1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghề nuôi cua biển scylls spp tại cà mau hiện trạng kỹ thuật, kinh tế xã hội và các giải pháp phát triển theo hướng bền vững

94 705 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 3,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghề nuôi cua biển phát triển ở Cà Mau với nhiều hình thức nuôi khác nhau góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế nông hộ và giảm thiểu rủi ro từ con tôm.. Để làm cơ sở cho việc q

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

TIÊU HOÀNG PHO

NGHỀ NUÔI CUA BIỂN Scylla spp TẠI CÀ MAU: HIỆN

TRẠNG KỸ THUẬT, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ CÁC GIẢI PHÁP

PHÁT TRIỂN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA - 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

TIÊU HOÀNG PHO

NGHỀ NUÔI CUA BIỂN Scylla spp TẠI CÀ MAU: HIỆN

TRẠNG KỸ THUẬT, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ CÁC GIẢI PHÁP

PHÁT TRIỂN THEO HƯỚNG BỀN VỮNG

Người hướng dẫn khoa học:

TS LÊ ANH TUẤN

Chủ tịch Hội đồng:

TS LỤC MINH DIỆP

Khoa sau đại học:

ThS HOÀNG HÀ GIANG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả của đề tài “Nghề nuôi cua biển Scylla spp tại Cà Mau:

hiện trạng kỹ thuật, kinh tế xã hội và các giải pháp phát triển theo hướng bền vững” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất

kỳ công trình khoa học nào cho đến thời điểm này

Cà Mau, ngày 23 tháng 10 năm 2015

Học viên cao học

Tiêu Hoàng Pho

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Từ khi học tập cho đến quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn tốt nghiệp cao học, tôi đã nhận được sự quan tâm và giúp đỡ của đơn vị, các cơ quan, các nhà nghiên cứu, bạn bè, và gia đình

Tôi xin chân thành cảm ơn đến Lãnh đạo Ban Quản lý Khu sinh quyển Mũi Cà Mau

đã tạo điều kiện cho tôi làm việc và học tập; Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang; tập thể cán bộ giảng viên Viện Nuôi trồng thủy sản, Khoa Sau Đại học cùng các Thầy,

Cô đã giảng dạy khóa cao học 2013 - 2015 Trường Đại học Nha Trang

Tôi xin gửi lời trân trọng và cám ơn chân thành đến TS Lê Anh Tuấn đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Xin cảm ơn Sở Khoa học và Công nghệ Cà Mau đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn trong thời gian sớm nhất

Xin gửi lời cám ơn đến Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các huyện Phú Tân, Đầm Dơi, Năm Căn, Chi Cục NTTS, TT Khuyến nông khuyến ngư, Trung tâm dạy nghề huyện U Minh, Trạm khuyến Ngư Năm Căn, UBND xã Lâm Hải, Nguyễn Việt Khái, Khánh Hòa, Phong Lạc, Biển Bạch Đông

Cuối cùng tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè những người luôn động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập./

Cà Mau, ngày 23 tháng 10 năm 2015

Học viên cao học

Tiêu Hoàng Pho

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC KÝ HIỆU viii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ix

DANH MỤC CÁC BẢNG x

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ xi

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xiiError! Bookmark not defined MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Đặc điểm sinh học của cua Biển (Scylla spp) 3

1.1.1 Sơ lược về phân loại và đặc điểm hình thái 3

1.1.1.1 Sơ lược về phân loại cua biển 3

1.1.1.2 Hệ thống phân loại 3

1.1.1.3 Đặc điểm hình thái 4

1.1.2 Sự phân bố 5

1.1.3 Đặc điểm về sinh thái 5

1.1.4 Đặc điểm về dinh dưỡng 6

1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng 6

1.1.6 Đặc điểm sinh sản 7

1.1.6.1 Di cư và sinh sản 7

1.1.6.2 Thành thục 8

1.1.6.3 Tập tính giao phối 8

1.1.6.4 Sự đẻ trứng và thụ tinh 8

1.1.6.5 Vòng đời 9

1.1.7.1 Ở thời ký ấu trùng, trong giai đoạn zoea 10

1.1.7.2 Thời kỳ cua con và cua trưởng thành 11

1.2 Tình hình nuôi cua biển trên Thế giới và Việt Nam 11

1.2.1 Tình hình nuôi cua biển trên thế giới 11

1.2.2 Tình hình nuôi cua biển thương phẩm ở Việt Nam 12

1 3 Đặc điểm của vùng nghiên cứu 13

Trang 6

1.3.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 13

1.3.1.1 Vị trí địa lý 13

1.3.1.2 Khí hậu, thủy văn 14

1.3.1.3 Địa hình và thổ nhưỡng 15

1.3.1.4 Sông ngòi và đầm phá 15

1.3.1.5 Tài nguyên đất 16

1.3.1.6 Tài nguyên nước mặt 17

1.3.1.7 Tài nguyên nước ngầm 17

1.3.1.8 Tài nguyên rừng 17

1.3.1.9 Đa dạng sinh học 18

1.3.2 Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau 18

1.3.2.1 Đặc điểm về kinh tế 18

Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu 20

2.1.1 Thời gian nghiên cứu 20

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 20

2.1.3 Đối tượng nghiên cứu 20

2.2 Phương pháp nghiên cứu 21

2.2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 21

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 21

2.2.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp 21

2.2.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp 22

2.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 23

2.2.3.1 Phương pháp tính toán một số chỉ tiêu 23

2.2.3.2 Phương pháp phân tích số liệu 23

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24

3.1 Hiện trạng nghể nuôi cua biển thương phẩm tại Cà Mau 24

3.1.1 Tình hình chung 24

3.1.1.1 Sơ bộ tình hình nuôi trồng hải sản và nghề nuôi cua tại Cà Mau 24

3.1.1.2 Năng suất và sản lượng 26

3.1.1.3 Nhu cầu con giống, mùa vụ sản xuất và tình hình dịch bệnh 26

3.1.2 Hiện trạng kỹ thuật nghề nuôi cua biển (Scylla spp) tại Cà Mau 27

Trang 7

3.1.2.1 Hình thức nuôi 27

3.1.2.2 Hệ thống công trình 28

3.1.2.3 Môi trường vùng nuôi 31

3.1.2.4 Kỹ thuật cải tạo ao 31

3.1.2.5 Sử dụng vôi, các chất diệt khuẩn và diệt tạp 33

3.1.2.6 Nguốn giống, những thuận lợi, khó khăn và chất lượng giống 33

3.1.2.7 Thức ăn 36

3.1.2.8 Chăm sóc và quản lý ao nuôi 37

3.1.2.9 Chế phẩm sinh học, thuốc và hóa chất 38

3.1.2.10 Bệnh và biện pháp phòng trị bệnh 38

3.2 Hiệu quả kinh tế - xã hội nghề nuôi cua biển tại Cà Mau 39

3.2.1 Thông tin chung về chủ hộ nuôi 39

3.2.1.1 Số nhân khẩu và lực lượng lao động của hộ nuôi 39

3.2.1.2 Thông tin về độ tuổi của chủ hộ 40

3.2.1.3 Thông tin về giới tính của chủ hộ 40

3.2.1.4 Trình độ học vấn chủ hộ nuôi 40

3.2.2 Kết quả nuôi cua biển thương phẩm (Scylla spp) tại Cà Mau 41

3.2.3 Hiệu quả kinh tế - xã hội của nghề nuôi cua biển thương phẩm tại Cà Mau 41

3.2.3.1 Hiệu quả kinh tế 42

3.2.3.2 Hiệu quả về mặt xã hội 46

3.2.4 Những khó khăn, hướng phát triển và kiến nghị của hộ nuôi cua biển 48

3.3 Các giải pháp phát triển nghề nuôi cua biển theo hướng bền vững 50

3.3.2 Một số giải pháp phát triển nghề nuôi cua biển theo hướng bền vững 52

3.3.2.1 Về kỹ thuật 52

3.3.2.2 Về chất lượng con giống 54

3.3.2.3 Về quy hoạch 55

3.3.2.5 Về thức ăn 57

3.3.2.6 Về khoa học và công nghệ 58

3.3.2.7 Về chính sách 58

Chương 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 62 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

VQG UMH: Vườn Quốc gia U Minh hạ

QCCT : Quảng canh cải tiến

NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn

NGO : None goverment ogranization (tổ chức phi chính phủ)

GAP : Good Agriculture Practice: Thực hành tốt nông nghiệp

CoC : Code of Conduct for Responsible Aquaculture (Nuôi thủy sản có trách

nhiệm) THCS : Trung học cơ sở

WTO : World Trade Organization (Tổ chức thương mại thế giới)

SEAFDEC : Southeast Asian Fisheries Development Center (Trung tâm phát triển

nghề cá Đông Nam Á)

TPP : Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement (Hiệp định

đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương) UNESCO : United Nations Education Scientific and Cultural Organization (Tổ

chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hiệp quốc)

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Cà Mau 16

Bảng 3.1: Kích thước giống cua biển khi thả nuôi được hộ nuôi lựa chọn 34

Bảng 3.2: Phân bố độ tuổi lao động ở các mô hình nuôi cua (n = 254) 39

Bảng 3.3: Cơ cấu tuổi chủ hộ nuôi cua biển (n = 254) 40

Bảng 3.4: Trình độ văn hóa của chủ hộ nuôi cua biển (n = 254) 40

Bảng 3.5: Năng suất nuôi cua biển thương phẩm tại Cà Mau (n = 254) 41

Bảng 3.6: Tổng chi phí bình quân cho 01ha nuôi cua chuyên canh 42

Bảng 3.7: Tổng chi phí bình quân cho 01ha mô hình cua nuôi ghép (n = 246) 42

Bảng 3.8: Phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi chuyên canh cua (n= 8) 44

Bảng 3.9: Phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi ghép cua biển 44

Bảng 3.10: Những khó khăn củai nghề nuôi cua biển (n = 254) 48

Bảng 3.11: Hướng phát triển của nghề nuôi cua biển (n = 254) 48

Bảng 3.12: Xếp hạng nguyên nhân nghề nuôi cua chưa ổn định và bền vững 52

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 1.3: Cua cái mang trứng Scylla serrata [28] 9

Hình 1.4: Vòng đời cua biển Scylla [46] 10

Hình 1.5: Bảng đồ vị trí Cà Mau [22] 14

Hình 2.1: Địa điểm vùng nghiên cứu tỉnh Cà Mau 20

Hình 2.2: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 21

Hình 3.1: Biểu đồ thể hiện nơi cung cấp giống và nguồn giống cua biển 34

Hình 3.2: Biểu đồ đáng giá của người nuôi về chất lượng cua giống 35

Hình 3.3: Biểu đồ kiến nghị của hộ nuôi cua biển tại Cà Mau (n= 254) 49

Hình 3.4: Biểu đồ khó khăn ưu tiên chủ hộ kiến nghị với nghề nuôi cua biển tại Cà Mau (n= 254) 50

Hình 3.5: Cây vấn đề xác định nguyên nhân nghề nuôi cua chưa ổn định và 51

bền vững 51

Trang 12

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Cà Mau là tỉnh ven biển ở ĐBSCL, có diện tích nuôi trồng thủy sản (NTTS) lớn nhất cả nước khoảng 296.930 ha NTTS Nước lợ là một trong những ngành kinh tế chủ

lực của tỉnh Cua Biển (thuộc giống Scylla) là đối tượng thủy sản nước mặn - lợ có giá

trị kinh tế cao, được nuôi hầu hết trong ao nuôi tôm quảng canh và trong các ao tôm công nghiệp Cua Biển thịt thơm ngon có giá trị xuất khẩu cao được nhiều người trong

và ngoài nước ưa chuộng Với thị trường ổn định giá cao, ít rủi ro, ít bệnh, vì thế nuôi cua thương phẩm được nhiều hộ dân lựa chọn khi dịch bệnh trên tôm ngày càng diễn biến phức tạp và được chính quyền địa phương khuyến khích nhằm đa dạng hàng hóa, tăng giá trị sản phẩm trên cùng một đơn vị diện tích Nghề nuôi cua biển phát triển ở

Cà Mau với nhiều hình thức nuôi khác nhau góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế nông hộ và giảm thiểu rủi ro từ con tôm Tuy nhiên, chưa có thống kê, đánh giá nào về hiện trạng kỹ thuật, hiệu quả kinh tế của đối tượng này với những hình thức nuôi khác nhau để làm cơ sở dữ liệu khoa học cho địa phương can thiệp vào quy hoạch

và khuyến ngư, nhân rộng những mô hình sản xuất có hiệu quả đem lại giá trị thương

mại và hướng đến mô hình sản xuất bền vững Vì vậy, đề tài “Nghề nuôi cua biển

(Scylla spp) tại Cà Mau: Hiện trạng kỹ thuật, kinh tế - xã hội và các giải pháp phát triển bền vững” là cần thiết

Để làm cơ sở cho việc quản lý và phát triển nghề nuôi cua biển ở Cà Mau được hiệu quả và bền vững, nghiên cứu này được thực hiện nhằm (i) đánh giá hiện trạng kỹ thuật của các hình thức nuôi cua thương phẩm ở Cà Mau (ii) phân tích hiệu quả kinh tế

- xã hội của các mô hình này và (iii) đề xuất các giải pháp theo hướng bền vững

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 11/2014 đến tháng 6/2015 tại các huyện: Phú Tân, Đầm Dơi, Cái Nước, U Minh, Trần Văn Thời, Năm Căn, Ngọc Hiện và Thới Bình tỉnh Cà Mau Có 8 hộ nuôi chuyên canh cua, 119 hộ nuôi cua - tôm sú, 85 hộ nuôi cua

- tôm - rừng, 42 hội nuôi cua - tôm - lúa đã được phỏng vấn bằng cách sử dụng bảng

câu hỏi sẵn để tìm hiểu các thông tin sau:

Thông tin về chủ hộ nuôi

Hiện trạng kỹ thuật: Diện tích nuôi; độ sâu, giống thả, mật độ thả, quản lý ao, số lượng giống thả nuôi, số lượng lúc thu hoạch, loại thức ăn cho cua, thời gian nuôi, năng suất và sản lượng

Các thông tin về kinh tế: chi phí cố định, chi phí lưu động,, tổng thu nhập và từ đó tính lợi nhuận, hiệu quả chi phí và tỷ suất lợi nhuận

Lợi nhuận (P/L) = Tổng doanh thu (TR) - Tổng chi phí sản xuất (TC)

Tổng doanh thu (TR) = Tổng sản lượng (Q) x giá bán (P)

Tổng chi phí sản xuất (TC) = Chi phí cố định (FC) + chi phí lưu động (VC) Hiệu quả đầu tư = Tổng thu nhập/ Tổng chi phí

Trang 13

Tỷ suất lợi nhuận = (TR - TC)/TC x 100% (hoặc Tổng lợi nhuận/ Tổng chi phí)

Các số liệu sau khi được thu thập và tính toán, được xử lý trên phần mềm SPSS 18.0 và Excel Các số liệu được trình bày dưới dạng trung bình + độ lệch chuẩn

Nuôi chuyên canh cua: Ao nuôi chuyên canh cua có diện tích từ 2.000 - 10.000m2,

ao có độ sâu từ 1 - 1,5m, trung bình 1,,23 + 0,20 m, nền đáy ao bằng phẳng, thiết kế có

hệ thống gờ nổi và thả chà cho cua đào hang trú ẩn, tỷ lệ ao nuôi khép kính không có cống cấp thoát nước là 37,5%, có một cống là 37,5%, mỗi năm nuôi từ 1 - 2 vụ, mật độ thả nuôi 1,25 + 0,54 con/m2, 50% hộ nuôi cho cua ăn 2 lần/ngày, thức ăn chủ yếu là cá tạp, 2 mảnh vỏ, 50% các hộ nuôi cho ăn 1 lần/ngày vào buổi chiều tối, 12,5% hộ nuôi tiến hành thay nước hằng ngày khoảng 30% lượng nước trong ao, năng suất bình quân của mô hình này là 1,54 tấ/ha/vụ Lợi nhuận của mô hình nuôi là 152,25 triệu/vụ/ha; tỷ suất lợi nhuận lần lượt là 150%

Cua - tôm sú: Độ sâu trung bình ao nuôi 1,20 + 0,17m, diện tích nuôi từ 1 - 7ha,

hộ nuôi không có ao lắng và nơi chứa bùn chiếm 97,5%, hộ nuôi có ao vèo 30,3%, mật

độ nuôi trung bình 0,22 + 0,24 con/m2, năng suất 0,1 tấn/ha/năm Lợi nhuận 10,968 triệu/ha/năm và tỷ suất lợi nhuận 518,7%;

Cua - tôm - rừng: Độ sâu trung bình ao nuôi 1,02 + 0,20m, diện tích nuôi từ 1 - 10ha, hộ nuôi không có ao lắng, chứa bùn chiếm 98,8%, hộ nuôi không có ao ương chiếm 96,5%, mật độ nuôi trung bình 0,12 + 0,13 con/m2, năng suất 0,05 tấn/ha/năm Lợi nhuận 6,502 triệu/ha/năm và tỷ suất lợi nhuận 245%

Cua - tôm - lúa: Độ sâu trung bình ao nuôi 0,68 + 0,21m, diện tích nuôi từ 0,5 - 6ha, hộ nuôi có ao lắng, chứa bùn 47,6%, hộ nuôi không có ao ương chiếm 92,9%, mật

độ nuôi trung bình 0,09 + 0,07 con/m2, năng suất 0,04 tấn/ha/năm Lợi nhuận 6,835 triệu đồng/ha/năm và tỷ suất lợi nhuận là 731,5%

Trong các mô hình nuôi cua biển thương phẩm tại Cà Mau hình thức nuôi cua – tôm – lúa cho tỷ suất lợi nhuận (713,5%) và lợi nhuận biên cao nhất (87,7%)

01 ha nuôi chuyên canh cua cần 2 lao động/vụ, mô hình nuôi ghép một ha cần một lao động cho hoạt động sản xuất

Nghiên cứu những mô hình ứng dụng nuôi cua biển đạt hiệu quả kinh tế cao theo hướng sản xuất bền vững; nghiên cứu sản xuất thức ăn công nghiệp cho nuôi cua biển thương phẩm và quản lý chặt chẽ môi trường nuôi của các đối tượng nuôi trồng thủy sản khác trong vùng (thâm canh tôm sú và thẻ chân trắng)

Từ khóa: Kỹ thuật, hiệu quả kinh tế, cua biển, Cà Mau

Trang 14

MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây, nghề nuôi cua biển ở nước ta và ở nhiều nơi trên thế giới đã và đang phát triển Một số nước như Trung Quốc, Úc, Philippine, Thái Lan, Malaysia, Đài Loan, Ấn Độ, Banglades, Srilanka, Indonessia có nghề nuôi cua khá phát triển với nhiều hình thức như: nuôi lồng, nuôi ao, nuôi bể Ở nước ta, mô hình nuôi cua biển đã phát triển ở hầu hết các tỉnh ven biển từ Quảng Ninh đến Cà Mau và Kiên Giang với nhiều hình thức nuôi khác nhau Đồng Bằng Sông Cửu Long được xem là trung tâm sản xuất cua biển vì có diện tích rừng ngập mặn và hệ thống đầm nuôi quảng canh lớn nhất nước

Cà Mau là tỉnh có diện tích Nuôi trồng thủy sản lớn nhất cả nước khoảng 296.930

ha Diện tích nuôi tôm 267.642ha trong đó, nuôi tôm công nghiệp 7.910 ha, tôm quảng canh cải tiến 58.660 ha, tôm quảng canh kết hợp (Tôm - Lúa, Tôm - Rừng, Tôm - Cua biển - Cá ) 201.072 ha [6] Kinh tế mũi nhọn của tỉnh Cà Mau là thủy sản, là ngành chiến lược cho phát triển nông thôn hướng đến mục tiêu xóa đói giảm nghèo bền vững, trong những năm gần đây diện tích nuôi tôm công nghiệp ngày càng tăng, đặc biệt là diện tích nuôi Tôm thẻ chân trắng Từ năm 2010 đến nay dịch bệnh trên tôm nuôi diễn biến ngày càng phức tạp đáng chú ý là hội chứng chết sớm (ESM) làm tôm chết hàng loạt Việc phát triển ồ ạt nghề nuôi tôm, chuyển đổi sản xuất không theo quy hoạch, thiếu kiến thức kỹ thuật, thông tin thuốc thú y thủy sản, trong khi hệ thống cơ sở hạ tầng về thủy lợi, khuyến ngư, con giống và các điều kiện khác chưa đáp ứng được nhu cầu đã nảy sinh nhiều bất cập làm tôm chết hàng loạt ảnh hưởng không nhỏ đến nghề nuôi Cua tỉnh Cà Mau

Cua Biển (thuộc giống Scylla) là đối tượng thủy sản nước mặn - lợ có giá trị kinh

tế chỉ sau con tôm sú (Penaeus monodon) và thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei),

chúng được nuôi hầu hết trong vuông nuôi tôm quảng canh và trong các ao tôm công nghiệp, nuôi thương phẩm cua biển ngày càng được người dân quan tâm nhiều hơn khi dịch bệnh trên tôm ngàycàng phổ biến và lan rộng Cua Biển thịt thơm ngon có giá trị xuất khẩu cao được nhiều người trong và ngoài nước ưa chuộng Với thị trường ổn định giá cao, ít rủi ro, ít bệnh, vì thế nuôi cua thương phẩm được nhiều hộ dân lựa chọn và được chính quyền địa phương khuyến khích nhằm đa dạng hàng hóa, tăng giá trị sản phẩm trên cùng một đơn vị diện tích

Nghề nuôi cua biển phát triển ở Cà Mau với nhiều hình thức nuôi khác nhau (cua

Trang 15

-tôm ; tôm - rừng - cua, cua - tôm - lúa, nuôi chuyên canh Cua), hiện nay sản lượng khoảng vài ngàn tấn/năm cung ứng lượng lớn cho thị trường trong nước và xuất khẩu sang một số nước như Trung Quốc, Singapore, Thái Lan, Hoa Kỳ góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế nông hộ và giảm thiểu rủi ro từ con tôm Tuy nhiên, chưa

có thống kê, đánh giá nào về hiện trạng kỹ thuật, hiệu quả kinh tế của đối tượng này với những hình thức nuôi khác nhau để làm cơ sở dữ liệu khoa học cho địa phương can thiệp vào quy hoạch và khuyến ngư, nhân rộng những mô hình sản xuất có hiệu quả

đem lại giá trị thương mại và hướng đến mô hình sản xuất bền vững Vì vậy, đề tài

“Nghề nuôi cua biển (Scylla spp) tại Cà Mau: Hiện trạng kỹ thuật, kinh tế - xã hội

và các giải pháp phát triển bền vững” là cần thiết

Mục tiêu của đề tài

Đánh giá hiện trạng kỹ thuật, kinh tế - xã hội của nghề nuôi cua thương phẩm tại

Cà Mau nhằm đề xuất các giải pháp phát triển theo hướng bền vững góp phần phát triển kinh tế xã hội tại địa phương

Nội dung của đề tài

1 Điều tra hiện trạng kỹ thuật nuôi cua biển thương phẩm của tỉnh Cà Mau

2 Đánh giá hiệu quả kinh tế của nghề nuôi cua biển thương phẩm tỉnh Cà Mau

3 Đề xuất các giải pháp kỹ thuật, các giải pháp quản lý để nghề nuôi cua biển

Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu làm cơ sở khoa học phục vụ cho công tác quản lý, định hướng cho nghề nuôi thương phẩm phát triển một cách bền vững, tăng giá trị xuất khẩu để cộng đồng dân cư ven biển cải thiện và cuộc sống ổn định

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Đặc điểm sinh học của cua Biển (Scylla spp)

1.1.1 Sơ lược về phân loại và đặc điểm hình thái

1.1.1.1 Sơ lược về phân loại cua biển

Việc phân loại giống cua biển Scylla được thảo luận trong nhiều năm qua Đầu tiên, chúng đã được nhận định chỉ có một loài duy nhất có tên Scylla serrata và sự

khác nhau trong điều kiện môi trường dẫn đến sự khác nhau về hình thái học của chúng Nghiên cứu sau đó, đã phân tích tính đa dạng về di truyền và sự phân bố ở các khu vực địa lý khác nhau và đã phân biệt được 03 loài cua biển[30, 29] Gần đây, việc phân loại cua biển dựa vào phân tích điện di, ADN và hình thái học, đã xác định 04

loài cua thuộc giống Scylla thuộc họ Portunidae Những loài này là: S serrata, S

olivacea, S tranquebarica và S paramamosain [36]

1.1.1.2 Hệ thống phân loại

Tên Tiếng Anh: Mud crab, Green crab, Magrove crab

Tên Tiếng Việt: Cua Xanh, cua Bùn, cua Biển

Trang 17

Hình 1.1: Phân loại cua biển [1]

1.1.1.3 Đặc điểm hình thái

Cua có thân hình dẹp theo hướng bụng toàn bộ cơ thể được bao bọc trong lớp vỏ kitin dày và có màu xanh lục hay vàng sẫm Cơ thể cua được chia làm 2 phần: phần đầu ngực và phần bụng

- Phần đầu ngực: là sự kết hợp của 5 đốt đầu và 8 đốt ngực nằm phía dưới mai

Do ranh giới giữa các đốt không rõ ràng nên việc phân biệt các đốt có thể dựa vào số phụ bộ trên các đốt: đầu gồm có anten, và phần phụ miệng Mai cua to và phía trước

có nhiều răng Trước mai có 2 hốc mắt trước mắt có cuống và 2 cặp râu nhỏ (a1) và râu lớn (a2) Trên mai chia thành nhiều vùng bằng những rãnh trung gian, mỗi vùng là

vị trí của mỗi cơ quan Mặt bụng của phần đầu ngực có các tấm bụng và làm thành vùng lõm ở giữa để chứa phần bụng gặp vào Cua đực có 2 lỗ sinh dục nằm ở gốc đối chân bò thứ 5 và dính vào đó một dương vật ngắn Cua có 2 lỗ sinh dục nằm ở gốc đối chân bò thứ 3

- Phần bụng: Phần bụng của cua gấp lại phía dưới phần đầu ngực và tạo cho cua

có thân hình rất gọn Phần bụng phân đốt và tùy từng giới tính, hình dạng và sự phân đốt cũng không giống nhau

Con cái trước thời kỳ thành thục sinh dục phần bụng có hình hơi vuông khi thành thục yếm trở nên phình rộng với 6 đốt bình thường Con đực có yếm hẹp hình chữ V,

Trang 18

chỉ có các đốt 1,1 và 6 thấy rõ còn các đốt 3,4,5 liên kết với nhau

Đuôi có một đốt nhỏ nắm ở tận cùng của phần bụng với một lỗ là đầu sau của ống tiêu hóa Bụng cua đính vào phần đầu ngực bằng 2 khuy lõm ở mặt trong của đốt 1, móc vào nút lồi bằng kitin nằm trên ức cua

Hình 1.2: Hình thái phân loại cua biển Scylla sp [1]

1.1.2 Sự phân bố

Sự phân bố của 04 loài cua biển từ bờ biển Đông Phi đến Đông Thái Bình Dương

và vùng biển phía nam Trung Quốc [35] Cua biển S serrata phân bố rộng nhất, được

tìm thấy trong Nam Phi: Phía nam Mozamqie, Đông Tahiti, Polynesia Pháp, Nhật Bản

và Úc [28] Ngoài ra, chúng được tìm thấy nhiều ở cửa sông, các vịnh dọc theo bờ biển Đông của Nam Châu Phi và cửa sông Heuningnes gần Mũi Agulhas và hướng nam của

Nam Phi [26] Ngoài ra, loài S paramamosain phổ biến ở trong Java và vùng biển phía Nam Trung Quốc và phía Nam Việt Nam [28, 37] Trong khi S serrata và S

paramamosain chiếm ưu thế, có thể tìm thấy ở các khu vực khác nhau, thì S olivacea

và S tranquebarica thường xuất hiện trong vùng biển phía Nam Trung Quốc, Tây Thái

Bình Dương,và Ấn Độ Dương

1.1.3 Đặc điểm về sinh thái

Môi trường sống thích hợp của cua biển là vùng rừng ngập mặn hay đầm lầy, đặc trưng này liên quan đến vùng nhiệt đới đến những vùng cửa sông cận nhiệt và những vũng, vịnh Những cây rừng ngập mặn rất quan trọng đối với cua biển như là nơi cung cấp môi trường sống và thức ăn cho cua

Cua biển, cũng như hầu hết các sinh vật vùng triều khác, đáp ứng những nhân tố

Trang 19

quan trọng của chúng như nhiệt độ và độ mặn, ngược lại sự thay đổi chức năng trao đổi chất của chúng như sự hô hấp và sự bài tiết nhằm giữ gìn nội cân bằng Chu kỳ lột xác của chúng là sự điều khiển quan trọng khác của quá trình trao đổi chất bên trong

cơ thể

Cua biển có khả năng sống trong môi trường nước ngọt đến vài giờ và độ mặn cao trong thời gian dài, chúng có khả năng hô hấp không khí chính trong môi trường sống của chúng một cách hiệu quả thậm chí lúc triều thấp và rời khỏi nước có mức oxy thấp

Cua biển có thể tìm thấy môi trường sống nhỏ khác quanh rừng ngập mặn Tuy nhiên, chúng vùi mình vào trong trong bùn, nhiệt độ khoảng 300C để nằm ngang thường là những con cua trưởng thành và cua mới lớn

1.1.4 Đặc điểm về dinh dưỡng

Cua biển có thể ăn nhiều loại thức ăn khác nhau Trong tự nhiên, thức ăn của chúng bao gồm động vật thân mềm (moluscs), giáp xác (crustacens), cá, thực vật và mùn bã hữu cơ [31] Tuy nhiên, cua biển dường như thích những con mồi là những con cua nhỏ Điều đó đã đưa ra giả thuyết rằng những con cua con chứa năng lượng cao hơn so với những sinh vật săn mồi khác [32]

Đánh giá thức ăn tự nhiên và thành phần thức ăn đã được thực hiện bởi sự phân

tích trong dạ dày của S serrata chứa 139 mẫu vật trong các giai đoạn và mùa vụ khác nhau Kết quả đã chỉ ra rằng, thức ăn tự nhiên của S serrata ở tất cả các giai đoạn phát

triển chủ yếu bao gồm các vật chất hữu cơ không xác định như thịt của các loài sinh vật khác nhau và các thành phần phổ biến là rong mơ, cá chình trắng, cá, thân mềm, và

giáp xác Các thành phần thức ăn đã cho thấy S serrata là loài ăn tạp và hành vi ăn

của nó được cho là động vật ăn tạp [24] Tập tính ăn thì ảnh hưởng bởi kích cỡ và độ tuổi Cua giống với chiều dài mai nhỏ hơn 70mm thức ăn chính dường như là mùn bã hữu cơ, trong khi những con mới trường thành và những con đã trưởng thành thức ăn

ưa thích là giáp xác và cá

1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng

Cua giai đoạn Magalope không lựa chọn môi trường sống dọc cửa sông (cỏ biển, bùn hoặc cát), đến giai đoạn cua con chúng lựa chọn vùng cỏ biển, điều đó chỉ ra rằng sống dưới nền đáy cỏ biển nhằm tăng cường tỷ lệ sống Cua con cũng đã từng được ghi nhận sống ở môi trường gần bờ bao gồm cây cỏ, khu vực thực vật thủy sinh, dưới

Trang 20

đá, bùn và cát trầm tích [38]

Cua biển lột xác trong cả vòng đời, để hoàn thiện về cơ thể và sinh lý trước khi

hoàn chỉnh về mặt chức năng S serrata, giai đoạn đầu của sự trưởng thành ở con cái

xảy ra từ CW 90 - 110 mm, trong khi từ CW 140 - 160 mm con đực phát triển với đặc điểm “càng lớn”và cơ quan giao phối nằm ở gốc đối chân bò phía trước bắt đầu xuất hiện Sự thay đổi đột ngột trong chiều cao của càng đến tỷ lệ CW có liên kết đến chức

năng trưởng thành của con đực S.paramamosain Sự thiếu cơ quan giao phối không

xác định rằng một con đực không trưởng thành, điều đó có thể là do mất giữa các lần lột xác

Từ ấu trùng đến khi trưởng thành cua trải qua nhiều lần lột xác để sinh trưởng và phát triển Cua đực tăng trưởng nhanh hơn cua cái Tăng tưởng trung bình của cua đực khoảng 1,3g/ ngày trong khi cua cái chỉ tăng trưởng 0,9g/ngày Qúa trình tăng trưởng

của cua biển thường ảnh hưởng bởi nhiệt độ Loài cua biển Scylla serrata phân bố rất

rộng và ở những vùng vĩ tuyến cao, cua chịu đựng nhiệt độ nước thấp tốt Ở vùng biển phía Nam nước ta cua biển thích nghi với nhiệt độ nước từ 25-290C Nhiệt độ cao thường ảnh hưởng xấu đến các hoạt động sinh lý của cua và cũng là nguyên nhân gây chết [35]

Tuổi thọ trung bình của cua từ 2 - 4 năm Qua mỗi lần lột xác, khối lượng cua sẽ tăng lên 20 - 50%, và kích thước tối đa mà cua có thể đạt được là 19 - 28cm với khối lượng 1 - 3kg/con

Quá trình lột xác của cua mang tính đặc trưng riêng biệt từng loài, thông thường 2

- 3 ngày/lần Cua càng lớn thì chu kỳ lột xác càng kéo dài Đặc biệt, trong quá trình lột xác, cơ thể của chúng có thể tái sinh những phần phụ đã mất Đối với những con cua bị tổn thương, khi mất phần phụ bộ thì cua có khuynh hướng lột xác sớm hơn

Quá trình tăng trưởng của cua biển còn chịu ảnh hưởng bởi nhiệt độ Tăng trưởng

trung bình của cua Scylla spp ở điều kiện tự nhiên nhanh hơn so với nuôi trong phòng

thí nghiệm mặc dù chất lượng nước trong phòng thí nghiệm tốt hơn

1.1.6 Đặc điểm sinh sản

1.1.6.1 Di cư và sinh sản

Hoạt động sinh sản của cua Scylla xảy ra quanh năm ở vị độ thấp và theo mùa ở vĩ

độ cao Ở vùng biển phía Nam nước ta cua thường bắt đầu di cư vào tháng 7, 8 Ở vùng biển phía Bắc thì gặp cua ôm trứng vào tháng 4, 5, 6, 7

Trang 21

Trước mùa sinh sản cua di cư ra vùng ven bở, lột xác tiền giao vĩ và tuyến sinh dục phát triển cho đến lúc trứng chín, để ấp trứng phôi, ấu trùng nở ra khỏi vỏ trứng, rời cua mẹ [35]

Nguyên nhân cua buộc phải di cư từ vùng cửa sông ra biển là do yêu cầu về điều kiện môi trường ở giai đoạn đầu của ấu trùng zoea khi đến mùa sinh sản đoạn đường di

cư sinh sản của cua cái có thể từ 4 - 6km, có khi đến 65km [35]

1.1.6.2 Thành thục

Cua biển thành thục sau 1 - 1,5 tuổi Cua cái tham gia sinh sản khi có CW khoảng

120mm Cua cái Scylla serrata thành thục ở kích thước nhỏ (CW = 100 mm) trong khi

Scylla paramamosain thành thục ở kích thước lớn hơn (CW = 120 mm) [35]

1.1.6.3 Tập tính giao phối

Sự giao phối ở cua Scylla chỉ có thể xảy ra giữa con đực có vỏ cứng và con cái có

vỏ mềm trong thời gian cua cái lột xác tiền giao vĩ Trước khi lột xác để giao vĩ một vài ngày cơ thể cua cái tiết ra loại hoormon (pheromon) để quyến rủ con đực, lúc này con đực sẽ bơi về phía cua cái và bắt cặp từng đôi, con đực dùng ba đôi chân bò ôm lấy mặt lưng của con cái và cùng di chuyển với nhau vài ngày, khi con cái sắp lột xác

để chuẩn bị giao vĩ thì con đực sẽ rời con cái và tiếp tục bơi theo con cái để bảo vệ vì

cơ thể con cái còn rất mềm, lúc này con đực dùng chân bò lật ngữa con cái, phần bụng (yếm) của chúng mở về phía sau và áp vào nhau, cơ quan giao cấu của con đực có hình mũi kiếm ở gốc chân bụng thứ nhất sẽ gắn vào hai lỗ sinh dục của con cái nằm ở gốc chân bò thứ ba [28]

Sau khi giao phối, con đực mang con cái dưới bụng trong thời gian một vài ngày cho đến khi con cái cứng vỏ và có khả năng tự bảo vệ thì lập tức chúng tách nhau ra và con đực kiếm nơi lẫn trốn nếu không sẽ bị chính con cái đó ăn thịt Việc bảo vệ con cái lúc mềm vỏ là đặc tính di truyền của loài nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển của loài Sau khi giao vĩ tinh trùng được lưu giữ ở hai gốc chứa tinh nằm ở bên trong, phía sau tim của con cái, trong khoảng thời gian khá dài từ 1 - 2 tháng để thụ tinh khi con cái đẻ trứng

1.1.6.4 Sự đẻ trứng và thụ tinh

Cua cái thành thục sinh sản từ 1 đến 6 triệu trứng con cái lớn hơn thì sức sinh sản nhiều hơn Cua cái sau khi giao phối, tế bào trứng tiếp tục sinh trưởng, rụng chín, đẻ trứng và thụ tinh Khi đẻ trứng cua cái nằm ở đáy, dùng các chân bám vào nền đáy

Trang 22

phần đầu ngực được nâng lên, phần bụng (yếm) mở ra, các chân bụng dựng đứng lên, trứng chín qua ống dẫn trứng thụ tinh với tinh trùng Trứng đẻ ra được chứa trong phần bụng con cái có hai lớp màng, màng ngoài hút nước trương lên Giữa hai lớp màng có chứa niêm dịch nhờ cử động của phần bụng, trứng bám trên lông tơ của chân bụng và

do tác dụng của ngoại lực màng ngoài của trứng, kéo dài ra thành “cuốn trứng”, làm cho trứng tuy dính vào lông của chân bụng nhưng vẫn “tự do”và trứng không dính lại với nhau Những cua cái ôm trứng gọi là cua trứng, trứng được cua cái ôm tiếp tục phát triển cho đến lúc thành ấu trùng mới rời khỏi bụng cua, nên được gọi là cua con

Hình 1.3: Cua cái mang trứng Scylla serrata [28]

1.1.6.5 Vòng đời

Trứng cua nở thành ấu trùng Zoea 1 mất 16 - 17 ngày ở nhiệt độ 23 - 250C Ấu trùng cua sau khi nở là Zoea 1 trải qua 4 lần lột xác để biến thái thành Zoea 5 trong thời gian 17 - 20 ngày, mỗi giai đoạn mất 2 - 3 ngày Từ Zoea 5 biến thái thành Megalope kéo dài trong khoảng thời gian 8 -11 ngày Ấu trùng zoea có tính hướng quang và bơi ngược dòng

Giai đoạn Megalope chỉ lột xác một lần và mất 7 - 8 ngày để biến thành Cua 1 (cua con) Cua con trải qua 16 - 18 lần lột xác trước khi thành thục và ít nhất khoảng

328 - 523 ngày Trước mùa sinh sản, cua di cư ra vùng biển ven bờ lột xác tiền giao vĩ rồi di cư ra biển, trong quá trình di cư, trứng sẽ phát triển và chín dần, cua ấp trứng trong khoang bụng, cho đến khi nở thành ấu trùng Zoea 1 rồi tiếp tục lặp lại vòng đời

Trang 23

Hình 1.4: Vòng đời cua biển Scylla [46]

1.1.7 Một số bệnh thường gặp ở cua biển và cách phòng bệnh

Ở Việt Nam cũng như trên thế giới hầu như ít có nghiên cứu về bệnh cua

1.1.7.1 Ở thời ký ấu trùng, trong giai đoạn zoea

Ấu trùng thường bị trùng loa kèn: Zoothamium, Epistylis bám vào thân, trên đầu Khi số lượng Zoothanmium tăng lên làm cho ấu trùng không co duỗi được, bơi chậm chạp, không bắt được thức ăn, yếu dần và chết

Cách chữa bệnh: dùng Sulfat đồng 0,5 - 0,6 ppm, Formalin 10 - 15 pmm, thời gian 12 - 24 giờ

Bệnh phát sáng do vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus, trong giai đoạn ấu trùng

Zoea ương trong bể, nguồn nước nhiểm khuẩn dẫn đến gây bệnh cho ấu trùng Khi ấu trùng mắc bệnh, trong bóng tối phát ra ánh sáng màu xanh nhạt Ấu trùng yếu, bỏ ăn, lắng xuống đáy, chết, có thể chết hàng loạt

Cua mẹ phải được xử lý trước khi đưa vào bể nuôi: cho vào dung dịch formalin 15

- 25 ppm trong thời gian 40 - 60 phút, thức ăn cho cua mẹ cũng như thức ăn cho ấu trùng, đều phải được xử lý trước khi cho ăn

Ở giai đoạn Zoea, phòng bệnh bằng Oxytetracylin, bactrim Thuốc cho vào bể ương, sau 10 - 12 giờ thay nước, xử liên tục 2 - 3 ngày [6]

Trang 24

1.1.7.2 Thời kỳ cua con và cua trưởng thành

- Bệnh rung chân (rũ còng): Các cơ bị rung hoặc liệt, di chuyển chậm chạp,

không phản ứng với các tác động bên ngoài, cua dừng ăn và trở nên bất động, cơ thể đổi màu hơi đen, xám hoặc hơi trắng; cơ thịt có màu đỏ; gan tụy thối rữa Tác nhân gây bệnh: do virus

- Bệnh đen mang: Do các ký sinh trùng sán lá đơn chủ xuất hiện nhiều sau khi

nước có độ mặn thấp hoặc sau khi có mưa lớn, Sán lá đơn chủ trắng nhỏ như sợi tơ đục thủng mang gây hoại tử mang cua Hay khi nồng độ các khí độc Amoniac và Sulfua hydro cao trong môi trường đầm nuôi Mang cua có những đốm đen, các tơ và

áo mang chuyển màu đen một thời gian mang có mùi rất tanh, thối từng phần cho tới toàn bộ mang cua Thân cua bị bệnh phần vỏ ngoài có các đốm đen, sau đó gây mù mắt Xuất hiện cả giai đoạn cua con và cua trưởng thành Sau khi mắc bệnh cua bỏ ăn, gây yếu Hô hấp kém nằm im không hoạt động

- Bệnh hoại tử do vi khuẩn Vibrio: Phần phụ bụng và cơ bị hoại tử, cơ thể biến

đổi màu sắc, hình thành các khối u màu trắng bên trong mô cơ thể (đặc biệt là mang);

cơ thể yếu và hoạt động chậm chạp, biếng hoặc không ăn Tác nhân gây bệnh: Vibrio

anguillarum, V alginolyticus, V parhaemolyticus

- Bệnh teo các chân: Do đáy ao nhiểm bẩn, thức ăn thừa nhiều, vệ sinh ao hồ kém,

nhiểm Vibiro spp hoặc do sự biến động thất thường của nhiệt độ Bệnh biểu hiện, cua

dùng càng vận động như muốn bò đi nhưng không nhích lên được, người ta gọi đây là bệnh cua vặn mình Thân gầy yếu, các chân bò, chân bơi teo tóp, cua lười vận động, phản xạ bắt mồi chậm

Vì vậy, trong vùng nuôi cua nên giữ nguồn nước nuôi trong sạch, xử lý cua giống trước khi nuôi, xử lý thức ăn và thực hiện tốt các biện pháp phòng ngừa khác

1.2 Tình hình nuôi cua biển trên Thế giới và Việt Nam

1.2.1 Tình hình nuôi cua biển trên thế giới

Nghiên cứu nuôi cua biển thương phẩm đầu tiên được thực hiện vào năm 1981 Hai năm sau đó, mô hình thử nghiệm nuôi kết hợp với cá măng biển đã được thực hiện

ở Phillipine Năm 1995 lần đầu tiên SEAFDEC/AQD nghiên cứu nuôi cua biển trong đăng rừng ngập mặn ở đảo Panay (Philipine) Sau đó nghiên cứu thử nghiệm nuôi đơn cua biển trên bãi triều

Hiện nay, trên thế giới có nhiều hình thức nuôi cua Nuôi cua theo chu kỳ hở: sản

Trang 25

xuất ra cua giống bằng con đường nhân tạo rồi thả chúng ra biển tới khi đạt kích thước thương phẩm thì khai thác có quản lý Đây là hình thức nuôi tiến bộ có hiệu quả kinh

tế cao Nhật Bản, Mỹ, Chilê đã nuôi theo hình thức này Hình thức nuôi cua theo chu

kỳ kín đang được nghiên cứu thực nghiệm Một số nước Châu Á: Đài Loan, Thái Lan,

Ấn Độ, Philippine, Việt Nam nuôi theo hình thức nuôi đơn (trong ao, lồng), nuôi ghép

với cá măng biển (Chanos chanos) với rong câu (Gracilaria) [35]

Cua được nuôi nhiều ở các nước Đông Nam Á Sản lượng cua nuôi thương phẩm

đã chiếm một tỉ lệ đáng kể trong sản lượng cua khai thác tùy điều kiện của từng vùng,

có những hình thức nuôi khác nhau: Ở Đài Loan, Cua được thả với mật độ 0,5 - 3 con/m2 trong diện tích 0,2-0,5 ha cho ăn cá tạp và ốc (khoảng 10-15 gam/m2/ngày), với thời gian 3 - 4 tháng nuôi, cua đạt từ 8-9 cm và tỉ lệ sống đạt 30-70%, năng suất 1.800 kg/ha/vụ [29] Ở Trung Quốc cua được nuôi với mật độ 0,4 - 0,8 con/m2, kích cỡ cua giống thả từ 5 - 25 gam, cua thu hoạch là 125 gam trong 6 - 9 tháng Cho ăn bổ sung 5% trọng lượng thân từ 3 - 4 lần/ngày và thu hoạch từ tháng 10 - 11 Năng suất đạt 300 - 500 kg/ha Nuôi cua theo hình thức quảng canh, mật độ 3 - 4,5 con/m2, kích

cỡ cua giống 3 - 5gam hoặc mật độ 1,5 - 2 con/m2 với kích cỡ cua giống 3 - 5 gam năng suất đạt 450 - 1.500 kg/ha [29]

Với sản lượng hàng năm đã được báo cáo khoảng 106.000 tấn năm 2003, Trung Quốc là nước nuôi nhiều nhất, tổng sản lượng thực tế có thể cao hơn bởi vì nuôi cua biển là mô hình nhỏ truyền thống, kinh doanh theo gia đình, ngoài ra một hộ nuôi nhỏ

lẻ không được thống kê Bởi vì cua biển thích nhiệt độ ấm, vì thế nó được sản xuất hầu hết ở Trung Quốc và các nước Châu Á khác như Philippine, Ấn Độ và Indonesia cũng sản xuất một số lượng nhỏ, và nghể nuôi cua biển của họ thì tăng nhanh chóng, ví dụ, sản lượng cua biển thương phẩm gấp 3 lần từ 10.000 tấn năm 2004 đến khoảng 30.000 tấn năm 2009 [35]

1.2.2 Tình hình nuôi cua biển thương phẩm ở Việt Nam

Nước ta có nguồn lợi cua biển phong phú, phân bổ khắp các vùng biển, cửa sông, vùng vịnh với sản lượng khai thác tự nhiên khoảng 400 tấn/năm [16] Những năm gần đây, do nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu tăng, nên cùng với nghề khai thác tự nhiên, nghề nuôi cua biển đã phát triển ở khắp các tỉnh ven biển Việt Nam, đặc biệt là vùng cửa sông Châu thổ phía Bắc (Thái Bình, Hải Phòng, Nam Định) và các tỉnh Duyên Hải Nam Bộ, với năng suất nuôi cua đã đạt trên 1000 kg/ha/vụ [16] Nghề nuôi

Trang 26

cua biển ở nước ta đã và đang phát triển ở nhiều địa phương, đem lại lợi ích không nhỏ cho người dân với nhiều hình thức khác nhau như nuôi cua con thành cua thịt trong các ao đầm quảng canh, trong mô hình tôm rừng hay trong đăng quầng ở các bãi triều; nuôi cua gạch trong ao và lồng; nuôi cua lột và nuôi cua ốp thành cua chắc trong ao [29]; nuôi cua trong bể xi măng, trong thùng nhựa cũng đem lại hiệu quả kinh tế cao Ngoài ra, một số dân tỉnh Quảng Ngãi nuôi cua biển thâm canh trong ao lót bạt có giá thể để tăng năng suất, nuôi cua trong ruộng lúa với hình thức xen canh vào mùa lợ và kết hợp với tôm sú vào mùa mặn đã được thực hiện hầu hết ở một số tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long có diện tích nuôi tôm nước lợ đem lại lợi nhuận kép và tăng thu nhập trên cùng một đơn vị diện tích Diện tích nuôi cua năm 2000 là 8.256 ha, đến năm

2005 là 112.324 ha với sản lượng 22.324 tấn năng suất cua nuôi trung bình là 0.2 tấn/ha [16]

1 3 Đặc điểm của vùng nghiên cứu

1.3.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên

1.3.1.1 Vị trí địa lý

Cà mau là tỉnh cực Nam của Nước Việt Nam, phần đất liền có tọa độ từ 8030’ đến

9010’ vĩ độ Bắc, 10408’ đến 10505’ kinh độ Đông Địa hình tỉnh Cà Mau có 3 mặt giáp với biển, với các hướng tiếp giáp như sau:

Phía Đông: Giáp tỉnh Bạc Liêu và biển Đông; Phía Tây: Giáp vịnh Thái Lan (biển Tây); Phía Nam: Giáp biển Đông; Phía Bắc: Giáp tỉnh Kiên Giang

Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 533.163,53 ha, được chia thành 09 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm: Tp Cà Mau, huyện Thới Bình, Phú Tân, Năm Căn, Ngọc Hiển, U Minh, Trần Văn Thời, Đầm Dơi và Cái Nước với tổng số 101 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 82 xã, 9 thị trấn và 10 phường [21]

Trang 27

Hình 1.5: Bảng đồ vị trí Cà Mau [22]

1.3.1.2 Khí hậu, thủy văn

Khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, được chia làm 02 mùa rõ rệt nhưng trong vài năm trở lại đây đặc trưng này diễn ra không theo quy luật

Khí hậu tỉnh Cà Mau mang đặc trưng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có nền nhiệt cao trung bình 27,80C Khí hậu trong tỉnh những năm gần đây không còn phân mùa rõ rệt theo quy luật: mùa mưa tập trung từ tháng 5-11 và mùa khô từ tháng 12-4 năm sau,

mà hiện nay lượng mưa thường phân bố rãi rác ở tất cả các tháng trong năm, vào các tháng mùa mưa thường xuất hiện những đợt nắng hạn kéo dài hoặc xuất hiện nhiều cơn mưa lớn vào các tháng mùa khô Lượng mưa lớn nhất so với các tỉnh trong khu vực ĐBSCL, trung bình 1.952,4,9mm/năm Độ ẩm trung bình là 81,3%

Chế độ gió thịnh hành theo mùa, mùa khô thịnh hành theo hướng Đông Bắc và gió Đông, vận tốc gió trung bình khoảng 1,6 - 2,8m/s, mùa mưa thịnh hành theo hướng gió Tây Nam hoặc gió Tây, vận tốc trung bình 1,8 - 4,5m/s Đồng thời cùng với những thay đổi về khí hậu, thời tiết trong tỉnh cũng diễn biến ngày càng phức tạp, trong mùa

Trang 28

mưa thường xảy ra các cơn giông, lốc xoáy cấp 7 đến cấp 8 ở vùng biển và ven biển Trong mùa mưa cũng thường có những đợt nắng hạn kéo dài làm tăng sự nhiễm mặn cho những vùng sản xuất luân canh một vụ lúa trên đất nuôi tôm và tạo điều kiện cho nước mặn xâm nhập ngày càng sâu vào các vùng ngọt hóa, ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất, suy giảm thành phần hệ sinh thái trong khu vực và làm tăng diện tích đất bị nhiễm mặn [22]

Chế độ thủy văn chi phối tỉnh Cà Mau bởi chế độ bán nhật triều không đều ở biển Đông và chế độ nhật triều biển Tây

+ Chế độ bán nhật triều không đều ở biển Đông có biên độ triều tương đối lớn, tại cửa Gành Hào cao nhất là 75cm vào tháng 11, tháng 12 và thấp nhất vào tháng 2, 5 lần lượt với 52cm và 50cm;

+ Chế độ nhật triều ở Biển Tây, thủy triều vịnh Thái Lan thấp hơn, tại cửa Ông Đốc cao nhất là 95cm vào tháng 7 và thấp nhất là 54cm vào tháng 5

Chế độ thủy triều phức tạp cùng với hệ thống sông rạch chằng chịt và có nhiều cửa sông ăn thông ra biển, nên đã hình thành các hệ sinh thái tự nhiên rất đa dạng: rừng ngập mặn, cửa sông, rừng tràm, hệ sinh thái nông nghiệp và thủy sản [22]

1.3.1.3 Địa hình và thổ nhưỡng

Địa hình bằng phẳng và cao trình thấp: địa hình, đất đai tương đối bằng phẳng và thấp, cao trình phổ biến từ 0,5 - 1m so với mực nước biển, các khu vực trầm tích sông hoặc sông - biển hỗn hợp có địa hình cao hơn; các khu vực trầm tích biển - đầm lầy hoặc đầm lầy có địa hình thấp hơn, chiếm đến 89% Nhìn chung, địa hình phù hợp cho các hệ sinh thái ngập nước như rừng ngập mặn, rừng tràm

Đầm Thị Tường (hay đầm Bà Tường) là một trong những đầm nước tự nhiên có

Trang 29

"biển Hồ giữa đồng bằng", đầm Thị Tường tạo nên từ phù sa bồi lắng của sông Mỹ Bình, sông Ông Đốc và nhiều kênh rạch của ba huyện Phú Tân, Trần Văn Thời và Cái Nước Đầm trải rộng gần 2km và dài tới hơn 10km, diện tích mặt nước khoảng 700ha [44]

Đất phèn chủ yếu ở Thới Bình, U Minh, Trần Văn Thời, Ngọc Hiển, Năm Căn, Cái Nước, đất phèn có diện tích 279.928 ha, chiếm 52,53%;

Đất than bùn (8.903 ha, chiếm 1,67%), phân bố tập trung ở khu vực rừng tràm U Minh Hạ (Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt VQG UMH);

Đất bãi bồi (12.193 ha), phân bố vùng bãi bồi phía Tây Nam huyện Ngọc Hiển, Năm Căn và Phú Tân [22]

Bảng 1.1: Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Cà Mau

(Cục thống kế tỉnh Cà Mau 2013)

Hiện trạng sử dụng đất 2011 2012 2013 Tổng diện tích (ha) 529.487 529.487 529.487

Trang 30

2 Đất chuyên dụng 27.880 28.179 28.375

III Đất chưa sử dụng 8.545 8.545 8.543

1.3.1.6 Tài nguyên nước mặt

Nguồn nước mặt của tỉnh Cà Mau chủ yếu là nước mưa, nước biển chảy vào, nước trong hệ thống sông rạch tự nhiên, kênh thủy lợi, trong rừng ngập mặn, rừng tràm và các ao nuôi thủy sản Nguồn nước mặt chủ yếu phục vụ cho giao thông thủy, nuôi trồng thủy sản và sản xuất nông nghiệp Nguồn nước mặt chủ yếu là mặn, lợ; một phần nhỏ nước ngọt và nhiễm phèn chủ yếu được phân bố ở khu vực rừng tràm U Minh Hạ (UMH), vùng sản xuất nông nghiệp phía Bắc huyện Trần Văn Thời và huyện Thới Bình, vùng mía nguyên liệu của huyện Thới Bình Đây là nguồn nước mưa được giữ tại chỗ, là nguồn nước chủ yếu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và một phần cho sinh hoạt [21]

1.3.1.7 Tài nguyên nước ngầm

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 140 nghìn giếng nước ngầm với trữ lượng khai thác khoảng 350 - 373,3 nghìn m3/ngày đêm Số hộ dân sử dụng nước từ các trạm cấp nước tập trung và các nhà máy nước tại các xã, thị trấn bình quân mỗi hộ là 2 m3/ ngày; riêng khu vực nông thôn tỷ lệ hộ dân sử dụng nguồn nước này là 65% và bình quân có 1,7 hộ dân/một giếng nước Nguồn nước được đánh giá là dồi dào, đảm bảo chất lượng phục vụ nhu cầu sinh họat của người dân

Tuy nhiên, do khai thác tràn lan, không theo quy hoạch nên nguồn nước ngầm trên địa bàn tỉnh Cà Mau hiện đã bị tụt xuống độ sâu hơn 10m Trước đây, để có nước dùng, người dân chỉ cần khoan xuống tới độ sâu từ 80 đến 120 m nhưng nay phải khoan đến độ sâu 220 - 250m [21]

1.3.1.8 Tài nguyên rừng

Tổng diện tích rừng tỉnh Cà Mau hiện có là 103.712ha, chiếm 19,6% diện tích tự

Trang 31

nhiên của toàn tỉnh, trong đó: rừng sản xuất là 58.714ha, rừng phòng hộ là 27.205ha và rừng đặc dụng là 17.804ha [23]. Hệ sinh thái rừng bao gồm rừng ngập mặn ven biển

và rừng tràm ngập úng chua phèn ở vùng UMH Đây là 2 hệ sinh thái rừng đặc trưng của vùng ĐBSCL, có tính đa dạng sinh học cao; có vai trò cân bằng sinh thái, điều hòa khí hậu; rừng ngập mặn có chức năng phòng hộ ven biển Ngoài ra, trên cụm đảo Hòn Khoai có 528 ha diện tích đất có rừng, và Hòn Chuối có 52 ha diện tích đất có rừng Tuy nhiên, giá trị kinh tế rừng tràm không cao, do trữ lượng và giá sản phẩm gỗ tràm thấp, nguy cơ cháy rừng rất cao Theo Báo cáo Diễn biến rừng và đất lâm nghiệp tỉnh

Cà Mau năm 2012 của Chi cục Lâm nghiệp, trữ lượng rừng Cà Mau đạt khoảng 4.055.705 m3, trong đó trữ lượng rừng tràm là 2.001.377 m3 và trữ lượng rừng đước khoảng 2.054.329 m3[22]

1.3.1.9 Đa dạng sinh học

Có đến 98% diện tích tự nhiên là đất ngập nước, bao gồm nhiều hệ sinh thái tự nhiên: Hệ sinh thái rừng ngập mặn, đầm lầy và hệ sinh thái rừng ngập úng chua phèn Các hệ sinh thái này rất đặc hữu và nhạy cảm do có nhiều giá trị bảo tồn trong nước và thế giới, đã được UNESCO công nhận là Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới, khu Ramsar cuả thế giới Theo thống kê, có nhiều loài thực vật quý có giá trị làm dược liệu, các hệ sinh thái này là nơi di cư của nhiều loài chim trong sách đỏ thế giới Riêng đối với hệ động vật, có 11 loài bò sát, 14 loài chim và 07 loài thú trong sách đỏ Việt Nam [22]

1.3.2 Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau

1.3.2.1 Đặc điểm về kinh tế

Sản xuất thủy sản

Kinh tế thuỷ sản trong tỉnh thời gian qua tăng trưởng nhanh, phát huy được vai trò ngành kinh tế mũi nhọn Tổng sản lượng thủy hải sản 5 năm 2001 - 2005 đạt 1.143.150 tấn, gấp 1,51 lần tổng sản lượng thủy hải sản giai đoạn 1996 - 2000; trong đó, sản lượng tôm đạt 389.230 tấn, gấp 1,96 lần giai đoạn 1996 - 2000 Riêng năm 2005, sản lượng thủy hải sản đạt 254.259 tấn, có 92.884 tấn tôm; đến năm 2010 đạt 387.070 tấn, trong đó có 122.960 tấn tôm Năm 2011, tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thuỷ sản đạt 408.530 tấn, đạt 98,5% kế hoạch, tăng 5,5% so với cùng kỳ; trong đó sản lượng tôm là 131.513 tấn, đạt 102,3% kế hoạch, tăng 7% so với cùng kỳ Năm 2012 ước đạt 426.430 tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ, bằng 101,5% kế hoạch; trong đó sản

Trang 32

lượng tôm 140.293 tấn, đạt 98,1% kế hoạch, tăng 6,7% so với cùng kỳ Năm 2013 ước đạt 440.000 tấn, bằng 103,18% so với cùng kỳ, vượt 1,4% kế hoạch; trong đó sản

lượng tôm 148.000 tấn, bằng 105,5% so với cùng kỳ, vượt 1,4% kế hoạch [23]

Sản xuất nông nghiệp

Trước khi chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông - ngư nghiệp, giá trị sản xuất nông nghiệp giai đoạn 1996 - 2000 tăng khá, năm 2000 đạt 2.005,3 tỷ đồng (giá cố định 1994), tăng bình quân hàng năm 7,3%; tuy nhiên sau chuyển đổi, giá trị sản xuất nông nghiệp đã giảm đi gần 50%, năm 2005 chỉ đạt 1.018 tỷ đồng, đến năm 2011 đạt 1.332,6 tỷ đồng (giá cố định 1994), hiện tại giá trị sản xuất nông nghiệp chỉ đóng góp 12,78% trong GDP của tỉnh (so với 23% năm 2000) [22]

Tổng sản phẩm ngư – nông – nghiệp năm 2011 đạt 5.297 tỷ đồng, tăng 7,9% so với năm 2010 Trong đó tổng sản lượng thủy sản đạt 408.530 tấn, tổng sản lượng lúa ước 534.030 tấn và toàn tỉnh hiện có hơn 225.000 con heo

Nguyên nhân giảm giá trị sản xuất nông nghiệp chủ yếu là giảm ngành trồng trọt,

từ 1.616,4 tỷ đồng năm 2000 (giá cố định 1994, theo giá thực tế là 1.992,2 tỷ đồng) xuống còn 782,6 tỷ đồng năm 2005 nhưng đến năm 2011 được khôi phục dần và đạt

911 tỷ đồng (giá cố định 1994, theo giá thực tế năm 2011 là 2.920,5 tỷ đồng), đồng thời ngành chăn nuôi cũng giảm từ 237 tỷ đồng xuống còn 171,3 tỷ đồng vào năm

2005, đến năm 2011 cũng được khôi phục dần ở mức 289,3 tỷ đồng (giá cố định 1994) Trong cả trồng trọt và chăn nuôi đều có sự giảm rất lớn về quy mô cây trồng, vật nuôi [22]

Trang 33

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện từ ngày 01/11/2014 đến ngày 01/06/2015

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn tồn tỉnh Cà Mau gồm các huyện Trần Văn Thời, U Minh, Thới Bình; Đầm Dơi, Cái Nước - Phú Tân và Năm Căn - Ngọc Hiển để tiến hành điều tra và thu thập thơng tin

Hình 2.1: Địa điểm vùng nghiên cứu tỉnh Cà Mau

2.1.3 Đối tượng nghiên cứu

Nghề nuơi thương phẩm cua biển (Scylla spp) trên địa bàn tỉnh Cà Mau với các

BẠC LIÊU BIỂN TÂY

BIE ÅN Đ ÔN G

VÙNG KT NỘI ĐỊA

Tân Đức

Tân Tiến

TT Đầm Rơi

Sôn g T rẹm

Cửa Bồ Đề

Cửa Khai Song Xóm Mũi

K C nghiệp

Cửa Ông Trang

Cửa Bảy Háp

K Xáng Minh Hà

K H Đ Thành

K ø Ke øo

R Đồng Cùn g

K T họ M ai

K Va ân Đìn h R.

Đo âi

R Cái C ám

K 90

R Mang Rỗ

R C ái N gay

An Xuyên

Tân Thành L.V.Lâm

Hàm Rồng Hiệp Tùng

Nguyễn Huân

Vùng nghiên cứu

Trang 34

vùng nuôi phổ biến và với các hình thức nuôi khác nhau đại diện cho các hệ sinh thái trong vùng

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

Hình 2.2: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu

2.2.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp

Số liệu thứ cấp được thu thập thông qua sự công bố của các cơ quan ban, ngành địa phương như: Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau, Sở Tài nguyên Môi trường, Cục thống kê, Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn các huyện và

Ủy Ban nhân dân các xã tiến hành điều tra Các chỉ tiêu thu thập:

“Nghề nuôi cua biển (Scylla spp) tại Cà Mau: Hiện trạng kỹ thuật, kinh tế -

xã hội và các giải pháp phát triển theo hướng bền vững”

Hiệu quả Kinh tế - xã hội

Mô hình nuôi đơn

Mô hình nuôi ghép

Kết luận và đề xuất Giải pháp phát triển theo hướng bền

vững

Trang 35

- Điều kiện tự nhiên: Tìm hiểu và thu thập về vị trí địa lý, điều kiện thời tiết, khí

hậu, địa hình

- Điều kiện kinh tế - xã hội: Dân số, lao động, việc làm, cơ sở hạ tầng, giá trị sản

xuất ngành thủy sản

- Hiện trạng kỹ thuật nghề nuôi cua biển thương phẩm của địa phương: Diện

tích nuôi; năng suất; sản lượng; các hình thức nuôi cua biển, tổng số hộ nuôi; thị trường tiêu thụ; hiện trạng quản lý môi trường và tình hình dịch bệnh

- Những thuận lợi, khó khăn, kiến nghị của người nuôi và hướng phát triển của nghề nuôi thương phẩm Cua biển tại Cà Mau và địa bàn tiến hành điều tra

2.2.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp

Nghiên cứu được thực hiện thông qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp người nuôi kết hợp với trả lời các bảng câu hỏi (phương pháp đánh giá nhanh nông thôn - RRA và phương pháp điều tra qua phiếu - SQ) Tiến hành tham khảo các phiếu điều tra thông dụng và điều kiện thực tế nghề nuôi Cua của Cà Mau, xây dựng bộ phiếu điều tra về hiện trạng kỹ thuật nuôi

Tiến hành phỏng vấn trực tiếp 254 hộ nuôi cua biển thương phẩm bằng phiếu và phỏng vấn thêm các thông tin có liên quan nhằm tìm hiểu và đánh giá đúng hiện trạng nghề nuôi cua biển tại Cà Mau Mẫu phiếu điều tra được phân bố như sau:

- Huyện Trần Văn Thời: 42 mẫu

- Huyện U Minh: 42 mẫu

- Huyện Thới Bình: 42 mẫu

- Huyện Đầm Dơi: 42 mẫu

- Huyện Cái Nước - Phú Tân: 44 mẫu

- Huyện Năm Căn - Ngọc Hiển mẫu: 42 phiếu

Nội dung chính được thu thập gồm: Thông tin về chủ hộ, hiện trạng kỹ thuật, chuẩn bị con giống, chuẩn bị ao, diện tích nuôi, hiệu quả kinh tế, thị trường tiêu thụ, biện pháp phòng bệnh, các khó khăn thường gặp, kiến nghị của hộ nuôi Qua đó, đề xuất các giải pháp phát triển nghề nuôi cua bùn ổn định và bền vững

* Đối với hình thức nuôi cua biển chuyên canh do tổng số hộ nuôi ở các huyện trong tỉnh Cà Mau không điều nhau và ít hơn 50 hộ nên tiến thành điều tra toàn bộ số

hộ nuôi (100%)

* Đối với hình thức nuôi cua biển ghép với các đổi tượng khác: Số mẫu được điều

Trang 36

tra bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện - không ngẫu nhiên (phi xác suất)

2.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

2.2.3.1 Phương pháp tính toán một số chỉ tiêu

Kết quả sản xuất:

- Sản lượng cua biển nuôi (Q): Tổng khối lượng tôm thu được/vụ nuôi (tấn)

- Năng suất tôm (tấn/ha/vụ hay tấn/ha/năm)

Hiệu quả kinh tế:

- Lợi nhuận:

Lợi nhuận (P/L) = Tổng doanh thu (TR) - Tổng chi phí sản xuất (TC)

+ Tổng doanh thu (TR) = Tổng sản lượng (Q) x giá bán (P)

+ Tổng chi phí sản xuất (TC) = Chi phí cố định (FC) + chi phí lưu động (VC)

- Chi phí đơn vị:

Chi phí đơn vị (c) = Tổng chi phí (TC)/ Tổng sản lượng (Q)

- Điểm hòa vốn:

Điểm hòa vốn: Tổng doanh thu (TR) = Tổng chi phí (TC)

- Tỷ suất lợi nhuận:

Tỷ suất lợi nhuận = (TR - TC)/TC x 100%

- Lợi nhuận biên

Lợi nhuận biên = (TR - TC)/TR*100

Trong đó:

TR: Tổng doanh thu là tổng số tiền thu được từ việc bán cua

TC: Bao gồm chi phí cố định (FC) và chi phí biển đổi (VC)

FC: Chi phí cố định bao gồm: Khấu hao tài sản cố định, chi phí duy tu, bảo dưỡng các công trình thiết bị, thuê ao

VC: Chi phí biến đổi bao gồm: Con giống, thuốc và hóa chất, thức ăn, chế phẩm sinh học, thuê lao động

2.2.3.2 Phương pháp phân tích số liệu

Các số liệu sau khi được thu thập và tính toán, được xử lý trên phần mềm SPSS 18.0 và Excel 2014 Các số liệu được trình bày dưới dạng trung bình + độ lệch chuẩn

Năng suất = Sản lượng cua thu hoạch (tấn)

Diện tích mặt nước nuôi (ha)

Trang 37

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Hiện trạng nghể nuôi cua biển thương phẩm tại Cà Mau

3.1.1 Tình hình chung

3.1.1.1 Sơ bộ tình hình nuôi trồng thủy sản và nghề nuôi cua tại Cà Mau

Nuôi trồng thủy sản Cà Mau được biết đến nhiều với con tôm (tôm sú và tôm thẻ chân trắng) ở hầu hết các địa phương trong tỉnh bởi giá trị kinh tế và xuất khẩu Trong năm 2014 diện tích nuôi tôm công nghiệp 8.200 ha; nuôi tôm quảng canh cải tiển (QCCT) 62.225 ha; tôm lúa, tôm rừng và quảng canh kết hợp 39.390 ha Bên cạnh đó, còn có nhiều đối tượng có giá trị kinh tế khác được nuôi như: nuôi cua biển kết hợp với quảng canh chiếm khoảng 70% diện tích, năng suất trung bình đạt 50kg/ha/năm; nuôi Nghêu khoảng 55 ha, chủ yếu tập trung ở Hợp Tác xã (HTX) Đất Mũi - Ngọc Hiển; nuôi Sò huyết xen canh với tôm quảng canh và nuôi chuyên canh trên đầm Thị Tường khoảng 1.321 ha, tập trung ở các huyện Năm Căn, Ngọc Hiển, Cái Nước, Phú Tân và Đầm Dơi [18]

Giá trị kinh tế sau con tôm là cua biển (Scylla paramamosain) được hầu hết

người dân chọn làm đối tượng nuôi phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu, xuất phát từ nguyên nhân dịch bệnh trên tôm xảy ra liên tục và diễn biến phức tạp, giá cả xuống thấp, không ổn định đã tạo sự lên ngôi của cua biển, khi chúng được nuôi đại trà và được cơ quan chuyên môn chọn làm mô hình kinh tế nhân rộng, hiệu quả từ con cua biển mang lại đã thấy rõ nhưng cho đến nay chưa có một thống kê đầy

đủ nào về đối tượng này tại địa phương về diện tích, con giống, năng suất, sản lượng Trong những năm gần đây diện tích nuôi cua biển ở Cà Mau tăng lên đáng kể, do rủi ro thấp, ít bệnh, chi phí đầu tư thấp, thị trường sẵn có và được người tiêu dùng ưa chuộng Do đó, cua biển được nuôi với nhiều hình thức khác nhau:

- Nuôi cua biển chuyên canh: Ao cho nuôi cua được tận dụng sau khi nuôi tôm thâm canh không hiệu quả, do đó hầu như chưa có thiết kế ao đầm nào dành riêng cho nuôi cua chuyên canh, ở địa phương chưa có quy hoạch nuôi cua chuyên canh và nghiên cứu về cua biển còn rất ít, vì vậy kết quả mang lại không được như kỳ vọng

- Hình thức nuôi cua - tôm - rừng kết hợp: chi phí đầu tư thấp, nuôi cùng lúc nhiều loài thủy sản có giá trị kinh tế cao, cung ứng nguồn nguyên liệu sạch cho chế biến và xuất khẩu Mô hình này thực hiện hầu hết ở những hộ giao đất khoáng rừng (60% diện

Trang 38

tích rừng) tập trung ở các huyện Năm Căn, Ngọc Hiển, Đầm Dơi, Phú Tân, tôm giống được thả với mật độ 1-2 con/m2, cua với mật độ 0,5 - 1 con/m2 Đây là mô hình mang hiệu quả kinh tế cao và ổn định, lấy cua làm đối tượng phụ nhưng có lúc cua là đối tượng chính bởi cho lợi nhuận cao hơn tôm sú, giúp người nuôi hạn chế rủi ro Đồng thời, việc trồng rừng kết hợp với nuôi tôm - cua còn giúp hệ sinh thái rừng ngày càng

đa dạng, mang lại lợi ích kinh tế lâu dài cho người dân Cà Mau

- Hình thức nuôi cua - tôm sú kết hợp: tôm sú và cua được thả theo tỷ lệ 8: 2 vào đầu vụ nuôi (cứ 25.000 tôm sú giống thì thả 500 con cua biển giống trên diện tích khoảng 01 ha) Sau đó, cứ mỗi tháng thả thêm 500 con cua giống, khi tôm được 2 tháng tuổi thì lấy nước trực tiếp từ sông rạch vào tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho tôm

và cua mà không cần xử lý nước Từ 3 - 4 ngày bổ sung thêm thức ăn cho tôm sú và cua một lần Khi thời gian nuôi được 4 tháng tuổi thì bắt đầu thu tỉa dần tôm sú, cua biển để bán, lợi nhuận 30 triệu đồng/ha/vụ nuôi

- Hình thức nuôi cua - tôm - sò huyết kết hợp với thả cả: tận dụng diện tích trên ao tôm và chuỗi thức ăn khác nhau của từng đối tượng, mô hình đã tối đa hóa thu nhập mang lại lợi nhuận cao Cá trong ao được tận dụng làm thức ăn cho cua, tiết kiệm chi phí cho sản xuất, Sò huyết trong vuông tôm cho thu hoạch sau 7 -8 tháng nuôi, bình quân 1 tấn Sò huyết giống cho thu hoạch 10 tấn thương phẩm, thu nhập bình quân của

mô hình kết hợp này khoảng 80 triệu đồng/ha/năm Việc nuôi xen canh Cua - Tôm - Sò huyết kết hợp với thả cả thực hiện quanh năm tập trung chủ yếu ở một số địa phương huyện Cái Nước, Đầm Dơi tỉnh Cà Mau

- Hình thức nuôi cua - tôm - lúa: mô hình này phổ biến ở vùng sản xuất một vụ lúa, một vụ tôm (huyện Thới Bình và U Minh) cua biển được nuôi trong ruộng lúa xuyên suốt mùa nước ngọt và nuôi kết hợp với tôm sú vào mùa nước mặn khi lúa đã thu hoạch và cải tạo vuông để nuôi tôm sú Qua phân tích và đánh giá của nhiều ngành chức năng và chính quyền địa phương đây thực sự là mô hình bền vững bởi sự kết hợp hài hòa của các đối tượng nuôi trong điều kiện mùa mưa và mùa nắng ở vùng Đồng Bằng Sông Cứu Long (ĐBSCL)

- Hình thức nuôi Cua biển trong thùng nhựa: mô hình này phát triển khoảng 4 năm trở lại đây (2011 - nay), đối tượng chính là những con cua biển chưa đủ gạch son

để bán cho các thương lái, thùng nhựa dùng để nuôi cua có dung tích khoảng 10 - 30L, mỗi thùng chứa 01 con cua chưa đủ gạch son, có bố trí hệ thống sục khí, chúng được

Trang 39

cho ăn và thay nước hằng ngày, thức ăn được tận dùng từ nguồn cá tạp và hai mảnh vỏ sẵn có ở địa phương Vì vậy, một số hộ dân đã tận dụng diện tích xung quanh nhà đề nuôi cua trong thùng nhựa nhằm kiểm soát và quản lý dễ dàng và thu hoạch được thuận lợi mà chất lượng không thua kém cua nuôi trong vuông

Nhìn chung, cua biển ngày càng được nhiều người dân chọn làm đối tượng nuôi chính với nhiều hình thức nuôi khác nhau: Hình thức nuôi cua - tôm - rừng kết hợp; hình thức nuôi cua - tôm - sò huyết kết hợp với thả cả; Hình thức nuôi cua - tôm - lúa, hình thức nuôi cua biển trong thùng nhựa, nhằm tối đa hóa diện tích mang lại hiệu quả kinh tế cao Riêng hình thức nuôi chuyên canh cua những năm gần đây được nhiều người dân chú trọng và chọn làm đối tượng kinh tế chính để cải thiện đời sống trên vùng đất mà họ đang canh tác

3.1.1.2 Năng suất và sản lượng

Cua biển được nuôi ở các địa phương trong tỉnh Cà Mau từ nhiều năm nay nhưng chưa có thống kê một cách đầy đủ của cơ quan chuyên ngành nào từ địa phương, các phòng nông nghiệp và Chi cục nuôi trồng thủy sản Cà Mau, theo báo cáo từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau (NN&PTNT) năng suất nuôi bình quân cua biển là 50kg/ha/năm/ Năng suất trung bình mô hình cua - tôm quảng canh cải tiến

- rừng là 65 + 7,2 kg/ha/năm; mô hình rừng - tôm quảng canh cải tiến - cua và sò huyết

là 45 + 7,9 kg/ha/năm, năng suất mô hình nuôi cua biển bán thâm canh 1.259 + 868 kg/ha/năm; mô hình tôm - rừng - cua là 69 + 28 kg/ha/năm [7]

3.1.1.3 Nhu cầu con giống, mùa vụ sản xuất và tình hình dịch bệnh

Nhu cầu con giống

Nhu cầu giống cua biển ở Cà Mau ngày càng tăng cùng với nhu cầu của hộ nuôi Đây là giai đoạn nghề nuôi cua biển tăng mạnh mẽ, do dịch bệnh trên tôm ngày càng diễn biến phức tạp theo chiều hướng tiêu cực cùng với thời tiết ngày càng khắc nghiệt, làm cho nhiều hộ dân mở rộng diện tích nuôi cua theo hướng chuyên canh và nuôi ghép Giống cua khai thác từ thiên nhiên vẫn được người dân chọn lựa do thói quen canh tác, chính vì vậy mà con giống ngày càng cạn kiệt dẫn đến mất cân bằng nguồn lợi cua thiên nhiên Đáp ứng nhu cầu đó, các trại sản xuất giống cua biển lần lượt ra đời cả quy mô và số lượng, khoảng 240 trại giống cua biển [18] tập trung ở các huyện Đầm Dơi, Năm Căn, Ngọc Hiển, Cái Nước, Phú Tân và Trần Văn Thời Tuy nhiên, giống cua biển chưa được chú trọng đầu tư nghiên cứu nhiều để nâng cao chất lượng

Trang 40

và việc thống kê về số lượng cua giống sản xuất hàng năm từ các ngành chức năng chưa đầy đủ

Mùa vụ sản xuất

Mùa vụ nuôi cua biển ở Cà Mau quanh năm nhưng phổ biến nhất vào khoảng tháng 2 - 5 dl Lúc này nguồn giống phong phú, điều kiện môi trường nước tương đối thuận lợi cho nuôi cua Thực tế cho thấy cua biển sinh trưởng và phát triển tốt có độ mặn từ 15 - 25‰ Những tháng mùa mưa cũng có thể nuôi cua nhưng sự biến động lớn

về nhiệt độ, độ mặn, độ phèn làm ảnh hưởng xấu đến tỷ lệ sống của cua

Ương Cua giống: Đa số những hộ nuôi khi bắt cua giống về không ương cua mà

thả thẳng vào ao nuôi nên tỷ lệ sống đạt không cao Mặt khác, do diện tích ao nuôi tương đối lớn nên đa số các hộ nuôi xử lý môi trường chưa tốt (độ mặn, pH) nên thả cua vào ao nuôi dễ bị sốc gây hao hụt nhiều, khâu diệt tạp chưa tốt khi thả cua bị địch

hại dẫn đến tỷ lệ sống không cao Để khắc phục tình trạng này một số hộ dân diệt tạp

và dèo cua trong ao khoảng 15 - 20 ngày để hạn chế hao hụt

Lợi ích của việc ương cua là khâu chăm sóc, quản lý dễ dàng, chi phí cải tạo thấp,

có thể điều chỉnh các yếu tố môi trường (pH, độ kiềm, độ mặn) trong khoảng thích hợp

để cua không bị sốc môi trường và hạn chế được địch hại của cua

Tình hình dịch bệnh trên cua biển

Trong những năm qua, nghề nuôi thương phẩm cua biển ở Cà Mau luôn ổn định, hầu như không xảy ra dịch bệnh, và nhiều hộ dân thu lợi nhuận thường xuyên và tương đối cao Theo ghi nhận của người nuôi, cua xuất hiện bệnh thường xảy ra ở mô hình nuôi kết hơp khi tôm sú bị bệnh đốm trắng thì cua có hiện tượng tương tự và chết trong ao tôm, nhưng rất ít phố biến, không nguy hiểm và lan rộng thành dịch như tôm

sú và tôm thẻ chân trắng Mô hình nuôi chuyên canh cua thì chưa có ghi nhận nào ở các địa phương trong tỉnh Cà Mau về bệnh trên cua cho đến thời điểm này

3.1.2 Hiện trạng kỹ thuật nghề nuôi cua biển (Scylla spp) tại Cà Mau

3.1.2.1 Hình thức nuôi

Nuôi cua biển ở ĐBSCL nói chung và Cà Mau nói riêng với nhiều hình thức khác nhau nhưng tập trung chủ yếu là hai hình thức nuôi chính: Chuyên canh cua và nuôi ghép là phù hợp với môi trường nuôi ở vùng đất Cà Mau Thực tế cho thấy, những hình thức nuôi này đã mang lại hiệu quả lớn cho người nuôi, là đối tượng giá trị kinh

tế cao, nuôi cua biển thương phẩm tại Cà Mau hoàn toàn không cho ăn thức ăn công

Ngày đăng: 19/03/2016, 08:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Lăng Đoàn Thái Minh 2009, Khảo sát hiện trạng các mô hình nuôi cua biển (Scylla spp) ở tỉnh Cà Mau, Luận văn tốt nghiệp ngành quản lý nghề cá Trường Đại học Cần Thơ, Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: (Scylla spp)
6. Lăng Đoàn Thái Minh 2009, Khảo sát hiện trạng các mô hình nuôi cua biển (Scylla spp) ở tỉnh Cà Mau, Luận văn tốt nghiệp ngành quản lý nghề cá Trường Đại học Cần Thơ, Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: (Scylla spp)
8. Phạm Thị Tuyết Ngân 2005, Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng lên chất lượng bố mẹ và ấu trung cua biển (Scylla paramamosain),Trường Đại học Cần Thơ, Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: (Scylla paramamosain)
13. Dư Ngọc Tuân 2011, Điều tra hiện trạng kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế của nghề nuôi tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) thương phẩm tại Ninh Thuận, Luận văn tốt nghiệp cao học ngành Nuôi trồng thủy sản, Trường Đại học Nha Trang, Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: (Litopenaeus vannamei)
32. Hill, B. J. "Aspects of the feeding strategy of the predatory crab Scylla serrata.”Marine Biology 1979; 55(3): 209-214 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aspects of the feeding strategy of the predatory crab Scylla serrata
1. Lục Minh Diệp. Kỹ thuật nuôi giáp xác 2013. Bài giảng Trường Đại học Nha Trang, Nha Trang Khác
2. Hoàng Đức Đạt. Kỹ thuật nuôi cua biển; Nhà xuất bản Nông nghiệp Tp Hồ Chí Minh; 2006. p.47 Khác
4. Bùi Thị Hiền. Nghiên cứu bệnh do vi khuẩn ở ấu trùng cua biển giai đoạn Zoea 3 - Zoea 5. Viện NCNTTS III: Nha Trang; 2005.p.44 Khác
5. Đỗ Thị Hòa. Quản lý sức khỏe động vật thủy sản 2014, Bài giảng Trường Đại học Nha Trang, Nha Trang Khác
7. Bùi Thị Nga. Mô hình tôm - rừng kết hợp tại Đồng Bằng Sông Cửu Long. Tạp chí Thủy sản 2011(50): 1-3 Khác
9. Lê Thanh Phong. Phương pháp nghiên cứu và xử lý thống kê số liệu đề tài nghiên cứu khoa học 2014. Bài giảng Trường Đại học Cần Thơ, Cần Thơ Khác
10. Nguyễn Minh Phương 2011, Điều tra hiện trạng cung ứng và sử dụng thức ăn nuôi tôm nước lợ tại Quảng Nam và Quảng Ngãi, Luận văn cao học ngành Nuôi trồng thủy sản Trường Đại học Nha Trang, Nha Trang Khác
12. Dương Trí Thảo. Kinh tế, tổ chức và quản lý ngành thủy sản, Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật; 2008.p.340 Khác
14. Lê Anh Tuấn. Thiết kế thí nghiệm và phân tích số liệu trong Nuôi trồng thủy sản 2014. Bài giảng Trường Đại học Nha Trang, Nha Trang Khác
15. Nguyễn Anh Tuấn, Lê Thanh Hùng, Nguyễn Thanh Phương. Tiếng Anh chuyên ngành Nuôi trồng thủy sản. Cần Thơ; Nhà xuất bản Đại học Cần Thơ; 1999.p.308 Khác
16. Bộ Nông nghiệp & Phát triên Nông thôn. Quy hoạch phát triến nuôi trồng thủy sản vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long đến 2015, định hướng đến năm 2020: Hà Nội;2009. p.237 Khác
17. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Modul kỹ thuật nuôi cua biển 2010. p.52 Khác
18. Chi Cục NTTS Cà Mau. Báo cáo tổng kết năm NTTS tại Cà Mau 2014. p.2 Khác
19. CORENARM. Xây dựng mô hình cộng đồng thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua bảo tồn, khai thác, sử dụng bền vững và tổng hợp tài nguyên thiên nhiên xã Hương Phong. Huế; 2012.p.29 Khác
20. Cục Thống kê Cà Mau. Niên giám thống kê. Cà Mau: Nhà xuất bản Công ty cố phần in Bạc Liêu; 2013.p.479 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Phân loại cua biển [1] - Nghề nuôi cua biển scylls spp tại cà mau hiện trạng kỹ thuật, kinh tế xã hội và các giải pháp phát triển theo hướng bền vững
Hình 1.1 Phân loại cua biển [1] (Trang 17)
Hình 1.2: Hình thái phân loại cua biển Scylla sp [1] - Nghề nuôi cua biển scylls spp tại cà mau hiện trạng kỹ thuật, kinh tế xã hội và các giải pháp phát triển theo hướng bền vững
Hình 1.2 Hình thái phân loại cua biển Scylla sp [1] (Trang 18)
Hình 1.3: Cua cái mang trứng Scylla serrata [28] - Nghề nuôi cua biển scylls spp tại cà mau hiện trạng kỹ thuật, kinh tế xã hội và các giải pháp phát triển theo hướng bền vững
Hình 1.3 Cua cái mang trứng Scylla serrata [28] (Trang 22)
Hình 1.4: Vòng đời cua biển Scylla [46] - Nghề nuôi cua biển scylls spp tại cà mau hiện trạng kỹ thuật, kinh tế xã hội và các giải pháp phát triển theo hướng bền vững
Hình 1.4 Vòng đời cua biển Scylla [46] (Trang 23)
Hình 1.5: Bảng đồ vị trí Cà Mau [22] - Nghề nuôi cua biển scylls spp tại cà mau hiện trạng kỹ thuật, kinh tế xã hội và các giải pháp phát triển theo hướng bền vững
Hình 1.5 Bảng đồ vị trí Cà Mau [22] (Trang 27)
Hình 2.1: Địa điểm vùng nghiên cứu tỉnh Cà Mau - Nghề nuôi cua biển scylls spp tại cà mau hiện trạng kỹ thuật, kinh tế xã hội và các giải pháp phát triển theo hướng bền vững
Hình 2.1 Địa điểm vùng nghiên cứu tỉnh Cà Mau (Trang 33)
2.2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu - Nghề nuôi cua biển scylls spp tại cà mau hiện trạng kỹ thuật, kinh tế xã hội và các giải pháp phát triển theo hướng bền vững
2.2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu (Trang 34)
Hình 3.1: Biểu đồ thể hiện nơi cung cấp giống và nguồn giống cua biển - Nghề nuôi cua biển scylls spp tại cà mau hiện trạng kỹ thuật, kinh tế xã hội và các giải pháp phát triển theo hướng bền vững
Hình 3.1 Biểu đồ thể hiện nơi cung cấp giống và nguồn giống cua biển (Trang 47)
Bảng 3.1: Kích thước giống cua biển khi thả nuôi được hộ nuôi lựa chọn - Nghề nuôi cua biển scylls spp tại cà mau hiện trạng kỹ thuật, kinh tế xã hội và các giải pháp phát triển theo hướng bền vững
Bảng 3.1 Kích thước giống cua biển khi thả nuôi được hộ nuôi lựa chọn (Trang 47)
Hình 3.2: Biểu đồ đáng giá của người nuôi về chất lượng cua giống - Nghề nuôi cua biển scylls spp tại cà mau hiện trạng kỹ thuật, kinh tế xã hội và các giải pháp phát triển theo hướng bền vững
Hình 3.2 Biểu đồ đáng giá của người nuôi về chất lượng cua giống (Trang 48)
Bảng 3.5: Năng suất nuôi cua biển thương phẩm tại Cà Mau (n = 254) - Nghề nuôi cua biển scylls spp tại cà mau hiện trạng kỹ thuật, kinh tế xã hội và các giải pháp phát triển theo hướng bền vững
Bảng 3.5 Năng suất nuôi cua biển thương phẩm tại Cà Mau (n = 254) (Trang 54)
Hình 3.4: Biểu đồ khó khăn ưu tiên chủ hộ kiến nghị với nghề nuôi cua biển tại Cà - Nghề nuôi cua biển scylls spp tại cà mau hiện trạng kỹ thuật, kinh tế xã hội và các giải pháp phát triển theo hướng bền vững
Hình 3.4 Biểu đồ khó khăn ưu tiên chủ hộ kiến nghị với nghề nuôi cua biển tại Cà (Trang 63)
Hình  3.5:  Cây  vấn  đề  xác  định  nguyên  nhân  nghề  nuôi  cua  chưa  ổn  định  và  bền  vững - Nghề nuôi cua biển scylls spp tại cà mau hiện trạng kỹ thuật, kinh tế xã hội và các giải pháp phát triển theo hướng bền vững
nh 3.5: Cây vấn đề xác định nguyên nhân nghề nuôi cua chưa ổn định và bền vững (Trang 64)
Bảng 3.12: Xếp hạng nguyên nhân nghề nuôi cua chưa ổn định và bền vững - Nghề nuôi cua biển scylls spp tại cà mau hiện trạng kỹ thuật, kinh tế xã hội và các giải pháp phát triển theo hướng bền vững
Bảng 3.12 Xếp hạng nguyên nhân nghề nuôi cua chưa ổn định và bền vững (Trang 65)
Hình ảnh cua biển tại Cà Mau - Nghề nuôi cua biển scylls spp tại cà mau hiện trạng kỹ thuật, kinh tế xã hội và các giải pháp phát triển theo hướng bền vững
nh ảnh cua biển tại Cà Mau (Trang 94)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w