So sánh trình tự 300 nucleotit đoạn gen COI của sán lá gan nhỏ trên vịt ở Bình Định với các loài sán lá gan nhỏ được đăng ký trên ngân hàng gen .... xi TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Ở nước ta, sán
Trang 11
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN VĨNH NGHI
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ DI
TRUYỀN CỦA SÁN LÁ GAN NHỎ OPISTHORCHIS SP
KÝ SINH TRÊN VỊT TẠI BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA - 2015
Trang 22
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN VĨNH NGHI
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ DI
TRUYỀN CỦA SÁN LÁ GAN NHỎ OPISTHORCHIS SP
KÝ SINH TRÊN VỊT TẠI BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ Ngành đào tạo: Công nghệ sinh học
Trang 3iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: : “ Nghiên cứu một số đặc điểm
hình thái và di truyền của sán lá gan nhỏ Opisthorchis sp ký sinh trên vịt tại Bình
Định ” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chƣa từng đƣợc công bố trong bất
cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này
Khánh Hòa, ngày 05 tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Vĩnh Nghi
Trang 4iv
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quý phòng ban Trường đại học Nha Trang, Phân viện Thú y miền Trung đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được hoàn thành đề tài Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Đức Tân đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ này
Được sự phân công của Viện Công nghệ sinh học và Môi trường, Trường Đại học Nha Trang, cùng với sự chấp nhận của ban lãnh đạo Phân viện Thú y miền Trung, tôi được phép thực tập tại Phân viện từ tháng 09/2014 đến tháng 10/2015
Trong quá trình thực tập, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình và hết lòng của Tiến sĩ Nguyễn Đức Tân, cùng các cán bộ Bộ môn nghiên cứu Ký sinh trùng Tôi cũng xin cảm ơn ban lãnh đạo Phân viện Thú y miền Trung, các thầy cô Viện Công nghệ sinh học và Môi trường, cùng toàn thể cán bộ công nhân viên đang công tác tại Phân viện đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn Thạc sĩ này
Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng do kiến thức, năng lực, cũng như kinh nghiệm nghiên cứu của bản thân còn nhiều hạn chế nên không thể không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo cùng bạn
bè đồng nghiệp
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè đã giúp
đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Khánh hoà, ngày 05 tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Vĩnh Nghi
Trang 5v
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC KÝ HIỆU vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC HÌNH x
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Giới thiệu chung về sán lá gan nhỏ 3
1.1.1 Vị trí, phân loại sán lá gan nhỏ 3
1.1.2 Hình thái, cấu tạo 3
1.1.2.1 Sán trưởng thành 3
1.1.2.2 Trứng sán lá gan nhỏ 5
1.1.2.3 Nang kén (Metacercaria) 6
1.1.3 Vòng đời 7
1.1.4 Dịch tễ học 8
1.1.5 Triệu chứng lâm sàng 10
1.1.6 Chẩn đoán bệnh 11
1.1.7 Phòng chống bệnh 12
1.2 Bệnh sán lá gan nhỏ trên vịt 12
1.3 Một số giống vịt nuôi tại Bình Định 13
1.3.1 Giống vịt hướng trứng 13
1.3.1.1 Vịt Triết giang 13
1.3.1.2 Vịt cỏ 13
1.3.1.3 Vịt Khaki Campbell 14
1.3.1.4 Vịt CV 2000 Layer 14
1.3.2 Giống vịt hướng thịt 14
1.3.2.1 Vịt CV Supper M 14
1.3.2.2 Vịt Szarwas 15
1.3.2.3 Vịt Cherry Valley 15
1.3.2.4 Vịt Bắc Kinh 15
1.4 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định 15
Trang 6vi
1.4.1 Điều kiện tự nhiên 15
1.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 17
Chương 2: NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 20
2.2 Nguyên, vật liệu nghiên cứu 20
2.3 Phương pháp nghiên cứu 21
2.3.1 Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ trên vịt 21
2.3.2 Phương pháp định danh loài 22
2.3.2.1 Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ trên vịt 23
2.3.2 2 Phương pháp định loài 24
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 Tình hình nhiễm sán lá gan nhỏ trên vịt ở huyện An Nhơn và Tuy Phước, tỉnh Bình Định 27
3.2 Kết quả định loài bằng hình thái học 28
3.3 Kết quả tối ưu hóa kỹ thuật PCR phát hiện sán lá gan nhỏ trên vịt Kết quả xác định nồng độ mồi và nhiệt độ bắt cặp tối ưu 31
3.4 Kết quả ứng dụng quy trình PCR phân loại sán lá gan nhỏ trên vịt 34
3.5 Giải trình tự đoạn gen ty thể (COI) 34
3.6 Phân tích mối quan hệ phả hệ 38
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
PHỤ LỤC 46
Trang 8viii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
B fuchsiana : Bithynia fuchsiana
B sinensis : Bithynia sinensis
B longicornis : Bithynia longicornis
C sinensis : Clonorchis sinensis
O viverrini : Opisthorchis viverrini
O felineus : Opisthorchis felineus
Trang 9ix
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Bố trí thí nghiệm nồng độ mồi và nhiệt độ bắt cặp tối ưu cho phản ứng
PCR 26
Bảng 3.1 Tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ trên vịt ở huyện An Nhơn và Tuy Phước 27
Bảng 3.2 Kích thước sán lá gan nhỏ trên vịt ở Bình Định 30
Bảng 3.3 Tác động qua lại giữa nhiệt độ bắt cặp và nồng độ mồi 32
Trang 10x
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Hình thái các loài sán lá gan nhỏ 4
Hình 1.2 Hình thái trứng sán lá gan nhỏ 6
Hình 1.3 Hình thái nang kén sán lá gan nhỏ 6
Hình 1.4 Vòng đời phát triển của sán lá gan nhỏ 7
Hình 1.5 Sơ đồ phân bố sán lá gan nhỏ ở Châu Á 9
Hình 1.6 Bản đồ hành chính tỉnh Bình Định 19
Hình 2.1 Hình thái, cấu tạo của sán trưởng thành 24
Hình 3.1 Hình thái sán lá gan nhỏ ký sinh trên vịt ở Bình Định 31
Hình 3.2: Kết quả khảo sát nồng độ mồi ở 50 oC 33
Hình 3.3: Kết quả khảo sát nồng độ mồi ở 52 oC 33
Hình 3.4: Kết quả khảo sát nồng độ mồi ở 54 oC 33
Hình 3.5: Kết quả khảo sát nồng độ mồi ở 56 oC 33
Hình 3.6 Ảnh đại diện kết quả điện di sản phẩm PCR nhân đoạn gen COI 34
Hình 3.7 Hình đại diện kết quả so sánh trình tự 300 nucleotit đoạn gen COI của sán lá gan nhỏ trên vịt ở Bình Định 35
Hình 3.8 So sánh trình tự 300 nucleotit đoạn gen COI của sán lá gan nhỏ trên vịt ở Bình Định với các loài sán lá gan nhỏ được đăng ký trên ngân hàng gen 36
Hình 3.9 So sánh trình tự 100 axit amin đoạn gen COI của sán lá gan nhỏ trên vịt ở Bình Định với các loài sán lá gan nhỏ được đăng ký trên ngân hàng gen 37
Hình 4 Cây phả hệ biểu thị mối quan hệ các loài sán lá gan nhỏ dựa trên phân tích trình tự nucleotit gen COI, sử dụng phần mềm Mega 39
Trang 11xi
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Ở nước ta, sán lá gan nhỏ ký sinh trên vịt được phát hiện trước năm 1971 ở các tỉnh phía Bắc, những năm sau đó có một số nghiên cứu nhưng không phát hiện vịt nhiễm mầm bệnh này Trên thế giới, cho đến nay chỉ phát hiện vịt ở Pakixtan nhiễm sán lá gan nhỏ Những năm gần đây, theo báo cáo của Chi cục Thú y tỉnh Bình Định, vịt nuôi tại một số địa phương bị bệnh nhưng không rõ nguyên nhân; qua điều tra tình hình thực tế cho thấy, vịt ở đây nhiễm loài sán lá gan nhỏ ký sinh trong gan và túi mật, gây nên hiện tượng gan viêm, xuất huyết, hoại tử, Từ những vấn đề cấp thiết đó,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái và di
truyền của sán lá gan nhỏ Opisthorchis sp ký sinh trên vịt tại Bình Định ”
Mục tiêu của đề tài là xác định được tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ trên vịt ở huyện
An Nhơn, Tuy Phước, tỉnh Bình Định; nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, cấu tạo
của sán lá gan nhỏ; thiết lập phản ứng PCR và giải trình tự gen đoạn gen COI (thuộc
hệ gen ty thể) để phân loại sán lá gan nhỏ
Để đạt được những mục tiêu trên, đề tài đã sử dụng phương pháp mổ khám cục
bộ đường tiêu hóa để xác định tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ trên vịt; thu thập các mẫu sán, nhuộm carmin để nghiên cứu hình thái, cấu tạo; thiết lập phản ứng PCR và giải trình tự đoạn gen ty thể (gen COI) để phân loại sán lá gan nhỏ gây bệnh trên vịt
Kết quả đề tài đã mổ khám được 120 vịt tại huyện An Nhơn, 120 vịt tại huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, phát hiện 29 và 39 con nhiễm sán lá gan nhỏ tương ứng ở
2 huyện, với tỷ lệ nhiễm lần lượt 24,16% và 32,50% Sán lá gan nhỏ ký sinh trên vịt có hình chiếc lá, chiều dài 7,1-12,2 mm, chiều rộng 1,2-1,9 mm Cấu tạo của sán bao gồm các cơ quan: giác miệng, giác bụng, hầu, thực quản, manh tràng, buồng trứng, tử cung, tuyến noãn hoàng, tuyến mehlis, tinh hoàn, túi chứa tinh, ống dẫn tinh, hệ thống bài tiết Về hình thái học, tất cả những mẫu sán lá gan nhỏ thu thập được trên vịt ở 2
huyện này thuộc họ Opisthorchiidae, loài Opisthorchis paragenimus Oschmarin, 1970
Bằng kỹ thuật PCR và giải trình tự đoạn gen COI, chuỗi nucleotit của sán lá gan nhỏ trên vịt được thu nhận và truy cập vào ngân hàng gen qua chương trình Blast Kết quả
tìm kiếm phát hiện các loài sán lá gan nhỏ có mức độ tương đồng là O viverrini, O
Trang 12xii
lobatus, O felineus và C sinensis, với sự sai khác lần lượt là 40, 43, 46 và 47
nucleotit, tương ứng với 13,33% , 14,33%, 17,03%, 15,66% Trên cơ sở dữ liệu phân tích di truyền và cây phả hệ, có thể suy luận rằng các mẫu sán lá gan nhỏ thu thập trên
vịt ở Bình Định đều thuộc họ Opisthorchiidae Trong đó, loài O viverrini và O
lobatus có mối quan hệ họ hàng gần nhất Tổng cộng các thành phần phản ứng PCR
tối ưu để phát hiện sán lá gan nhỏ trên vịt là 25 µl, bao gồm: PCR master mix 12,5 µl; mồi xuôi 1 µl (nồng độ 10 pmol); mồi ngược 1 µl (10 pmol); nước 5,5 µl; DNA mẫu 5
µl (0,3 µg/µl) Chu trình nhiệt: 1 chu kỳ 94oC trong 1 phút 30 giây, tiếp theo là 30 chu
kỳ 94oC trong 1 phút 30 giây, 52oC trong 1 phút 30 giây, 72oC trong 2 phút, cuối cùng
là 1 chu kỳ 72oC 10 phút, giữ mẫu 40C
Từ những kết quả nghiên cứu ở trên, cần có những nghiên cứu về chu kỳ sinh học của loài sán lá gan nhỏ ký sinh trên vịt, từ đó cung cấp thêm một số cơ sở để giám định loài và xây dựng biện pháp phòng bệnh
Từ khóa: Bình Định, hình thái, phân tử, sán lá gan nhỏ, tỷ lệ nhiễm, vịt
Trang 13
1
PHẦN MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Bình Định là tỉnh thuộc Duyên Hải Nam Trung Bộ, địa hình vùng đồng bằng thường nằm trên lưu vực của các con sông hoặc ven biển và được ngăn cách với biển bởi các đầm phá, các đồi cát hay các dãy núi Đồng bằng lớn nhất của tỉnh là đồng bằng thuộc hạ lưu sông Côn, còn lại là các đồng bằng nhỏ thường phân bố dọc theo các nhánh sông hay dọc theo các chân núi và ven biển, là vùng có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển chăn nuôi vịt Nghề nuôi vịt đã có từ lâu và chiếm một vị trí rất quan trọng, góp phần không nhỏ trong việc cải thiện bữa ăn hàng ngày và tăng thu nhập cho người dân Hàng năm người dân tại đây canh tác từ 2 đến 3 vụ lúa, đồng thời cũng có 2 đến 3 vụ nuôi vịt để tận dụng thóc rơi vãi Nhưng người chăn nuôi vịt cũng gặp không ít khó khăn về tình hình dịch bệnh, trong đó bệnh ký sinh trùng là một trong những nguyên nhân làm giảm hiệu quả chăn nuôi
Những năm gần đây, theo báo cáo của Chi cục Thú y tỉnh Bình Định, vịt ở đây
bị bệnh nhưng không rõ nguyên nhân, ảnh hưởng lớn đến ngành chăn nuôi, đặc biệt là đối với vịt đẻ Vịt thường có những biểu hiện ốm yếu, chậm lớn, giảm sản lượng trứng,… Qua điều tra tình hình thực tế cho thấy, vịt ở đây nhiễm loài sán lá gan nhỏ ký sinh trong gan và túi mật, gây nên hiện tượng gan viêm, xuất huyết, hoại tử, ảnh hưởng đến chức năng của gan Từ kết quả quan sát hình thái học và kỹ thuật phân tử chúng tôi đã xác định được sán lá gan nhỏ ký sinh trên vịt ở Bình Định thuộc giống
Opisthorchis
Ở nước ta, sán lá gan nhỏ ký sinh trên vịt được phát hiện trước năm 1971 ở các tỉnh phía Bắc (Phan Thế Việt, 1977), những năm sau đó có một số nghiên cứu tình trạng nhiễm giun sán trên vịt nhưng không phát hiện vịt nhiễm mầm bệnh Trên thế giới, cho đến nay chỉ phát hiện vịt ở Pakixtan nhiễm sán lá gan nhỏ (Thaenkham et al., 2011)
Đặc biệt hiện nay các công trình nghiên cứu về sán lá gan nhỏ trên vịt đang còn
ít Người dân vẫn chưa có tập quán phòng trừ bệnh sán lá gan nhỏ trên vịt, vì vậy xác định được tình hình nhiễm bệnh, thành phần loài là việc làm cần thiết, từ đó có cơ sở cho công tác phòng chống dịch bệnh, góp phần phát triển chăn nuôi theo hướng bền vững
Trang 142
Trước những yêu cầu cấp thiết đó, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu một
số đặc điểm hình thái và di truyền của sán lá gan nhỏ Opisthorchis sp ký sinh trên vịt tại Bình Định ”
Mục tiêu của đề tài
- Xác định tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ trên vịt ở tỉnh Bình Định
- Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, cấu tạo của sán lá gan nhỏ
- Thiết lập phản ứng PCR để chẩn đoán sán lá gan nhỏ
- Giải trình tự gen đoạn gen COI (thuộc hệ gen ty thể) để phân loại sán lá gan nhỏ
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Bệnh sán lá gan nhỏ ký sinh trên vịt tại tỉnh Bình Định Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được thực hiện tại một số địa điểm ở huyện Tuy
Phước và An Nhơn(thuộc tỉnh Bình Định)
Nội dung nghiên cứu
- Xác định tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ trên vịt ở tỉnh Bình Định
- Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, cấu tạo của sán lá gan nhỏ
- Thiết lập phản ứng PCR để chẩn đoán sán lá gan nhỏ
- Giải trình tự gen đoạn gen COI (thuộc hệ gen ty thể) để phân loại sán lá gan nhỏ
Ý nghĩa khoa học
Đề tài là công trình nghiên cứu có hệ thống về tỷ lệ nhiễm, đặc điểm hình thái cấu tạo và đặc điểm di truyền của sán lá gan nhỏ trên vịt, cung cấp thêm tư liệu khoa học của bệnh sán lá gan nhỏ trên vịt
Ý nghĩa thực tiễn
Các kết quả của đề tài là cơ sở khoa học cho việc xây dựng biện pháp phòng chống bệnh sán lá gan nhỏ trên vịt Nhằm giảm thiểu những tác động có hại, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng và phát triển chăn nuôi theo hướng bền vững
Trang 153
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu chung về sán lá gan nhỏ
1.1.1 Vị trí, phân loại sán lá gan nhỏ
Theo Phan Thế Việt, Nguyễn Thị Kỳ, Nguyễn Thị Lê (1977), sán lá gan nhỏ có
vị trí phân loại như sau:
Liên ngành: Scolecida (Huxley, 1856, Beklemischev, 1944.)
Ngành: Plathelminthes (Schneider, 1873)
Lớp: Trematoda( Rudolphi, 1808)
Bộ: Opisthochiida (La Rue, 1957)
Họ: Opisthorchiidae (Liihe, 1911)
Giống: Clonorchis (Looss, 1907)
Loài: Clonorchis sinensis (1875) Giống: Opisthorchis
Hệ tiêu hoá gồm: lỗ miệng, hầu, thực quản và ruột phân làm hai nhánh chạy dọc hai bên thân và bịt kín ở phía dưới Sán lá sống bằng niêm dịch, dưỡng chất hoặc hút máu
Hệ bài tiết: Có hai ống dẫn, chạy dọc hai bên cơ thể hợp lại với nhau tạo thành túi bài tiết thông với bên ngoài, lỗ bài tiết nằm phần cuối cơ thể sán
Hệ thần kinh: Gồm hai hạch não nằm ở hai bên hầu nối với nhau bởi vòng thần kinh hầu Từ hạch não có ba đôi dây thần kinh (bụng - lưng - bên) đi về phía trước và phía sau, cơ quan cảm giác ở sán trưởng thành tiêu giảm hoàn toàn
Hệ tuần hoàn và hệ hô hấp: Tiêu giảm hoàn toàn
Trang 16Cơ quan sinh dục cái: Gồm ống dẫn trứng (Ootype) thông với buồng trứng, tử cung, tuyến Mehlis, tuyến noãn hoàng (nằm dọc hai bên thân) và túi chứa tinh
Hình 1.1: Hình thái các loài sán lá gan nhỏ(David et al., 2008)
Opisthorchis viverrini
Sán trưởng thành màu đỏ mật, dài khoảng 5,4-10,2 mm (trung bình 7,0 mm) và rộng khoảng 0,8-1,9 mm (trung bình 1,5 mm) Giác miệng ở phần trước cơ thể và nhỏ hơn giác bụng
Hai tinh hoàn phân thùy mạnh, xếp chéo nhau, phân bố phía cuối cơ thể Các túi tinh dài hơi cuộn, kết thúc trong các ống phóng tinh, thông qua các lỗ chân lông sinh dục ngay trước mặt của giác bụng Các tuyến noãn hoàng tạo thành 7-8 nhóm trên mỗi mặt bên của cơ thể, giữa tinh hoàn và giác bụng Buồng trứng phân thùy, nằm phía trước tinh hoàn Các túi tinh ở gần buồng trứng Tử cung ở phần giữa của cơ thể, chạy
từ buồng trứng đến giác bụng Bàng quang dài, có hình chữ S và chạy giữa hai tinh hoàn (David et al., 2008, Kaewkes, 2003)
Trang 17Đặc điểm khác biệt của loài O felineus với O viverrini là buồng trứng và tinh
hoàn không phân thùy mạnh, tuyến noãn hoàng nằm ở khoảng giữa các buồng trứng và giác bụng, không phải giữa tinh hoàn và giác bụng (Mordvinov et al., 2012, Chai et al.,
2005, Kaewkes, 2003)
Opisthorchis lobatus
Sán trưởng thành dài 4 - 6 mm, rộng 0,7 - 1,1 mm Giác miệng nằm ở phía trước cơ thể và rất nhỏ Giác bụng nhỏ, nằm ở giữa cơ thể Hầu nhỏ và dài, thực quản ngắn Manh tràng dài và chạy dọc thân sán
Hai tinh hoàn là song song và phân thùy không đồng đều Tuyến noãn hoàng tương đối lớn, tạo thành 7-8 nhóm nằm xung quanh cơ thể, nằm ở khoảng giữa buồng trứng và giác bụng Buồng trứng phân thùy trông giống như 3-4 ngón tay Tử cung uốn khúc ở giữa cơ thể, một số nếp gấp trùng manh tràng Bàng quang hình ống, uốn lượn giữa tinh hoàn và ống dẫn tinh (Thaenkham et al., 2011)
Clonorchis sinensis
Sán trưởng thành Clonorchis sinensis lớn hơn so với các loài sán lá gan nhỏ
khác, chiều dài 10-25 mm, rộng 3-5 mm Bề mặt thân mình trơn láng Giác miệng lớn hơn giác bụng Tử cung có nhiều nhánh, mở rộng về phía trước của cơ thể và tinh hoàn
có nhiều nhánh mở rộng về phía sau cơ thể (David et al., 2008)
1.1.2.2 Trứng sán lá gan nhỏ
Trứng sán lá gan nhỏ có hình bầu dục, có nắp ở một đầu Ở môi trường bên ngoài, trứng phải gặp nước mới phát triển được, trứng sẽ phát triển đến giai đoạn cuối cùng của phôi, có tiêm mao gọi là mao ấu (miracidium)
Trang 186
Hình 1.2: Hình thái trứng sán lá gan nhỏ
1.1.2.3 Nang kén (Metacercaria)
Nang kén ở trong cơ cá nước ngọt, có hình bầu dục hoặc hình tròn, với 2 lớp
màng bao bọc Ấu trùng bên trong nang kén đã có một số cơ quan nội tạng
Hình 1.3: Hình thái nang kén sán lá gan nhỏ (Đào Thị Hà Thanh, 2012)
Nang kén O viverrini: kích thước trung bình 201 µm x 167 µm Lớp màng bao
bọc mỏng, dày 1-3 µm Ấu trùng trong nang kén có giác bụng, giác miệng và cơ quan bài tiết Bàng quang có hình bầu dục, chứa các hạt sắc tố nâu, vàng phân bố khắp cơ
thể (Touch et al., 2009, Kaewkes, 2003)
Nang kén O felineus: hình bầu dục, chiều dài 225-320 µm, chiều rộng 165-225
µm (Kaewkes, 2003)
Nang kén O lobatus: hình bầu dục, bên ngoài có 1 lớp màng mỏng bao bọc,
chiều dài 100-200 µm, chiều rộng 70-90 µm Ấu trùng có giác miệng ở phía trước, giác bụng có hình cầu ở giữa cơ thể Các hạt sắc tố phân bố trên toàn bộ cơ thể Bàng quang lớn, hình bầu dục, nằm một phần ba phía sau cơ thể (Thaenkham et al., 2011)
Trang 197
Nang kén C sinensis: hình elip, chiều dài 158-193 µm, chiều rộng 153-183
µm Giác miệng và giác bụng kích thước tương đương nhau Bàng quang lớn, màu nâu, nằm phía trước cơ thể (Sohn et al., 2009)
1.1.3 Vòng đời
Hình 1.4: Vòng đời của sán lá gan nhỏ
(http://www.grease-network.org/news/the-lawa-project)
Vòng đời của O viverrini, O felineus và C sinensis là giống nhau (Kaewkes,
2003) Sán trưởng thành sống trong ống dẫn mật và gan, thường xuyên thải trứng theo phân ra ngoài môi trường (ao, hồ, sông, suối,…) Trứng bị vật chủ trung gian thứ nhất
nuốt vào (ốc Bithynia sp, ốc Parafossarulus sp), ấu trùng lông (miracidia) thoát khỏi
vỏ trứng, sống trong đường tiêu hóa của ốc Sau đó, bằng hình thức sinh sản vô tính ấu trùng lông phát triển thành bào ấu (sporocyst), redia và vỹ ấu (cercaria)
Vỹ ấu thoát khỏi cơ thể ốc ra ngoài môi trường, xâm nhập vào cá nước ngọt họ Cyprinidae (vật chủ trung gian thứ 2) Tạo thành dạng nang kén nằm trong cơ hoặc dưới vây cá Vật chủ cuối cùng (động vật có vú, chim và người) nhiễm bệnh do ăn
Trang 202003)
1.1.4 Dịch tễ học
Bệnh sán lá gan nhỏ thường xảy ra ở những vùng có nghề nuôi trồng thủy sản, đặc biệt ở những nơi dân cư có thói quen ăn cá sống hoặc cá chưa nấu chín, hoặc những nơi có điều kiện vệ sinh kém Vùng lưu hành bệnh cao ở người và động vật được ghi nhận ở các nước đang phát triển, chủ yếu ở vùng nông thôn khu vực làng xã, những môi trường sống gần sông, suối, ao, hồ, kênh, mương, Vật chủ cuối cùng là người và một số động vật như chó, mèo, vịt, hổ, báo, cáo, chồn, rái cá, chuột lang, chuột nhà,… Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi và giới tính, nhưng tỷ lệ nhiễm cao ở nhóm tuổi 40-50 và nam giới nhiễm cao hơn nữ giới (Aunpromma et al., 2012, Sithithaworn
et al., 2012, De & Le, 2011, WHO, 2011; Banchob et al., 2007, Chai et al., 2005, Rim,
2005, De et al., 2003)
O viverrini phổ biến ở các lưu vực sông Mekong bao gồm Thái Lan, Lào,
Campuchia và Việt Nam Tỷ lệ nhiễm lên tới 60% ở tỉnh Nakhon Panom của Thái Lan, tổng số các trường hợp nhiễm ở Thái Lan là 6 triệu người (Sithithaworn et al.,
2012, WHO, 2011) Tại Lào, 98% dân số có nguy cơ nhiễm O viverrini (WHO, 2008) Opisthorchis là nguyên nhân chính gây ung thư đường mật ở người, ở Thái Lan
mỗi năm chi phí đối với bệnh này khoảng 120 triệu USD/năm (Banchob et al., 2011, Andrews et al., 2008, Banchob et al., 2007)
O felinus là loài đặc hữu ở Siberia, Nga và Châu Âu, số các trường hợp nhiễm
ước tính khoảng 1,2 triệu người (Keiser & Utzinger, 2009, Armignacco et al., 2008)
O lobatus lần đầu tiên được phát hiện trên vịt ở Pakistan Hiện nay, đặc điểm
dịch tễ học và khả năng lây truyền từ động vật sang người vẫn còn chưa rõ
C sinensis phổ biến ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam Có khoảng 12 triệu
người Trung Quốc, 1.3 triệu người ở Hàn Quốc nhiễm bệnh Ở Việt Nam, khoảng 2
triệu người nhiễm loài O viverrini và C sinensis (Hong & Fang, 2012, WHO, 2011)
Trang 219
Vật chủ trung gian thứ nhất là ốc nước ngọt: Bithynia striatulus, B
fuchsiana, B sinensis, B longicornis, Parafossarulus striatulus
Vật chủ trung gian thứ hai (cá nước ngọt): có 9 họ với 80 loài cá là vật chủ
trung gian của sán lá gan nhỏ Trong đó có 71 loài thuộc họ Cyprinidae, 2 loài họ Electridae và mỗi họ có một loài: họ Bagridae, Cyprinodontidae, Clupeidae, Osmeridae, Ophiocephalidae và Gobiidae (Peason J.C, 1964)
Ở Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Đài Loan có 88 loài cá nước ngọt thuộc
10 họ là vật chủ trung gian thứ hai của sán lá gan nhỏ Chủ yếu là những cá thuộc họ
cá chép (Cyprinidae), cá rô, cá trê, cá diếc… và một số cá khác như: Gobiidae, Salmonidae, Anabantidae Có 18 loài cá họ Cyprinidae được xem là vật chủ trung gian
thứ hai của Opisthorchis spp , trong đó Cyclocheilichthys, Puntius và Hampala là vật chủ nhạy cảm nhất (Kaewkes, 2003)
Ở Việt Nam, những loài cá rô, cá chép, cá diếc, cá thìa đá, cá trôi… đã phát hiện nhiễm nang kén sán lá gan nhỏ (Trần Văn Quyên và cộng sự., 2012)
Mùa bệnh: Ở những vùng lưu hành, bệnh xảy ra quanh năm Khí hậu thời tiết
ấm áp, mưa rào nhiều tạo điều kiện thuận lợi để phát tán trứng sán trong môi trường nước, cơ hội mầm bệnh gặp vật chủ trung gian nhiều (Ngô Xuân Tùng, 2010)
Đường lây truyền: người và vật chủ cuối cùng nhiễm bệnh do ăn phải cá
nước ngọt có chứa nang kén chưa được nấu chín (Metacercaria) (WHO, 2011)
Vùng bệnh:
Hình 1.5: Sơ đồ phân bố sán lá gan nhỏ ở Châu Á(WHO, 2011)
Bệnh sán lá gan nhỏ phân bố rộng khắp trên thế giới, nhưng tập trung chủ yếu
ở các nước Châu Á: Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc, Thái Lan, Nhật
Trang 221.1.5 Triệu chứng lâm sàng
Trên người
Triệu chứng lâm sàng ở người nhiễm sán lá gan nhỏ thường không rõ ràng Những người nhiễm nặng và kéo dài có một số dấu hiệu như: lúc đầu có những rối loạn dạ dày, ruột, chán ăn, ăn không tiêu, ỉa chảy hoặc táo bón, đau vùng gan âm ỉ, có thể phát ban nổi mẩn
Một số người ở giai đoạn bệnh nặng: vàng da nhẹ, phân có thể màu trắng hoặc phân sống, nước tiểu vàng sẫm, đau tức hạ sườn phải và vùng gan Gan có thể sưng to dưới bờ sườn, có thể đau ở điểm túi mật Càng về cuối, các dấu hiệu càng xuất hiện rõ nét hơn: ăn kém, gầy yếu, sụt cân, giảm sức lao động, có thể xơ gan ở các mức độ khác nhau do sán kích thích tăng sinh các tổ chức xơ, đường mật dày lên, kém đàn hồi và có thể bị tắc (WHO, 2011, Bouvard et al., 2009, WHO, 2006, WHO, 1994)
Dấu hiệu bệnh lý chủ yếu thấy ở gan, túi mật và ống dẫn mật, với các biểu hiện viêm, phì đại hoặc hình thành sỏi mật Bệnh không điều trị có thể dẫn đến xơ gan
cổ trướng, đôi khi có liên quan đến ung thư gan, ung thư biểu mô đường mật Bệnh tích có thể phát hiện bằng siêu âm vùng bụng Tổ chức y tế thế giới đã xếp sán lá gan nhỏ là tác nhân gây bệnh ung thư gan (WHO, 2011)
Trên động vật
Động vật mắc sán lá gan nhỏ triệu chứng lâm sàng thường không rõ ràng, một
số trường hợp táo bón, tiêu chảy hoặc xen kẻ giữa táo bón và tiêu chảy, con nhiễm nặng thường gầy yếu, kém ăn, lông xơ xác… Khi tiến hành mổ khám kiểm tra thì các
cơ quan nội tạng cũng có một số biểu hiện bệnh lý đặc trưng sau:
Bệnh tích đại thể: gan sưng to, màu vàng, rìa gan tù, trên mặt gan có nhiều điểm xơ hóa, hoại tử màu trắng xám hoặc gan tối màu, dầy và dai Khi cắt gan, trong
Trang 23Mạch quản tuyến tụy dãn rộng, xung huyết, chứa đầy hồng cầu, ống dẫn tụy dày, xung quanh thành mô tăng sinh, các tế bào biểu mô trương to, một số tế bào bong
ra nằm trong lòng tuyến cùng với bạch cầu đa nhân trung tính và một số bạch cầu ái toan, xung quanh ống dẫn nhỏ có nhiều lâm ba cầu và các tế bào đại thực bào
1.1.6 Chẩn đoán bệnh
Xét nghiệm phân: Kỹ thuật Kato-Katz được sử dụng để phát hiện trứng sán
trong phân của người Nhưng do hình thái các loài sán lá gan nhỏ, cũng như các loài sán lá ở đường ruột là cơ bản giống nhau, vì vậy dễ có sự nhầm lẫn giữa các loài (Do
et al., 2007, Olsen et al., 2006, Chai et al., 2005, Kaewkes, 2003, Ditrich et al., 1992)
Chẩn đoán hình thái học: Mỗi loài sán lá gan nhỏ có hình thái riêng, vì vậy
chẩn đoán dựa vào hình thái học có ý nghĩa lớn trong phát hiện loài (David et al.,
2008, Kaewkes, 2003) Sán trưởng thành được nhuộm bằng kỹ thuật nhuộm Carmin và quan sát dưới kính hiển vi Hình thái, kích thước, cấu tạo các cơ quan tổ chức (buồng trứng, tuyến noãn hoàng, tinh hoàn, tử cung,…) là những đặc điểm quan trọng để phân biệt loài (David et al., 2008, Fried et al., 2004, Kaewkes, 2003)
Siêu âm: Siêu âm có ý nghĩa trong những người bị bệnh nặng, có tổn thương
lớn ở gan
Phát hiện kháng thể: Dùng kháng nguyên phát hiện kháng thể trong huyết
thanh, kết quả này có độ đặc hiệu thấp do phản ứng chéo giữa các loài sán (Rim, 2005, Nagano et al., 2004, Choi et al., 2003) Tuy nhiên, kỹ thuật ELISA phát hiện kháng nguyên trong huyết thanh có giá trị lớn trong chẩn đoán và đã được ứng dụng rộng rãi trong chẩn đoán bệnh này (Hong & Fang, 2012, Ruangsittichai et al., 2006, Nagano et al., 2004, Choi et al., 2003)
Kỹ thuật phân tử:
Trang 2412
Một số kỹ thuật phân tử được áp dụng để chẩn đoán và phân loại sán lá gan nhỏ như: multiplex PCR (Le et al., 2006); PCR-RFLP gen COI (Thaenkham et al., 2007); rDNA PCR gen ITS1 và ITS2 (Cai et al., 2012, Sato et al., 2009)
1.1.7 Phòng chống bệnh
Tập quán ăn gỏi cá sống hoặc cá chưa chế biến kỹ là nguyên nhân gây nhiễm sán lá gan nhỏ Vì vậy, cần tuyên truyền giáo dục để người dân hiểu rõ con đường truyền bệnh, từ đó chủ động phòng tránh
Hạn chế trứng sán phát tán ra môi trường gặp vật chủ trung gian: xây dựng nhà
vệ sinh hợp lý, không dùng phân tươi làm thức ăn cho cá, ủ phân trước khi bón cho cây trồng là những công việc thiết yếu để hạn chế việc lây lan mầm bệnh (Rim H.J,
hiện vịt ở Pakixtan nhiễm sán lá gan nhỏ, loài O lobatus (Thaenkham et al., 2011) Theo Phan Thế Việt (1977), sán lá gan nhỏ trên vịt ở nước ta thuộc họ Opisthochiidae, giống Opisthorchis
Loài Opisthorchis longissimus (Linstow, 1883)
Vật chủ: vịt nhà (bộ ngỗng) Nơi ký sinh: gan
Nơi phát hiện: Hà Nội (1971)
Nguồn tài liệu: Nguyễn Thị Lê (1971)
Loài Opisthorchis parageninus (Oschmarin, 1970)
Vật chủ: Gà nhà (bộ gà), vịt nhà (bộ ngỗng) Nơi ký sinh: gan
Nơi phát hiện: Hải Phòng (8-1962); Lạng Sơn (8-1962); Thanh Hóa (3-1964);
Hà Nội (1971)
Nguồn tài liệu: Nguyễn Thị Lê (1968, 1971); Oschmarin (1970)
Theo Nguyễn Đức Tân và cộng sự (2015), vịt nhiễm sán lá gan nhỏ thường có dấu hiệu mệt mỏi; ăn ít, giảm bắt mồi; một số con bỏ ăn, lông xù, gầy yếu; một số con
Trang 2513
bụng to; giảm đẻ, sau đó ngừng đẻ; ỉa chảy phân màu vàng hoặc xanh Bệnh tích: xác chết gầy, xoang bụng tích nước, túi mật tăng lên 2-3 lần, gan viêm, xuất huyết, gan viêm dính vào xoang bụng; gan sung huyết, hồng cầu tràn ngập lòng mạch quản, thâm nhiễm tế bào viêm, tế bào gan thoái hóa mỡ và thoái hóa không bào, tế bào gan hoại tử bắt màu hồng đều Để chẩn đoán vịt nhiễm sán lá gan nhỏ cần quan sát các triệu chứng lâm sàng, kết hợp với xét nghiệm trứng trong phân Ngoài ra, cần mổ khám một số con trong đàn để xác định chính xác căn nguyên gây bệnh, từ đó có biện pháp can thiệp kịp thời
1.3 MỘT SỐ GIỐNG VỊT NUÔI TẠI BÌNH ĐỊNH
1.3.1 Giống vịt hướng trứng
1.3.1.1 Vịt Triết giang
Vịt Triết Giang là giống vịt siêu trứng nổi tiếng, có nguồn gốc từ tỉnh Triết Giang, Trung Quốc Giống nhập vào nước ta từ năm 2005, được các cơ sở giống tiến hành nuôi giữ, chọn lọc để có năng suất và chất lượng cao
Vịt thích hợp với nhiều phương thức nuôi khác nhau, có thể nuôi trên khô không cần nước bơi lội (nhốt trong chuồng, nuôi trên vườn cây), nuôi nhốt kết hợp với nuôi cá (cá - vịt) hoặc nuôi thả đồng có khoanh vùng kiểm soát Là giống vịt chuyên trứng có năng suất cao nhất so với các giống vịt hiện có của Việt Nam
Vịt Triết Giang có khả năng thích nghi cao với điều kiện khí hậu nước ta Vịt có khả năng chống chịu bệnh rất tốt, đạt tỷ lệ nuôi sống từ 90 - 92% Vịt có tuổi đẻ trứng đầu sớm (110 -112 ngày tuổi); khối lượng cơ thể lúc vào đẻ thấp: 1,3-1,5 kg; tỷ lệ đẻ rất cao 98% - 100%; năng suất trứng bình quân/mái đạt 227 - 239 trứng (trong 10 tháng đẻ), khối lượng 60 - 70 g/trứng Đây là giống vịt chuyên trứng được nuôi phổ biến ở tỉnh Bình Định(Sở nông nghiệp tỉnh Bình Định)
1.3.1.2 Vịt cỏ
Vịt cỏ là một trong những giống vịt nuôi lâu đời và phổ biến nhất ở nước ta Vịt
có nguồn gốc từ vịt trời, qua quá trình thuần hóa tự nhiên tạo thành giống vịt này Vịt
có nhiều màu sắc lông khác nhau, bao gồm các nhóm:
- Sẻ sẫm (cà cuống, tàu rằn sẫm) chiếm đại đa số;
- Trắng tuyền (tàu cỏ) chiếm 5-8% đàn;
- Sẻ nhạt (tàu rằn nhợt);
Trang 2614
- Xám hồng;
- Khoang trắng đen;
- Đen tuyền
Đặc điểm giống vịt cỏ có đầu thanh tú, mắt sáng, lanh lợi, mỏ dẹt, khỏe và dài
Cổ thanh, mình thon, ngực lép, chân hơi dài so với thân Vịt có tầm vóc nhỏ bé, lúc
140 ngày tuổi (bắt đầu sinh sản) vịt đực nặng 1,5-1,7 kg, vịt mái nặng 1,4-1,5 kg Vịt
có khả năng sinh sản cao, sản lượng trứng đạt 160-225 quả/mái/năm Trứng có khối lượng nhỏ 64-65g Trứng có tỷ lệ phối cao Khả năng sản xuất thịt thấp: lúc 75 ngày tuổi vịt chỉ đạt khối lượng xấp xỉ 1,0 kg Đây là giống vịt chịu kham khổ, kiếm mồi giỏi, thích hợp với phương thức chăn thả cổ truyền ở Việt Nam (Sở nông nghiệp tỉnh Bình Định)
Hiện nay, vịt đang được nuôi rộng rãi ở khắp cả nước đặc biệt là các tỉnh Bắc
bộ, Trung bộ và một số tỉnh miền núi phía Bắc(Sở nông nghiệp tỉnh Bình Định)
1.3.1.4 Vịt CV 2000 Layer
Vịt CV 2000 Layer có màu lông trắng, khối lượng lúc 8 tuần tuổi đạt 1,4kg/con Khi vào đẻ, vịt có khối lượng 2,0 kg Tuổi đẻ quả trứng đầu của vịt là 154 ngày Vịt CV 2000 Layer có sản lượng trứng là 285 quả/mái/năm
Khối lượng trứng to, đạt bình quân 70-75g/quả, tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng tính từ khi nuôi vịt con đến hết một năm đẻ là 2,0-2,2 kg Vịt đực CV 2000 có thể sử dụng để nuôi thịt và có khả năng đạt 1,75 kg Vịt CV 2000 phù hợp với nuôi nhốt, kết hợp chăn thả (Nguyễn Văn Thưởng, 2001)
1.3.2 Giống vịt hướng thịt
1.3.2.1 Vịt CV Supper M
Là giống vịt chuyên dụng thịt cao sản được tạo ra ở Công ty Cherry Valley
vương quốc Anh năm 1976
Trang 27Vịt CV Supper M thích hợp với điều kiện chăn nuôi tập trung thâm canh, song trong điều kiện chăn nuôi chăn thả có bổ sung (bán thâm canh) vịt vẫn cho năng suất khá cao Vịt hiện tại đang được sử dụng để lai với các giống vịt địa phương, kết quả con lai cũng cho năng suất thịt cao(Sở nông nghiệp tỉnh Bình Định)
1.3.2.2 Vịt Szarwas
Vịt có nguồn gốc từ Hungari, có màu lông trắng tuyền, chân và mỏ vàng, thịt thơm ngon Vịt có tầm vóc vừa phải, vịt thương phẩm lúc 49 ngày tuổi nặng 2,84 kg Sản lượng trứng trong 7 tháng đẻ là 146,5 quả/mái
Ở Việt Nam, nuôi tới 49 ngày tuổi, vịt thương phẩm đạt 2,85 kg Thịt thơm ngon, dễ nuôi, thích hợp với điều kiện chăn thả tự do có cho ăn bổ sung tại chuồng(Sở nông nghiệp tỉnh Bình Định)
1.3.2.3 Vịt Cherry Valley
Là giống vịt chuyên thịt, có năng suất khá cao, vịt đạt khối lượng 2,2-2,3 kg lúc 75 ngày tuổi, sản lượng trứng: 160-185 quả/mái/năm(Sở nông nghiệp tỉnh Bình Định)
1.4 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH BÌNH ĐỊNH
1.4.1 Điều kiện tự nhiên
Trang 2816
Bình Định là tỉnh duyên hải miền Trung Việt Nam Lãnh thổ của tỉnh trải dài
110 km theo hướng Bắc-Nam, diện tích tự nhiên: 6.025 km², diện tích vùng lãnh hải: 36.000 km² Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, điểm cực Bắc có tọa độ: 14°42'10 Bắc, 108°55'4 Đông Phía Nam giáp tỉnh Phú Yên, điểm cực Nam có tọa độ: 13°39'10 Bắc, 108°54'00 Đông Phía Tây giáp tỉnh Gia Lai, điểm cực Tây có tọa độ: 14°27' Bắc, 108°27' Đông Phía Đông giáp biển Đông với bờ biển dài 134 km, điểm cực Đông là
xã Nhơn Châu (Cù Lao Xanh) thuộc thành phố Quy Nhơn, có tọa độ: 13°36'33 Bắc, 109°21' Đông Bình Định được đánh giá là có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, được xem là một trong những cửa ngõ ra biển của các tỉnh Tây Nguyên và vùng nam Lào, đông bắc Campuchia
Địa hình của tỉnh tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông, với độ chênh lệch khá lớn (khoảng 1.000m) Các dạng địa hình phổ biến là:
Vùng núi, đồi và cao nguyên: chiếm 70% diện tích toàn tỉnh với độ cao trung bình 500 - 1.000m, đỉnh cao nhất là 1.202m ở xã An Toàn (huyện An Lão) Các dãy núi chạy theo hướng Bắc - Nam, có sườn dốc đứng Nhiều khu vực núi ăn ra sát biển tạo thành các mỏm núi đá dọc theo bờ, vách núi dốc đứng và dưới chân là các dải cát hẹp Đặc tính này đã làm cho địa hình ven biển trở thành một hệ thống các dãy núi thấp xen lẫn với các cồn cát và đầm phá
Vùng đồi: tiếp giáp giữa miền núi phía tây và đồng bằng phía đông, có diện tích khoảng 159.276 ha, có độ cao dưới 100m, độ dốc tương đối lớn từ 10° – 15°
Vùng đồng bằng: Diện tích khoảng 1.000 km², được tạo thành do các yếu tố địa hình và khí hậu, thường nằm trên lưu vực của các con sông hoặc ven biển và được ngăn cách với biển bởi các đầm phá, các đồi cát hay các dãy núi
Vùng ven biển: Bao gồm các cồn cát, đụn cát tạo thành một dãy hẹp chạy dọc ven biển với hình dạng và quy mô biến đổi theo thời gian
Bình Định còn có 33 đảo lớn nhỏ được chia thành 10 cụm đảo hoặc đảo đơn
lẻ, trong đó đảo Nhơn Châu là đảo lớn nhất (364 ha) cách thành phố Quy Nhơn 24 km,
có trên 2.000 dân Ngoài các vùng địa hình đặc trưng nói trên, Bình Định có khá nhiều sông Các sông ngòi không lớn, độ dốc cao, ngắn, hàm lượng phù sa thấp, tổng trữ lượng nước 5.2 tỷ m³, tiềm năng thuỷ điện 182,4 triệu kw Có 4 sông lớn là: Lại Giang, Kôn, La Tinh và Hà Thanh Nhiều hồ nhân tạo được xây dựng để phục vụ cho việc
Trang 2917
phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy hải sản Đặc biệt, đầm Thị Nại là đầm lớn, rất thuận lợi cho việc phát triển cảng biển tầm cỡ quốc gia và góp phần phát triển khu kinh tế Nhơn Hội Đầm còn được biết đến là một di tích lịch sử - văn hóa và với cây cầu vượt biển dài nhất Việt Nam hiện nay
Bình Định có tính chất nhiệt đới ẩm, gió mùa Nhiệt độ không khí trung bình năm: ở khu vực miền núi biến đổi 20,1 – 26,1°C; tại vùng duyên hải là 27°C Độ ẩm tuyệt đối trung bình tháng trong năm: tại khu vực miền núi là 22,5 – 27,9% và độ ẩm tương đối 79 – 92%; tại vùng duyên hải độ ẩm tuyệt đối trung bình là 27,9% và độ ẩm tương đối 79% Tổng lượng mưa trung bình năm là 1751mm, cực đại là 2658mm, cực tiểu là 1131mm Mùa mưa bắt đầu từ tháng 09 – 12, mùa khô kéo dài từ tháng 01–
08 Cấu tạo địa chất, địa hình, khí hậu làm cho Bình Định tuy không có đồng bằng rộng lớn nhưng có đồng ruộng phì nhiêu, đa dạng về sản phẩm nông, lâm, ngư…, nhiều tài nguyên khoáng sản và tiềm năng thuỷ điện
1.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Bình Định có nhiều dân tộc chung sống, đoàn kết trong đấu tranh và xây dựng đất nước Dân tộc Kinh chiếm 98% so tổng dân số, 3 dân tộc thiểu số chiếm khoảng 2% chủ yếu là Ba Na, H're, Chăm ở 113 làng/22 xã các huyện miền núi, trung
du Dân số tỉnh đang có xu hướng giảm cơ học, theo kết quả điều tra chính thức ngày 01/4/2009, dân số tỉnh Bình Định có 1.485.943 người, trong thành thị chiếm 25%, nông thôn chiếm 75%, mật độ 247 người/km²
Với tổng dân số 1.489.700 người (năm 2010) phân bố không đều, trong đó thành phố Quy Nhơn cao nhất là 983 người/km2
, thấp nhất là huyện Vân Canh 30,9 người/ km2 Dân số nam chiếm 48,7%, nữ chiếm 51,3%; dân số thành thị chiếm 27,7% dân số, nông thôn chiếm 72,3% Cơ cấu dân số trẻ, dưới 30 tuổi chiếm 62,8% là nguồn cung cấp lao động dồi dào cho các ngành kinh tế Hiện có 832.600 lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân
Hệ thống giao thông khá đồng bộ Quốc lộ 1A (qua tỉnh 118 km) và đường sắt quốc gia (qua tỉnh 150 km) chạy xuyên suốt chiều dài Bắc - Nam của tỉnh; cùng với Quốc lộ 1D (dài 34 km), Quốc lộ 19 (qua tỉnh 70 km) nối Cảng Quy Nhơn với bên ngoài thuận lợi Cảng Quy Nhơn là một trong 10 cảng biển lớn của cả nước có thể đón tàu 3 vạn tấn ra vào cảng an toàn Cảng Thị Nại là cảng địa phương đang được nâng
Trang 3018
cấp đón tàu 1 vạn tấn Sân bay Phù Cát cách thành phố Quy Nhơn 30km về phía Bắc
đã và đang mở thêm nhiều chuyến bay đón hành khách đi và đến Bình Định
Trong những năm qua, kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định không ngừng phát triển Các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội được nâng cao, các công trình hạ tầng kỹ thuật và phúc lợi xã hội được đầu tư phát triển
Mặc dù chịu ảnh hưởng của tình hình suy thoái kinh tế thế giới nhưng kinh tế thời kỳ 2006 - 2010 của tỉnh liên tục tăng, năm sau cao hơn năm trước Tổng sản phẩm địa phương (GDP) tăng bình quân 10,7%/năm Trong đó các ngành thuộc khu vực công nghiệp - xây dựng 15,2%, nông - lâm - ngư nghiệp tăng 7,1% và dịch vụ tăng 11,2% Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 15,7%/năm GDP bình quân/người tăng từ 219,7 USD năm 2000 lên 401 USD năm 2005 và 901 USD vào năm 2010 Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, năm 2000 có cơ cấu nông, lâm, ngư nghiệp - công nghiệp, xây dựng - dịch vụ là 42,2% - 22,8% - 35%, đến năm 2005 có tỷ trọng tương ứng là 38,4% - 26,7% - 34,9% và năm 2010 là: 35% - 27,4% - 37,6% Nhìn chung, công nghiệp có bước phát triển khá, nhiều khu, cụm công nghiệp được hình thành, khu kinh tế Nhơn Hội đang được xây dựng hạ tầng và xúc tiến thu hút đầu
tư Sản xuất nông nghiệp phát triển khá toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa
Trang 3119
Hình 1.6: Bản đồ hành chính tỉnh Bình Định
(http://www.binhdinh.gov.vn/)
Trang 3220
CHƯƠNG 2 NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Địa điểm nghiên cứu
Các thí nghiệm được thực hiện tại Bộ môn nghiên cứu Ký sinh Trùng, Phân viện Thú y miền Trung Giải trình tự gen tại Công ty Marogen Inc, Hàn Quốc
Thu thập mẫu tại một số địa điểm ở huyện Tuy Phước và An Nhơn, tỉnh Bình Định
Thời gian nghiên cứu
Đề tài thực hiện từ tháng 9/2014 – tháng 10/2015
2.2 NGUYÊN, VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
Các loại mẫu vật: mẫu sán lá gan nhỏ ký sinh trong gan và túi mật tại huyện
Tuy Phước và An Nhơn, tỉnh Bình Định
Các loại hóa chất:
Hóa chất nhuộm carmin: Carmine Red (Sigma), axít acetic 100% (Merck), cồn
ethanol, formaldehyde 37%, axít hydrochloric, xylene (Merck)
Hóa chất làm phân tử: DNA marker 100 bp (Promega), dNTP (QIAGEN), Loading dye (QIAGEN), PCR buffer (QIAGEN), TBE buffer (QIAGEN), DNA polymerase (QIAGEN), Ethanol pure, bộ kít chiết tách DNA tổng số (DNeasy Tissue Kit, QIAGEN), bộ kít tinh sạch sản phẩm PCR (QIAGEN), PCR master mix (Promega), TBE 10X, Agarose (Invitrogen), Ethidium bromide (Invitrogen); muối (NaCl), cồn etylic, nước cất, nước muối sinh lý
Một số hóa chất cần thiết khác để nghiên cứu ký sinh trùng và sinh học phân tử
Máy móc, thiết bị: Máy đo nồng độ DNA (BioDrop – UK), máy PCR Mastercycler pro S (Eppendorf, Đức)(GeneAmp PCR system 9700 AB), máy đọc và chụp ảnh gel GelDoc (Biorad, Mỹ), bộ điện di sản phẩm PCR ngang Midigel XL (Apelex, Pháp), Bộ điện di nhỏ MGU – 102T (CBS Scientific Co, Mỹ), máy ly tâm lạnh VSAID Centrifuge 5415R (Eppendorf, Đức), Vortex MS3 (IKA, Đức), bể điều nhiệt cách thủy NB301L (N-BIOTEK, Hàn Quốc), Cân điện tử Adventurer Pro (Ohaus, Mỹ), Tủ lạnh SR-20KN (Sanyo, Nhật
Trang 3321
Bản), lò vi sóng Kính hiển vi soi nổi, kính lúp, kính hiển vi có gắn Micrometer thị kính, lá kính, phiến kính, ống eppendorf, micropipet, pipet tip, bộ đồ mổ gia súc, ống hút nhựa, hộp lồng, chai thủy tinh nút vặn, chai thủy tinh nút mài, cốc thủy tinh chia vạch,
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ trên vịt
Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu ngẫu nhiên đơn
Tiến hành mổ khám vịt để xác định tỷ lệ nhiễm sán lá gan nhỏ
Hình thức nuôi: nuôi nhốt và nuôi chăn thả
Tính dung lượng mẫu tối thiểu bằng phần mềm WinEpicope 2.0
So sánh sai khác bằng phần mềm Epicalc 2000 (Shift + F10/compare)
Cách thu thập, tính số lượng: Dùng kim giải phẩu hoặc bút lông lấy sán cho vào
đĩa petri và đếm số lượng có trong đĩa
Bảo quản mẫu: rửa sán với nước muối sinh lý, bảo quản trong cồn 70o hoặc
-20oC để nghiên cứu cấu trúc phân tử