Ngành Thủy sản tỉnh Thái Bình đang muốn đánh giá lại hiệu quả của nghề khai thác trong đó có nghề lưới kéo nhằm sắp xếp lại cơ cấu nghề khai thác của tỉnh theo hướng phát triển bền vững,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TRẦN QUANG TUYỀN
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KHAI THÁC NGHỀ LƯỚI KÉO
CÔNG SUẤT TỪ 90CV TRỞ LÊN TẠI
TỈNH THÁI BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ
KHÁNH HÒA - 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TRẦN QUANG TUYỀN
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KHAI THÁC NGHỀ LƯỚI KÉO
CÔNG SUẤT TỪ 90CV TRỞ LÊN TẠI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài ”Đánh giá hiệu quả khai thác nghề
lưới kéo công suất từ 90cv trở lên tại tỉnh Thái Bình” là công trình nghiên cứu của cá
nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này
Thái Bình, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Trần Quang Tuyền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, Khoa sau đại học, Viện khoa học và công nghệ khai thác Thủy sản và các phòng, ban của Trường đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được hoàn thành đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến: Tiến sĩ Hoàng Văn Tính - Viện khoa học và công nghệ khai thác Thủy sản - Trường Đại học Nha Trang, đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Tiến sĩ Hoàng Hoa Hồng, Tiến sĩ Trần Đức Phú, Tiến sĩ Nguyễn Đức Sĩ, Tiễn sĩ Phan Trọng Huyến và các thầy giáo, cô giáo giảng dạy lớp cao học Khai thác Thủy sản khóa 2013 đã tận tình giảng dạy tôi hoàn thành khóa học, nâng cao nhận thức chuyên môn để hoàn thành luận văn này;
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Thái Bình, Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng, Cục thống kê Thái Bình, các phòng Nông nghiệp và PTNT các huyện Thái Thụy, Tiền Hải, Kiến Xương, UBND 23 xã ven biển Thái Bình, gia đình
và các bạn đồng nghiệp trong và ngoài cơ quan đã tạo điều kiện, bố trí thời gian cho tôi
đi học, đi thu thập số liệu và cung cấp số liệu cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Bình, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Trần Quang Tuyền
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC KÝ HIỆU vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC HÌNH x
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Tổng quan nghề khai thác thủy sản tỉnh Thái Bình 3
1.1.1 Khái quát về vị trí địa lý, địa hình và khí hậu 3
1.1.2 Lao động khai thác hải sản 4
1.1.3 Ngư trường và nguồn lợi 5
1.1.4 Thực trạng nghề khai thác thủy sản tỉnh Thái Bình 6
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 10
1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 10
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 12
1.2.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 14
1.3 Kết luận 15
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Nội dung nghiên cứu 16
2.2 Phương pháp nghiên cứu 16
2.2.1 Phương pháp tiếp cận 16
2.2.2 Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp 17
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 17
2.3 Tính hiệu quả khai thác 17
2.3.1 Tính sản lượng khai thác (tính trong thời gian thực hiện đề tài): 17
2.3.2 Hiệu quả nghề: 18
2.3.3 Hiệu quả kinh tế: 19
2.4 Tác động của nghề đối với nguồn lợi: 20
2.5 Một số giải pháp 20
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21
Trang 63.1.1 Vỏ tàu 21
3.1.2 Máy tàu 23
3.1.3 Máy điện hàng hải và thông tin liên lạc 25
3.1.4 Trang bị an toàn và phòng nạn 27
3.1.5 Trang thiết bị khai thác 28
3.1.6 Ngư cụ 29
3.1.7 Vùng khai thác của đội tàu 31
3.1.8 Hình thức tổ chức sản xuất 32
3.1.9 Lực lượng lao động 32
3.2 Hiệu quả khai thác nghề lưới kéo đôi công suất từ 90cv trở lên tỉnh Thái Bình 33 3.2.1 Sản lượng khai thác: 33
3.2.2 Hiệu quả nghề 34
3.2.3 Hiệu quả kinh tế 35
3.3 Tác động của nghề đối với nguồn lợi hải sản 42
3.3.1 Thành phần loài cá khai thác 42
3.3.2 Tỷ lệ cá non bị đánh bắt 43
3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển nghề lưới kéo xa bờ tỉnh Thái Bình theo hướng bền vững 44
3.4.1 Căn cứ pháp lý 44
3.4.2 Giải pháp 45
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46
1 Kết luận 46
2 Kiến nghị 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Lao động khai thác hải sản giai đoạn 2009-2013 4
Bảng 1.2: Bình quân biên chế lao động của các nghề 4
Bảng: 1.3: Năng lực tàu thuyền khai thác hải sản giai đoạn (2009- 2013) 6
Bảng 1.4: Cơ cấu đội tàu theo địa phương năm 2013 6
Bảng 1.5: Cơ cấu đội tàu theo nghề giai đoạn 2009-2013 7
Bảng 1.6: Cơ cấu nghề khai thác theo nhóm công suất năm 2013 7
Bảng 1.7: Cơ cấu đội tàu nghề lưới kéo đôi theo công suất và địa phương 8
Bảng 2.1: Phân bố mẫu điều tra 17
Bảng 3.1: Vật liệu chế tạo vỏ tàu theo địa phương 21
Bảng 3.2: Kích thước vỏ tàu theo nhóm công suất 21
Bảng 3.3 Trang bị máy chính trên tàu theo dải công suất 23
Bảng 3.4: Trang bị máy điện hàng hải và thông tin liên lạc 26
Bảng 3.5: Trang bị an toàn và phòng nạn 27
Bảng 3.6: Thống kê trang bị máy tời 28
Bảng 3.7: Kích thước mắt lưới phần đụt lưới 29
Bảng 3.8: Thông số kỹ thuật của hệ thống dây 30
Bảng 3.9: Khu vực khai thác của các nhóm tàu 31
Bảng 3.10: Sản lượng khai thác trung bình 1 chuyến biển/2 ngày của cặp tàu 33
Bảng 3.11: Sản lượng khai thác trung bình của 1 cặp tàu 33
Bảng 3.12: Hiệu quả nghề theo nhóm công suất 34
Bảng 3.13: Vốn đầu tư ban đầu TB của 1 cặp tàu 35
Bảng 3.14: Doanh thu trung bình 1 chuyến biển/1cặp tàu 36
Bảng 3.15: Doanh thu trung bình 1 cặp tàu 36
Bảng 3.16 Chi phí cố định trung bình của 1 cặp tàu 37
Bảng 3.17: Chi phí biến đổi trung bình 1 chuyến biển 2 ngày 38
Bảng 3.18: Chi phí biến đổi trung bình của 1 cặp tàu 38
Bảng 3.19: Lợi nhuận trung bình 1 chuyến biển của 1 cặp tàu 39
Bảng 3.20:Lợi nhuận trung bình của 1 cặp tàu 39
Bảng 3.21: Tỷ lệ lợi nhuận với vốn đầu tư 40
Bảng 3.22: Thu nhập của người lao động 41
Bảng 3.23: Tỷ lệ % bắt gặp các đối tượng trong mẻ lưới 43
Bảng 3.24: Thống kê mực nang, cá mòi nhỏ bị khai thác 44
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Khu vực khai thác theo Nghị định 33 [2] 5
Hình 1.2: Tổng sản lượng và sản lượng khai thác bình quân của 1 tàu 9
Hình 1.3: Tổng sản lượng và sản lượng khai thác bình quân của 1 cv 9
Hình 3.1: Cặp tàu lưới kéo đôi có công suất 400cv 22
Hình 3.2: Cặp tàu lưới kéo đôi có công suất 250cv 22
Hình 3.3: Tàu vỏ Xi măng cốt thép có công suất 105cv 23
Hình 3.4: Máy tàu lưới kéo đôi hiệu Hino có công suất 360cv 24
Hình 3.5: Máy tàu lưới kéo đôi hiệu Cummins có công suất 400cv 24
Hình 3.6: Máy tàu lưới kéo đôi hiệu Yanmarcó công suất 250cv 25
Hình 3.7: Máy Định vị và dò cá đượclắp trên tàu lưới kéo đôi có công suất 360cv 25
Hình 3.8: Đàm thoại tầm gần Galaxy và đàm thoại tầm dài VX-1700 27
Hình 3.9: Máy tời 28
Hình 3.10: Cẩu chữ A trên tàu lưới kéo đôi 29
Hình 3.11: Lắp ráp áo lưới 30
Hình 3.12: Khu vực khai thác của tàu lưới kéo đôi tỉnh Thái Bình 31
Hình 3.13: Các đối tượng khai thác chính trong các mẻ lưới 43
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Lưới kéo là nghề chủ lực của ngư dân Thái Bình Trong những năm qua nghề lưới kéo xa bờ đã góp phần thay đổi cơ bản phương thức khai thác của ngư dân, góp phần thúc đẩy nghề cá phát triển, tăng tỷ trọng sản lượng, sản phẩm khai thác, tăng năng suất, tạo thêm việc làm và tăng mức sống cho cộng đồng cư dân ven biển Tuy nhiên sự phát triển ồ ạt trong thời gian qua đã làm ảnh hưởng đến nguồn lợi hải sản Ngành Thủy sản tỉnh Thái Bình đang muốn đánh giá lại hiệu quả của nghề khai thác trong đó có nghề lưới kéo nhằm sắp xếp lại cơ cấu nghề khai thác của tỉnh theo hướng phát triển bền vững, bảo vệ nguồn lợi và các hệ sinh thái biển, nhất là nguồn lợi và hệ
sinh thái vùng biển ven bờ Từ những phân tích trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Đánh
giá hiệu quả khai thác nghề lưới kéo công suất từ 90cv trở lên tại tỉnh Thái Bình”
với mục tiêu đánh giá được hiệu quả khai thác của nghề lưới kéo công suất từ 90cv trở lên làm cơ sở đưa ra giải pháp quản lý nghề lưới kéo xa bờ tỉnh Thái Bình
Để có cơ sở và sát với thực tế, chúng tôi sử dụng phương pháp điều tra thực tế
từ các số liệu thứ cấp điều tra tại các sở, ban, ngành, địa phương quản lý nghề cá; các công trình nghiên cứu có liên quan, số liệu sơ cấp được điều tra bằng cách phỏng vấn trực tiếp ngư dân và khảo sát đo đạc trực tiếp tại các bến cá và trên tàu khai thác hải sản Từ những số liệu trên chúng tôi sử dụng các phương pháp phân tích, xử lý số liệu
để nghiên cứu và đưa ra các giải pháp hữu hiệu cho các nhà quản lý nghề cá
Kết quả phân tích số liệu của 156 tàu làm nghề lưới kéo đôi có công suất từ 90cv trở lên khảo sát tại tỉnh Thái Bình cho thấy nghề khai thác bằng lưới kéo đôi có công suất từ 90cv trở lên cho doanh thu khá cao, trung bình 407,588 triệu đồng/cặp tàu/tháng, lợi nhuận trung bình 28,95 triệu đồng/cặp tàu/tháng và có xu hướng tăng theo chiều tăng công suất máy, mang lại thu nhập cao cho người lao động với mức lương trung bình hàng tháng từ 3,6 – 4,7 triệu đồng/người/tháng Bên cạnh kết quả đạt được về kinh tế thì nghề lưới kéo ảnh hưởng rất lớn đến nguồn lợi hải sản ven bờ, trong đó 87% số tàu hoạt động ở vùng nước ven bờ; 92% đến 94% sản phẩm khai thác là các loài cá tạp, cá nhỏ và cá non; tỷ lệ cá non bị đánh bắt vượt mức cho phép từ 46% đến 48%
Do đó vấn đề cấp thiết hiện nay là phải tăng cường công tác quản lý nghề lưới kéo đôi xa bờ tỉnh Thái Bình nhằm phát triển nghề một cách bền vững, bảo vệ hệ sinh thái ven biển, góp phần làm tăng sản phẩm thủy sản trong tổng sản phẩm xã hội
Trang 12MỞ ĐẦU
Thái Bình là tỉnh ven biển Vịnh Bắc bộ có bờ biển dài hơn 52km, có 5 cửa sông lớn gồm: Sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mai Diêm, sông Trà Lý, sông Lân, nhiều bãi bồi, bãi ngang, rừng ngập mặn là nơi tập trung, sinh trưởng và phát triển của các loài thủy sản nên rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế biển [15], trong đó có nghề khai thác thủy sản
Ngành thuỷ sản Thái Bình trong những năm qua đã có những bước phát triển đáng
kể và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của tỉnh Sự phát triển của ngành thủy sản Thái Bình dựa vào 2 lĩnh vực chính là khai thác hải sản và nuôi trồng thuỷ sản Giai đoạn từ năm 2008 đến 2013; Sản lượng, giá trị khai thác và nuôi trồng thủy sản tăng trưởng hàng năm từ 8-10%/năm [15]
Khai thác hải sản là nghề truyền thống và lâu đời của ngư dân Thái Bình, có vai trò quan trọng của nghề cá tỉnh Thái Bình Ngành Khai thác hải sản đã tạo ra việc làm và thu nhập ổn định cho hàng ngàn lao động, góp phần vào công cuộc xoá đói giảm nghèo của tỉnh và bảo vệ an ninh chủ quyền trên vùng biển của Tổ quốc
Thực hiện Chiến lược phát triển ngành thủy sản Việt Nam đến năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ [3], UBND tỉnh Thái Bình đã ban hành nhiều chính sách quan trọng
để phát triển nghề khai thác hải sản của tỉnh như: Đề án phát triển các phương tiện đánh bắt xa bờ gắn với bảo đảm quốc phòng an ninh và bảo vệ môi trường biển giai đoạn 2013-2015 [22], quy định chính sách hỗ trợ ngư dân đóng mới, cải hoán tàu khai thác hải sản và tàu dịch vụ hậu cần nghề cá [23] Đến nay, năng lực khai thác hải sản
xa bờ tỉnh Thái Bình được cải thiện đáng kể Cơ cấu tàu thuyền khai thác hải sản chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng phương tiện khai thác xa bờ, giảm phương tiện khai thác gần bờ
Nghề khai thác hải sản của tỉnh có khoảng 1.171 tàu (năm 2014), tổng công suất 78.893cv (bình quân 67,4cv/tàu), sản lượng hải sản khai thác được là 54.156 tấn (năm 2014) Nghề lưới kéo chiếm 17,9% số tàu cá của tỉnh (210 tàu, trong đó đội tàu công suất ≥ 90cv chiếm tỷ lệ 76,7%), nhưng chiếm 70% sản lượng hải sản khai thác được của toàn tỉnh (năm 2014) [6]
Nghề lưới kéo xa bờ đã góp phần thay đổi cơ bản phương thức khai thác của ngư dân Thái Bình, góp phần thúc đẩy nghề cá phát triển, tăng tỷ trọng sản lượng, sản
Trang 13phẩm khai thác, tăng năng suất, tạo thêm việc làm và tăng mức sống cho cộng đồng cư dân ven biển
Ngành Thủy sản tỉnh Thái Bình đang muốn đánh giá lại hiệu quả của nghề khai thác trong đó có nghề lưới kéo nhằm sắp xếp lại cơ cấu nghề khai thác của tỉnh theo hướng phát triển bền vững, bảo vệ nguồn lợi và các hệ sinh thái biển, nhất là nguồn lợi
và hệ sinh thái vùng biển ven bờ [8]
Từ những phân tích trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Đánh giá hiệu quả khai thác
nghề lưới kéo công suất từ 90cv trở lên tại tỉnh Thái Bình”
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá được hiệu quả khai thác của nghề lưới kéo công
suất từ 90cv trở lên làm cơ sở đưa ra giải pháp quản lý nghề lưới kéo xa bờ tỉnh Thái Bình
Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả khai thác đội tàu nghề lưới kéo đôi công suất từ
90cv trở lên của tỉnh Thái Bình
Phạm vi nghiên cứu: Các tàu khai thác hải sản bằng nghề lưới kéo có công suất từ
90cv trở lên của tỉnh Thái Bình tại vùng biển vịnh Bắc Bộ
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Ý nghĩa khoa học: Đề tài thực hiện thành công là cơ sở khoa học và tài liệu tham
khảo cho các cơ quan, cá nhân nghiên cứu các vấn đề liên quan đến nghề lưới kéo xa
bờ tỉnh Thái Bình
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: Là cơ sở để đánh giá hiệu quả khai thác nghề lưới kéo
xa bờ tỉnh Thái Bình, nhằm phục vụ cho công tác quản lý nghề, xây dựng những chính sách, quản lý cho phù hợp với sự phát triển của nghề cá tỉnh Thái Bình, nhằm phát triển kinh tế, ổn định xã hội và bảo vệ an ninh quốc phòng
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan nghề khai thác thủy sản tỉnh Thái Bình
1.1.1 Khái quát về vị trí địa lý, địa hình và khí hậu
Tỉnh Thái Bình nằm ở phía đông nam đồng bằng châu thổ sông Hồng, diện tích
tự nhiên 1.546 km² Thái Bình được bao bọc bởi ba dòng sông lớn: Phía Nam là sông Hồng, giáp hai tỉnh Hà Nam và Nam Định; Phía Tây là sông Luộc, giáp hai tỉnh Hưng Yên và Hải Dương; Phía Bắc là sông Hóa, giáp Thành phố Hải Phòng; Phía đông là biển cả mênh mông với trên 52 km bờ biển trong vịnh Bắc Bộ Cùng với ba con sông lớn bao quanh, được thông nguồn với gần 70 km sông lớn nhỏ, tỉnh Thái Bình như một hòn đảo nổi và là một vùng đất phì nhiêu được phù sa hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp, đến nay diện tích đất nông nghiệp chiếm 59,5% trong 157,079 ha diện tích đất tự nhiên [24]
Thái Bình có cảng biển quốc gia Diêm Điền, tàu 400 – 1000 tấn ra vào được, cùng
hệ thống sông ngòi gắn với quốc lộ 10, 39A, 218 và các trục đường chính trong tỉnh tạo thành mạng lưới giao thông thuỷ, bộ tương đối thuận tiện cho giao lưu phát triển kinh tế, văn hoá trong vùng đồng bằng sông Hồng, cả nước, các tỉnh phía Nam của
Thái Bình cũng gần các trung tâm kinh tế lớn trong vùng tam giác tăng trưởng kinh
tế Hải Phòng - Quảng Ninh – Hà Nội, đó là thị trường lớn về lao động, sản phẩm, lương thực, thực phẩm và hợp tác phát triển Đồng thời, Thái Bình còn có nguồn khí đốt, nước khoáng có trữ lượng lớn, khả năng khai hoang lấn biển mở rộng diện tích ở hai huyện Tiền Hải và Thái Thuỵ là những tiềm năng lớn trong nuôi trồng và khai thác thủy sản [24]
Địa hình tương đối bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 1%, cao trình biến thiên từ 2m so với mực nước biển, nhiều vùng có xu hướng lấn ra biển, đây là thế mạnh của Thái Bình để phát triển kinh tế Thủy sản [24]
1-Khí hậu Thái Bình thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa nắng nóng, mưa nhiều và thường có bão kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 Mùa lạnh, khô hanh từ tháng
11 năm trước đến tháng 4 năm sau [24]
Trang 15Chế độ thủy triều: Chế độ nhật triều khá thuần nhất, biên độ dao động tối đa 3,5m, trung bình 1,7-1,9m và tối thiểu 0,3-0,5m Mực nước triều lớn nhất nhiều năm
3,0-có thể đạt 4,0m và thấp nhất khoảng 0,08m [15]
1.1.2 Lao động khai thác hải sản
Lao động khai thác hải sản của tỉnh giai đoạn 2009 – 2013, được thể hiện ở bảng (1.1) [7]
Bảng 1.1: Lao động khai thác hải sản giai đoạn 2009-2013
(Nguồn: Cục thống kê Thái Bình)
Từ bảng trên ta thấy: Giai đoạn từ 2009 – 2013, lao động khai thác hải sản không có sự biến động nhiều Lao động khai thác hải sản năm 2013 là 12.648 người, trong đó số lao động trên tàu thuyền khai thác xa bờ là 1.179 người (chiếm tỷ lệ 9,3%) [6] Điều này thể hiện nghề khai thác tỉnh Thái Bình chủ yếu hoạt động ở vùng biển ven bờ và vùng lộng
Bình quân biên chế lao động trên một tàu khác nhau giữa các nghề và quy mô nghề Điều này thể hiện qua bảng (1.2) [5]
Bảng 1.2: Bình quân biên chế lao động của các nghề
(Nguồn: Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi Thủy sản Thái Bình)
Từ bảng (1.2) cho thấy: Tùy theo nghề và quy mô nghề mà số lượng lao động được bố trí trên tàu nhiều hay ít, số lượng lao động trên tàu xa bờ nhiều hơn 2 lần số lao động trên tàu ven bờ và số lao động trên các tàu lưới kéo luôn nhiều hơn số lao động trên các tàu lưới rê
Trong những năm gần đây tình trạng thiếu hụt lao động của nghề khai thác thủy sản tỉnh Thái Bình đang bị báo động, do nhiều lao động lành nghề chuyển sang ngành
Trang 16vận tải biển và nghề nuôi ngao cho thu nhập cao Đây cũng là một trong những nguyên nhân tác động đến vấn đề quy hoạch lại nghề khai thác của nghề cá tỉnh Thái Bình trong thời gian tới [6]
1.1.3 Ngư trường và nguồn lợi
Ngư trường chính của nghề khai thác Thái Bình là vùng biển vịnh Bắc Bộ Tùy thuộc vào mùa vụ và thời gian khai thác trong năm mà ngư trường khai thác có thể dịch chuyển lên phía Bắc hoặc xuống phía Nam, từ tháng 4 đến tháng 9 (vụ cá Nam) thì ngư trường chính của đội tàu khai thác hải sản Thái Bình từ vùng biển Thái Bình xuống phía Nam, từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau (vụ cá Bắc) thì ngư trường hoạt động chính từ vùng biển Thái Bình trở lên phía Bắc
Hình 1.1: Khu vực khai thác theo Nghị định 33 [2]
Vùng biển ven bờ Thái Bình có chiều dài hơn 52 km với diện tích gần 1.500
triển của các loài hải sản nên đây là khu vực rất thuận lợi cho nghề khai thác ven bờ hoạt động[2]
Vùng biển hoạt động chính của tàu khai thác xa bờ tỉnh Thái Bình là khu vực vùng đánh cá chung Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc, diện tích trên
lượng và khả năng khai thác nguồn lợi hải sản vùng đánh cá chung Vịnh Bắc Bộ chuyến biển tháng 10/2007 trên tàu Beiyui 60010 của Trung Quốc với tổng trữ lượng ước tính cho toàn vùng nghiên cứu khoảng 114.655,11 tấn và khả năng khai thác khoảng 57.327,55 tấn Trong đó, trữ lượng ước tính cho dải độ sâu 30 – 50m là 11.914,27 tấn, chiếm 10,39% tổng trữ lượng của toàn vùng, ở dải độ sâu 50 – 100m là 102.740,84 tấn chiếm 89,61% [14]
Trang 171.1.4 Thực trạng nghề khai thác thủy sản tỉnh Thái Bình
1.1.4.1 Thực trạng về đội tàu
- Năng lực tàu thuyền:
Biến động về đội tàu khai thác hải sản giai đoạn từ năm 2009 - 2013 được thể
hiện bảng (1.3) [5]
Bảng: 1.3: Năng lực tàu thuyền khai thác hải sản giai đoạn (2009- 2013)
Bảng (1.3) cho thấy: Sự chuyển biến tích cực của nghề khai thác hải sản tỉnh Thái Bình là tăng nhanh số lượng tàu công suất lớn khai thác xa bờ và giảm dần số lượng tàu công suất nhỏ hoạt động ven bờ Bình quân công suất của một tàu năm 2013 tăng 69,5% so với năm 2009
- Cơ cấu đội tàu theo địa phương:
Cơ cấu đội tàu theo địa phương được thể hiện ở bảng (1.4) [5]
Bảng 1.4: Cơ cấu đội tàu theo địa phương năm 2013
TT Dải công suất ĐVT Huyện
Thái Thụy
Huyện Tiền Hải
Huyện Kiến Xương
Toàn tỉnh
(Nguồn: Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản Thái Bình)
Trang 18Từ bảng (1.4) cho thấy: Cơ cấu tàu thuyền giữa các địa phương không đồng đều, kể cả về số lượng và công suất máy Huyện có số lượng tàu nhiều nhất là Tiền Hải nhưng lại đa số là tàu thuyền có công suất nhỏ, số phương tiện có công suất trên 90cv
là 20 chiếc chỉ bằng 12% huyện Thái Thụy Huyện Kiến Xương là huyện không có biển nhưng có tới 130 tàu thuyền khai thác hải sản, đây chủ yếu là các phương tiện nhỏ khai thác vùng ven bờ
1.1.4.2 Cơ cấu đội tàu theo nghề
Nghề khai thác tỉnh Thái Bình có 4 họ nghề chính: lưới kéo, lưới rê, lưới vây, nghề khác Cơ cấu đội tàu theo nghề được thể hiện ở bảng (1.5) [5]
Bảng 1.5: Cơ cấu đội tàu theo nghề giai đoạn 2009-2013
(Nguồn: Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản Thái Bình)
Bảng 1.6: Cơ cấu nghề khai thác theo nhóm công suất năm 2013
Trang 19Bảng (1.5) và (1.6) cho thấy: Giai đoạn 2009 – 2013, tàu thuyền nghề lưới rê chiếm tỷ lệ nhiều nhất, nhưng chủ yếu tàu công suất nhỏ hoạt động ở vùng biển ven bờ (chiếm 77% tàu lưới rê)
Tàu thuyền nghề lưới kéo tuy có tỷ lệ từ 17,2% - 23,7%, nhưng chủ yếu tàu công suất lớn, được phép hoạt động ở vùng biển xa bờ (chiếm 86% tàu xa bờ) Đây cũng là vấn đề cần được quan tâm cho định hướng phát triển nghề khai thác hải sản của tỉnh Việc phát triển đội tàu lưới kéo công suất lớn để hoạt động ở vùng biển khơi, vùng đánh cá chung của Vịnh Bắc Bộ là vấn đề được quan tâm
1.1.4.3 Thực trạng đội tàu lưới kéo đôi có công suất từ 90cv trở lên
Theo bảng (1.6), số lượng tàu lưới kéo có công suất từ 90cv trở lên có 156 chiếc
và nghề chính là lưới kéo đôi, những tàu này thuộc huyện Thái Thụy và Tiền Hải, tập trung chủ yếu ở các xã Thụy Xuân, Thụy Hải, Thị trấn Diêm Điền, Thái Thượng, Thái
Đô huyện Thái Thụy và xã Nam Thịnh huyện Tiền Hải Để thuận lợi cho đánh giá và
so sánh, ta phân chia số lượng tàu đã được khảo sát theo 3 nhóm công suất:
90cv ÷< 250cv, 250cv ÷< 400cv, >= 400cv
Số lượng tàu của mỗi địa phương được thể hiện trong bảng (1.7) [5]
Bảng 1.7: Cơ cấu đội tàu nghề lưới kéo đôi theo công suất và địa phương
Số lượng tàu theo nhóm công suất (chiếc)
90cv ÷ < 250cv 250cv ÷ < 400cv >= 400cv
Tổng số (chiếc)
(Nguồn: Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản Thái Bình)
1.1.4.4 Sản lượng, năng suất khai thác hải sản
- Sản lượng và năng suất khai thác hải sản từ năm 2009 đến năm 2013 được thể
hiện ở hình (1.2) và (1.3) [7]
Trang 20Hình 1.2: Tổng sản lượng và sản lượng khai thác bình quân của 1 tàu
Hình 1.3: Tổng sản lượng và sản lượng khai thác bình quân của 1 cv
Từ hình (1.2), (1.3) ta thấy:
- Sản lượng khai thác hải sản tỉnh Thái Bình giai đoạn 2009 - 2013 tăng trưởng liên tục, năm sau cao hơn năm trước với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 7,79%
- Sản lượng khai thác trên 1 đơn vị công suất không biến động nhiều qua các năm và có xu hướng giảm nhẹ Trong khi đó sản lượng trên 1 đơn vị tàu thuyền thì lại tăng rất mạnh đặc biệt là năm 2013, với mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 2009-
Trang 212013 đạt 17,28% Điều này chứng tỏ ngành khai thác thủy sản tỉnh Thái Bình trong những năm qua có bước phát triển đột phá, góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh
tế của tỉnh
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
FAO và nhiều nước trên thế giới đánh giá hiệu quả khai thác của nghề cá thông qua các chỉ số như tổng sản lượng cá khai thác hàng năm, sản lượng trên công suất máy tàu, sản lượng trên trên một đơn vị tàu, sản lượng trên một lao động, sản lượng trên một đơn vị ngư cụ
FAO đã tiến hành cuộc khảo sát thông tin liên quan đến hoạt động khai thác thủy sản nghề lưới vây của 15 quốc gia thuộc châu Âu, châu Á, châu Mỹ và châu Phi
từ năm 1995-1997 [30] Kết quả cho thấy ở một số nước như Pê Ru, Triều Tiên, Malaixia có lãi ròng dương, ngược lại ở một số nước khác như Trung Quốc, Ấn Độ có lãi ròng âm Lý do của hiệu quả kinh tế thấp là do sự khai thác quá mức về nguồn lợi làm cho sản lượng ngày càng giảm, ngược lại chi phí đầu tư, chi phí bảo dưỡng cao Các công trình nghiên cứu tập trung vào việc tìm ra mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế và các yếu tố kỹ thuật [32]
Ở Hawai, nhóm nghiên cứu Marcia Hamilton và Steve Huffiman [33] đã có nghiên cứu sâu về doanh thu và chi phí hoạt động khai thác của nghề cá nổi quy mô nhỏ của 4 nhóm ngư dân khác nhau (nhóm đánh cá toàn thời gian, bán thời gian, làm tiêu khiển và nhóm đánh cá chỉ vì mục đích bù đắp chi phí chuyến biển) Kết quả chỉ
ra rằng nhóm đánh cá toàn thời gian có doanh thu và chi phí cố định cao nhất; ngược lại nhóm đánh cá chỉ vì mục đích bù đắp chi phí chuyến biển có doanh thu và chi phí
cố định thấp nhất Chi phí biến đổi của các nhóm là khá giống nhau, chi dao động nhẹ
do yếu tố di chuyển ngư trường khai thác Sự khác nhau về chi phí biến đổi là chi phí nhiên liệu, nước đá, mồi câu
Kết quả nghiên cứu về hoạt động kinh tế và tài chính nghề cá biển tại 15 quốc gia trên thế giới của các tác giả U Tietze và J.Prado J.M.Le Ry R.Lasch [34] cho thấy, trong tổng số 108 tàu khai thác có đến 105 tàu (chiếm 97%) tàu có dòng tiền luân chuyển dương và bù đắp được chi phí bỏ ra Nếu trừ chi phí khấu hao và lãi suất, thì có
92 tàu (trong số 108 tàu) có lợi nhuận ròng Chỉ có các tàu lưới kéo tôm, cá tầng đáy là
có dòng tiền luân chuyển âm Những tàu này trước đây có dòng tiền luân chuyển
Trang 22dương, nhưng một thời gian sau đó có lợi nhuận âm thường rơi vào những tàu có tuổi thọ cao
Từ năm 1998 đến 2010, để tăng giá trị và hiệu quả khai thác EU đã có các biện pháp kiên quyết hiện đại hoá hạm đội tàu cá của cả khối đồng thời kiên quyết loại bỏ tàu cũ, tàu nhỏ, quản lý chặt chẽ việc đóng tàu mới, việc đăng kiểm tàu và cấp giấy phép hành nghề Vì thế mà các nước thành viên EU đã hạ thuỷ nhiều tàu cá khổng lồ
mà trước đó chưa từng có Nhiều tàu lưới kéo tôm, lưới kéo cá tuyết công suất tới 6.000-7.000 KW, mỗi tàu kéo 2, 3 chiếc lưới khổng lồ Sản lượng mẻ lưới đạt tới 300 tấn Vấn đề này đang làm đau đầu các giới chức quản lý nghề cá của EU, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và nhiều nước khác đang tích cực hiện đại hoá hạm tàu cá của mình [11]
Từ giữa thập kỷ 90 của thế kỷ trước, Mỹ thực hiện kế hoạch giảm từ từ sản lượng khai thác bằng việc cắt bỏ các loại tàu cũ, không đủ tiêu chuẩn của đăng kiểm, giúp đỡ vốn cho ngư dân đóng các loại tàu hiện đại theo các tiêu chuẩn quy định và chú trọng tới việc đóng các tàu phục vụ cho các nghề khai thác ít mang tính huỷ diệt nguồn lợi Hệ thống thanh tra, kiểm tra tàu cá nói riêng và khai thác nói chung của Mỹ hoạt động có hiệu quả cao, không còn tàu cá nước ngoài vào khai thác trộm, loại bỏ được các vi phạm của các chủ tàu về các quy định trong đăng kiểm, trong hành nghề Kết quả là gần một thập kỷ qua, sản lượng khai thác hải sản của Mỹ luôn ổn định và có
xu hướng đi xuống từ từ, mặc dù tiềm năng nguồn lợi hải sản của Mỹ được đánh giá là khá lớn (khả năng khai thác tối đa tới 6-7 triệu tấn/năm, nhưng sản lượng thực tế chỉ từ 4,5 đến 5 triệu tấn/năm) [11]
Năm 1988, Trung Quốc nhận ra nguồn lợi của họ có vấn đề lớn, sản lượng đánh bắt tuy rất lớn, nhưng chất lượng sản lượng thấp, hiệu quả khai thác thấp, sản lượng cá kinh tế chiếm tỷ lệ thấp trong tổng sản lượng, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm khai thác không cao Như vây, Trung Quốc đã đánh giá hiệu quả khai thác không những dựa vào sản lượng cá khai thác được mà còn dựa vào giá trị kinh tế và giá trị tiêu thụ của sản phẩm đó Từ nhìn nhận đó, TQ đã có chính hiện đại hoá hạm tàu cá, loại bỏ hoàn toàn các tàu nhỏ, cũ, nát, hành nghề ven bờ và mang tính tàn phá nguồn lợi Đồng thời khuyến khích đóng tàu cá mới hoạt động xa bờ, xây dựng hạm tàu viễn dương, mở rộng liên doanh khai thác với nước ngoài để đưa hạm tàu đi khai thác ở biển nước ngoài; phạt rất nặng đối với các chủ tàu cá vi phạm các quy định chặt chẽ về đăng kiểm, về hành vi vi phạm khác [11]
Trang 231.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Việt Nam có lãnh thổ kéo dài trên 10 vĩ độ, ở vùng nhiệt đới gió mùa, bên bờ biển Đông Diện tích vùng biển đặc quyền kinh tế của nước ta khoảng 1.000.000 km2 với trên 3.000 đảo lớn nhỏ phân bố tập trung ở ven bờ tây bắc vịnh Bắc Bộ (Quảng Ninh-Hải Phòng) và ở hai quần đảo ngoài khơi là Trường Sa và Hoàng Sa Nhiều đảo
có thể xây dựng thành các trung tâm kinh tế biển - đảo và dịch vụ hậu cần cho các hoạt động đánh cá biển xa Cùng với dải bờ biển kéo dài trên 3.260 km (không kể bờ các đảo) đã tạo ra cho đất nước ta tính đa dạng về cảnh quan thiên nhiên, về các hệ sinh thái và nguồn lợi thuỷ sinh vật biển [11]
Đến nay, vùng biển Việt Nam đã phát hiện được chừng 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình, thuộc 6 vùng đa dạng sinh học (ĐDSH) biển khác nhau, trong đó ba vùng biển: Móng Cái-Đồ Sơn, Hải Vân-Đại Lãnh và Đại Lãnh-Vũng Tàu có mức ĐDSH cao hơn các vùng còn lại Theo kết quả nghiên cứu, điều tra đánh giá nguồn lợi biển Việt Nam có hơn 2.030 loài cá, trong đó 130 loài có giá trị kinh tế, 1.600 loài giáp xác; 2.500 loài sò, trai, và rất nhiều rong, chim biển Tiềm năng nguồn lợi cá biển được ước tính (năm 2002) hơn 3 triệu tấn và sản lượng khai thác bền vững ở vùng nước có độ sâu nhỏ hơn 50m được ước tính khoảng 600.000 tấn/năm, nhưng sản lượng khai thác thực tế ở vùng này ước khoảng 1,1 triệu tấn/năm Sản lượng khai thác cho phép ở vùng khơi (có độ sâu lớn hơn 50m) theo ước tính khoảng 1.100.000 tấn, nhưng thực tế sản lượng khai thác ở vùng này mới đạt 600.000 tấn/năm Như vậy nguồn lợi thuỷ sản ven bờ đã bị khai thác quá mức và nguồn lợi vùng biển xa bờ một số loài còn chưa được khai thác đến mức cho phép [11]
Nhiều chương trình, đề tài khoa học đã được thực hiện nhằm đánh giá trữ lượng, công nghệ khai thác, hiệu quả sản xuất và nghiên cứu thiết kế cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế đồng thời bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản trên các vùng biển như:
- Đề tài: "Đánh giá hiện trạng công nghệ khai thác xa bờ ở những vùng trọng
điểm” đã được Viện Nghiên cứu Hải sản tiến hành vào năm 1997 Đề tài đã điều tra
khảo sát để đánh giá hiện trạng công nghệ khai thác của các nghề khai thác xa bờ về tàu thuyền, máy tàu, cấu tạo ngư cụ, kỹ thuật khai thác và phân tích hiệu quả kinh tế của 4 loại nghề khai thác xa bờ chính là: nghề lưới kéo, nghề lưới rê, nghề lưới vây, nghề câu [25]
Trang 24- Năm 1998, Viện Nghiên cứu Hải sản đã thực hiện đề tài: “Xác định các nghề có
năng suất cao, thích hợp với cỡ loại tàu khai thác hải sản xa bờ” Đề tài đã điều tra tại các
tỉnh, tại các bến cá trọng điểm cũng như trên các tàu đang sản xuất để thu thập các số liệu
về tàu thuyền, ngư cụ và hiệu quả kinh tế của nhiều con tàu tham gia khai thác hải sản với
4 loại nghề chủ yếu là: lưới kéo, lưới vây, lưới rê và nghề câu Bằng phương pháp tính toán so sánh, đề tài đã xác định được các mẫu lưới phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng biển, tương ứng với từng nghề: lưới kéo, lưới vây, lưới rê và nghề câu [26]
- Năm 2001, tác giả Nguyễn Văn Kháng đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Thiết kế mẫu lưới kéo đôi đạt hiệu quả kinh tế và có tính chọn lọc cho cỡ tàu 300 cv ở vùng
dân vẫn đang sử dụng [10]
- TS Hoàng Hoa Hồng và NNC (2001) đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu cải tiến, thiết kế mẫu lưới kéo đôi cho tàu từ 90 cv trở lên của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu” Sau khi thử nghiệm trên biển, điều chỉnh, cải tiến kết cấu lưới và trang bị phụ
đã xác định được mẫu lưới có kết quả tốt hơn các mẫu lưới khác và hiện đang được
Lgiềng chì = 50,00 m; 2acánh = 400 mm; 2ađụt = 40 mm; Chiều dài toàn bộ lưới: 85,36 m [17]
- Viện Nghiên cứu Hải sản đã thực hiện đề tài cấp Nhà nước (2002) “Nghiên cứu
thăm dò nguồn lợi hải sản và lựa chọn công nghệ khai thác phù hợp phục vụ phát triển nghề cá xa bờ Việt Nam” Kết quả nghiên cứu của đề tài đã sơ bộ đánh giá được tình
hình về nguồn lợi của các vùng biển và lựa chọn được công nghệ khai thác phù hợp với nghề cá xa bờ Đề tài còn đánh giá hiệu quả đầu tư của các tàu đánh cá xa bờ, tình hình sử dụng máy móc thiết bị của các tàu cá và tình hình cơ giới hóa của các nghề khai thác hải sản [27]
- 2001-2003, tác giả Phan Trọng Huyến đã đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và bảo vệ nguồn lợi nghề lưới kéo
xa bờ khai thác tại biển Tây Nam Bộ” Nội dung nghiên cứu bao gồm: Đánh giá thực trạng nghề lưới kéo xa bờ khai thác tại biển Tây Nam Bộ Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản Trong nội dung nghiên cứu, đề tài đã đi sâu phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế của nghề lưới kéo xa bờ của tỉnh Kiên Giang và
Cà Mau [12]
Trang 25- Năm 2004, tác giả Vũ Duyên Hải đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu xây dựng các chỉ tiêu nghề lưới kéo đôi ở Vịnh Bắc Bộ” Trong quá trình nghiên cứu tác giả
đã sử dụng các phương pháp, điều tra thứ cấp, điều tra sơ cấp, phương pháp thu thập số liệu (theo mẫu, khảo sát đo đạc trực tiếp) Quá trình nghiên cứu đã thu thập các số liệu có liên quan đến các hoạt động của nghề lưới kéo, phương pháp và kỹ thuật khai thác hải sản bằng lưới kéo đôi để có cơ sở xác định các chỉ tiêu nghề lưới kéo đôi ở Vịnh Bắc Bộ [28]
- Năm 2006, tác giả Hoàng Văn Tính đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng
và một số giải pháp phát triển hợp lý nghề lưới kéo cá đáy xa bờ khai thác tại vùng biển Đông Nam Bộ” Trong nội dung nghiên cứu, đề tài đã đi sâu phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế, hiệu quả nghề của nghề lưới kéo xa bờ tại các địa phương nghiên cứu,
sự xâm hại của nghề đối với nguồn lợi thông qua số liệu cá non bị khai thác và đưa ra các giải pháp phát triển hợp lý đội tàu này [20]
1.2.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Kết quả nghiên cứu phần tổng quan cho thấy, đánh giá hiệu quả của nghề khai thác thủy sản các tác giả đã đề cập đến các tiêu chí về sản lượng khai thác chung, sản lượng khai thác theo đơn vị tàu, theo công suất máy chính, theo khối nước ngư cụ tác dụng v.v., chất lượng sản phẩm khai thác, giá trị của sản phẩm, tác động của nghề khai thác đối với nguồn lợi và môi trường, hiệu quả kinh tế qua các chỉ số doanh thu, lợi nhuận
Mục đích của nghiên cứu nhằm tìm ra giải pháp phục vụ quản lý và phát triển nghề khai thác theo hướng bền vững, cải tiến công nghệ để nâng cao hiệu quả khai thác phù hợp với đặc điểm của mỗi nghề, mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ
Chúng tôi sẽ thừa kế một số kết quả để vận dụng vào luận văn của mình như sau:
- Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là dựa trên số liệu thực trạng của nghề lưới kéo xa bờ tỉnh Thái Bình Thông qua số liệu thực trạng để đánh giá hiệu quả kinh tế, hiệu quả nghề và các tác động của nghề lưới kéo xa bờ đến nguồn lợi hải sản
- Phương pháp thu thập số liệu của các tác giả đều dựa vào kết quả trực tiếp khảo sát, điều tra trên tàu hoạt động sản xuất; phỏng vấn ngư dân, chủ tàu, thuyền trưởng dựa vào phiếu câu hỏi
- Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế đều dựa vào các chỉ số: Vốn đầu tư; chi phí/đơn vị tàu; doanh thu/đơn vị tàu/năm; tỷ lệ lãi thuần/doanh thu; doanh thu/vốn đầu tư; Lãi bình quân/tàu/năm; thời gian quay vòng vốn; Thu nhập bình quân của lao
Trang 26động Khi tính toán hiệu quả kinh tế, với số liệu thu thập được trong nhiều năm thì cần thiết đưa về mốc quy đổi nhằm tránh sự chênh lệch về giá trị của đồng tiền do yếu tố lạm phát
là đóng tàu to, máy lớn, cải tiến ngư lưới cụ vươn khơi để khai thác hải sản Các công trình nghiên cứu trong nước và ở nước ngoài đã đánh giá được hiệu quả kinh tế và đưa
ra được các giải pháp nhằm tăng năng suất của nghề lưới kéo xa bờ nhưng trên thực tế mỗi một vùng miền, mỗi địa phương đều có vị trí địa lý, phương thức, kỹ thuật khai thác, tàu thuyền, ngư cụ, ngư trường khác nhau và chưa có những nghiên cứu nào về
nghề khai thác xa bờ tỉnh Thái Bình Do đó việc nghiên cứu Đánh giá hiệu quả khai
thác nghề lưới kéo công suất từ 90cv trở lên tại tỉnh Thái Bình là hết sức cần thiết và
mang tính thời sự Kết quả nghiên cứu nhằm làm cơ sở cho các nhà quản lý nghề cá đưa
ra những quyết định chính xác về việc quản lý, quy mô phát triển phù hợp đối với nghề lưới kéo, đạt hiệu quả đánh bắt cao ở vùng biển xa bờ, bảo vệ được nguồn lợi thủy sản
và góp phần giữ gìn an ninh chủ quyền vùng biển của nước ta Qua những công trình
nghiên cứu trong và ngoài nước ở trên cho thấy đề tài “Đánh giá hiệu quả khai thác
nghề lưới kéo công suất từ 90cv trở lên tại tỉnh Thái Bình” là loại đề tài mới, chưa có
tác giả nào trước đó nghiên cứu và công bố
Trang 27CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Nội dung nghiên cứu
- Thực trạng đội tàu lưới kéo đôi công suất từ 90cv trở lên tỉnh Thái Bình
+ Tàu thuyền và trang thiết bị
+ Vùng đánh bắt, mùa vụ khai thác
+ Ngư cụ khai thác
+ Tổ chức sản xuất
+ Sản phẩm khai thác: Xác định được các loài sản phẩm khai thác chính, tỷ lệ
cá non bị đánh bắt nhằm đánh giá tác động của nghề đối với nguồn lợi
- Hiệu quả khai thác nghề lưới kéo đôi công suất từ 90cv trở lên tỉnh Thái Bình + Sản lượng khai thác (tính trong thời gian thực hiện đề tài):
+ Hiệu quả nghề: Sản lượng tính theo khối nước ngư cụ lọc
+ Hiệu quả kinh tế: Xác định lợi nhuận, thời gian thu hồi vốn
+ Tác động của nghề đối với nguồn lợi: Đánh giá dựa vào tỷ lệ cá non bị đánh bắt của một số loài có sản lượng cao và có giá trị kinh tế trong thời gian nghiên cứu; vùng khai thác của đội tàu
- Tiếp cận tài liệu:
Thu thập số liệu thứ cấp để trích xuất, phân tích dữ liệu năng lực của đội tàu; kế thừa kết quả nghiên cứu, vận dụng giải quyết các nội dung liên quan của đề tài từ các loại tài liệu như các văn bản pháp lý, quản lý nghề cá của trung ương, địa phương, FAO, công trình khoa học đã công bố
- Tiếp cận thực tế
Khảo sát, tìm hiểu thực tế, phỏng vấn theo mẫu điều tra đề tài xây dựng theo các nội dung nghiên cứu
Trang 282.2.2 Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp
- Xây dựng biểu mẫu điều tra
- Phân bố mẫu điều tra theo hướng dẫn của FAO về quy mô mẫu an toàn điều tra nghề cá:
Bảng 2 – 1: Phân bố mẫu điều tra
- Cách điều tra: Điều tra ngẫu nhiên và đại diện với 2 hình thức phỏng vấn và khảo sát trực tiếp phù hợp với từng nội dung nghiên cứu
- Tại các bến cá, tiến hành thu thập một số đặc điểm sinh học của các đối tượng khai thác, gồm: thành phần loài, chiều dài, khối lượng của đối tượng khai thác
- Trên tàu khai thác:
+ Khảo sát kỹ thuật trên tàu thuyền, ngư cụ và các trang thiết bị khác theo các phương pháp phổ biến trong kỹ thuật đăng kiểm tàu cá và chế tạo ngư cụ;
+ Sản lượng mẻ lưới: sử dụng phương pháp ước tính dựa vào khối lượng bình quân mỗi khay (hoặc túi) và tổng số khay (hoặc túi);
+ Thời gian kéo một mẻ lưới: dựa vào phương pháp thống kê và tính bình quân giờ/mẻ;
+ Khảo sát thành phần theo loài: Sử dụng phương pháp thống kê sinh học
+ Khảo sát trình độ công nghệ khai thác bảo quản sản phẩm trên tàu: Bằng quan sát, ghi chép, nhận xét và kết luận khoa học
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Dựa vào phương pháp xác suất thống kê, sử dụng giá trị trung bình, nội suy; số liệu tiến hành xử lý theo phần mềm Excel, autoCad
2.3 Tính hiệu quả khai thác
2.3.1 Tính sản lượng khai thác (tính trong thời gian thực hiện đề tài):
n
i i
Q
1
lượng của nhóm tàu công suất thứ i; i là số nhóm phân theo công suất máy chính, i = 3, bảng (2 - 1)
Trang 29số tàu được điều tra của nhóm tàu công suất thứ i, M là số tổng số tàu của nhóm công
q
1
nhóm công suất thứ i; N là số chuyến biển của tàu j thực hiện trong thời gian nghiên cứu
n
i
i i i i
giá trị trung bình
tính giá trị trung bình
đó tính giá trị trung bình, đơn vị tính km/h
Trang 30+ Ti: là thời gian kéo lưới trong thời gian nghiên cứu của cặp tàu thuộc nhóm
2.3.3 Hiệu quả kinh tế:
Đề tài đánh giá hiệu quả kinh tế qua các chỉ số doanh thu (DT), chí phí (CP) và lợi nhuận (LN)
* Tổng doanh thu của cặp tàu (DT): Được xác định bằng doanh thu trung bình
Trong đó: - t: số chuyến biển
DT
chuyến biển thứ (j); đơn vị tính là kg và đồng/kg
+ n: là tổng số loại sản phẩm trong chuyến biển (j)
+ m là tổng số chuyến biển trong thời gian nghiên cứu
* Tổng thu nhập của cặp tàu (TN): Được xác định bằng tổng doanh thu (DT) trừ
chuyến biển (t) thực hiện trong thời gian nghiên cứu
nhớt, nước đá, lương thực thực phẩm …), được xác định theo mẫu điều tra từ đó tính giá trị trung bình, đơn vị tính là đồng
* Lợi nhuận của tàu (LN): Được xác định bằng tổng thu nhập trừ đi chi phí cố định và chi phí lương lao động
xung ngư cụ, vật tư mau hỏng và các trang thiết bị khác; đăng ký, đăng kiểm, bảo
Trang 31hiểm, bến bãi), được xác định theo mẫu điều tra từ đó tính giá trị trung bình, đơn vị tính là đồng
thời gian thu hồi vốn đầu tư
2.4 Tác động của nghề đối với nguồn lợi:
- So sánh tỷ lệ cá non bị đánh bắt với mức cho phép, được quy định tại (Thông
tư 02/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (tỷ lệ cho phép các đối tượng nhỏ hơn kích thước quy định không quá 15%)
* Vùng khai thác của đội tàu:
- Xác định tọa độ vị trí khai thác của tàu ở máy định vị
- Đặt tọa độ vị trí của tàu lên hải đồ xác định vùng khai thác
- Đánh giá thực hiện quy định quản lý hoạt động khai thác của tàu theo NĐ 33/2010 của Chính phủ
2.5 Một số giải pháp
+ Tăng cường quản lý nhà nước
+ Giải pháp kỹ thuật
Trang 32CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thực trạng đội tàu lưới kéo đôi công suất từ 90cv trở lên tỉnh Thái Bình
Theo bảng điều tra (1.6) về cơ cấu nghề khai thác theo nhóm công suất năm
2013 của tỉnh Thái Bình thì tổng số lượng tàu có công suất từ 90cv trở lên là 181chiếc Trong đó có 156 chiếc làm nghề lưới kéo đôi, 7 chiếc làm nghề lưới rê và 14 chiếc làm nghề dịch vụ hậu cần nghề cá Do đó trong đề tài chỉ nghiên cứu nghề lưới kéo đôi có công suất từ 90cv trở lên
3.1.1 Vỏ tàu
Kết quả điều tra về vật liệu vỏ tàu và kích thước được thể hiện ở bảng (3.1) và bảng (3.2)
Bảng 3.1: Vật liệu chế tạo vỏ tàu theo địa phương
Bảng 3.2: Kích thước vỏ tàu theo nhóm công suất
Kích thước trung bình vỏ tàu
Trang 33Qua bảng (3.1) và (3.2)cho thấy:
- Đa số tàu cá xa bờ tỉnh Thái Bình sử dụng vật liệu truyền thống là gỗ để đóng
vỏ tàu (chiếm 88%), sau đó là đến vỏ xi măng cốt thép (chiếm 10,8%) và chỉ có duy nhất 1 đôi tàu vỏ thép
- Quan hệ kích thước, vật liệu vỏ tàu và công suất máy chính phụ thuộc tập quán địa phương
- Về nguyên lý chung, vỏ tàu lớn lắp máy công suất lớn Nhưng những năm gần đây các tàu nghề lưới kéo Thái Bình thường xuyên nâng công suất máy mà không thay đổi kích thước vỏ tàu nên nhiều tàu vỏ nhỏ mà công suất lớn
Hình 3.1: Cặp tàu lưới kéo đôi có công suất 400cv
Hình 3.2: Cặp tàu lưới kéo đôi có công suất 250cv
Trang 34
Hình 3.3: Tàu vỏ Xi măng cốt thép có công suất 105cv 3.1.2 Máy tàu
- Máy chính: Trong 156 tàu làm nghề lưới kéo đôi đã được điều tra khảo sát thì
đa số tàu được trang bị máy đã qua sử dụng, chất lượng còn lại của máy khoảng 60 –
70 % với nhiều chủng loại và nước sản xuất khác nhau như Nhật, Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc
Bảng 3.3 Trang bị máy chính trên tàu theo dải công suất
DẢI CÔNG SUẤT STT LOẠI MÁY
Trang 35Hình 3.4: Máy tàu lưới kéo đôi hiệu Hino có công suất 360cv
Hình 3.5: Máy tàu lưới kéo đôi hiệu Cummins có công suất 400cv
Trang 36Hình 3.6: Máy tàu lưới kéo đôi hiệu Yanmarcó công suất 250cv
- Máy phụ: Qua điều tra trên các tàu lưới kéo có công suất trên 90cv tỉnh Thái
Bình thì từ những năm trước đây số lượng tàu sử dụng máy phụ là rất ít nhưng đến nay
số lượng tàu sử dụng máy phụ đang tăng lên Theo thống kê đến hết năm 2013, số tàu
cá xa bờ lắp máy phụ chiểm khoảng 30% tổng số tàu khai thác xa bờ Máy phụ sử dụng trên tàu cá chủ yếu là máy Trung Quốc với các loại công suất 10cv, 15cv, 24cv được lắp các củ phát điện 3kw, 5kw và 7,5 kw cho ra dòng điện 220v
3.1.3 Máy điện hàng hải và thông tin liên lạc
Điều tra 156 tàu về trang bị máy điện hàng hải và thông tin liên lạc, cho thấy rằng: 100% tàu lưới kéo xa bờ Thái Bình đã được trang bị các loại máy điện hàng hải phục vụ cho nhu cầu sản xuất như máy định vị vệ tinh GPS, máy dò cá, máy thông tin liên lạc của nhiều hãng sản xuất khác nhau
Hình 3.7: Máy Định vị và dò cá đượclắp trên tàu lưới kéo đôi có công suất 360cv
Trang 37Tình hình trang bị máy điện hàng hải và thông tin liên lạc được thống kê ở bảng (3.4)
Bảng 3.4: Trang bị máy điện hàng hải và thông tin liên lạc
Hãng Sản xuất
Số lượng (chiếc)
Hãng Sản xuất
Số lượng (chiếc)
Hãng Sản xuất
Số lượng (chiếc)
- 100% máy định vị được trang bị trên tàu khai thác hải sản xa bờ, phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng, kinh tế của chủ tàu mà có nhiều loại máy khác nhau Việc trang bị máy định vị trên tàu lưới kéo xa bờ giúp thuyền trưởng có thể xác định vị trí, tốc độ của tàu, đánh dấu các chướng ngại vật hoặc bãi cá, bãi tôm Ngoài ra phục vụ cho việc dắt lưới như hướng đi, hải đồ, lưu vết đường đi của tàu, điều chỉnh tốc độ tàu, tránh
Trang 38- Tỷ lệ tàu trang bị máy đàm thoại tầm xa đạt 46,8% (73 tàu), trung bình cứ 1 đôi tàu lưới kéo thì trang bị 1 máy Loại máy hiệu VX1700 được sử dụng nhiều nhất (86%) vì ngoài việc liên lạc, thông tin ngư trường, dự báo thời tiết v.v, máy VX1700 có tích hợp
vệ tinh phục vụ đắc lực cho công tác quản lý và tìm kiếm cứu nạn
- 38,5% số tàu khảo sát trang bị máy đo sâu, dò cá Ngoài công dụng tìm kiếm đàn
cá, xác định độ sâu, phát hiện chướng ngại vật phục vụ cho quá trình khai thác, còn giúp tàu xác định độ sâu luồng lạch khi ra vào cảng, hạn chế rủi ro xẩy ra
Kết quả điều tra 156 tàu về trang bị an toàn và phòng nạn cho thấy:
Trang 39- 12% (19 tàu) lắp thiết bị vệ tinh movimar do Pháp tài trợ, 40% (63 tàu) tàu trang bị máy VX1700 được tích hợp vệ tinh nhằm phục vụ công tác giám sát hoạt động của tàu cá cũng như hỗ trợ việc tìm kiếm cứu nạn và an toàn hàng hải cho tàu cá Thái Bình
- 100% số tàu khảo sát được trang bị phao bè, phao tròn và phao áo Số lượng phao tròn, phao áo trên các tàu lưới kéo xa bờ hiện nay của ngư dân Thái Bình đa số được nhà nước hỗ trợ Ngoài ra các trang thiết bị như cứu thủng, cứu hỏa cũng đã được trang bị nhưng chưa đầy đủ theo quy định về số lượng trang bị an toàn và phòng nạn theo quy định của Thông tư 02/2007/TT-BTS hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 66/2005/NĐ-CP
3.1.5 Trang thiết bị khai thác
Qua điều tra 156 tàu lưới kéo đôi có công suất trên 90cv thì hầu hết các tàu đều được trang bị cẩu chữ A, máy tời (gồm tang ma sát và tang thành cao) Các thiết bị này đều được chế tạo thủ công do các xưởng cơ khí của địa phương sản xuất nên chất lượng rất kém hay bị hỏng hóc và thông số kỹ thuật không theo tiêu chuẩn định mức
- Máy tời và tang thành cao được trích lực từ máy chính, phụ thuộc vào công suất của máy chính mà máy tời có các trọng tải khác nhau Kết quả điều tra về máy tời trang
bị của 3 nhóm công suất tàu được thể hiện ở bảng (3.6)
Bảng 3.6: Thống kê trang bị máy tời
Hình 3.9: Máy tời
Trang 40- Thiết bị cẩu cũng được chế tạo thủ công, tùy theo kích thước của tàu mà chiều cao
và chân đế cẩu có kích thước khác nhau Trung bình chiều cao cẩu từ 6m đến 7m, độ rộng chân cẩu từ 1,5m đến 2,2m, hình dạng cẩu chữ A trên tàu lưới kéo đôi Thái Bình hiện nay đã được cải tiến nhiều để phù hợp với sản xuất, có tàu sử dụng cẩu 3 chân đế,
có tàu sử dụng cẩu 4 chân đế
Hình 3.10: Cẩu chữ A trên tàu lưới kéo đôi 3.1.6 Ngư cụ
3.1.6.1 Áo lưới
Kết quả điều tra cho thấy, trung bình mỗi cặp tàu trang bị từ 4 – 6 lưới Thông
số kỹ thuật của lưới được thể hiện đầy đủ trên các bản vẽ lưới cho 3 nhóm công suất tàu (Phụ lục 1) Thống kê kích thước mắt lưới phần đụt thể hiện ở bảng (3.7)
Bảng 3.7: Kích thước mắt lưới phần đụt lưới
Kich thước mắt lưới
So với quy định của quản lý nghề khai thác của Nhà nước [1] thì 100% tàu lưới kéo Thái Bình đều vi phạm Đành rằng trong thực tế khi tàu dắt lưới thì độ mở mắt lưới theo phương ngang rất hạn chế nên cá khó có thể thoát ra ngoài qua mắt lưới Hiện tượng này càng rõ hơn đối với mắt lưới hình thoi Song đến nay chưa có văn bản nào thay thế Thông tư 02, nên Đề vẫn sử dụng văn bản này để đánh giá mức độ
vi phạm về quản lý hoạt động khai thác của nghề lưới kéo tỉnh Thái Bình