Tuy nhiên, hiện nay đội tàu khai thác đối tượng này chưa thực sự hiệu quả, điển hình là đội tàu câu tay cá ngừ đại dương của huyện Hoài Nhơn – tỉnh Bình Định, một trong những nguyên nhân
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VŨ ĐÌNH THẮNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KHAI THÁC NGHỀ CÂU TAY
CÁ NGỪ ĐẠI DƯƠNG TẠI HUYỆN HOÀI NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VŨ ĐÌNH THẮNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KHAI THÁC NGHỀ CÂU TAY
CÁ NGỪ ĐẠI DƯƠNG TẠI HUYỆN HOÀI NHƠN
Người hướng dẫn khoa học:
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn được hoàn thành là kết quả của quá trình nghiên cứu tài liệu, thực hiện các chuyến điều tra khảo sát thực tế ở huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình
Định Kết hợp với nguồn số liệu của đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng cá ngừ đại dương trên tàu câu tay” và số liệu điều tra nghề
cá thương phẩm của các đề tài, dự án khác hiện được lưu trữ ở Phòng Nghiên cứu Công nghệ Khai thác, Viện Nghiên cứu Hải sản, tham khảo số liệu đề tài “Hoàn thiện công nghệ và hệ thống lạnh nhanh cá ngừ đại dương trên tàu cá xa bờ” của Trung tâm Đăng kiểm tàu cá – Tổng cục Thủy sản (hiện bản thân đang tham gia thực hiện) Số liệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, được xử lý theo phương pháp khoa học và đảm bảo độ tin cậy
Khánh Hòa, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Vũ Đình Thắng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin cảm ơn sâu sắc tới TS Trần Đức Phú – Viện trưởng Viện Khoa học và công nghệ khai thác thủy sản, trường Đại học Nha Trang là người trực tiếp hướng dẫn
và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hải sản, Lãnh đạo Phòng
Nghiên cứu Công Nghệ Khai thác, Th.S Phan Đăng Liêm - Chủ nhiệm đề tài “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng cá ngừ đại dương trên tàu câu tay”, đã
cho phép và tạo mọi điều kiện để tôi tham gia và sử dụng số liệu thực hiện luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, Lãnh đạo Viện Khoa học và Công nghệ Khai thác Thủy sản, Quý thầy trong Viện đã truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm giúp tôi hoàn thành luận văn này./
Khánh Hòa, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Vũ Đình Thắng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN x
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Nghiên cứu ngoài nước 4
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 12
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Nội dung nghiên cứu 14
2.2 Phương pháp nghiên cứu 16
2.2.1 Số liệu sử dụng 16
2.2.2 Phương pháp điều tra 16
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 19
3.1 Thực trạng nghề câu tay cá ngừ đại dương của huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định 19
3.1.1 Thực trạng tàu thuyền và trang thiết bị 19
3.1.2 Thực trạng về ngư cụ sử dụng 22
3.1.3 Thực trạng trang bị nguồn sáng trên tàu câu tay 27
3.1.4 Thực trạng trang thiết bị xử lý, bảo quản trên tàu câu tay cá ngừ đại dương 28
3.1.5 Thực trạng quy trình kỹ thuật khai thác trên tàu câu tay cá ngừ đại dương của huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định 28
3.1.6 Thực trạng bảo quản sản phẩm trên tàu câu tay cá ngừ đại dương của huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định 33
3.1.7 Mùa vụ và đối tượng khai thác 41
3.1.8.Thực trạng về tổ chức sản xuất: 41
3.1.9 Tình hình kinh tế - xã hội của cộng đồng ngư dân làm nghề câu tay cá ngừ đại dương tại huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định 47
Trang 63.1.10 Thực trạng về kinh tế của đội tàu câu tay cá ngừ đại dương của huyện Hoài
Nhơn, tỉnh Bình Định 50
3.1.10.1 Sản lượng đánh bắt theo chuyến, theo từng tàu, đội tàu 50
3.1.10.2 Doanh thu bình quân của chuyến biển, của năm: 50
3.1.10.3 Chi phí biến đổi và chi phí cố định gồm: 51
3.1.10.4 Lợi nhuận thu được của các tàu làm nghề câu tay cá ngừ đại dương 52
3.2 Đánh giá hiệu quả khai thác của nghề câu tay cá ngừ đại dương huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định 54
3.2.1 Đánh giá hiệu khai thác về mặt đảm bảo an toàn nguồn lợi thủy sản 55
3.2.2 Đánh giá hiệu quả khai thác về mặt bảo vệ chủ quyền biển đảo của quốc gia 56
3.2.3 Đánh giá hiệu quả khai thác về an toàn cho người và phương tiện trên biển 59
3.2.4 Đánh giá hiệu quả khai thác về mặt kinh tế của đội tàu câu tay cá ngừ đại dương của huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định 59
3.2.5 Đánh giá chung hiệu quả khai thác nghề câu tay cá ngừ đại dương của huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định 61
3.3 Ý kiến đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác nghề câu tay cá ngừ đại dương tại huyện Hoài Nhơn tỉnh Bình Định 61
3.3.1 Nhân rộng mô hình luân phiên dạng hộ gia đình và mô hình luân phiên dạng đơn lẻ trong tổ chức sản xuất: 62
3.3.2 Giải pháp về kỹ thuật khai thác: 62
3.3.3 Giải pháp xử lý và bảo quản sản phẩm khai thác: 62
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64
1 Kết luận 64
2 Kiến nghị 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
1 Bmax Chiều rộng vỏ tàu lớn nhất
2 Lmax Chiều dài vỏ tàu lớn nhất
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Số lượng tàu thuyền làm nghề câu tay cá ngừ đại dương theo nhóm công
suất tại huyện Hoài Nhơn từ năm 2012 đến tháng 9/2015 19
Bảng 3.2 Thông số của tàu, giá đóng mới, chất lượng và tuổi thọ của các tàu câu tay cá ngừ đại dương theo nhóm công suất của huyện Hoài Nhơn 20
Bảng 3.3 Thông tin về hiệu máy chính, công suất, giá mua, chất lượng, tuổi thọ các tàu câu tay cá ngừ đại dương theo nhóm công suất của huyện Hoài Nhơn 20
Bảng 3.4 Thống kê trang bị toàn bộ 1 đường câu tay cá ngừ đại dương 25
Bảng 3.5 Thiết bị xử lý, bảo quản trên tàu câu tay 28
Bảng 3.6 Thời gian từ khi cá cắn câu đến đưa lên tàu 32
Bảng 3.7 Độ sâu khai thác cá ngừ đại dương 33
Bảng 3.8: Thời gian xử lý giai đoạn I và giai đoạn II trên tàu câu tay 39
Bảng 3.9: Thời gian các công đoạn xử lý theo từng mẻ câu trên tàu câu tay 40
Bảng 3.10: Nguồn vốn đầu tư trang bị tàu thuyền và ngư cụ 45
Bảng 3.11: Nguồn vốn đầu tư cho sản xuất 46
Bảng 3.12: Độ tuổi trung bình của thuyền viên trên tàu câu tay cá ngừ đại dương của huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định 48
Bảng 3.13 Trình độ văn hóa của thuyền viên: 48
Bảng 3.14: Thu nhập trung bình của thuyền viên 49
Bảng: 3.15 Độ tuổi trung bình của các thành viên trong một hộ gia đình làm nghề câu ta y cá ngừ 49
Bảng 3.16 Trình độ văn hóa các thành viên trong hộ gia đình 50
Bảng 3.17: Năng suất khai thác trung bình của các tàu theo từng nhóm công suất 50
Bảng 3.18: Doanh thu của tàu cá theo nhóm công suất/chuyến biển và doanh thu của tàu/năm 51
Bảng 3.19: Chi phí biến đổi trung bình của tàu cá/chuyến và năm 51
Bảng 3.20 Chi phí cố định trung bình của tàu cá trong 01 năm 52
Bảng 3.21 Chi phí nhân công trung bình của tàu cá trong 01 năm 52
Bảng 3.22 Vốn đầu tư trung bình của 01 tàu câu tay cá ngừ 52
Bảng 3.23 Lợi nhuận trung bình của tàu cá trong 01 năm 53
Bảng 3.24 Lợi nhuận/vốn đầu tư của đội tàu 59
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Vị trí lắp đặt máy thu câu MSW-1DR 130 trên tàu dân 5
Hình 1.2: Cấu tạo của máy thu câu MSW-1DR 130 5
Hình 1.3: Bố trí nhân lực trên tàu khi thu cá bằng máy thu câu của Nhật 6
Hình 1.4: Máy tạo xung (tuna shocker) của Nhật 6
Hình 1.5: Bộ biến áp tạo nguồn điện đầu vào cho máy tuna shocker 7
Hình 1.6 Sơ đồ quy trình xử lý và bảo quản cá ngừ sau khi đưa lên boong tàu 10
Hình 1.7 Xả tiết và cắt gân đuôi 11
Hình 3.1 Bố trí câu tay cá ngừ đại dương kết hợp ánh sáng 22
Hình 3.2 Cấu tạo câu tay cá ngừ đại dương 23
Hình 3.3 Chi tiết các mối liên kết lắp ráp 24
Hình 3.4 Lắp đặt cần câu trên tàu 25
Hình 3.5: Sơ đồ bố trí nguồn sáng trên tàu câu tay cá ngừ đại dương 27
Hình 3.6: Sơ đồ quy trình câu tay khai thác cá ngừ đại dương 28
Hình 3.7: Sơ đồ quy trình sơ chế và bảo quản cá ngừ đại dương trên tàu câu tay 33
Hình 3.8 Bảo quản cá ngừ đại dương trong hầm 35
Hình 3.9 Chuyển cá từ hầm bảo quản lên bờ tiêu thụ 36
Hình 3.10 Cá được vận chuyển lên bờ (cảng) tiêu thụ không được bảo tốt 38
Hình 3.11: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của mô hình luân phiên dạng hộ gia đình 42
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Cá ngừ đại dương là đối tượng có giá trị kinh tế cao và trữ lượng lớn, với khả năng khai thác cho phép còn cao Tuy nhiên, hiện nay đội tàu khai thác đối tượng này chưa thực sự hiệu quả, điển hình là đội tàu câu tay cá ngừ đại dương của huyện Hoài Nhơn – tỉnh Bình Định, một trong những nguyên nhân là do kỹ thuật khai thác, bảo quản sản phẩm sau khai thác, phương thức tổ chức khai thác cũng như dịch vụ hậu cần nghề cá và dự báo ngư trường còn nhiều hạn chế
Để nghề câu tay cá ngừ đại dương của huyện Hoài Nhơn tỉnh Bình Định đạt hiệu quả, phù hợp với điều kiện và năng lực kinh tế trong nước; đáp ứng với nhu cầu tiêu thụ, xu thế của thị trường trong thời gian tới; gắn khai thác với an ninh, quốc phòng và bảo vệ chủ quyền trên biển Cần phải có những nghiên cứu, đánh giá
về hiệu quả khai thác của nghề này
Mục tiêu của để tài:
Đánh giá được hiệu quả khai thác và đưa ra ý kiến đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác nghề câu tay cá ngừ đại dương tại huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định
Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Sử dụng tài liệu, số liệu tàu cá tại Chi cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản Bình Định, các công trình khoa học đã công bố, các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý nghề cá của Trung ương và địa phương Sử dụng một phần số liệu của đề tài “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng cá ngừ đại dương trên tàu câu tay” của Viện nghiên cứu Hải sản
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập số liệu thứ cấp tại Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Bình Định, trạm khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản huyện Hoài Nhơn, ngoài ra tham khảo các số liệu thứ cấp của Vụ Khai thác thủy sản – Tổng cục Thủy sản, Viện nghiên cứu hải sản Hải Phòng, các Đề án, Dự án
có liên quan
Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp: Khảo sát trực tiếp tại bến cá huyện Hoài Nhơn, trên biển về ngư cụ, kỹ thuật khai thác, bảo quản, phương thức tổ chức khai thác cũng như dịch vụ hậu cần nghề cá và dự báo ngư trường phục vụ khai thác, kinh
Trang 11Kết quả nghiên cứu:
Qua điều tra cho thấy, tàu câu tay cá ngừ đại dương của huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định có chiều dài lớn nhất trung bình từ 14,72 – 16,4m, chiều rộng lớn nhất trung bình từ 4,16 – 4,77m, chiều cao trung bình từ 1,90 – 2,21 m Công suất trung bình của máy chính là 170 - 460 cv và lắp máy chính chủ yếu hãng YANMAR, MITSUBISH, DAEWOO Năng suất khai thác trung bình từ 59,09 - 72,28 kg/tàu/ngày, lợi nhuận trung bình của tàu cá trong 01 năm là 206.66 - 341,56 triệu đồng/tàu/năm, thu nhập bình quân của thuyền viên là 3,52 – 4,27 triệu đồng/người/chuyến và trung bình trong 01 năm đạt 42,24 –51,51 triệu đồng/người/năm, thu nhập của nghề câu tay cao hơn so với nghề câu vàng (Theo báo cáo của Vụ Khai thác thu nhập bình quân của thuyền viên trên tàu câu vàng từ 1,0 – 3,0 triệu đồng/tháng) Số lao động bình quân trên tàu là từ 6 đến 8 thuyền viên, trình
độ văn hóa chủ yếu cấp 1 và cấp 2, độ tuổi của thuyền viên chủ yếu trong độ tuổi từ 31 đến 50 tuổi
Từ khóa: Khai thác cá ngừ đại dương, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định
Trang 12MỞ ĐẦU
Các đối tượng khai thác chính của cá ngừ đại dương là cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to chủ yếu được khai thác bằng nghề câu vàng và câu tay, cá ngừ vằn loại có sản lượng cao chủ yếu được khai thác bằng nghề lưới vây và nghề lưới rê thu ngừ (lưới cản) Ngư trường khai thác cá ngừ đại dương trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam tập trung chủ yếu từ phía Đông Bắc, Đông, Đông Nam của quần đảo Hoàng Sa chạy dài xuống phía Bắc, trong và phía Nam của quần đảo Trường sa Ngoài ra, cá ngừ đại dương còn có nhiều ở các vùng biển cả, đặc biệt là vùng nước thuộc quyền quản lý của Ủy ban nghề cá Trung Tây Thái Bình Dương, vùng đặc quyền kinh tế của các quốc đảo ở Thái Bình Dương và Ấn Độ dương (các nước có công nghệ khai thác thấp đang cho phép nước ngoài vào khai thác)
Trong thời gian qua, nghề khai thác cá ngừ đại dương liên tục phát triển đã mở ra hướng đi đầy triển vọng cho hoạt động khai thác xa bờ; với sự quan tâm của Nhà nước, ngư dân khai thác cá ngừ đã được hưởng các chính sách hỗ trợ của Chính phủ, tạo điều kiện cho ngư dân vươn khơi, an tâm và ổn định khai thác hải sản trên các vùng biển xa, giải quyết việc làm, cải thiện và nâng cao đời sống cho hàng nghìn lao động, góp phần tăng sản lượng và kim ngạch xuất khẩu thủy sản; bà con ngư dân đã thể hiện được tinh thần lao động, cần cù, sáng tạo, kiên trì bám biển, phát triển sản xuất trên các vùng biển xa, thúc đẩy phát triển khai thác thủy sản xa bờ gắn với bảo vệ chủ quyền trên biển
Hiện cả nước có hơn 25 nghìn tàu cá khai thác xa bờ; đặc biệt, có gần 3.500 chiếc tàu khai thác cá ngừ đại dương (chiếm 14% tàu cá xa bờ) thường xuyên khai thác trên vùng biển xa (Hoàng Sa, Trường Sa và DKI) Khai thác, chế biến và tiêu thụ
cá ngừ phát triển với tốc độ tăng trưởng cao trong những năm gần đây, góp phần đáng
kể vào sự tăng trưởng về kim ngạch xuất khẩu thủy sản Giá trị kim ngạch xuất khẩu
cá ngừ tăng trưởng nhanh trong 05 năm qua, năm 2008 xuất khẩu cá ngừ chỉ đạt 188,694 triệu USD; đến năm 2012, xuất khẩu sản phẩm cá ngừ đã đóng góp 569,406 triệu USD trong 6.134 triệu USD kim ngạch xuất khẩu thủy sản (chiếm 9,28% và tăng 50% so với 2011) Riêng nghề câu tay cá ngừ đại dương được hình thành vào cuối năm 2011 Nghề câu tay cá ngừ đại dương bắt đầu phát triển ở địa phương Hoài Nhơn – Bình Định sau đó lan rộng ra các tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên và một số đội tàu của
Trang 13đó: Kiêm nghề là 350 tàu Trong 650 tàu, xã Tam Quan Bắc huyện Hoài Nhơn chiếm 70%, khoảng 450 tàu), cũng như nghề câu vàng, ngư trường khai thác của nghề câu tay
cá ngừ đại dương kết hợp ánh sáng kéo dài từ vĩ độ 90 cho đến 170, kinh độ từ 1120 đến
1150 Bao gồm vùng biển ngoài khơi quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Đối tượng khai thác chủ yếu đó là cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to, ngoài ra một số đối tượng chiếm tỷ
lệ rất ít đó là cá thu ngàn và cá giũa
Thực tế cho thấy hầu hết các loài cá kinh tế trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam bị khai thác quá mức thì loài cá ngừ đại dương có giá trị kinh tế rất cao lại còn tiềm năng rất lớn Tuy nhiên, khai thác đối tượng này chưa thực sự hiệu quả, điển hình là đội tàu câu tay cá ngừ đại dương của huyện Hoài Nhơn – tỉnh Bình Định Một trong những nguyên nhân là do kỹ thuật khai thác, bảo quản sản phẩm sau khai thác, phương thức tổ chức khai thác cũng như dịch vụ hậu cần nghề cá và dự báo ngư trường còn nhiều hạn chế
Để nghề câu tay cá ngừ đại dương của huyện Hoài Nhơn tỉnh Bình Định đạt hiệu quả, đáp ứng với nhu cầu tiêu thụ, xu thế của thị trường, gắn khai thác với an ninh, quốc phòng và bảo vệ chủ quyền trên biển Việc chọn đề tài “Đánh giá hiệu quả khai thác nghề câu tay cá ngừ đại dương của huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định” là cần thiết, góp phần thực hiện thành công Đề án “Tổ chức lại sản xuất trong khai thác thủy sản” và chủ trương của Chính phủ về tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững
Mục tiêu của đề tài
Đánh giá được hiệu quả khai thác và đưa ra ý kiến đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác nghề câu tay cá ngừ đại dương tại huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Về lý luận: Đề tài thực hiện thành công là cơ sở lý luận và tài liệu tham khảo cho các cơ quan, cá nhân nghiên cứu các vấn đề liên quan đến nghề câu tay cá ngừ đại dương tại huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định
Về ý nghĩa thực tiễn: Đánh giá được hiệu quả khai thác nghề câu tay cá ngừ đại dương của huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định là cơ sở khoa học góp phần phục vụ công tác quản lý nghề, xây dựng những chính sách, quản lý cho phù hợp với sự phát
Trang 14triển của nghề cá tỉnh Bình Định góp phần ổn định kinh tế xã hội, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh biển đảo
Nội dung của luận văn
Nội dung 1: Thực trạng nghề câu tay cá ngừ đại dương của huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định
Nội dung 3: Đánh giá hiệu quả khai thác nghề câu tay cá ngừ đại dương của
huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định
Nội dung 4: Ý kiến đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác nghề câu tay cá ngừ đại dương tại huyện Hoài Nhơn tỉnh Bình Định
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Nghiên cứu ngoài nước
+ Nghiên cứu công nghệ khai thác nghề câu tay trên thế giới
- Philippin: nghề câu tay cá ngừ đại dương phát triển mạnh ở Philippin và đây là một trong những nghề chính khai thác cá ngừ Sản lượng khai thác của nghề câu tay khá cao, mỗi chuyến biển từ 5 - 7 ngày cho sản lượng khai thác từ 600 - 1.000 kg/chuyến/tàu Kỹ thuật khai thác của nghề này dựa vào đặc tính tập trung quanh chà của cá ngừ đại dương Ngư dân thả câu ở những độ sâu khác nhau quanh chà để khai thác cá ngừ vào ban ngày Mồi câu được sử dụng là mồi mực hoặc cá nhỏ, càng tươi càng tốt Khi có cá ăn câu thì 2 thuỷ thủ thay nhau kéo dây câu để bắt cá Do cá mới ăn câu còn rất khỏe nên người ta thường nới dây câu để không bị bứt lưỡi khỏi miệng cá, khi cá bơi có xu hướng trồi lên mặt nước thì người ta tiến hành thu nhanh dây câu, thời gian bắt cá kéo dài từ 1h00’ - 1h30’, khi cá đã mệt thì mới tiến hành thu dây câu và kéo cá lên mặt nước, cá trồi lên mặt nước thì một thuỷ thủ dùng móc sắt nhọn móc vào mang cá (tránh móc vào thân cá sẽ làm giảm giá trị của cá) hoặc dùng chụp cá để kéo
lên tàu (N Barut & E Garvilles, 2004 Philippines Fishery Report)
Như vậy, thời gian từ khi cá ăn câu đến khi kéo lên tàu của nghề câu tay cá ngừ ở Philippin (khoảng từ 1h00’ - 1h30’) dài hơn rất nhiều so với nghề câu tay cá ngừ (khoảng từ 0h10’ - 0h20’) và gần tương đương với nghề câu vàng (khoảng 0h30’ - 3h00’) ở Việt Nam
- Nhật Bản: nghề câu tay cá ngừ đại dương ở đây có khoảng 90 chiếc (2011)
(Nguồn: WCPFC-Western and Central Pacific Fisheries Commission), tàu công suất
lớn (>1000cv), trang thiết bị trên tàu rất hiện đại, chiều dài vỏ tàu trên 30m, vỏ bằng sắt, trên mỗi tàu câu thường trang bị từ 4 - 6 cần câu, chiều dài dây câu không cố định
và được điều khiển để thay đổi độ sâu đánh bắt Cá được đưa lên tàu bằng chụp cá hoặc móc (khấu) Trên tàu câu tay của Nhật Bản không sử dụng ánh sáng hoặc chà như ở trên tàu câu của Việt Nam và Philippin
Ngoài ra Việt Nam đang thí điểm sử dụng máy thu câu tự động của Nhật trên tàu câu tay cá ngừ đại dương của huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định Với cấu tạo, nguyên
lý hoạt động, ưu, nhược điểm của máy thu câu tự động cá ngừ đại dương trên tàu câu tay như sau:
Trang 16Máy thu câu của Nhật có 3 bộ phận chính: bộ phận hướng dây câu (hướng dây câu ở mạn tàu và hướng dây câu ở máy thu câu), tang quấn dây câu và cơ cấu hộp số
Hình 1.1: Vị trí lắp đặt máy thu câu MSW-1DR 130 trên tàu dân
Hình 1.2: Cấu tạo của máy thu câu MSW-1DR 130
(1: bộ phận hướng dây câu; 2: tang thu dây câu; 3: cơ cấu hộp số)
1
2
3
Trang 17Khi cá cắn câu, dây câu được quấn vào tang thu dây câu Máy câu sẽ tự xả dây khi lực kéo của cá lớn và tự thu dây câu khi lực kéo của cá yếu đi
Hình 1.3: Bố trí nhân lực trên tàu khi thu cá bằng máy thu câu của Nhật
Hộp số của mấy câu MSW-1DR 130 có 10 chế độ thu từ số 0 đến số 9 với tốc
độ thu và lực kéo nhanh dần: chế độ số 0 tương ứng với tốc độ thu và lực kéo bằng 0, chế độ số 9 tương ứng với lực kéo và tốc độ thu dây câu lớn nhất Thông thường ngư dân thường để tốc độ thu và lực kéo trung bình, tương ứng với chế độ số 5
Máy tạo xung (tuna shocker)
Hình 1.4: Máy tạo xung (tuna shocker) của Nhật
Máy tạo xung (tuna shocker) gồm 5 bộ phận chính: 1: công tắc bấm; 2: hộp điện; 3: chuông và đèn báo hiệu; 4: bộ chỉnh dòng và kích điện; 5: bộ phận tạo xung (hình 5)
Trang 18Khi hoạt động hộp điện của máy tuna shocker có chế độ ngắt tự động: cứ 30 giây máy sẽ ngắt điện trong khoảng 10 giây để đảm bảo an toàn cho người sử dụng Trong 10 giây tạm thời ngắt điện, nếu có bấm công tắc thì hệ thống cũng sẽ không hoạt động
Chuông và đèn báo hiệu: Khi hệ thống hoạt động, tạo ra xung điện thì chuông báo động sẽ kêu và đèn báo hiệu sẽ bật sáng
Bộ chỉnh dòng và kích điện có thể tạo ra dòng diện có cường độ từ 15A đến 110A Trong quá trình đánh bắt cá ngừ đại dương, ngư dân thường chỉnh dòng điện tạo xung trong khoảng từ 20÷25A, để tránh hiện tượng dòng điện quá mạnh làm cháy thịt cá
Bộ phận tạo xung điện gồm 2 cực (cực âm và cực dương) làm bằng inox Một cực được làm dạng hình vòng khuyên có chốt khóa mở đển luồn dây cước; một cực dạng hình ống, dài 50cm Hai cực được đấu cách nhau 0,5 mét Khi có dòng điện đi qua 2 cực sẽ tạo nên một xung điện làm tê cá
Hình 1.5: Bộ biến áp tạo nguồn điện đầu vào cho máy tuna shocker
Máy tạo xung sử dụng nguồn điện xoay chiều 100v Máy tuna shocker của Nhật
sử dụng một biến áp để chuyển đổi từ dòng điện một chiều 24v (các bình ắc quy trên tàu câu cá ngừ đại dương) sang dòng điện xoay chiều 100v
+ Nguyên lý hoạt động của máy thu câu:
- Khi cá dính câu thủy thủ dùng dây triên câu luồn vào máy, thuyền trưởng bấm nút cho máy hoạt động, máy tiến hành thu câu, khi lực kéo của cá lớn thì máy tự động thả dây cho cá chạy đến khi cá mệt lực kéo nhỏ thì máy tự động thu câu trở lại Đặt biệt của máy là tự động thả dây cho cá chạy khi lực kéo của cá lớn hơn lực kéo của máy, yếu tố này làm giảm sự vùng vẫy của cá làm cho nhiệt độ thân cá tăng lên ít và ít tạo ra Axiclattic dẫn đến chất lượng cá được tăng lên
Trang 19+ Nguyên lý hoạt động: Khi cá dính câu thủy thủ thu câu kéo cá gần về tàu, đến khi bắt được thẻo câu một thủy thủ giữ dây thẻo, một thủy thủ cho vòng tạo xung vào dây thẻo thả vòng tạo xung xuống nước vòng tạo xung trượt theo dây thẻo cho đến khi đụng đầu cá, thuyền trưởng bấm nút tạo xung làm cá ngất khi cá ngất thủy thủ nhanh chóng kéo cá lên mặt nước và lên boong tàu để xử lý
- Trường hợp cá không mắc câu sau khi thu câu lên tiến hành thực hiện lại từ khâu móc mồi
- Mồi: Mực xà sống, thăm và thay mồi liên tục trung bình 20 - 30 phút một lần Móc mồi ở dè đuôi mực, mồi được đưa xuống độ sâu thả câu mong muốn nhờ chì nặng kẹp vào đầu dây triên câu
+ Kỹ thuật khai thác
- Khi phát hiện cá dính câu các thuyền viên trên tàu tiến hành thu câu: 1 thuyền viên có kinh nghiệm sẽ chịu trách nhiệm lừa cá, 2 thuyền viên giữ dây câu, 1 thuyền viên chuẩn bị vòng tạo xung, các thuyền viên khác sắp sếp dây câu và thu các dây câu bên cạnh để tránh trường hợp cá quấn vào các dây câu còn lại Cá lên cách mặt nước khoảng 10 - 12 m, khi bắt được thẻo câu tiến hành đưa vòng tạo xung vào dây thẻo và thả vòng tạo xung trượt theo dây thẻo xuống đụng đầu cá, khi vòng xung đụng đầu cá thì thuyền trưởng bấm nút tạo xung kịp thời làm cho cá bị ngất, lúc đó cá không còn vùng vẫy, cá được kéo lên nhẹ nhàng Khi cá lên mặt nước thì các thuyền viên dùng khấu tập trung kéo cá lên boong tàu
* Ưu, nhược điểm của Máy thu câu MSW-1DR 130:
Ưu điểm:
+ Giảm được sự hoảng loạn của cá ngừ trong quá trình thu câu
+ Giảm được sức lao động của ngư dân do không phải dùng tay để kéo dây câu + Dễ sử dụng, bảo quản khi đánh bắt ngoài biển
Nhược điểm:
+Chỉ thu được 1 dây câu 1 lúc Trong khi tàu của ngư dân thường trang bị 4 dây câu tay ở 2 bên mạn tàu, nếu cá cắn 2 hoặc nhiều dây câu 1 lúc thì không thể sử dụng máy thu câu
+ Không thể sử dụng máy thu câu khi dây câu bị rối
* Ưu, nhược điểm của Bộ tuna shocker
Trang 20Ưu điểm:
+ Làm giảm được sự vùng vẫy của cá khi thu cá lên boong tàu
+ Dễ thao tác, an toàn cho người sử dụng
Nhược điểm:
+ Do có chế độ tự động ngắt dòng điện 10 giây sau 30 giây không sử dụng nên nếu cá lên mặt nước vào khoảng thời gian 10 giây ngắt dòng điện thì không thể đóng dòng điện được, phải đợi hết 10 giây mới có thể sử dụng Điều này gây khó khăn cho ngư dân khi sử dụng
+ Thỉnh thoảng thiết bị vẫn gặp trục trặc: khi đóng điện, chuông và đèn báo hiệu đều kêu, nhưng lại không tạo ra xung điện làm tê cá
- Australia: trên mỗi tàu câu tay ở đây người ta thường trang bị từ 8 - 10 cần câu,
hệ thống cần câu này hoàn toàn tự động, mồi câu là mồi sống (cá nổi nhỏ) và được thả xuống biển để nhử đàn cá, cá nổi lên sát mặt nước để ăn câu, thời gian từ khi cá ăn câu đến khi kéo lên tàu chưa đến 1 phút, cá ngay sau khi câu lên tàu sẽ được giết chết ngay
(FAO, Fisheries and Aquaculture Department) Như vậy, thời gian từ khi cá cắn câu cho
đến khi kéo lên tàu ít hơn rất nhiều so với thời gian của nghề câu tay ở Việt Nam
- Hawaii: nghề câu tay khai thác cá ngừ đại dương (cá ngừ mắt to, cá ngừ vây
vàng) ở đây khá phát triển, mồi sử dụng là mồi mực Kỹ thuật khai thác của nghề này dựa vào đặc tính tập trung quanh chà của cá ngừ đại dương, trên mỗi tàu trang bị khoảng 2 - 4 cần câu, sản lượng khai thác trung bình khoảng 150 - 300 kg/đêm
(Nguồn: David G ItanoHawaii Offshore Handline Fishery A Seamount Fishery for Juvenile Bigeye Tuna, 1996) Điểm khác biệt của nghề câu tay ở đây so với Việt Nam là ở đây
câu quanh chà còn ở nước ta câu tay kết hợp với ánh sáng
+ Về công nghệ xử lý và bảo quản cá ngừ
- Philippin: về kỹ thuật xử lý và bảo quản cá ngừ đại dương bằng nghề câu tay quanh chà ở đây được thực hiện như sau:
Cách giết cá: có 02 cách để giết cá Dùng dòng điện để giết cá và cách truyền thống là dùng vồ đập vào đầu để giết cá Với cá ngừ có trọng lượng 35kg dùng dòng điện để giết cá, sử dụng điện thế 24V, sau khoảng 2,2 phút cá chết máu sẽ chảy ra từ mang cá mà không ảnh hưởng tới đầu và thân cá, đối với cá ngừ có trọng lượng 55kg thì dùng cây sắt nhọn chọc vào đầu cá cho đến khi cá chết và cắt vây cá
Trang 21Cách bảo quản sản phẩm: Cá ngừ đánh bắt được sẽ đưa xuống hầm cá và bảo quản bằng nước biển lạnh, sau khi kết thúc một ngày câu vào buổi chiều, cá sẽ được bảo quản bằng nước đá Nếu nước đá bên trong hầm cá đỏ như máu, đầy nhớt với bong bóng có thể là nguyên nhân làm cho cá bị hỏng
Cách giữ chất lượng cá ngừ: Trong mọi trường hợp có thể, dùng móc sắt nhọn móc vào mang cá và kéo lên bề mặt nước trong hầm bảo quản tránh xa các đối tượng khác để da cá không bị xây sát, nếu không thịt cá sẽ bị giảm chất lượng Hai ngày trước khi tàu rời ngư trường trở về bến, bơm nước biển vào trong hầm đá đảm bảo nhiệt độ trong hầm là 00C Để cá không bị hỏng, trước khi đưa vào hầm cá phải moi ruột, cắt mang và để tránh xa hai cơ quan này Nước đá trong hầm bảo quản phải sạch, tránh xa các vật bị nhiễm bẩn. (Benjakul, S., and Bauer, F (2001) Biochemical and physicochemical changes in catfish)
- Nhật Bản: là nước có công nghệ khai thác và bảo quản cá ngừ đại dương hiện đại bậc nhất thế giới Họ đã đưa ra phương pháp xử lý và bảo quản cá ngừ áp dụng cho các tàu của Nhật và những nước xuất khẩu cá ngừ cho họ Quy trình bao gồm:
+ Quy trình xử lý và bảo quản cá ngừ sau khi đưa lên boong tàu
Sau khi đưa cá lên boong tàu, đặt cá lên tấm mút mềm và tiến hành các bước sau:
Làm
choáng
cá
Xả tiết cá, cắt gân đuôi
Phá hủy não cá
Phá hủy tủy cá
Cắt mang, móc nội tạng
Bảo quản cá xuống
ngâm hạ nhiệt sâu
Rửa cá, ngâm
hạ nhiệt
Trang 22Bước 2: Xả tiết cá và cắt gân đuôi
- Dùng dao nhọn, dài chọc vào hai đường bên của cá, sau gốc vây ngực khoảng 6cm Vết rạch sâu khoảng 4-5cm, dài khoảng 2-3cm Máu sẽ từ vết rạch chảy ra ngoài
4 Dùng dao cắt sâu hai bên đuôi cá ở vị trí gai đuôi thứ 3 từ dưới lên
Bước 4: Phá hủy tủy cá
- Dùng dây tangochi luồn sâu vào tủy sống qua não cá để phá hủy tủy cá
Bước 5: Cắt mang và móc nội tạng cá
- Luồn dao vào phía sau nắp mang, rạch một đường dài khoảng 10cm về phía mắt cá
- Cắt phần nối giữa mang cá và hàm dưới
- Cắt phần nối giữa mang cá và phần sọ cá
- Rạch một vết dài khoảng 15cm dọc theo bụng cá, phía trên hậu môn khoảng 1cm
- Lấy phần ống tiêu hóa và tuyến sinh dục của cá thông qua vết rạch
- Lật cá về phía bên kia, cắt nốt phần nối giữa mang cá và sọ cá
- Lấy toàn bộ phần mang và nội tạng cá ra khỏi thân cá
Trang 23Bước 6: Rửa cá và ngâm hạ nhiệt
- Cẩn thận cắt phần mang cá bám vào xương mang, dùng dao cắt và cạo sạch bờ xương mang đến khi chạm vào phần xương trắng
- Cọ sạch phần khoang bụng, không lấy đi phần màng trắng (bong bóng cá) phủ trên phần xương sống
- Cẩn thận rửa sạch phần bên ngoài và bên trong bụng cá
- Cắt bỏ vây đuôi, vây lưng 2 và vây hậu môn bằng dao sắc hoặc cưa
Bước 7: Ngâm trong hầm ngâm trung gian
- Cho cá vào ngâm ở hầm ngâm trung gian trong khoảng 30÷60 phút Nhiệt độ nước ở hầm ngâm trung gian khoảng 15÷180C
Bước 8: Ngâm trong hầm ngâm hạ nhiệt sâu
- Sau khi ngâm ở hầm ngâm trung gian xong, chuyển cá vào ngâm ở hầm ngâm hạ nhiệt sâu trong khoảng 9÷10 tiếng Nhiệt độ hầm ngâm hạ nhiệt sâu khoảng 00C ÷ -20C
Bước 9: Bảo quản cá trong hầm
- Kéo cá ra khỏi hầm ngâm, chuyển vào hầm bảo quản, không kéo lê cá hoặc làm tổn thương phần thân và mắt cá
- Phủ một lớp đá dày 30cm dưới đáy hầm; xếp 1 cá phủ 1 lớp đá; mỗi hầm không xếp quá 3 lớp cá; cho đá xay vào phần bụng và mang cá, rồi xếp cá thẳng, bụng úp xuống dưới, xếp trở đầu cá để tiết kiệm diện tích hầm; khoảng cách giữa 2 con cá từ 10-15cm, giữa hai lớp cá là từ 15-20cm, giữa cá và vách ngăn hầm là 20-30cm Trên cùng phủ 1 lớp đá dày khoảng 30cm
- Hàng ngày, kiểm tra hầm cá, tiến hành “săm” đá, bổ sung phần đá bị tiêu hao
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Năm 2005 - 2007, Viện Nghiên cứu Hải sản đã chủ trì thực hiện đề tài “Nghiên cứu cải tiến và ứng dụng công nghệ mới trong nghề câu cá ngừ đại dương ở vùng biển miền Trung và Đông Nam Bộ” [9] Với kết quả đạt được như sau:
Đề tài đã nghiên cứu xác định độ sâu ăn mồi và cải tiến vàng câu cá ngừ đại dương cho phù với điều kiện vùng biển và trình độ công nghệ khai thác của Việt Nam Xác định loại mồi để câu cá ngừ đại dương có hiệu quả cao, kết quả cho thấy sử dụng mồi câu là mực đại dương cho năng suất khai thác cao gấp 5,2 lần sử dụng mồi câu bằng cá chuồn Tuy nhiên đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu cải tiến và ứng dụng
Trang 24công nghệ cho nghề câu vàng cá ngừ đại dương mà chưa nghiên cứu đến hiệu quả khai thác nghề câu tay
Những nghiên cứu về bảo quản cá ngừ đại dương sau khai thác trên tàu
+ Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Chính Tâm (2006) về bảo quản cá ngừ trên các tàu câu ngừ đại dương ở tổng công ty hải sản Biển Đông [10] cho thấy:
Tuy nhiên đề tài này cũng chỉ tập trung nghiên cứu quy trình xử lý bảo quản trên tàu câu vàng mà chưa nghiên cứu đến hiệu quả khai thác nghề câu tay
+ Tác giả Nguyễn Long (2007) đưa ra quy trình bảo quản cá ngừ trên tàu câu của ngư dân gồm các công đoạn [3]:
Đề tài này cũng chỉ tập trung nghiên cứu quy trình bảo quản cá ngừ trên tàu câu vàng mà chưa nghiên cứu đến hiệu quả khai thác nghề câu tay
+ Kết quả của đề tài “Bảo quản cá ngừ đại dương nguyên liệu trong môi trường nước biển lạnh” (Nguyễn Thị Trúc Đào, 2003) [12] cho thấy:
Nếu cá ngừ nguyên liệu bảo quản trong môi trường không khí lạnh ở 00C thì bảo quản được trong 13 ngày, nếu cá ngừ nguyên liệu bảo quản trong nước biển lạnh thì thời gian bảo quản trong 22 ngày Ưu điểm của phương pháp bảo quản này là dễ tiến hành, thuận tiện, tốn ít thời gian và nhân công Nhược điểm là thời gian bảo quản ngắn, không đáp ứng được yêu cầu đối với việc đánh bắt xa bờ, chỉ thích hợp cho bảo quản nguyên liệu tại xí nghiệp
Ngoài ra có một số đề tài nghiên cứu đến nghề câu tay như TS Trần Đức Phú và
Kỹ sư Nguyễn Hữu Hào, tuy nhiên các đề tài này cũng chủ yếu nghiên cứu các giải pháp nâng cao chất lượng cá ngừ mà chưa nghiên cứu đến hiệu quả khai thác
Như vậy, trong nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về hiệu quả kinh tế đội tàu, tình hình kinh tế - xã hội của cộng đồng ngư dân khai thác hải sản Cũng đã có những nghiên cứu, đánh giá cụ thể về hiệu quả kinh tế của hoạt động khai thác kiêm nghề, hiệu quả hoạt động của những đội tàu chuyển đổi nghề Tuy nhiên nghiên cứu về hiệu quả khai thác của nghề câu tay cá ngừ đại dương cụ thể cho huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định hầu như chưa được quan tâm
Trang 25CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Thực trạng nghề câu tay cá ngừ đại dương của huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định
- Thực trạng tàu thuyền và trang thiết bị:
+ Điều tra số lượng tàu thuyền nghề câu cá ngừ đại dương của huyện Hoài Nhơn và cả tỉnh Bình Định thống kê theo năm; theo từng nhóm công suất
+ Thông tin vỏ tàu: kích thước, năm mua, giá mua, chất lượng, tuổi thọ, giá
hiện tại
+ Thông tin về máy: hiệu máy, công suất, năm mua, giá mua, chất lượng, tuổi thọ, giá hiện tại
+ Trang thiết bị phục vụ khai thác, hàng hải và an toàn tàu cá: hiệu máy, năm
mua, giá mua, giá hiện tại, các hệ thống đèn phát sáng (công suất phát, độ cao )
- Thực trạng ngư cụ sử dụng:
+ Cấu tạo câu tay: phân loại, vật liệu, quy cách, số lượng lưỡi câu,
+ Giá mua, giá hiện tại
+ So sánh cấu tạo, vật liệu, giá thành, giữa câu tay cá ngừ ở Việt Nam và câu tay của Nhật Bản đã và đang áp dụng ở Việt Nam
- Thực trạng trang bị nguồn sáng trên tàu câu tay
- T hực trạng quy trình kỹ thuật khai thác
+ Kỹ thuật khai thác: chuẩn bị; thả; thu câu; bắt cá,
- Thực trạng bảo quản sản phẩm trên tàu câu tay cá ngừ đại dương
+ Quy trình xử lý và bảo quản sản phẩm sau khai thác: giết cá, xả máu, cách bảo quản,
tỷ lệ đá, cá,
- Mùa vụ và đối tượng khai thác
- Năng suất và sản lượng khai thác:
+ Năng suất khai thác trung bình mỗi tàu (tấn/năm, tấn/chuyến)
+ Sản lượng đánh bắt của đội tàu
- Thực trạng về tổ chức sản xuất:
+ Quy mô đội tàu, tổ đội
Trang 26+ Đặc điểm mô hình khai thác
- Tình hình kinh tế - xã hội của cộng đồng ngư dân làm nghề câu tay cá ngừ đại dương tại huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định
+ Điều tra thông tin về thuyền viên: số lượng, giới tính, độ tuổi, cấp học, trình
độ kỹ thuật khai thác, thu nhập,
+ Điều tra thông tin về hộ gia đình: Độ tuổi, cấp học, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế, sinh hoạt, thu nhập, chi tiêu của hộ gia đình,
+ Những quan điểm của người dân về phát triển nghề khai thác cá ngừ trong thời gian tới
- Lợi nhuận thu được của các tàu làm nghề câu tay cá ngừ đại dương
+ Doanh thu bình quân của chuyến biển, của năm
+ Vốn đầu tư, nguồn vốn đầu tư
+ Chi phí biến đổi (chi phí chuyến biển): nhiên liệu, nước đá, mồi câu, lương thực, khác,
+ Chi phí cố định: bảo hiểm, trả lãi vay, sửa chữa lớn, bổ sung thiết bị, ngư cụ, + Chi phí nhân công
+ Lợi nhuận
Nội dung 2: Đánh giá hiệu quả khai thác của nghề câu tay cá ngừ đại dương
của huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định
- Đánh giá hiệu quả khai thác về mặt đảm bảo an toàn nguồn lợi
- Đánh giá hiệu quả khai thác về an toàn cho người và phương tiện trên biển
- Đánh giá hiệu quả khai thác về mặt bảo vệ chủ quyền biển đảo của quốc gia
- Đánh giá hiệu quả khai thác về mặt kinh tế của đội tàu
Nội dung 3: Ý kiến đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác nghề câu tay cá ngừ đại dương tại huyện Hoài Nhơn tỉnh Bình Định
- Giải pháp về tổ chức sản xuất trên biển
- Giải pháp về kỹ thuật khai thác
- Giải pháp xử lý và bảo quản sản phẩm sau khai thác
Trang 272.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.2 Phương pháp điều tra
2.2.2.1 Điều tra thu thập số liệu thứ cấp
- Đối tượng điều tra: từ các cơ quan quản lý nghề cá của tỉnh Bình Định như Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản, trạm khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản huyện Hoài Nhơn, ngoài ra tham khảo các số liệu thứ cấp của Vụ Khai thác thủy sản – Tổng cục Thủy sản, Viện nghiên cứu hải sản Hải Phòng, các Đề án, Dự án
có liên quan
- Nội dung thu thập số liệu:
+ Thu thập số liệu về số lượng tàu thuyền nghề câu tay cá ngừ đại dương phân theo nhóm công suất;
+ Thu thập số liệu về sản lượng khai thác, mùa vụ khai thác, của nghề câu tay
cá ngừ đại dương;
+ Thu thập các thông tin về tình hình kinh tế - xã hội nghề cá (thu nhập, vốn );
+ Thu thập thông tin về các chính sách của địa phương liên quan đến phát triển nghề khai thác cá ngừ đại dương;
2.2.2.2 Điều tra thu thập số liệu sơ cấp
- Đối tượng và phạm vi điều tra: chủ tàu, thuyền trưởng làm nghề câu tay khai thác cá ngừ đại dương ở huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định
- Nội dung điều tra:
Điều tra thu thập số liệu theo mẫu để đánh giá hiện trạng tàu thuyền, kỹ thuật khai thác, công nghệ xử lý và bảo quản sản phẩm và một phần điều tra tác động của ngư cụ, phương pháp khai thác và nguồn sáng đến đối tượng đánh bắt Số liệu thu thập gồm các thông tin sau:
Trang 28+ Thông tin về vỏ tàu, máy tàu, trang thiết bị khai thác và hàng hải,
+ Kỹ thuật khai thác như: thả câu, thu câu, cách thức chong đèn, mùa vụ khai thác,
+ Phương pháp bảo quản sản phẩm, hầm bảo quản, dụng cụ sơ chế sản phẩm + Thu thập số liệu về sản lượng, chất lượng sản phẩm, thời gian bảo quản sản phẩm,
+ Thu thập số liệu về thông số kỹ thuật của ngư cụ: kích thước lưỡi câu, chiều dài thẻo câu, độ thô thẻo câu,
+ Thông tin về lao động trên tàu gồm: số lượng lao động, trình độ lao động trên tàu + Thu thập số liệu về nguồn sáng gồm: công suất phát sáng, chủng loại bóng đèn, sơ đồ bố trí nguồn sáng,
+ Thu thập thông tin về giá sản phẩm, doanh thu, chi phí,
Phỏng vấn sâu cán bộ quản lý, ngư dân, các cơ sở thu mua, tàu dịch vụ thu mua,
cơ sở chế biến Số liệu thu thập gồm: giá cá, chất lượng cá, cách thức khai thác và bảo quản sản phẩm,
Ngoài ra tham khảo và sử dụng một số số liệu của đề tài ”Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng cá ngừ đại dương trên tàu câu tay” của Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng và đề tài “Hoàn thiện công nghệ và hệ thống lạnh nhanh cá ngừ đại dương trên tàu cá xa bờ” của Trung tâm Đăng kiểm tàu cá (hiện bản thân đang tham gia thực hiện)
2.2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
* Tính sản lượng và CPUE trung bình trên tổng số mẫu điều tra
Áp dụng theo hướng dẫn của FAO: Quy mô mẫu an toàn trong điều tra lên cá, tính được sản lượng, CPUE trung bình của đội tàu trên tổng số mẫu điều tra được theo nhóm công suất (29 mẫu đối với nhóm công suất [90;250)cv, 29 mẫu đối với nhóm [250;400) cv; 31 mẫu đối với nhóm 400 cv trở lên) và số liệu điều tra thực tế trên biển (sử dụng số liệu điều tra của Viện NCHSHP: 06 chuyến biển câu tay)
* Lợi nhuận thu được và năng suất lao động của các tàu làm nghề câu tay cá ngừ đại dương
- Tổng doanh thu của tàu (DT): được xác định bằng doanh thu trung bình
chuyến biển (DTcb) nhân với số chuyến biển (t) thực hiện trong năm
DT= DTcb * t
Trang 29- Tổng thu nhập của tàu (TN): được xác định bằng tổng doanh thu (DTtb) trừ đi chi phí biến đổi CPbd (không bao gồm chi phí lao động)
CPld: chi phí lương lao động
Trang 30CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thực trạng nghề câu tay cá ngừ đại dương của huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định 3.1.1 Thực trạng tàu thuyền và trang thiết bị
+ Số lượng tàu thuyền nghề câu cá ngừ đại dương của huyện Hoài Nhơn và cả tỉnh Bình Định thống kê theo năm; theo từng nhóm công suất
Theo số liệu báo cáo về cơ cấu nghề của Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Bình Định tính đến tháng 9/2015 số lượng tàu cá làm nghề khai thác cá ngừ đại dương của tỉnh Bình Định có số lượng lớn nhất so với các nghề khác, cụ thể là 1.717 tàu (trong đó: nghề câu tay kết hợp ánh sáng là 1143 tàu, câu vàng là 15 tàu, nghề vây 559 tàu) chiếm 25% tổng số tàu cá của cả tỉnh (6877 tàu cá)
Đối với huyện Hoài Nhơn số lượng tàu thuyền nghề câu cá ngừ đại dương từ năm 2012 đến tháng 9/2015, theo từng nhóm công suất (từ 90CV đến dưới 250CV; từ 250CV đến dưới 400CV; từ 400Cv trở lên) thể hiện bảng 3.1:
Bảng 3.1 Số lượng tàu thuyền làm nghề câu tay cá ngừ đại dương theo nhóm công
suất tại huyện Hoài Nhơn từ năm 2012 đến tháng 9/2015
Trang 31Bảng 3.2 Thông số của tàu, giá đóng mới, chất lượng và tuổi thọ của các tàu câu
tay cá ngừ đại dương theo nhóm công suất của huyện Hoài Nhơn
TT Nhóm
công suất
Kích thước trung bình (L max x B max x D)
Công suất trung bình
Gía đóng mới (tr.đ) (giá vỏ +máy chính)
Chất lượng (%)
Tuổi thọ (năm)
cv, qua đây cho thấy việc nâng cấp máy trên 400 cv chủ yếu là lắp máy cũ đã qua sử dụng; về tuổi thọ của tàu căn cứ vào năm đóng cho thấy nhóm tàu công suất trên 400
cv có tuổi thọ lớn nhất, trung bình đã đóng mới và đưa vào hoạt động được 10 năm + Thông tin về máy chính: hiệu máy, công suất, năm mua, giá mua, chất lượng, tuổi thọ
Bảng 3.3 Thông tin về hiệu máy chính, công suất, giá mua, chất lượng, tuổi thọ các tàu câu tay cá ngừ đại dương theo nhóm công suất của huyện Hoài Nhơn
Chất lượng (%)
Tuổi thọ (năm)
1 90-<250
YANMAR, MITSUBISHI, DAEWOO
2 250 - <400 HINO, ISUZU 306 252,5 76,25 5
Trang 32Qua bảng 3.3 cho thấy các hiệu máy chính chủ yếu của tàu khai thác cá ngừ đại dương bằng nghề câu tay tại đây: CUMMINS, DAWOO, DAIYA, HYUNDAI, ISUZU, KOMATSU, MISIBISHI, WEICHAI, YAMAHA, YANMAR, VOLVO Tuy nhiên đối với tàu cá có nhóm công suất từ 400 cv trở lên chủ yếu là CUMMINS (400 tàu, chiếm tỷ lệ 50%), DAWOO (164 tàu chiếm tỷ lệ 20,52%), còn lại các hiệu máy khác Nhóm tàu có công suất từ 400 cv trở lên , có công suất trung bình 460 cv, giá mua trung bình là 345 triệu, chất lượng ước tình còn khoảng 75%, tuổi thọ trung bình 8 năm
Nhóm tàu có công suất máy chính từ 250 cv đến dưới 400 cv chủ yếu lắp máy HINNO (182 tàu chiếm tỷ lệ 64,76% ), ISUZU (71 tàu chiếm tỷ lệ 25,26%), còn lại các hiệu máy khác
Nhóm tàu có công suất máy chính từ 250 cv đến dưới 400 cv có công suất trung bình 306 cv, giá mua trung bình 252,5 triệu đồng, chất lượng còn lại ước tính khoảng 76,25%, tuổi thọ trung bình khoảng 5 năm
Nhóm tàu có công suất máy chính từ 90 cv đến dưới 250 cv chủ yếu lắp máy YANMAR (11 tàu chiếm tỷ lệ 21,42%), DAWOO (10 tàu chiếm tỷ lệ 25,87%), MISUBISHI (9 tàu chiếm tỷ lệ 25,71%); công suất trung bình là 170 cv, giá mua trung bình 220 triệu đồng, đã sử dụng trung bình được 05 năm
Các tàu cá khai thác cá ngừ đại dương bằng nghề câu tay của huyện Hoài Nhơn chủ yếu sử dụng máy cũ đã qua sử dụng chiểm tỷ lệ khoảng 97%
+ Trang thiết bị hàng hải phục vụ khai thác:
Các tàu làm nghề câu tay cá ngừ đại dương kết hợp ánh sáng của huyện Hoài Nhơn hoạt động chủ yếu ở vùng biển xa bờ nên hầu hết các tàu đều được trang bị đầy
đủ các trang thiết bị thông tin liên lạc, các trang thiết bị hàng hải
- Radio tầm phương: TAIYO TD-L2200
- Định vị có hải đồ điện tử: FURUNO
- Máy đàm thoại công suất lớn: ICOM IC-77, ICOM 718
- La bàn từ
- Máy dò cá hãng Koden – Nhật Bản
- Máy thông tin liên lạc sóng HF tầm xa tích hợp định vị vệ tinh GPS VX 1700 hãng Nhật Bản, công suất 125 W
Trang 33* Đánh giá về tàu và thiết bị bảo quản
Các tàu câu tay cá ngừ đại dương của ngư dân đa số là tàu cải hoán từ tàu làm nghề câu vàng, chụp mực, lưới vây sang nghề câu tay nên có công suất thấp, chật chội, hầm bảo quản cũ, vách cách nhiệt mỏng độ cách nhiệt kém
3.1.2 Thực trạng về ngư cụ sử dụng
Ngư cụ đang được sử dụng để khai thác là những đường câu, mỗi đường câu có các thông số kỹ thuật chính như sau:
+ Tổng chiều dài đường câu: dây câu chính (triên câu): 80-100 m
+ Chiều dài thẻo câu: 10-15m
+ Vật liệu dây câu: PA sợi đơn 1,8 – 2,2mm
+ Số lượng cần câu: 04 cần
Bản vẽ bố trí các đường câu tay trên tàu được thể hiện trong hình 3.1
14 - 16 m
2 - 3m 7-8m
1-2m
a) Hình chiếu bằng b) Hình chiếu cạnh
Hình 3.1 Bố trí câu tay cá ngừ đại dương kết hợp ánh sáng
Cần câu cá ngừ đại dương trên tàu câu tay ở nước ta đang sử dụng được làm bằng tre, vốn đầu tư cần câu rất thấp, được lắp cố định 02 bên mạn tàu và tạo thuận tiện trong các hoạt động khai thác cá ngừ đại dương Cần câu được làm từ các cây tre với đường kính ngọn 50mm và đường kính gốc 90-100 mm, cần câu sử dụng vật liệu tre, mục đích để nới rộng khoảng cách giữa các dây câu và cần câu không có tác dụng
để lừa cá, nhử cá
Trang 34Hình 3.2 Cấu tạo câu tay cá ngừ đại dương
12,0
m P
Am
ono 82
Trang 35Hình 3.3 Chi tiết các mối liên kết lắp ráp
Câu tay cá ngừ đại dương có cấu tạo tương đối đơn giản, chi phí đầu tư ban đầu thấp và bố trí lắp đặt trên tàu rất dễ dàng, có thể lắp ghép ngay trên biển Thống kê chi tiết một đường câu tay cá ngừ đại dương như ở bảng 3.4
Trang 36Bảng 3.4 Thống kê trang bị toàn bộ 1 đường câu tay cá ngừ đại dương
TT Tên bộ phận Số
lượng Vật liệu
Chiều dài (m)
Đường kính (mm)
3 Dây liên kết triên 2 PE bện tết 8 x 0,5 6
4 Dây liên kết thẻo 2 PE bện tết 8 x 0,5 6
Trang 37Trên 01 tàu:
+ Cần câu là các cây tre có chiều dài từ 7 m - 12m, tàu bố trí 4 cần ở 4 góc tàu
và phía đuôi tàu bố trí một dây câu dạng câu vàng với 2 phao ganh
+ Dây câu chính (triên câu): Có 4 dây được treo ở các trụ cần, chiều dài 225m/
triên câu, độ sâu thả câu 45m – 100m tùy theo cá cắn câu sâu hay nông
+ Dây nhánh (thẻo câu): Mỗi triên câu có 2 thẻo câu, chiều dài 10-11m/thẻo câu,
khoảng cách 2 thẻo câu là 32-50m
Ngoài 8 dây thẻo thả ở 4 cần, có thể thả thêm 2 thẻo câu ở lái tàu Đối với dây thẻo ở lái, độ sâu khai thác là 15÷40m và được liên kết với mạn đuôi sử dụng các túi nilon thổi đầy khí để chúng nổi và nhờ gió biển đưa lưỡi câu cách ra xa tàu
+ Chì dằn: dằn chủ yếu là chì (có tàu dằn bằng đá), trọng lượng từ 2-3kg
Đánh giá về ngư cụ khai thác
Kết cấu chính của một đường câu tay bao gồm: Dây câu chính, dây câu nhánh, chì dằn, khóa xoay lưỡi câu và cần câu
Lưỡi câu của nghề câu tay cũng chính là những lưỡi câu sử dụng trong nghề câu vàng cá ngừ đại dương Khác biệt lớn nhất của nghề câu tay và nghề câu vàng, đó
là đối với nghề câu tay cá ngừ đại dương có sử dụng ánh sáng để thu hút cá và mồi câu được sử dụng là mực xà còn sống Cấu tạo của đường câu tay cá ngừ đại dương không phức tạp, nên việc gia công chế tạo các đường câu được thực hiện ngay trên tàu, khi đường câu nào bị sự cố sẽ có các thiêt bị thay thế ngay hoặc có thể thay thế nguyên đường câu mới
Vật liệu làm cần câu là những cây tre có đường kính ngọn từ 40-60mm và đường kính ngọn 90-100mm, chiều dài từ 5-7m Giá thành rất rẻ và tìm kiếm rễ dàng Chì được làm bằng sắt hoặc bằng chì, trọng lượng từ 2-2,5kg, chiều dài từ 20-25cm
Nhìn chung, ngư cụ sử dụng trên tàu câu tay cá ngừ đại dương kết hợp ánh sáng, có cấu tạo đơn giản, dễ gia công chế tạo và giá thành rẻ Chiều dài dây thẻo và dây chính của đường câu tay bằng với chiều dài dây thẻo và dây phao ganh của nghề câu vàng, điều đó cho thấy độ sâu ăn mồi của cá ngừ đại dương ở 2 nghề không có sự khác nhau, ngoài ra lưỡi câu, cách bố trí khóa xoay, khóa bấm, giữa hai nghề cũng không có sự khác nhau Cho nên ngư cụ không ảnh hưởng đến chất lượng cá ngừ đại dương
Trang 383.1.3 Thực trạng trang bị nguồn sáng trên tàu câu tay
Trên tàu câu tay cá ngừ đại dương nguồn sáng được bố trí dọc hai bên mạng cabin tàu Công suất nguồn sáng trang bị trên tàu gồm 15-20 bóng đèn tương đương với 15 -17kW Màu sắc ánh sáng sử sụng phổ biến là ánh sáng trắng, độ cao bóng đèn khoảng 4m Động cơ sử dụng cung cấp điện cho hệ thống ánh sáng có công suất 200cv
và được lai với Dinamo có công suất 45KVA
- Đinamô công suất phát 37KW Điện áp đầu ra 220V
- Loại bóng đèn: SEAL Trung Quốc; Công suất 1000W; Điện áp 220V
- Số bóng lắp hai bên mạn: 20 bóng, khoảng cách hai bóng liền kề là 0.6m
- Khoảng cách từ bóng đèn đến be tàu là 2,5m Màu sắc ánh sáng: Trắng, trắng hồng
Sơ đồ bố trí nguồn sáng trên tàu câu tay cá ngừ đại dương được thể hiện như hình 3.5 dưới đây:
Hình 3.5: Sơ đồ bố trí nguồn sáng trên tàu câu tay cá ngừ đại dương
Việc bố trí nguồn sáng trên tàu câu tay cá ngừ đại dương khá giống với cách bố trí nguồn sáng trên các tàu lưới vây Thực tế cũng cho thấy điều này, một số tàu lưới vây khi chuyển sang câu tay cá ngừ đại dương vẫn giữ nguyên cách bố trí nguồn sáng
Trang 39sáng tại mặt boong là không đáng kể, điều này cũng đã được tiến hành đo bởi một số công trình nghiên cứu về đánh cá bằng ánh sáng, cụ thể nhiệt độ tại mặt boong tàu chỉ tăng lên so với khi không thắp đèn khoảng 0,030C
3.1.4 Thực trạng trang thiết bị xử lý, bảo quản trên tàu câu tay cá ngừ đại dương
Trang thiết bị được sử dụng để xử lý, bảo quản trên tàu câu tay cá ngừ đại dương của huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định tương đối đơn giản Các thiết bị này dễ dàng tìm kiếm và chế tạo Chi tiết cho trong bảng 3.5
Bảng 3.5 Thiết bị xử lý, bảo quản trên tàu câu tay
TT Tên gọi Vật liệu Quy cách Số lượng Chiều dài (m)
Ngâm câu
Trang 40* Chuẩn bị:
a) Tàu chạy đến ngư trường:
Ngư trường khai thác cá ngừ đại dương ở khu vực xa bờ vùng biển miền Trung Việc xác định ngư trường thường được dựa vào kinh nghiệm từ các lần đi biển trước Tàu chạy ra ngư trường với thời gian chạy khoảng 2-3 ngày, tốc độ tàu trung bình từ 5-6 hải lý/giờ Khi tàu chạy đến điểm đánh bắt thì tàu tiến hành thả dù và chuẩn bị ngư
cụ đánh bắt Công việc chuẩn bị trước khi thả câu bao gồm: lắp ghép các bộ phận câu thành một đường câu tay hoàn chỉnh, lắp cần câu và dây đầu cần, dây mồi vào các vị trí đã định sẵn, chuẩn bị mồi câu
b) Thắp sáng tập trung cá (chong đèn) và câu mồi:
- Đối với nghề câu tay cá ngừ đại dương kết hợp ánh sáng thì mồi câu yêu cầu phải là mực xà còn sống nên các công đoạn lắp ghép câu, căng cần câu được tiến hành trước, còn việc chuẩn bị mồi câu thì được tiến hành đồng thời với quá trình câu
- Khi trời tối tiến hành thắp sáng tập trung cá, đồng thời tiến hành câu mực xà làm mồi câu cá ngừ đại dương Mực xà là mồi tốt nhất để câu cá ngừ đại dương, đặc biệt là mồi sống Vì vậy, mồi được câu và được giữ sống bằng phao ganh (phao ganh của lưới rê trôi), mỗi phao được lưu giữ 01 con mồi Kích thước mực xà làm mồi câu thường từ 20-30cm Phao ganh được xiên lỗ và tạo độ thoáng và lưu thông nước nhằm cho việc lưu giữ mồi không bị chết và có thể đưa vào, lấy ra dễ dàng Như vậy, mồi câu cá ngừ đại dương bằng nghề câu tay đảm bảo tươi sống, rất tốt
Công suất nguồn sáng để tập trung cá giao động trong khoảng từ 8 - 15kW gồm 15-20 bóng cao áp 1000w/bóng Thời gian thắp sáng bắt đầu khoảng từ 18 giờ ngày hôm trước đến 5 giờ sáng hôm sau (11giờ) Ban đầu nguồn sáng được thắp sáng với công suất là 15kW (trong khoảng 8 giờ) và khi đến gần sáng hôm sau (khoảng 3 giờ) công suất nguồn sáng giảm xuống 8 kW Việc điều chỉnh công suất nguồn sáng từ 15
kW xuống còn 8 kW nhằm giảm cường độ sáng và tập trung cá, ngoài ra giảm tiêu hao dầu do chạy máy điện
- Tốc độ trôi của tàu khi chong đèn tập trung trong khoảng từ 0,4-1,0 hải lý/giờ
và trung bình đạt khoảng 0,6 hải lý/giờ
- Trong thời gian thắp sáng câu cá ngừ (các thủy thủ trên tàu tiếp tục câu mực
xà chuẩn bị làm mồi câu)