo chiều hướng tăng mạnh. Tại Việt Nam, trong thời gian dài, hoạt động kinh doanh vàng như mua bán vàng trang sức mỹ nghệ, vàng miếng được coi là hoạt động kinh doanh bình thường giống như các loại hàng hóa khác, phần lớn doanh nghiệp kinh doanh vàng là mua bán vàng trang sức, mỹ nghệ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Nhìn chung, hoạt động kinh doanh vàng diễn ra khá ổn định và hầu như không ảnh hưởng đến việc điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Tuy nhiên, từ năm 2006 đến nay, giá vàng thế giới biến động, ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế và hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ. Cùng với sự phát triển và biến đổi không ngừng của thị trường vàng, thực tiễn quá trình hoạt động kinh doanh của thị trường vàng hiện nay tại Việt Nam đòi hỏi phải có một cơ chế quản lý đồng bộ, nhất quán, đầy đủ từ phía nhà nước. Đây là một vấn đề khá mới mẻ và chưa được nghiên cứu đầy đủ, có hệ thống. Chính vì vậy, nhóm chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý Nhà nước về thương mại đối với thị trường vàng ở Việt Nam”. Chương 1 Khái quát về thị trường vàng và QLNN về TM đối với thị trường vàng Việt Nam 1.1. Khái quát về thị trường vàng Việt Nam 1.1.1. Khái niệm, đặc điểm Vàng là kim loại mềm, dễ uống, dễ dát mỏng, màu vàng và chiếu sáng, vàng không phản ứng với hầu hết các hóa chất, có dang quặng hoặc hạt trong đá và trong các mỏ bồi tích. Là một kim loại quý, dùng để đúc tiền. Vàng được dùng làm 1 tiêu chuẩn tiền tệ ở nhiều nước, được sử dụng trong các ngành nha khoa, điện tử, và trang sức. Đến nay, dường như chưa có một định nghĩa cụ thể về thị trường vàng, song hầu hết mọi người đều hiểu rằng, thị trường vàng là nơi mà các nhà đầu tư mua bán vàng, thường là mua trong thời điểm giá thấp sau đó bán đi với giá cao hơn để kiếm lời. Thị trường vàng cũng như hầu hết các thị trường khác, cơ bản là sự trao đổi mua bán để kiếm lời. Song thị trường vàng là một thị trường đầy rủi ro, thách thức với mỗi nhà đầu tư, bên cạnh đó thị trường vàng cũng nằm trong sự kiểm soát của chính phủ,chịu tác động từ phía chính phủ. Bản thân thị trường vàng cũng tạo nên những ảnh hưởng nhất định đến nền kinh tế cũng như đời sống xã hội. Những đặc điểm của thị trường vàng Việt Nam Việt Nam là một thị trường có nhu cầu cao về vàng. Với hơn 90 triệu dân, Việt Nam là một quốc gia có sức mua lớn. Người Việt Nam có thói quen tích trữ vàng cùng với việc vàng được sử dụng nhiều trong đời sống hàng như làm đồ trang sức, làm của hồi môn… Bên cạnh đó, ngày nay nhu cầu đầu tư vàng ngày càng cao nên nhu cầu về vàng trong nhân dân là rất lớn. Thị trường vàng ở Việt Nam phụ thuộc vào thị trường vàng trên thế giới, bởi chủ yếu là nhập khẩu từ nước ngoài, phần sản xuất trong nước không đáng kể. Do vậy, mỗi khi giá vàng trên thế giới tăng, giảm sẽ tác động lập tức đến giá vàng ở trong nước. 1.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường vàng Việt Nam Chính sách nhà nước: Các chính sách của nhà nước liên quan đến kinh doanh vàng ảnh hưởng mạnh mẽ đến thị trường vàng Việt Nam, trong đó gồm các pháp lệnh, thông tư, nghị định của Ngân Hàng nhà nước, của Thủ tướng chính phủ. Các chính sách quản lý nhà nước sẽ điều tiết các chủ thể tham gia thị trường vàng và các hoạt động của họ trong thị trường. Biến động thị trường vàng thế giới: Tác động đến thị trường vàng có rất nhiều yếu tố nhưng không thể thiếu tác động từ thị trường vàng thế giới. Thị trường vàng trong nước hiện nay đã và đang gắn chặt với thị trường thế giới do nguồn cung vàng của chúng ta chủ yếu đến từ nhập khẩu. Vì vậy khi thị trường thế giới biến đổi sẽ lập tức ảnh hưởng đến thị trường trong nước. Các nhân tố khác: Ngoài chính sách nhà nước hay biến động thị trường thế giới có những tác động đến thị trường vàng Việt nam, thì các yếu tố khác như môi trường kinh tế, thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản cũng ít nhiều tác động đến hành vi đầu cơ, đầu vào của doanh nghiệp kinh doanh vàng, điều đó sẽ phần nào là nguyên nhân dẫn đến mỗi biến động của thị trường. 1.1.3. Các chủ thể của thị trường vàng Việt Nam Có thể chia thị trƣờng vàng Việt Nam theo ba đối tƣợng sau: Người tích trữ: Đây là những chủ thể có nguồn vốn nhàn rỗi, giữ vàng với mục đích phòng thân. Phần tài sản bằng vàng này là một hợp đồng bảo vệ chắc chắn cho họ trƣớc các biến động về kinh tế xã hội với đặc tính dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt. Những ngƣời tích trữ có thể là công nhân, viên chức, nông dân hay bất kỳ ai khác trong xã hội. Những chủ thể này thƣờng có đặc điểm: giữ vàng như một tài sản chìm tại nơi chắc chắn, giữ trong thời gian dài không cân nhắc tới yếu tố lợi nhuận khi quyết định mua hay bán vàng và không quan tâm tới tác động lên xuống của giá cả. Người đầu tư: Những người mua vàng với mục đích đầu tư trên thực tế cũng là những ngƣời tích trữ nhưng tích cực hơn những người tích trữ thể hiện ở các đặc điểm: vàng của họ có thể ở dạng “vàng tín dụng” gửi tại một tài khoản ngân hàng, xem vàng như một nguồn vốn đầu tư sinh lợi và chỉ giữ nguồn vốn dưới dạng bằng vàng khi cần thiết. Những ngƣời đầu tư thường thực hiện nhiều hành vi mua bán, hoặc vay và cho vay, qua đó nguồn vốn của họ tăng lên. Họ quan tâm đến sự biến động giá vàng trong cả ngắn hạn và dài hạn và luôn đặt nó lên bàn cân lãi suất. Người đầu cơ: Những chủ thể này có hoạt động tương tự như những ngƣời đầu tư, nhưng họ có thể dự đoán và khai thác giá vàng trong thời gian ngắn và họ sẵn sàng chấp nhận rủi ro cao để có thể thu đƣợc lợi nhuận nhiều hơn bằng cảm nhận nhanh chóng và phản ứng linh hoạt, nhạy bén trước những nhân tố tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến giá vàng. Hiện nay ở nước ta, cùng với sự phát triển nhanh chóng của thị trường vàng, thì số lượng các nhà đầu tư và đầu cơ cũng ngày càng tăng lên nhanh chóng. Điều này thể hiện thị trường vàng Việt Nam ngày càng phát triển theo hướng ngày càng chuyên nghiệp hoá, và vàng đang dần trở thành một kênh đầu tư hữu hiệu với nhiều người. 1.2. QLNN về TM đối với thị trường vàng 1.2.1. Khái niệm về quản lý Nhà nước về thương mại đối với thị trường vàng Thị trường vàng là một lĩnh vực hoạt động trong nền kinh tế của một quốc gia, do đó quản lý Nhà nước đối với thị trường vàng là sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với hoạt động xây dựng, vận hành và phát triển của thị trường vàng. Quản lý Nhà nước về thương mại đối với thị trường vàng là một bộ phận hợp thành của quản lý nhà nước về đối với thị trường, đó là sự tác động có hướng đích, có tổ chức của các cơ quan quản lý nhà nước về thương mại đến các chủ thể của thị trường vàng và các hoạt động của họ thông qua việc sử dụng các công cụ, chính sách quản lý thích hợp nhằm thúc đẩy tăng trưởng và ổn định thị trường vàng. 1.2.2. Chức năng của quản lý Nhà nước về thương mại đối với thị trường vàng Quản lý Nhà nước về thương mại đối với thị trường vàng mang đầy đủ những chức năng của quản lý Nhà nước về thương mại nói chung, được cụ thể hóa ở một số lĩnh vực sau: Xây dựng kế hoạch hoạt động và phát triển thị trường vàng với từng bước đi cụ thể và thích hợp với điều kiện văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội. Xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy của thị trường vàng như: cơ quan quản lý, công ty kinh doanh vàng bạc đá quý… đồng thời phối kết hợp các cơ quan này với nhau trong hoạt động quản lý. Xây dựng hệ thống pháp lý, chính sách quy định chặt chẽ các hoạt động kinh doanh vàng bạc để tạo ra sự thống nhất trong mọi giao dịch. Điều chỉnh, xử lý các hành vi sai phạm trên thị trường vàng như mua bán gian lận, đầu cơ, … Thực hiện công tác kiểm tra định kỳ, bất thường nhằm phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật, thực hiện tổng kết thống kê nhằm tổng hợp hoạt động của thị trường. Các chức năng này thường được áp dụng một cách đồng bộ nhằm duy trì sự hoạt động ổn định của thị trường, tạo điều kiện để phát triển thị trường và có thể thích ứng với mọi thay đổi trong xã hội. 1.2.3. Phân cấp quản lý Nhà nước về thương mại đối với thị trường vàng Tại Việt Nam, vàng luôn là một tài sản tích trữ được ưa chuộng, thậm chí có những giai đoạn, vàng không chỉ còn là phương tiện tích trữ giá trị mà còn đóng vai trò là tiền tệ; giá vàng có lúc đã là một chỉ số ảnh hưởng đến giá cả các loại hàng hóa trong nền kinh tế. Chính vì vậy, các hoạt động của thị trường vàng tại Việt Nam đã sớm được đưa vào quản lý. Cùng với các chính sách đổi mới nền kinh tế, ngay từ những năm 90 của thế kỉ XX, các văn bản pháp lý quy định cụ thể về vai trò quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đối với thị trường vàng đã lần lượt ra đời. Mới đây nhất là Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010, Nghị định số 702014NĐCP ngày 1772014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối. Theo đó thì , Ngân hàng Nhà nước là cơ quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về ngoại hối, hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng, cụ thể: Quản lý hoạt động kinh doanh vàng, xuất nhập khẩu vàng, ngoại hối, phương án sản xuất vàng miếng của NHNN trong từng thời kỳ và các hoạt động khác liên quan đến vàng khi được Chính phủ giao; phối hợp với các đơn vị liên quan thực hiện mua, bán vàng miếng trên thị trường trong nước, tổ chức huy động vàng của các tổ chức và cá nhân theo quy định của pháp luật. Ngoài NHNN là cơ quan quản lý trực tiếp chịu trách nhiệm trước chính phủ về việc thực hiện việc quản lý Nhà nước đối với thị trường vàng còn có các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm quản lý trong phạm vụ và quyền hạn của mình. Cụ thể trách nhiệm của mỗi cơ quan quản lý như sau: a) Đối với NHNN Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm xây dựng, trình các cấp có thẩm quyền ban hành chiến lược, kế hoạch về phát triển thị trường vàng và ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý hoạt động kinh doanh vàng theo quy định tại Nghị định này. Ngân hàng Nhà nước được bổ sung vàng miếng vào Dự trữ ngoại hối Nhà nước. Ngân hàng Nhà nước thực hiện can thiệp, bình ổn thị trường vàng thông qua các biện pháp sau đây: + Xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 Nghị định này. + Tổ chức và quản lý sản xuất vàng miếng thông qua việc quyết định hạn mức, thời điểm sản xuất và phương thức thực hiện sản xuất vàng miếng phù hợp trong từng thời kỳ. Chi phí tổ chức sản xuất vàng miếng được hạch toán vào chi phí hoạt động của Ngân hàng Nhà nước. + Thực hiện mua, bán vàng miếng trên thị trường trong nước và tổ chức huy động vàng theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Ngân hàng Nhà nước cấp, thu hồi: Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ; giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng; giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu, giấy phép mang theo vàng khi xuất cảnh, nhập cảnh của cá nhân vượt mức quy định; giấy phép đối với các hoạt động kinh doanh vàng khác sau khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép. Ngân hàng Nhà nước thực hiện kiểm tra, thanh tra đối với hoạt động sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ; hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng, vàng trang sức, mỹ nghệ; hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu và hoạt động kinh doanh vàng khác. Ngân hàng Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác liên quan đến quản lý hoạt động kinh doanh vàng theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. b) Đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Bộ Công Thương có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan có liên quan thực hiện chức năng quản lý, kiểm tra, thanh tra hoạt động sản xuất, gia công vàng trang sức, mỹ nghệ; hoạt động kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ và việc doanh nghiệp kinh doanh vàng chấp hành, tuân thủ các quy định của pháp luật. Bộ Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm quy định và hướng dẫn thực hiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho các doanh nghiệp kinh doanh vàng và sao gửi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đã cấp cho Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trên địa bàn để phối hợp thực hiện. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu vàng, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế thu nhập đối với hoạt động kinh doanh vàng phù hợp trong từng thời kỳ. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các cơ quan có trách nhiệm thực hiện ban hành tiêu chuẩn chất lượng đối với vàng trang sức, mỹ nghệ; kiểm tra, thanh tra và quản lý chất lượng đối với vàng trang sức, mỹ nghệ lưu thông trên thị trường và kiểm định phương tiện đo lường của các doanh nghiệp kinh doanh vàng. Bộ Công an có trách nhiệm phối hợp với các Bộ, ngành liên quan trong việc đấu tranh, điều tra, xử lý các vi phạm pháp luật về kinh doanh vàng trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh vàng tại địa phương theo quy định của Nghị định này và các quy định của pháp luật khác có liên quan. Căn cứ vào yêu cầu thực tế, các Bộ, ngành liên quan có trách nhiệm phối hợp, chia sẻ thông tin để phục vụ cho công tác quản lý hoạt động thị trường; phối hợp thực hiện kiểm tra, thanh tra hoạt động trên thị trường vàng theo quy định của pháp luật. 1.2.4. Nội dung QLNN về TM với thị trường vàng Việt Nam Chương 2 Thực trạng quản lý Nhà nước về thương mại với thị trường vàng ở Việt Nam 2.1. Thị trường vàng VN trong những năm gần đây Qua một quá trình phát triển lâu dài, thị trường Việt Nam hiện nay đã có những bước tiến vượt bậc so với cách đây vài chục năm. Xu hướng mở thể hiện rõ nét qua tính đa dạng về chủ thể tham gia giao dịch trên thị trường. Ngoài các công ty chiếm tỷ trọng lớn, có khả năng chi phối giá như công ty Vàng bạc đá quý SJC, PNJ, SACOM, ACB, SCB…còn có sự góp mặt cảu nhiều Ngân hàng thương mại, các tiệm vàng lớn nhỏ trên cả nước cùng mạng lưới nhà đầu tư cá nhân khắp mọi miền. Các chủ thể tiếp cận thị trường với nhiều mục đích khác nhau có thể là kinh doanh, tích trữ, để sản xuất, để thanh toán, hay chỉ đơn giản là nhu cầu trang sức làm đẹp…Và có thể nhận thấy, nhu cầu về giao dịch vàng tại Việt Nam đang có xu hường ngày một cao, sự phát triển của thị trường vàng Việt Nam cũng vì thế mà ngày càng đi lên. Cung vàng trên thị trường trong nước Nguồn cung vàng chủ yếu trong nước là do nhập khẩu, Việt Nam là quốc gia nhập khẩu tới 95% nhu cầu vàng của mình. Việt Nam trở thành một trong những nước đứng đầu thế giới về nhập khẩu vàng. Điều này góp phần không nhỏ vào thâm hụt cán cân thương mại của đất nước, đối phó loại với tình hình, giữa tháng 5 năm 2008, Ngân hàng Nhà nước đã ngừng cấp giấy phép nhập khẩu vàng nhằm kiềm chế lạm phát, điều chỉnh kinh tế vĩ mô. Cho đến thời điểm ngừng nhập khẩu vàng thì tổng giá trị nhập khẩu vàng cho năm 2008 là 1,7 tỷ USD tương đương 45 tấn vàng và bằng 57% sản lượng vàng tiêu thụ năm 2007.Việc ngừng nhập khẩu vàng là việc phải làm nhưng “liều thuốc” này cũng đã để lại một số tác dụng phụ, trong đó đáng chú ý là góp phần “đẩy” giá vàng trong nước càng xa với thế giới. Ngưng nhập khẩu vàng đồng nghĩa với nguồn cung vàng bị bó hẹp lại, vì vậy làm cung nhỏ hơn cầu tất yếu dẫn đến việc đẩy giá vàng tăng lên và tạo ra những diễn biến phức tạp trong năm 2008. Song đến cuối năm 2009, do có những biến động bất lợi tạo ra sự biến động lớn trên thị trường vàng, đẩy giá vàng lên trên 29triệu đồng lượng, nguồn cung vàng là một trong những nguyên nhân gây ra sự biến động này. Để bình ổn giá vàng Chính phủ đã có những biện pháp ổn định thị trường vàng trong nước, trong đó đáng chủ ý, là việc Thống đôc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu đã cho phép nhập khẩu vàng sau 1,5 năm ngừng nhập 32 khẩu. Nhờ đó thị trường vàng phần nào ổn định do cung vàng có thể đáp ứng đủ nhu cầu vàng trong nhân dân.
Trang 1Đề tài: Quản lý Nhà nước về thương mại với thị trường vàng Việt Nam
Lời mở đầu
Trong lịch sử xã hội loài người, vàng gắn với quá trình hình thành các hình tháitiền tệ và trở thành vật ngang giá- thước đo giá trị, thay thế tiền mặt trong nhiều giao dịchthanh toán và là tiền dự trữ quốc tế Mặt khác, nhờ đặc tính lý hóa của nó, vàng được sửdụng trong một số ngành công nghiệp và trở thành đồ trang sức và trang trí sang trọng.Mặc dù, giá trị của vàng tăng dần theo thời gian và nguồn cung vàng ngày càng cạn dần,nhưng giá vàng tăng chậm và có thể cọi là ổn định Tuy nhiên, trong những năm gần đây,
xu thế toàn cầu hóa đã gây ra nhiều xung đột tôn giáo phức tạp và không có hồi kết, vàngđược coi là nơi ẩn náu an toàn của nhiều Ngân hàng Trung ương và nhà đầu tư, nên giávàng biến động theo chiều hướng tăng mạnh
Tại Việt Nam, trong thời gian dài, hoạt động kinh doanh vàng như mua bán vàngtrang sức mỹ nghệ, vàng miếng được coi là hoạt động kinh doanh bình thường giống nhưcác loại hàng hóa khác, phần lớn doanh nghiệp kinh doanh vàng là mua bán vàng trangsức, mỹ nghệ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội Nhìn chung, hoạt động kinh doanhvàng diễn ra khá ổn định và hầu như không ảnh hưởng đến việc điều hành chính sách tiền
tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Tuy nhiên, từ năm 2006 đến nay, giá vàng thế giớibiến động, ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế và hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ.Cùng với sự phát triển và biến đổi không ngừng của thị trường vàng, thực tiễn quá trìnhhoạt động kinh doanh của thị trường vàng hiện nay tại Việt Nam đòi hỏi phải có một cơchế quản lý đồng bộ, nhất quán, đầy đủ từ phía nhà nước Đây là một vấn đề khá mới mẻ
và chưa được nghiên cứu đầy đủ, có hệ thống Chính vì vậy, nhóm chúng tôi đã chọn đề
tài nghiên cứu “Quản lý Nhà nước về thương mại đối với thị trường vàng ở Việt Nam” Chương 1 Khái quát về thị trường vàng và QLNN về TM đối với thị trường vàng Việt Nam
1.1 Khái quát về thị trường vàng Việt Nam
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm
Trang 2Vàng là kim loại mềm, dễ uống, dễ dát mỏng, màu vàng và chiếu sáng, vàng không phảnứng với hầu hết các hóa chất, có dang quặng hoặc hạt trong đá và trong các mỏ bồi tích.
Là một kim loại quý, dùng để đúc tiền Vàng được dùng làm 1 tiêu chuẩn tiền tệ ở nhiềunước, được sử dụng trong các ngành nha khoa, điện tử, và trang sức
Đến nay, dường như chưa có một định nghĩa cụ thể về thị trường vàng, song hầu hết mọingười đều hiểu rằng, thị trường vàng là nơi mà các nhà đầu tư mua bán vàng, thường làmua trong thời điểm giá thấp sau đó bán đi với giá cao hơn để kiếm lời Thị trường vàngcũng như hầu hết các thị trường khác, cơ bản là sự trao đổi mua bán để kiếm lời Song thịtrường vàng là một thị trường đầy rủi ro, thách thức với mỗi nhà đầu tư, bên cạnh đó thịtrường vàng cũng nằm trong sự kiểm soát của chính phủ,chịu tác động từ phía chính phủ.Bản thân thị trường vàng cũng tạo nên những ảnh hưởng nhất định đến nền kinh tế cũngnhư đời sống xã hội
Những đặc điểm của thị trường vàng Việt Nam
Việt Nam là một thị trường có nhu cầu cao về vàng Với hơn 90 triệu dân, Việt Nam làmột quốc gia có sức mua lớn Người Việt Nam có thói quen tích trữ vàng cùng với việcvàng được sử dụng nhiều trong đời sống hàng như làm đồ trang sức, làm của hồi môn…Bên cạnh đó, ngày nay nhu cầu đầu tư vàng ngày càng cao nên nhu cầu về vàng trongnhân dân là rất lớn
Thị trường vàng ở Việt Nam phụ thuộc vào thị trường vàng trên thế giới, bởi chủ yếu lànhập khẩu từ nước ngoài, phần sản xuất trong nước không đáng kể Do vậy, mỗi khi giávàng trên thế giới tăng, giảm sẽ tác động lập tức đến giá vàng ở trong nước
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường vàng Việt Nam
- Chính sách nhà nước: Các chính sách của nhà nước liên quan đến kinh doanh
vàng ảnh hưởng mạnh mẽ đến thị trường vàng Việt Nam, trong đó gồm các pháplệnh, thông tư, nghị định của Ngân Hàng nhà nước, của Thủ tướng chính phủ Các
Trang 3chính sách quản lý nhà nước sẽ điều tiết các chủ thể tham gia thị trường vàng vàcác hoạt động của họ trong thị trường.
- Biến động thị trường vàng thế giới: Tác động đến thị trường vàng có rất nhiều yếu
tố nhưng không thể thiếu tác động từ thị trường vàng thế giới Thị trường vàngtrong nước hiện nay đã và đang gắn chặt với thị trường thế giới do nguồn cungvàng của chúng ta chủ yếu đến từ nhập khẩu Vì vậy khi thị trường thế giới biếnđổi sẽ lập tức ảnh hưởng đến thị trường trong nước
- Các nhân tố khác: Ngoài chính sách nhà nước hay biến động thị trường thế giới có
những tác động đến thị trường vàng Việt nam, thì các yếu tố khác như môi trườngkinh tế, thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản cũng ítnhiều tác động đến hành vi đầu cơ, đầu vào của doanh nghiệp kinh doanh vàng,điều đó sẽ phần nào là nguyên nhân dẫn đến mỗi biến động của thị trường
1.1.3 Các chủ thể của thị trường vàng Việt Nam
Có thể chia thị trường vàng Việt Nam theo ba đối tượng sau:
- Người tích trữ: Đây là những chủ thể có nguồn vốn nhàn rỗi, giữ vàng với mục
đích phòng thân Phần tài sản bằng vàng này là một hợp đồng bảo vệ chắc chắncho họ trước các biến động về kinh tế xã hội với đặc tính dễ dàng chuyển đổithành tiền mặt Những người tích trữ có thể là công nhân, viên chức, nông dân haybất kỳ ai khác trong xã hội Những chủ thể này thường có đặc điểm: giữ vàng nhưmột tài sản chìm tại nơi chắc chắn, giữ trong thời gian dài không cân nhắc tới yếu
tố lợi nhuận khi quyết định mua hay bán vàng và không quan tâm tới tác động lênxuống của giá cả
- Người đầu tư: Những người mua vàng với mục đích đầu tư trên thực tế cũng là
những người tích trữ nhưng tích cực hơn những người tích trữ thể hiện ở các đặcđiểm: vàng của họ có thể ở dạng “vàng tín dụng” gửi tại một tài khoản ngân hàng,xem vàng như một nguồn vốn đầu tư sinh lợi và chỉ giữ nguồn vốn dưới dạngbằng vàng khi cần thiết Những người đầu tư thường thực hiện nhiều hành vi muabán, hoặc vay và cho vay, qua đó nguồn vốn của họ tăng lên Họ quan tâm đến sự
Trang 4biến động giá vàng trong cả ngắn hạn và dài hạn và luôn đặt nó lên bàn cân lãisuất.
- Người đầu cơ: Những chủ thể này có hoạt động tương tự như những người đầu
tư, nhưng họ có thể dự đoán và khai thác giá vàng trong thời gian ngắn và họ sẵnsàng chấp nhận rủi ro cao để có thể thu được lợi nhuận nhiều hơn bằng cảm nhậnnhanh chóng và phản ứng linh hoạt, nhạy bén trước những nhân tố tác động trựctiếp và mạnh mẽ đến giá vàng
Hiện nay ở nước ta, cùng với sự phát triển nhanh chóng của thị trường vàng, thì sốlượng các nhà đầu tư và đầu cơ cũng ngày càng tăng lên nhanh chóng Điều này thểhiện thị trường vàng Việt Nam ngày càng phát triển theo hướng ngày càng chuyênnghiệp hoá, và vàng đang dần trở thành một kênh đầu tư hữu hiệu với nhiều người
1.2 QLNN về TM đối với thị trường vàng
1.2.1 Khái niệm về quản lý Nhà nước về thương mại đối với thị trường vàng
Thị trường vàng là một lĩnh vực hoạt động trong nền kinh tế của một quốc gia, do đóquản lý Nhà nước đối với thị trường vàng là sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với hoạtđộng xây dựng, vận hành và phát triển của thị trường vàng Quản lý Nhà nước về thươngmại đối với thị trường vàng là một bộ phận hợp thành của quản lý nhà nước về đối với thịtrường, đó là sự tác động có hướng đích, có tổ chức của các cơ quan quản lý nhà nước vềthương mại đến các chủ thể của thị trường vàng và các hoạt động của họ thông qua việc
sử dụng các công cụ, chính sách quản lý thích hợp nhằm thúc đẩy tăng trưởng và ổn địnhthị trường vàng
1.2.2 Chức năng của quản lý Nhà nước về thương mại đối với thị trường vàng
Quản lý Nhà nước về thương mại đối với thị trường vàng mang đầy đủ những chức năngcủa quản lý Nhà nước về thương mại nói chung, được cụ thể hóa ở một số lĩnh vực sau:
Trang 5- Xây dựng kế hoạch hoạt động và phát triển thị trường vàng với từng bước đi cụthể và thích hợp với điều kiện văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội.
- Xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy của thị trường vàng như: cơ quan quản lý,công ty kinh doanh vàng bạc đá quý… đồng thời phối kết hợp các cơ quan này vớinhau trong hoạt động quản lý
- Xây dựng hệ thống pháp lý, chính sách quy định chặt chẽ các hoạt động kinhdoanh vàng bạc để tạo ra sự thống nhất trong mọi giao dịch
- Điều chỉnh, xử lý các hành vi sai phạm trên thị trường vàng như mua bán gian lận,đầu cơ, …
- Thực hiện công tác kiểm tra định kỳ, bất thường nhằm phát hiện các hành vi viphạm pháp luật, thực hiện tổng kết thống kê nhằm tổng hợp hoạt động của thịtrường
Các chức năng này thường được áp dụng một cách đồng bộ nhằm duy trì sự hoạt động ổnđịnh của thị trường, tạo điều kiện để phát triển thị trường và có thể thích ứng với mọithay đổi trong xã hội
1.2.3 Phân cấp quản lý Nhà nước về thương mại đối với thị trường vàng
Tại Việt Nam, vàng luôn là một tài sản tích trữ được ưa chuộng, thậm chí cónhững giai đoạn, vàng không chỉ còn là phương tiện tích trữ giá trị mà còn đóng vai trò làtiền tệ; giá vàng có lúc đã là một chỉ số ảnh hưởng đến giá cả các loại hàng hóa trong nềnkinh tế Chính vì vậy, các hoạt động của thị trường vàng tại Việt Nam đã sớm được đưavào quản lý
Cùng với các chính sách đổi mới nền kinh tế, ngay từ những năm 90 của thế kỉ
XX, các văn bản pháp lý quy định cụ thể về vai trò quản lý của Ngân hàng Nhà nước ViệtNam (NHNN) đối với thị trường vàng đã lần lượt ra đời Mới đây nhất là Luật Ngân hàngNhà nước năm 2010, Nghị định số 70/2014/NĐ-CP ngày 17/7/2014 của Chính phủ quyđịnh chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sungmột số điều của Pháp lệnh Ngoại hối Theo đó thì , Ngân hàng Nhà nước là cơ quan thực
Trang 6hiện chức năng quản lý Nhà nước về ngoại hối, hoạt động ngoại hối và hoạt động kinhdoanh vàng, cụ thể: Quản lý hoạt động kinh doanh vàng, xuất nhập khẩu vàng, ngoại hối,phương án sản xuất vàng miếng của NHNN trong từng thời kỳ và các hoạt động khác liênquan đến vàng khi được Chính phủ giao; phối hợp với các đơn vị liên quan thực hiệnmua, bán vàng miếng trên thị trường trong nước, tổ chức huy động vàng của các tổ chức
và cá nhân theo quy định của pháp luật
Ngoài NHNN là cơ quan quản lý trực tiếp chịu trách nhiệm trước chính phủ vềviệc thực hiện việc quản lý Nhà nước đối với thị trường vàng còn có các bộ, cơ quanngang bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm quản lý trongphạm vụ và quyền hạn của mình
Cụ thể trách nhiệm của mỗi cơ quan quản lý như sau:
a) Đối với NHNN
- Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm xây dựng, trình các cấp có thẩm quyền banhành chiến lược, kế hoạch về phát triển thị trường vàng và ban hành theo thẩmquyền các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý hoạt động kinh doanh vàng theoquy định tại Nghị định này
- Ngân hàng Nhà nước được bổ sung vàng miếng vào Dự trữ ngoại hối Nhà nước
- Ngân hàng Nhà nước thực hiện can thiệp, bình ổn thị trường vàng thông qua cácbiện pháp sau đây:
+ Xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 Nghịđịnh này
+ Tổ chức và quản lý sản xuất vàng miếng thông qua việc quyết định hạn mức, thờiđiểm sản xuất và phương thức thực hiện sản xuất vàng miếng phù hợp trong từng thời
kỳ Chi phí tổ chức sản xuất vàng miếng được hạch toán vào chi phí hoạt động củaNgân hàng Nhà nước
+ Thực hiện mua, bán vàng miếng trên thị trường trong nước và tổ chức huy độngvàng theo quy định của Thủ tướng Chính phủ
Trang 7- Ngân hàng Nhà nước cấp, thu hồi: Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vàngtrang sức, mỹ nghệ; giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng; giấy phép xuấtkhẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu, giấy phép mang theo vàng khi xuất cảnh, nhậpcảnh của cá nhân vượt mức quy định; giấy phép đối với các hoạt động kinh doanhvàng khác sau khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép.
- Ngân hàng Nhà nước thực hiện kiểm tra, thanh tra đối với hoạt động sản xuất vàngtrang sức, mỹ nghệ; hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng, vàng trang sức,
mỹ nghệ; hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu và hoạt động kinhdoanh vàng khác
- Ngân hàng Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác liên quan đếnquản lý hoạt động kinh doanh vàng theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.b) Đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương
- Bộ Công Thương có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan có liên quan thực hiệnchức năng quản lý, kiểm tra, thanh tra hoạt động sản xuất, gia công vàng trangsức, mỹ nghệ; hoạt động kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ và việcdoanh nghiệp kinh doanh vàng chấp hành, tuân thủ các quy định của pháp luật
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm quy định và hướng dẫn thực hiện cấp Giấychứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho các doanh nghiệp kinh doanh vàng và saogửi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đã cấp cho Ngân hàng Nhà nước chinhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trên địa bàn để phối hợp thực hiện
- Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước trình cơ quan có thẩmquyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền chính sách thuế xuất khẩu, thuếnhập khẩu vàng, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế thu nhập đốivới hoạt động kinh doanh vàng phù hợp trong từng thời kỳ
- Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các cơ quan có trách nhiệm thựchiện ban hành tiêu chuẩn chất lượng đối với vàng trang sức, mỹ nghệ; kiểm tra,thanh tra và quản lý chất lượng đối với vàng trang sức, mỹ nghệ lưu thông trên thịtrường và kiểm định phương tiện đo lường của các doanh nghiệp kinh doanh vàng
Trang 8- Bộ Công an có trách nhiệm phối hợp với các Bộ, ngành liên quan trong việc đấutranh, điều tra, xử lý các vi phạm pháp luật về kinh doanh vàng trong phạm vichức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật.
- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi nhiệm vụ,quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh vàng tạiđịa phương theo quy định của Nghị định này và các quy định của pháp luật khác
có liên quan
Căn cứ vào yêu cầu thực tế, các Bộ, ngành liên quan có trách nhiệm phối hợp, chia sẻthông tin để phục vụ cho công tác quản lý hoạt động thị trường; phối hợp thực hiện kiểmtra, thanh tra hoạt động trên thị trường vàng theo quy định của pháp luật
1.2.4 Nội dung QLNN về TM với thị trường vàng Việt Nam
Chương 2 Thực trạng quản lý Nhà nước về thương mại với thị trường vàng ở Việt Nam
2.1 Thị trường vàng VN trong những năm gần đây
Qua một quá trình phát triển lâu dài, thị trường Việt Nam hiện nay đã có những bước tiếnvượt bậc so với cách đây vài chục năm Xu hướng mở thể hiện rõ nét qua tính đa dạng vềchủ thể tham gia giao dịch trên thị trường Ngoài các công ty chiếm tỷ trọng lớn, có khảnăng chi phối giá như công ty Vàng bạc đá quý SJC, PNJ, SACOM, ACB, SCB…còn có
sự góp mặt cảu nhiều Ngân hàng thương mại, các tiệm vàng lớn nhỏ trên cả nước cùngmạng lưới nhà đầu tư cá nhân khắp mọi miền Các chủ thể tiếp cận thị trường với nhiềumục đích khác nhau có thể là kinh doanh, tích trữ, để sản xuất, để thanh toán, hay chỉ đơngiản là nhu cầu trang sức làm đẹp…Và có thể nhận thấy, nhu cầu về giao dịch vàng tạiViệt Nam đang có xu hường ngày một cao, sự phát triển của thị trường vàng Việt Namcũng vì thế mà ngày càng đi lên
- Cung vàng trên thị trường trong nước
Trang 9Nguồn cung vàng chủ yếu trong nước là do nhập khẩu, Việt Nam là quốcgia nhập khẩu tới 95% nhu cầu vàng của mình Việt Nam trở thành một trong nhữngnước đứng đầu thế giới về nhập khẩu vàng Điều này góp phần không nhỏ vào thâm hụtcán cân thương mại của đất nước, đối phó loại với tình hình, giữa tháng 5 năm 2008,Ngân hàng Nhà nước đã ngừng cấp giấy phép nhập khẩu vàng nhằm kiềm chế lạm phát,điều chỉnh kinh tế vĩ mô Cho đến thời điểm ngừng nhập khẩu vàng thì tổng giá trị nhậpkhẩu vàng cho năm 2008 là 1,7 tỷ USD tương đương 45 tấn vàng và bằng57% sản lượng vàng tiêu thụ năm 2007.Việc ngừng nhập khẩu vàng là việcphải làm nhưng “liều thuốc” này cũng đã để lại một số tác dụng phụ, trong đóđáng chú ý là góp phần “đẩy” giá vàng trong nước càng xa với thế giới.Ngưng nhập khẩu vàng đồng nghĩa với nguồn cung vàng bị bó hẹp lại, vì vậylàm cung nhỏ hơn cầu tất yếu dẫn đến việc đẩy giá vàng tăng lên và tạo ra những diễnbiến phức tạp trong năm 2008 Song đến cuối năm 2009, do có những biến động bất lợitạo ra sự biến động lớn trên thị trường vàng, đẩy giá vàng lên trên 29triệu đồng/ lượng,nguồn cung vàng là một trong những nguyên nhân gây ra sự biến động này.
Để bình ổn giá vàng Chính phủ đã có những biện pháp ổn định thị trườngvàng trong nước, trong đó đáng chủ ý, là việc Thống đôc Ngân hàng Nhànước Nguyễn Văn Giàu đã cho phép nhập khẩu vàng sau 1,5 năm ngừng nhập 32khẩu Nhờ đó thị trường vàng phần nào ổn định do cung vàng có thể đáp ứng
đủ nhu cầu vàng trong nhân dân
- Cầu vàng trên thị trường trong nước
Nhu cầu cất trữ vàng trong nước đã xuất hiện từ xa xưa Người dân Việt Nam dùng vàngtrong nhiều hoạt dộng của đời sống như tích trữ, đồ trang sức, dùng làm của hồi môn…Trong những năm gần đây cầu vàng càng ngày càng lớn do nhu cầu vàng đầu tư trongnước ngày càng tăng Sau sự biến động lớn của giá vàng năm 2009 và 2010, người dân
đổ xô đi mua vàng Vàng trở thành một xu hướng của giới đầu tư, khoảng thời gian này làkhoảng thời gian đầy biến động của thị trường vàng trong nước, nhu cầu về vàng tăngmạnh và đột ngột, trong những ngày cao điểm thị trường vàng đã tiêu thụ được 2 tấn
Trang 10vàng 1 ngày Trong những năm gần đây, thị trường vàng đã có phần ổn định hơn nên cầuvàng trên thị trường cũng không có nhiều sự biến động mạnh như khoảng thời gian trướcđó.
- Giá vàng trong nước
Từ giữa năm 2006 thị trường vàng Việt Nam đã có những biến động lớn do giá vàng độtngột tăng mạnh vào giữa tháng 6, lần đầu tiên giá vàng vượt ngưỡng 1,4 triệu đồng/chỉ
Từ đó vàng trở thành một xu hướng mới của giới đầu tư, năm 2007 chứng kiến nhiềubiến động của giá vàng, song mức giá đầu năm 2007 lại diễn ra khá khiêm tốn, mức giátrên dưới 1,3 triệu đồng/chỉ Tháng 11 năm 2007 giá vàng bất ngờ tăng cao do nhu cầumua vàng đầu cơ tích trữ ở các thành phố lớn tăng cao do lo ngại khủng hoảng kinh tế,giá vàng thị trường trong nước thời điểm này bán ra là 1.650.000 đồng/chỉ, mua vào1.640.000 đồng/chỉ Giá vàng tính đến hết năm 2007 đã tăng 30% so với thời điểm cuốinăm 2006 Sang năm 2008, giá vàng trong nước biến động theo sự thăng trầm của nềnkinh tế thế giới, diễn biến giá vàng trong nước đã trải qua hai đợt sóng lớn vào tháng 3 vàtháng 7 khi vượt mức 19 triệu đồng/lượng, sau đó giảm mạnh vào cuối năm Theo dữ liệu
từ Ngân hàng ACB, giá vàng SJC trong nước đạt mức cao kỷ lục là 19.35 triệuđồng/lượng và thấp nhất 16.10 triệu đồng/lượng Tính bình quân giá vàng năm 2008 xoayquanh mức 17.64 triệu đồng/ lượng
Năm 2010 là năm tăng kỷ lục của vàng khi mỗi lượng vàng trong nước tăng 9,5 triệuđồng do giá vàng thế giới tăng hơn 300 USD/ounce Sự tăng vọt của giá vàng thời điểm
đó đã gây ra những cơn sốt chưa từng có trên thị trường: người dân đổ xô đi mua vàng,một số giao dịch lớn trên thị trường được định giá bằng vàng như giao dịch nhà đất…Năm 2013, giá vàng trong nước giảm mạnh (giảm 29%), chấm dứt 12 năm tăng liên tiếp(giá vàng SJC giảm gần 12 triệu đồng/lượng) Trong 2 năm trở lại đây, thị trường vàngtrong nước khá trầm lắng trước những biến động của thị trường thế giới và có phần ổnđịnh hơn
Trang 112.2 Thực trạng QLNN về TM với thị trường vàng Việt Nam trong những năm
gần đây
Trước đây, vàng vừa được dùng như một loại tiền, vừa như một phương tiện cất giữ,trong một số trường hợp, vàng thậm chí còn được coi trọng hơn cả tiền giấy Vàng đượccoi là “vịnh tránh bão” trong bối cảnh lạm phát cao, đồng tiền bị mất giá, các kênh đầu tưkhác bấp bênh, giá vàng lại liên tục tăng Với thói quen đã được hình thành từ lâu, nhiềungười coi vàng là một phương tiện tích lũy đáng tin cậy Chính những lí do này khiến chonhu cầu về vàng tăng cao, nó luôn có một sức hấp dẫn đặc biệt với người dân Việt Nam
(là quốc gia tiêu thụ vàng lớn thứ 4 tại châu Á sau Trung Quốc, Ấn Độ và Thái Lan).
2.2.1 Thực trạng quản lí Nhà nước về thương mại đối với hoạt động kinh doanh mua bán vàng miếng
“Vàng miếng là vàng được dập thành miếng, có đóng chữ, số chỉ khối lượng, chất lượng
và ký mã hiệu của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước ViệtNam (sau đây được gọi là Ngân hàng Nhà nước) cho phép sản xuất hoặc vàng miếng doNgân hàng Nhà nước tổ chức sản xuất trong từng thời kỳ.” (theo điều 4 Nghị định số24/2012/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ) Cũng giống như vàng nói chung, vàngmiếng từ lâu đã được coi là thứ hàng hóa đặc biệt, có đầy đủ các thuộc tính tiền tệ, được
sử dụng làm phương tiện tích trữ, liên quan đến dự trữ ngoại hối của Nhà nước, có tácđộng lớn đến việc quản lý, điều hành chính sách tiền tệ, do đó, cần phải được quản lý mộtcách chặt chẽ
Từ năm 1999, hoạt động kinh doanh vàng nói chung và kinh doanh vàng miếngnói riêng được thực hiện theo quy định tại Nghị định 174/1999/NĐ-CP ngày 09/12/1999của Chính phủ (Nghị định 174) Tuy nhiên từ năm 2008 trở lại đây, do tác động của cuộckhủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam cũng chịu nhiều ảnhhưởng, các bất ổn kinh tế vĩ mô làm suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, gia tăng lạmphát và làm tăng nhu cầu nắm giữ vàng trong nền kinh tế Đồng thời, trong giai đoạn từnăm 2008 đến năm 2012, giá vàng thế giới đã biến động mạnh, có thời điểm lên tới 300%
so với năm 2008 Trong bối cảnh đó, cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh vàng miếng
Trang 12theo Nghị định 174 đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, cụ thể như sau: không có các quyđịnh quản lý, kiểm soát hoạt động kinh doanh mua bán vàng miếng, vàng miếng được coi
là hàng hóa thông thường Do đó, thị trường vàng miếng Việt Nam trong giai đoạn từnăm 1999 đến tháng 6/2012 có sự tham gia của nhiều nhà sản xuất với 7 thương hiệuvàng miếng được lưu hành (vàng SJC, AJC, vàng Rồng Thăng Long, vàng PhượngHoàng PNJ, vàng Thần Tài SBJ…), trong đó thương hiệu SJC chiếm gần 90% thị phầnvàng miếng trong nước Cùng với sự đa dạng của thương hiệu vàng miếng là sự đa dạngcủa người tham gia mua, bán vàng miếng, từ cá nhân tới tổ chức, từ hộ kinh doanh tới cácdoanh nghiệp Hoạt động mua bán vàng miếng được thực hiện tự do tại khoảng 12.000doanh nghiệp kinh doanh vàng, dẫn đến vàng miếng dần dần trở thành phương tiện thanhtoán, khó quản lý Mỗi khi giá vàng biến động mạnh thì thị trường lại trở nên “hỗn loạn”,người dân đổ xô đi mua vàng bất kể khi giá đang tăng mạnh hay xuống thấp nhằm lướtsóng kiếm lời, đẩy một lượng tiền lớn đi vào thị trường vàng mà không tạo ra giá trị giatăng cho nền kinh tế Ngoài ra còn xảy ra tình trạng, khi giá vàng thế giới biến độngmạnh, nhiều đối tượng có hành vi làm giá, đầu cơ gây khan hiếm cung giả tạo, đồng thờitung tin đồn gây nên các “cơn sốt vàng” làm cho người dân đổ xô đi mua vàng Khichênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới ở mức trên 400 nghìnđồng/lượng, trên thị trường thường xuất hiện tình trạng nhập khẩu vàng lậu Để ổn địnhthị trường trong giai đoạn này, hàng năm Ngân hàng nhà nước phải cho phép nhập khẩubình quân khoảng 50-60 tấn vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng (nhập lậu cũngkhoảng 50-70 tấn) Toàn bộ lượng ngoại tệ để nhập khẩu vàng được lấy từ nền kinh tế
Do vậy, nhập khẩu vàng trên quy mô lớn đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tỷ giá, CPI, sự
ổn định kinh tế vĩ mô và ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô Dự trữ ngoại hối Nhà nước
Chính vì không còn phù hợp với tình hình hiện tại, để quản lí hoạt động kinhdoanh vàng miếng trên thị trường một cách hiệu quả, Nghị định số 24/2012/NĐ-CP của
Thủ tướng Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng đã được ban hành.
Về quản lí sản xuất, gia công vàng miếng:
Trang 13Nhà nước giữ độc quyền sản xuất vàng miếng, xuất khẩu vàng nguyên liệu và nhập khẩuvàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng; kể từ ngày 25/05/2012 không tổ chức, cá nhânnào được quyền sản xuất vàng miếng Đây là biện pháp quan trọng để kiểm soát chặt chẽhoạt động sản xuất vàng miếng, lượng cung vàng miếng trên thị trường đảm bảo chấtlượng vàng miếng cho người dân và ngăn chặn tình trạng sản xuất vàng miếng từ vàngnguyên liệu nhập lậu cũng như tạo điều kiện để kiểm soát vàng nhập lậu
Căn cứ vào mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ và cung cầu vàng miếng trên thị trường,Ngân hàng Nhà nước sẽ tổ chức và quản lý sản xuất vàng miếng thông qua việc quyếtđịnh hạn mức, thời điểm sản xuất và phương thức thực hiện sản xuất vàng miếng phù hợp
trong từng thời kỳ Ngày 23/8/2012, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Quyết
định số 1623/QĐ-NHNN về việc tổ chức và quản lý sản xuất vàng miếng Theo Quyếtđịnh này, NHNN giao Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Vàng bạc đá quý SàiGòn – SJC (Công ty SJC) gia công vàng miếng cho NHNN Tuy nhiên, Công ty SJCkhông được tiếp tục sản xuất vàng miếng mà chỉ được gia công vàng miếng SJC 99.99%cho NHNN theo chỉ đạo của NHNN về hạn mức, thời điểm sản xuất và nguồn vàngnguyên liệu để tổ chức sản xuất vàng miếng và dưới sự quản lý, giám sát chặt chẽ củaNHNN Ngân hàng nhà nước cũng sẽ quản lý về khuôn và máy dập vàng miếng, giám sátđối với hoạt động gia công vàng miếng và phân công trách nhiệm cụ thể giữa các đơn vịthuộc NHNN trong việc quản lý hoạt động gia công vàng miếng của Công ty SJC
Như vậy, thị trường vàng miếng Việt Nam từ nửa cuối năm 2012 đến nay chỉ còn mộtnhà sản xuất vàng miếng duy nhất là NHNN và chỉ còn 1 thương hiệu vàng miếng quốcgia do NHNN lựa chọn là vàng miếng SJC, 6 thương hiệu vàng miếng khác đã không còntồn tại Với tư cách là đơn vị đại diện cho Nhà nước độc quyền nhập khẩu vàng nguyênliệu và sản xuất vàng miếng, về mặt pháp lý, NHNN trở thành đơn vị cung cấp vàngmiếng duy nhất cho thị trường vàng trong nước
Về quản lí hoạt động mua bán vàng miếng:
Trang 14Hoạt động mua, bán vàng miếng của các tổ chức, cá nhân chỉ được thực hiện tại các tổchức tín dụng và doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép kinh doanhmua, bán vàng miếng.
Doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp Giấy phép kinh doanh mua, bánvàng miếng khi đáp ứng đủ 5 điều kiện:
1 Là doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật;
2 Có đăng ký hoạt động kinh doanh vàng;
3 Có mạng lưới chi nhánh tại Việt Nam từ 5 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ươngtrở lên
Các địa điểm kinh doanh mua, bán vàng miếng được cấp phép phải niêm yết công khaigiá mua, giá bán vàng miếng; chấp hành các quy định của pháp luật về chế độ kế toán,lập và sử dụng hóa đơn, chứng từ, chất lượng, mẫu mã và thường xuyên được thanh tra,kiểm tra
Các kết quả đạt được:
Hiện nay, đã thiết lập được một mạng lưới mua bán vàng miếng mới, có tổ chức, có quản
lý, gồm 38 tổ chức tín dụng và doanh nghiệp có đủ điều kiện được Ngân hàng Nhà nướccấp phép kinh doanh vàng miếng, với gần 2.500 điểm giao dịch ở tất cả 63 tỉnh, thànhphố trong cả nước Mạng lưới các địa điểm kinh doanh mua, bán vàng miếng được công
bố công khai, rộng rãi trên trang tin điện tử chính thức của NHNN cũng như các phương
Trang 15tiện thông tin đại chúng Những đơn vị chưa được cấp phép kinh doanh, mua bán vàngmiếng sẽ chỉ được mua bán vàng trang sức hoặc chuyển đổi sang loại hình kinh doanhkhác Cửa hàng nào không có giấy phép kinh doanh vàng miếng mà vẫn mua bán vàngmiếng sẽ bị phạt tiền từ 50 đến 100 triệu đồng theo Nghị định số 95/2011/NĐ-CP ban
hành năm 2011 Đến nay, quyền sở hữu, tích trữ, mua, bán vàng miếng hợp pháp của
người dân được bảo vệ, hoạt động kinh doanh mua bán vàng miếng trên thị trường diễn
ra thông suốt, ổn định, quyền lợi hợp pháp của người dân được đảm bảo và bảo vệ
Cùng với việc quản lí cấp phép hoạt động kinh doanh vàng miếng cho các đơn vịkinh doanh vàng miếng, để đảm bảo cân đối cung – cầu vàng miếng trên thị trường,NHNN đã triển khai giải pháp can thiệp bình ổn thị trường vàng thông qua hình thức đấuthầu bán vàng miếng nhằm tăng cung ra thị trường (về việc mua, bán vàng miếng trựctiếp và mua, bán vàng miếng qua hình thức đấu thầu giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam(NHNN) và tổ chức tín dụng, doanh nghiệp được quy định cụ thể tại Quyết định số563/QĐ-NHNN)
Hoạt động đấu thầu vàng miếng đã được NHNN tiến hành phiên đầu tiên vào ngày28/3/2013 và phiên cuối cùng vào ngày 31/12/2013 Có thể nói với việc liên tục tổ chứccác phiên đấu thầu vàng trong năm 2013 (76 phiên đấu thầu với 69,9 tấn vàng được bánthành công), NHNN đã cân đối được cung - cầu trên thị trường, giúp các NHTM tất toántrạng thái vàng, loại bỏ nguy cơ rủi ro cho hệ thống, đồng thời khiến giới đầu cơ khôngcòn nhiều cơ hội cũng như mong muốn hoạt động Sau thời hạn tất toán vàng vào ngày30/6/2013, quy mô của các đợt đấu thầu vàng miếng giảm dần, đồng thời giá vàng trongnước cũng hạ nhiệt và đến cuối năm 2013 đã giảm xuống dưới mức 35 triệu đồng/lượng.Bước sang năm 2014, giá vàng dao động xung quanh mức này và NHNN cũng chưa thựchiện thêm một phiên đấu thầu vàng miếng nào căn cứ vào sự ổn định của giá vàng trongnước
Cùng với những thay đổi về mặt tổ chức hoạt động, diễn biến giá vàng miếngtrong nước cũng có nhiều điểm khác biệt giữa hai thời kỳ trước và sau khi Nghị định 24
Trang 16ra đời Giai đoạn trước khi Nghị định 24 ra đời, giá vàng tăng nhanh liên tục với mức độbiến động khá mạnh từ khoảng 20 triệu đồng/lượng năm 2008 lên gần 29 triệuđồng/lượng (2009), xấp xỉ 37 triệu đồng/lượng (2010) và đặc biệt lên tới 49 triệuđồng/lượng (2011) Tuy nhiên, sau một thời gian Nghị định 24 đi vào cuộc sống, đặc biệt
là từ sau thời điểm 30/6/2013, giá vàng trong nước đã diễn biến theo xu thế giảm dần vàsau đó duy trì quanh mốc 35 - 36 triệu đồng/lượng trong 2 năm 2013 - 2014, mức độ biếnđộng giá vàng đã giảm hẳn
2.2.2 Thực trạng QLNN về TM với hoạt động kinh doanh vàng trang sức mỹ nghệ
Vàng trang sức, mỹ nghệ là hàng hoá đặc biệt, có giá trị, là một kênh đầu tư cho ngườidân và được coi là tài sản quý trong mỗi gia đình Việt Nam Vàng trang sức là nhữngmón đồ không thể thiếu trong các dịp lễ lớn của người Việt như cưới hỏi, các dịp lễ tết
Do đó, nhu cầu tiêu thụ vàng trang sức ở Việt Nam luôn ở mức cao (đứng thứ 15 trên thếgiới chiếm gần 2% trong tổng cầu) và luôn có xu hướng gia tăng trong tương lai cùng với
sự phát triển của thị trường vàng Việt Nam
Trước năm 2012, mặc dù Chính phủ đã ban hành Nghị định quy định chung về hoạt độngkinh doanh vàng, song chưa có quy định cụ thể về quản lý chất lượng, đo lường đối vớivàng trang sức, mỹ nghệ Do đó, thị trường kinh doanh vàng trang sức, mỹ nghệ còn bịbuông lỏng quản lý Đây cũng chính là kẽ hở trong hoạt động kinh doanh vàng
Để nâng cao hiệu lực công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh vàng, ngày 03tháng 4 năm 2012 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 24/2012/NĐ-CP về Quản lý hoạtđộng kinh doanh vàng Đồng thời giao Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm chủtrì, phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện ban hành tiêu chuẩn chất lượng đối vớivàng trang sức, mỹ nghệ; kiểm tra, thanh tra và quản lý chất lượng đối với vàng trangsức, mỹ nghệ lưu thông trên thị trường và kiểm định phương tiện đo lường của các doanhnghiệp kinh doanh vàng Ngày 26 tháng 9 năm 2013, Bộ Khoa học và Công nghệ đã banhành Thông tư số 22/2013/TT-BKHCN, Quy định về quản lý đo lường trong kinh doanhvàng và quản lý chất lượng vàng trang sức, mỹ nghệ lưu thông trên thị trường, có hiệulực từ ngày 01/6/2014 (gọi tắt Thông tư 22)