1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn, thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ốc đĩa (nerita baleata reeve, 1855) tại khánh hòa

55 432 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 2,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG NGUYỄN QUỐC THẮNG NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN, THỨC ĂN ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA ẤU TRÙNG ỐC ĐĨA Nerita balteata Reeve, 18

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN QUỐC THẮNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN, THỨC ĂN ĐẾN

SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA ẤU TRÙNG ỐC ĐĨA

(Nerita balteata Reeve, 1855)

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA - 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN QUỐC THẮNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ MẶN, THỨC ĂN ĐẾN

SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA ẤU TRÙNG ỐC ĐĨA

(Nerita balteata Reeve, 1855)

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn,

thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ốc đĩa (Nerita balteata Reeve, 1855) ” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa từng được

công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này

Khánh Hòa, ngày 18 tháng 10 năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Quốc Thắng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô Viện Nuôi trồng Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang đã giảng dạy và giúp đỡ trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy TS Ngô Anh Tuấn đã tận tình giúp

đỡ, hướng dẫn, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho em trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Xin gửi lời cảm ơn tới Trung tâm khảo nghiệm, kiểm nghiệm, kiểm định nuôi trồng thủy sản đã tạo điều kiện giúp đỡ trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Khánh Hòa, ngày 18 tháng 10 năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Quốc Thắng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC HÌNH ix

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN x

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tình hình nghiên cứu về động vật chân bụng trên thế giới và Việt Nam 3

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 3

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 5

1.2 Tình hình nghiên cứu về ốc đĩa 8

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 8

1.2.2 9

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 12

2.2 Nội dung nghiên cứu 12

2.3 Phương pháp nghiên cứu 13

2.3.1Ảnh hưởng của độ mặn đế ủa ấu trùng giai đoạn trôi nổi 13

2.3.2Ảnh hưởng của thức ăn đế ủa ấu trùng giai đoạn trôi nổi 14

2.3.3 Ảnh hưởng của độ mặn đế ủa ấu trùng giai đoạn sống đáy 14

2.3.4 Ảnh hưởng của thức ăn đế ủa ấu trùng giai đoạn sống đáy 15 2.3.5 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 15

Trang 6

2.3.5.1Phương pháp xác định các thông số môi trường 15

2.3.5.2Các công thức tính toán 15

2.3.5.3Phương pháp xử lý số liệu 16

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 17

3.1 Ảnh hưởng của độ mặn đế ủa ấu trùng giai đoạn trôi nổi 17 3.2 Ảnh hưởng của thức ăn đế ủa ấu trùng giai đoạn trôi nổi 20 3.3 Ảnh hưởng của độ mặn đế ấu trùng giai đoạn sống đáy 24 3.4 Ảnh hưởng của thức ăn đến ủa ấu trùng giai đọan sống đáy 26 CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 30

4.1 Kết luận 30

4.2 Kiến nghị 30

TÀI LIỆU THAM KHẢO 31

PHỤ LỤC 1

Trang 7

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3 1: Sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng veliger ốc đĩa ở các độ mặn khác nhau 17Bảng 3 2: Sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng veliger sử dụng các loại thức ăn khác nhau 20Bảng 3 3: Sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng spat ở các độ mặn khác nhau 24Bảng 3 4: Sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng spat sử dụng các loại thức ăn khác nhau 27

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1: 17

Hình 3.2: Tăng trưởng tuyệt đối của ấu trùng veliger ốc đĩa ở các độ mặn khác nhau 18

Hình 3.3: Tỷ lệ sống của ấu trùng veliger ốc đĩa ở các độ mặn khác nhau 19

Hình 3 4: Thí nghiệm ảnh hưởng của thức 20

Hình 3.5: Tăng trưởng tuyệt đối của ấu trùng veliger sử dụng các loại thức ăn khác nhau 22

Hình 3.6: Tỷ lệ sống của ấu trùng giai đoạn veliger sử dụng các loại thức ăn khác nhau 23

24

Hình 3.8: Tăng trưởng tuyệt đối của ấu trùng spat ở các độ mặn khác nhau 25

Hình 3 9: Tỷ lệ sống của ấu trùng spat ở các độ mặn khác nhau 26

Hình 3 10: Tăng trưởng tuyệt đối của ấu trùng spat sử dụng các loại thức ăn khác nhau 27

Hình 3.11: Tỷ lệ sống của ấu trùng spat sử dụng các loại thức ăn khác nhau 28

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Ốc đĩa N balteata là một đối tượng nuôi thủy sản mới Đây là loài ốc nhỏ nhưng

có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao Tuy nhiên, do là đối tượng mới nên sản lượng ốc đĩa cung cấp cho thị trường hoàn toàn là khai thác từ tự nhiên Đặc biệt, trong những năm gần đây tình trạng khai thác quá mức đã làm cho nguồn lợi ốc đĩa ngoài tự nhiên đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt

Hiện nay, trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu về đối tượng này được công bố, nhưng chủ yếu là các công trình nghiên cứu về phân loại, phân bố và một số đặc điểm sinh học Ở nước ta

Do đó, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn và thức ăn

đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ốc đĩa (Nerita balteata

là rất cần thiết, nhằm xác định được ngưỡng độ mặn và loại thức ăn tốt nhất cho quá trình ương nuôi ấu trùng của ốc đĩa, góp phần xây dựng thành công qui trình sản xuất giống nhân tạo ốc đĩa, chủ động cung cấp con giống cho người nuôi thương phẩm tại Khánh Hòa

Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn được thực hiện ở 3 thang độ mặn khác nhau:

20, 25 và 30‰ nhằm đánh giá sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ở giai đoạn trôi nổi và sống đáy Nghiên cứu về thức ăn ở giai đoạn ấu trùng trôi nổi, 3 nghiệm thức thí nghiệm ảnh hưởng của thức ăn (tảo tươi, thức ăn tổng hợp và hỗn hợp tảo tươi kết hợp thức ăn tổng hợp) và ở giai đoạn ấu trùng sống đáy, sử dụng 3 loại thức ăn là tảo đáy, thức ăn tổng hợp và hỗn hợp tảo đáy kết hợp với thức ăn tổng hợp)

Kết quả nghiên cứu cho thấy, độ mặn thích hợp nhất cho sinh trưởng và phát triển của ấu trùng veliger ốc đĩa là 25 ‰: sinh trưởng tuyệt đối đạt 9,9 ± 0,4 µm/ngày

và tỷ lệ sống đạt 63,1 ± 0,2 % Khẩu phần thức ăn là tảo tươi kết hợp thức ăn tổng hợp

là thích hợp nhất cho sinh trưởng và phát triển của ấu trùng ốc đĩa giai đoạn veliger, tăng trưởng tuyệt đối đạt 10,4 ± 0,3 µm/ngày, tỷ lệ sống đạt 61,0 ± 0,5 %

Trang 11

Ở giai đoạn ấu trùng spat, độ mặn thích hợp nhất cho sinh trưởng và phát triển là 25‰: tăng trưởng tuyệt đối đạt 50,4 ± 1,6 µm/ngày và tỷ lệ sống đạt 46,8 ± 2,5% Khẩu phần thức ăn là 50% tảo bám phối hợp với 50% thức ăn tổng hợp là thích hợp nhất cho sinh trưởng và phát triển của ấu trùng ốc đĩa giai đoạn spat, tăng trưởng tuyệt đối đạt 51,4 ± 5,0 µm/ngày và tỷ lệ sống đạt 51,9 ± 0,6%

Kết luận:

Trong 3 ngưỡng độ mặn nghiên cứu thì ngưỡng độ mặn 25‰ là thích hợp nhất cho sinh trưởng và phát triển của ấu trùng ốc đĩa (Đối với giai đoạn ấu trùng veliger: tăng trưởng tuyệt đối đạt 9,9 ± 0,4 µm/ngày và tỷ lệ sống đạt 63,1 ± 0,2%; Đối với giai đoạn ấu trùng spat: tăng trưởng tuyệt đối đạt 50,4 µm/ngày và tỷ lệ sống đạt 46,8 ± 2,5%)

Tảo tươi (N oculata và I galbana) và thức ăn tổng hợp (Apo và Frippark) là

khẩu phần thức ăn thích hợp nhất cho sinh trưởng và phát triển của ấu trùng ốc đĩa giai đoạn veliger, tăng trưởng tuyệt đối đạt 10,4 µm/ngày và tỷ lệ sống đạt 61,0 ± 0,5%

Khẩu phần thức ăn là tảo bám (Navicula sp và Nitzschia sp.) phối hợp với thức

ăn tổng hợp (AP0 và Frippark) là thích hợp nhất cho sinh trưởng và phát triển của ấu trùng ốc đĩa giai đoạn spat, tăng trưởng tuyệt đối đạt 51,4 ± 5,0 µm/ngày và tỷ lệ sống đạt 51,9 ± 0,6%

Kiến nghị: Cần tiếp tục nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn và thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ốc đĩa ở các thể tích lớn hơn

Để xây dựng qui trình kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo, cần nghiên cứu ảnh hưởng của chất đáy lên sinh trưởng và phát triển của ấu trùng giai đoạn sống đáy vì khi chuyển giai đoạn tỷ lệ sống của ấu trùng rất thấp và chúng cần có giá thể để bám

Trang 12

MỞ ĐẦU

Ốc đĩa (Nerita balteata) là loài động vật chân bụng có phân bố chính ở các vùng

biển khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới (Frey và Vermeij, 2008) Ở nước ta, ốc đĩa chỉ phân bố ở vùng bãi triều ven biển và đảo xa bờ của tỉnh Quảng Ninh và được xem là món ăn đặc sản đặc trưng tại đây do có thịt thơm ngon, giàu dinh dưỡng và giá trị kinh

tế cao (Đặng Khánh Hùng, 2012) Do đó, tỉnh Quảng Ninh đã chú trọng nghiên cứu phát triển đối tượng này theo định hướng tạo sản phẩm cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Tuy nhiên, do là đối tượng mới nên sản lượng ốc đĩa cung cấp cho thị trường hoàn toàn là khai thác từ tự nhiên Đặc biệt, trong những năm gần đây tình trạng khai thác quá mức đã làm cho nguồn lợi ốc đĩa ngoài tự nhiên đang

đặc điểm sinh học sinh sản và tại Quảng Ninh (Ngô Anh Tuấn và ctv, 2013)

và Vermeij, 2008; Hurtado và ctv., 2007; Siong và Reuben, 1998)

(Ngô Anh Tuấn và ctv, 2013

Do đó, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn và thức ăn

đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ốc đĩa (Nerita balteata Reeve, 1855)

” là rất cần thiết, nhằm bổ sung cơ sở khoa học quan trọng cho việc

nghiên cứu xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo ốc đĩa,

, Mục tiêu của đề tài: Xác định được ngưỡng độ mặn và loại thức ăn tốt nhất cho quá trình ương nuôi ấu trùng của ốc đĩa nhằm góp phần xây dựng thành công qui trình sản xuất giống nhân tạo ốc đĩa, chủ động cung cấp con giống cho người nuôi thương phẩm

Trang 13

Nội dung nghiên cứu:

1 Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn và thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ốc đĩa giai đoạn veliger

2 Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn và thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ốc đĩa giai đoạn sống đáy

Ý nghĩa của đề tài:

- Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu sẽ bổ sung những thông tin về ảnh hưởng của độ mặn và thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ốc đĩa vàlà cơ sở khoa học quan trọng để nghiên cứu xây dựng quy trình kỹ thuật sinh sản nhân tạo ốc đĩa

giống nhân tạo cho nuôi thương phẩm, giảm áp lực khai thác tự nhiên, bảo vệ nguồn lợi, nâng cao thu nhập cho người dân ven biển

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tình hình nghiên cứu về động vật chân bụng trên thế giới và Việt Nam 1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Ngành động vật thân mềm là ngành có số lượng loài rất lớn (khoảng 130.000 loài) và có khu vực phân bố rộng trong các môi trường sống khác nhau nên có tính đa dạng rất cao Trong đó,

vào một số đố

Đặc điểm sinh sản và kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo ốc hương đã được nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới Nateewathana (1995) đã nghiên cứu về sự phân bố của

ốc hương B areolata trên thế giới Kết quả cho thấy loài này có khu vực phân bố chủ

yếu ở vùng biển Ấn Độ - Thái Bình Dương như: SriLanka, Trung Quốc, Hồng Kông,

Philippines, Đài Loan, Nhật Bản và Việt Nam Ốc hương B areolata sống trong

những vùng nước sâu từ 5 – 20 m, nền đáy là cát hoặc cát bùn pha lẫn vỏ động vật thân mềm Raghunathan và Ayyakkannu (1995), đã nghiên cứu về đặc điểm sinh sản

của loài ốc hương Babylonia spirata ở trong phòng thí nghiệm tại Ấn Độ Kết quả

nghiên cứu đã mô tả được hoạt động đẻ trứng, hình thái cấu tạo và quá trình phát triển phôi, ấu trùng của đối tượng này Theo đó, mỗi con ốc cái có chiều cao trung bình 5 - 6

cm đẻ được 24 – 35 bọc trứng, mỗi bọc chứa khoảng 900 trứng

Nghiên cứu của Shannmugaraj và Ayykkannu (1997) đã xác định được mùa vụ sinh sản của loài ốc này kéo dài từ tháng 1 đến tháng 8 nhưng chủ yếu vào tháng 4 đến tháng 8 Tại Thái Lan đã có nhiều công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh sản và kỹ

thuật sản xuất giống ốc hương loài B areolata Kết quả nghiên cứu cho thấy hoạt động

đẻ trứng, quá trình phát triển phôi và ấu trùng của loài B areolata tương tự như loài B

spirata Ốc hương bố mẹ thành thục sinh dục có khả năng sinh sản quanh năm từ tháng

1 đến tháng 10 nhưng đẻ rộ vào tháng 3 đến tháng 7 mà đỉnh cao là tháng 4 Trung

Trang 15

bình mỗi con đẻ 25 bọc trứng/lần đẻ, mỗi bọc chứa khoảng 400 trứng với đường kính trứng khoảng 286 µm Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy không có mối tương quan giữa ngày đẻ trứng với tuần trăng và chu kỳ triều cũng như kích cỡ ốc và số bọc trứng/lần đẻ (Tanate và Jararat, 1996)

Những nghiên cứu đầu tiên về kích thích sinh sản bào ngư nhân tạo đã được thực

hiện bởi Murayama vào năm 1935 tại Nhật Bản Bào ngư Haliotis dicus hannai được

kích thích sinh sản bằng phương pháp nâng nhiệt và pH nước Ino (1952) đã sản xuất

giống nhân tạo thành công hai loài bào ngư H discus và H sieboldii, ương ấu trùng

được 2 tháng đạt kích cỡ 2mm Theo Uki và Kikuchi (1984), trong điều kiện nuôi nhốt bào ngư bố mẹ có thể sinh sản nếu nhận được kích thích phù hợp Một số phương pháp kích thích bào ngư sinh sản bào ngư có hiệu quả đã được áp dụng như: kích thích nhiệt khô, nhiệt ướt, kích thích bằng tia cực tím, dung dịch ôxy già và thay đổi chu kỳ chiếu sáng nhân tạo ngày và đêm

Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về đối tượng ốc nhảy Strombus

canarium Các loài trong giống Strombus đều thụ tinh trong, cá thể đực có cơ quan

giao cấu, là đặc điểm quan trọng để phân biệt với những cá thể cái Khi đến mùa sinh sản, chúng thường bắt cặp và thực hiện quá trình giao phối (Zaidi, 2008) Theo

Syamsul và ctv (1998), ốc nhảy S canarium cũng như một số loài ốc khác thường đẻ

trứng vào thời điểm trăng tròn Trong khi đó tại Indonesia, kết quả nghiên cứu của Zaidi và ctv(2005) cho thấy mùa vụ sinh sản của ốc nhảy tập trung vào khoảng cuối tháng 11 đến đầu tháng 3 năm sau

Erlambang (1996) tiến hành nuôi vỗ ốc bố mẹ trong bể có thể tích 25 m3, ốc bố

mẹ có khối lượng 20 – 25 g/con, kích thích sinh sản bằng phương pháp sốc nhiệt kết hợp tạo dòng chảy Patcharee và ctv(2004) đã tiến hành chọn ốc bố mẹ có kích thước trung bình 4,98 ± 0,45 cm, khối lượng 19,07 ± 6,29 g/con nuôi vỗ trong bể composite

có thể tích 1m3 để sinh sản nhân tạo Sử dụng phương pháp kích thích sinh sản sốc nhiệt (phơi khô trong vòng 30 phút), kết quả cho thấy tỷ lệ đẻ của ốc nhảy cao hơn nhiều so với phương pháp cho đẻ tự nhiên

Shawl và Davis (2004) đã nghiên cứu về khả năng sinh sản của 4 loài ốc trong

giống Strombus trong điều kiện nhân tạo với các tỷ lệ đực : cái khác nhau như sau: S

gigas (1 cái : 3 đực), S costatus (3 cái : 2 đực), S raninus (5 cái : 2 đực); S alatus (4

Trang 16

cái : 2 đực), sau 40 ngày theo dõi, số lượng bọc trứng của mỗi loài thu được lần lượt là

4, 23, 34, 58 bọc

S canarium Ốc nhảy S canarium thường đẻ trứng trên những búi cỏ biển hơn,

bọc trứng có dạng dải dây và thường cuộn lại thành búi như cuộn chỉ rối, cứ 15 cm dải dây trứng chứa khoảng 450-500 trứng và một cá thể cái có thể đẻ được 10-20 búi nhỏ tương đương với 5000-7000 trứng trong một lần đẻ Sau 61,5 giờ ấp ấu trùng sẽ chui

ra khỏi bọc trứng và bơi lội tự do trong nước với tỷ lệ nở từ 90-95% Đường kính của trứng là 250-300 µm và ấu trùng ngay sau khi nở ra có kích thước dao động từ 320-400µm

Theo Patcharee và ctv (2000), trong giai đoạn phát triển ấu trùng của ốc nhảy S

canarium từ ấu trùng veliger tới giai đoạn con non thì nước biển được xử lý bằng tia

cực tím sẽ cho kết quả ương nuôi ấu trùng tốt nhất, ở mật độ ương 50 con/lít đạt tỷ lệ sống cao nhất (9,78 ± 0,23%), tuy nhiên mật độ ương cho hiệu quả sản xuất cao nhất là

200 con/lít Betutu (2005) đã nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn tới quá trình phát triển phôi của ốc nhảy Kết quả nghiên cứu cho thấy, độ mặn 30‰ là khoảng độ mặn thích hợp nhất cho quá trình phát triển phôi với tỷ lệ nở là 96,6%

Tất cả các loài động vật thân mềm nói chung và động vật chân bụng nói riêng đều sử dụng tảo nổi làm thức ăn chính trong giai đoạn ấu trùng veliger Các giống tảo

chủ yếu được sử dụng làm thức ăn trong quá trình ương nuôi là: Pseudoisochrysis,

Cheatocerous, Tetrasalmis, Nannochloropsis, Platymonas, Isocrysis, Chrorella… Kết

quả nghiên cứu của Patchee (1998) cho thấy, ấu trùng ốc nhảy S canariumgiai đoạn

veliger sinh trưởng và phát triển tốt nhất khi sử dụng thức ăn có sự phối hợp của 4 loại

tảo: Cheatocerous sp., Tetrasalmis sp., Nannochloropsis sp và Isocrysis galbana

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

kể vào kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản, điển hình là ốc hương,

ngọc (Nguyễn Chính, 1996) Tuy nhiên, các nghiên cứu về sinh học sinh sản, sản xuất giống nhân tạo các đối tượng thuộc lớp chân bụng để cung cấp nguồn giống ổn định và có chất lượng cao cho người nuôi chưa thật sự phát triển Ở nước ta, nghiên

Trang 17

cứu về các loài động vật chân bụng chỉ mới phát triển và tập trung vào một số đối tượng có giá trị kinh tế cao như: ốc hương, bào ngư, ốc nhảy

Những nghiên cứu đầu tiên về động vật chân bụng là những chuyến khảo sát về thành phần loài sinh vật đáy ở một số đầm vịnh và vùng ven biển Việt Nam, trong đó

có động vật thân mềm và đặc biệt là ốc hương Theo Nguyễn Chính (1996), ốc hương

là những loài có vỏ mỏng nhưng chắc chắn, dạng bậc thang với tháp vỏ bằng 1/2 chiều cao vỏ Trên vỏ có các phiến vân màu tím nâu hình chữ nhật hay hình thoi

Nguyễn Thị Xuân Thu và ctv (2000) đã nghiên cứu thành công đối tượng ốc

hương B areolata Đây được coi là nghiên cứu toàn diện nhất về ốc hương

ở Việt Nam – nghiên cứu về đặc điểm sinh học, kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm Đây cũng là thành công đầu tiên trên thế giới về nuôi ốc hương thương phẩm từ nguồn giống sản xuất nhân tạo c hương có khả năng thành thục quanh năm, trong đó tập trung vào tháng 3 – 10 với tỷ lệ thành thục đạt 60 – 90% Trong điều kiện nhân tạo mỗi ốc cái đẻ khoảng 18 – 75 bọc trứng/lần đẻ (trung bình 38 bọc) và mỗi bọc chứa khoảng 168 – 1849 trứng (trung bình khoảng 743 trứng) Độ mặn 30‰ thích hợp nhất cho sinh trưởng và phát triển của ấu trùng ốc hương giai đoạn veliger và spat; Tuy nhiên, ở ngưỡng độ mặn 35‰ ấu trùng ốc hương đạt tỷ lệ sống là cao nhất (73% và 57% tương ứng với giai đoạn veliger và spat)

Quy trình công nghệ sản xuất giống nhân tạo ốc hương cũng được nghiên cứu và chuyển giao cho người dân ở nhiều địa phương Thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn giống tự nhiên như trước đây, thì hiện nay người dân đã chủ động được nguồn giống bằng việc cho đẻ nhân tạo hàng loạt Từ đó hình thành nên nghề nuôi thương phẩm và sản xuất giống nhân tạo ốc hương ở các tỉnh miền Trung, đây không những là một nghề giúp người dân xóa đói giảm nghèo mà còn giúp nhiều hộ gia đình vươn lên nhờ vào nguồn thu nhập cao từ việc xuất khẩu ốc thịt

Theo Lê Đức Minh (2001), sau thời gian nuôi vỗ trong bể xi măng, bào ngư H

asinina được kích thích sinh sản bằng phương pháp thay đổi chu kỳ chiếu sáng nhân

tạo Kết quả nghiên cứu cho thấy, với tỷ lệ đực cái là 1:3, bào ngư sinh sản sớm nhất là

13 ngày, muộn nhất là 23 ngày và sức sinh sản thực tế là 30.024 trứng/cá thể, tỷ lệ thụ tinh đạt 60,93%, tỷ lệ nở đạt 90,96%

Trang 18

Hoàng Thị Châu Long và ctv (2004) đã có những nghiên cứu sơ bộ ban đầu về

ốc nhảy S canarium Theo đó, ốc

đẻ trứng dạng các búi nhỏ bám trên nền đáy, ấu trùng veliger khi mới nở có chiều dài khoảng 275µm, biến thái thành ấu trùng bò lê sau khoảng 3 tuần với chiều dài là 685µm Ấu trùng bò lê tiếp tục ương nuôi sau 40 ngày đạt kích thước 6,0 mm chiều dài Theo Lê Thị Ngọc Hòa (2009), tại Khánh Hòa ốc nhảy S canarium tập

trung sinh sản theo 2 đợt: từ tháng 2 - 4 và tháng 7 – 8 Kích thước thành thục lần đầu theo chiều dài vỏ của ốc là 56 - 60mm với độ dày môi là 4 - 5 mm Ốc bố mẹ được nuôi vỗ với mật độ là 25 con/m2, sức sinh sản thực tế dao động từ 3.875 - 42.950 trứng, trung bình là 18.472 trứng/con/1 lần đẻ Trong giai đoạn ấp nở trứng đến ương nuôi ấu trùng và con giống, độ mặn từ 25‰ đến 35‰ là thích hợp nhất

Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng và phát triển của

ấu trùng ốc cho thấy, ở giai đoạn ấu trùng veliger, thức ăn tốt nhất là sử dụng kết hợp 50% tảo tươi đơn bào và 50% thức ăn tổng hợp Trong khi đó, ở giai đoạn ấu trùng bò

lê đến con giống, thức ăn tốt nhất là tảo đáy nhưng cần thiết phải bổ sung thêm thức ăn tổng hợp Mật độ ương, nuôi ốc nhảy phù hợp cho từng giai đoạn phát triển như sau:

ấu trùng veliger : 100 - 200 con/lít, ấu trùng bò lê đến con giống: 1.000 con/m2

(

Kết quả nghiên cứu của Dương Văn Hiệp (2010)

kích thích sinh sản bằng phương pháp sốc nhiệt, ốc nhảy sẽ sinh sản với tỷ lệ cao Sức sinh sản thực tế của ốc dao động từ 892 – 4.390, trung bình là 3.107 trứng/cá thể Số lượng trứng/ốc cái trong một lần đẻ dao động từ 8.921 tới 16.011 trứng/búi, trung bình

là 13.584 trứng/búi Ốc bố mẹ được nuôi vỗ trong bể xi măng và có thể sử dung phương pháp sốc nhiệt để kích thích ốc nhảy sinh sản Trong quá trình ấp trứng, nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển phôi của ốc nhảy là 25 – 300C Độ mặn thích hợp cho quá trình sản xuất giống từ 30-35ppt; Mật độ ương ấu trùng veliger thích hợp nhất là 400 con/l; Mật độ ương ấu trùng spat thích hợp nhất là 4-6 con/cm2; Mật độ ương giống cấp I lên cấp II thích hợp nhất là 400 con/m2

Trang 19

1.2 Tình hình nghiên cứu về ốc đĩa

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Động vật thân mềm được xem là đối tượng thích hợp cho phát triển nuôi biển – một trong những xu thế của nuôi trồng thủy sản thế kỷ XXI Trong sản lượng nuôi trồng thủy sản hàng năm trên thế giới thì động vật thân mềm chiếm 30% về sản lượng và 19% về giá trị Vì vậy, cần có nhiều công trình khoa học nghiên cứu nhằm góp phần phát triển nghề nuôi động vật thân mềm trong tương lai

Ốc đĩa N balteata là một đối tượng mới.Hiện nay trên thế giới đã có một số công

trình nghiên cứu về đối tượng này được công bố, nhưng chủ yếu là các công trình nghiên cứu về xác định hệ thống phân loại và một số đặc điểm sinh học của loài này, những nghiên cứu về sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm đối tượng này còn rất hạn chế

Về đặc điểm phân bố, ốc đĩa được tìm thấy chủ yếu ở các nước vùng cận nhiệt đới như: Trung Quốc, Australia, Hồng Kông, Malaixia, Mauritania, Ôman, Singapore,

Mỹ Theo Frey và Vermeij (2008), giống Nerita bao gồm khoảng 70 loài ốc có phân

bố chủ yếu tại vùng triều dọc theo các bờ biển vùng nhiệt đới Năm 2007, Hurtado và

ctv đã nghiên cứu về quy luật phân bố của hai loài N scabricosta và N funiculata thuộc giống Nerita Kết quả cho thấy đây là hai loài ốc có vùng phân bố chính tại các bãi đá vùng triều ở vùng nhiệt đới phía đông Thái Bình Dương, trong đó loài N

scabricosta xuất hiện tới vùng phía nam của Ecuado còn loài N funiculata có phân bố

mở rộng tới Pêru Ở phía Bắc, hai loài này phân bố từ vịnh California tới phía ngoài của bán đảo Baja thuộc Thái Bình Dương

Theo Tan và Clements (2008) tại Singapore có 19 loài ốc thuộc họ ốc đĩa

Neritidae, trong đó có 11 loài phân bố đặc trưng trên các loại cây tại vùng rừng ngập

mặn và các bãi đá, bờ kênh vùng nước lợ Riêng loài N balteata được xác định có

phân bố nhiều ở xung quanh các gốc cây trong vùng rừng ngập mặn tại các vùng triều cửa sông, đầm, phá, đặc biệt hơn chúng phân bố với mật độ cao tại các bờ kè, ghềnh

đá trong các kênh mương, bờ đê của các vùng biển nhiệt đới

Theo Tan và Chou (2000), tất cả các loài trong họ ốc đĩa đều là những loài thụ tinh trong, trứng trước khi đẻ được đi qua một hệ thống phức tạp có tác dụng đóng gói tạo thành các bọc, nhờ đó trứng đẻ ra được nằm trong bọc trứng bám trên vật bám Tuy nhiên, đặc điểm sinh sản của các loài ốc khác nhau là khác nhau, chúng phụ thuộc

Trang 20

vào đặc điểm của cơ quan sinh dục như: cơ quan dữ trữ tinh trùng của con cái và cấu tạo cơ quan sinh sản của con đực

Trong số 6 loài ốc được nghiên cứu tại Singapore, bọc trứng của ốc đĩa N

balteata có kích thước khá lớn với đường kính lên tới 4mm và chiều cao là 500µm

Bọc trứng được đẻ dính vào các hốc trên vỏ các loại cây rừng ngập mặn, vì vậy chúng nằm ngang bằng với bề mặt của nền đáy Bề mặt ngoài của bọc trứng được bao bọc bởi các tinh thể hình cầu và chia thành 2 nhóm có kích thước riêng biệt Đối với nhóm

có kích thước đường kính nhỏ (10 - 20μm) các tinh thể có dạng hình cầu lõm, bề mặt mịn Còn đối với nhóm có kích thước lớn (30 - 70μm) các tinh thể có dạng hình cầu dẹt, sáu cạnh và rắn

Trong mỗi bọc trứng của ốc đĩa trung bình có 154 phôi, chiếm số lượng lớn nhất trong số các loài ốc thuộc giống Nerita phân bố tại Singapore.Tuy nhiên, số lượng phôi trong mỗi bọc trứng khác nhau tùy theo loài Các phôi này bám vào các khoang màng mỏng bên trong của bọc trứng và dễ dàng rời ra khi nó chuẩn bị thoát ra khỏi bọc trứng dưới tác động của áp suất bên trong bọc trứng Áp suất này gây ra do sự làm phồng hai lớp màng mỏng trong suốt ở mặt trong của vỏ và khung bọc trứng

Ốc đĩa nở ra từ bọc trứng đều biến thái thành ấu trùng veliger và trải qua giai đoạn sống trôi nổi trong khoảng thời gian từ vài tuần đến một tháng (Frey và Vermeij,

2008) Theo Fred (1993), ốc đĩa N balteata cũng giống như các loài ốc khác trong họ

Neritidae đều là những loài ăn thức ăn chủ yếu là thực vật, chúng bắt mồi trên các nền

đáy đá, cây rừng ngập mặn, bùn hoặc cát Thức ăn chính là các loài tảo trong vùng triều nơi chúng phân bố

1.2.2

Ở nước ta, ốc đĩa phân bố chủ yếu ở các vùng rừng ngập mặn, các bãi đá tại Quảng Ninh và một số tỉnh phía Nam Tại Quảng Ninh, ốc đĩa là loài có giá trị kinh tế rất cao, giá bán tại các nhà hàng hiện nay khoảng 400 - 500 ngàn đồng/kg Trong những năm gần đây do nhu cầu tiêu thụ nội địa tăng cao, chính vì vậy, ngư dân đã chạy theo lợi nhuận khai thác ốc đĩa ồ ạt ở tất cả các nhóm kích thước dẫn đến nguồn lợi đã và đang bị suy giảm một cách nghiêm trọng

Trang 21

lượng khai thác trung bình là 2842 ± 125 kg/năm, mật độ trung bình 10,5 con/m2 và sinh lượng 25 g/m2

Mùa vụ khai thác của ốc đĩa là từ tháng 4 tới tháng 11 hàng năm, người dân đi khai thác ốc đĩa theo con nước hàng tháng với phương tiện và kỹ thuật khai thác thủ công

ốc đĩa là loài phân tính đực cái riêng biệt và có thể phân biệt giới tính của ốc dựa vào màu sắc của cơ quan sinh dục: ốc đực: cơ quan sinh dục có màu vàng nâu; ốc cái: cơ quan sinh dục có màu trắng sữa

đoạn p

Sức sinh sản tuyệt đối (Fa) của ốc đĩa dao động trong khoảng 32.478 ÷ 197.674 trứng/cá thể, trung bình 95.221 trứng/cá thể Sức sinh sản tương đối (Frg) dao động trong khoảng 5.612 ÷ 22.482 trứng/g cá thể, trung bình 11.069 trứng/g cá thể

, mùa vụ sinh sản của ốc đĩa từ tháng 6 đến hết tháng 10, trong đó mùa vụ sinh sản chính từ tháng 8 đến tháng 10 Kích thước thành thục sinh dục lần đầu của ốc đĩa đực nhỏ hơn ốc đĩa cái Ốc đĩa đực thành thục sinh dục lần đầu ở nhóm kích thước từ 18 –

100-120 ngày Độ mặn 25‰ phù hợp nhất với quá trình ấp trứng, cho tỷ lệ nở đạt 80,6 ± 2,30%) và tỷ lệ ấu trùng dị hình thấp nhất (3,6 ± 0,25%) Mật độ ấp thích

Trang 22

hợp nhất là 75,1 ± 0,53%) và tỷ lệ dị hình thấp nhất (3,4 ± 0,25%)

thích hợp nhất cho sinh trưởng và phát triển của ấu trùng là 300 con/lít, độ mặn 25‰

và thức ăn thích hợp nhất là tảo tươi Trong khi đó, ở giai đoạn ấu trùng spat mật độ ương thích hợp nhất là 1 con/cm2

và thức ăn thích hợp nhất là tảo bám kết hợp với thức ăn tổng hợp Khả năng sản xuất giống nhân tạo của ốc đĩa đã được chứng minh thành công tại Quảng Ninh khi nhóm nghiên cứu của Viện Nuôi trồng Thủy sản đã sản xuất được gần 10.000 con giống ốc đĩa giai đoạn ốc giống cấp 1 với tỷ lệ sống đạt 6,67±1,15% (Ngô Anh Tuấn và ctv, 2013)

Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu trên cũng cho thấy còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình sản xuất giống nhân tạo ốc đĩa như: quá trình phát triển phôi và ấu trùng kéo dài (khoảng 50-60 ngày), kích thước ấu trùng nhỏ

Ninh, nơi phân b

Trang 23

2 CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

c: Nerita balteata Reeve, 1855

- Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm Quốc gia giống hải sản Miền Trung

Hình 2.1: Ốc đĩa N balteata

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng

ốc đĩa giai đoạn trôi nổi

- Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng

ốc đĩa giai đoạn sống đáy

Trang 24

Hình 2.2: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 2.3 Phương pháp nghiên cứu

đoạn trôi nổi

Thí nghiệm ảnh hưởng của độ mặn đến quá trình phát triển của ấu trùng veliger

ốc đĩa được bố trí ở 3 thang độ mặn khác nhau: 20, 25 và 30‰ Sử dụng các xô nhựa

20 lít để thí nghiệm và được đánh số để theo dõi Cấp nước biển đã lọc sạch vào các xô nhựa và sục khí nhẹ 24/24 giờ Định lượng ấu trùng veliger vào trong các xô nhựa với

mật độ ban đầu 100 con/lít Cho ấu trùng veliger ăn các loại tảo đơn bào: N oculata,

I galbana 2 lần/ngày vào buổi sáng và chiều mát, thay nước 50%/ngày/lần, si phông

đáy 2 ngày/lần Hàng ngày theo dõi nhiệt độ nước và tình hình sức khỏe của ấu trùng như khả năng vận động, bắt mồi trong suốt quá trình thí nghiệm

Định kỳ 10 ngày/lần, lấy mẫu để xác định các chỉ tiêu: sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng Thí nghiệm được lặp lại 3 lần và kết thúc sau 40 ngày ương

TB + TĂTH

Sinh trưởng, tỷ lệ sống, thời gian phát triển

Trang 25

2.3.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến của ấu trùng giai

đoạn trôi nổi

Thí nghiệm ảnh hưởng của thức ăn đến quá trình phát triển của ấu trùng veliger

ốc đĩa được bố trí với 3 loại thức ăn khác nhau:

-Tảo tươi (TT): N oculata và I galbana

- Thức ăn tổng hợp (TĂTH): AP0 và Frippark

- Kết hợp giữa tảo tươi và thức ăn tổng hợp (TT+TĂTH): (N Oculata, I

galbana, Apo và Frippark)

Sử dụng các xô nhựa 20 lít để thí nghiệm và được đánh số để theo dõi Cấp nước biển đã lọc sạch có độ mặn thích hợp nhất (kết quả của thí nghiệm độ mặn) vào các xô nhựa và sục khí nhẹ 24/24 giờ Định lượng ấu trùng veliger vào trong các xô nhựa với mật độ ban đầu 100 con/lít Hàng ngày, cho ấu trùng ăn 2 lần/ngày vào buổi sáng và chiều mát, thay nước 50%/ngày/lần, si phông đáy 2 ngày/lần kết hợp theo dõi nhiệt độ nước và tình hình sức khỏe của ấu trùng như khả năng vận động, bắt mồi trong suốt quá trình thí nghiệm

Định kỳ 10 ngày/lần, lấy mẫu để xác định các chỉ tiêu: sinh trưởng và tỉ lệ sống của ấu trùng Thí nghiệm được lặp lại 3 lần và kết thúc sau 40 ngày ương

đoạn sống đáy

Thí nghiệm ảnh hưởng của độ mặn đến quá trình phát triển của ấu trùng spat ốc đĩa được bố trí ở 3 thang độ mặn khác nhau: 20, 25 và 30‰ Sử dụng các thùng xốp có kích thước 60 x 40 x 30 cm để thí nghiệm và được đánh số để theo dõi Cấp nước biển

đã lọc sạch vào các thùng xốp và sục khí nhẹ 24/24 giờ Định lượng ấu trùng spat vào trong các thùng xốp với mật độ ban đầu 1 con/cm2 Ấu trùng được cho ăn theo nhu

cầu, thức ăn sử dụng là các loại tảo bám: Navicula sp., Nitzschia sp được nuôi sinh

khối trên những miếng vật bám là túi nylon Hàng ngày tiến hành cấp miếng tảo bám vào thùng xốp, khi thấy mầu trên miếng tảo bám mờ đi sẽ tiến hành thay miếng tảo bám mới kết hợp thay nước 50%/ngày/lần và si phông đáy 2 ngày/lần Hàng ngày theo dõi nhiệt độ nước và tình hình sức khỏe của ấu trùng như khả năng vận động, bắt mồi trong suốt quá trình thí nghiệm

Trang 26

Định kỳ 5 ngày/lần, lấy mẫu để xác định các chỉ tiêu: sinh trưởng và tỉ lệ sống của ấu trùng Thí nghiệm được lặp lại 3 lần và kết thúc sau 20 ngày ương

2.3.4 Ảnh hưởng của thức ăn đến của ấu trùng giai

đoạn sống đáy

Thí nghiệm ảnh hưởng của thức ăn đến quá trình phát triển của ấu trùng spat ốc đĩa được bố trí với 3 loại thức ăn khác nhau:

- Tảo bám (TB): Navicula sp và Nitzschia sp

- Thức ăn tổng hợp (TĂTH + TK): AP0, Frippark và

- và thức ăn tổng hợp (TB+TĂTH): (Navicula sp.,

Nitzschia sp, AP0 và Frippark)

Sử dụng các thùng xốp có kích thước 60 x 40 x 30 cm để thí nghiệm và được đánh số để theo dõi Cấp nước biển đã lọc sạch có độ mặn thích hợp nhất (kết quả của thí nghiệm độ mặn) vào các thùng xốp và sục khí nhẹ 24/24 giờ Định lượng ấu trùng spat vào trong các thùng xốp với mật độ ban đầu 1 con/cm2 Hàng ngày, cho ấu trùng

ăn 2 lần/ngày vào buổi sáng và chiều mát đối với thức ăn tổng hợp và cho ăn theo nhu cầu đối với tảo bám Tiến hành thay nước 50%/ngày/lần, si phông đáy 2 ngày/lần kết hợp theo dõi nhiệt độ nước và tình hình sức khỏe của ấu trùng như khả năng vận động, bắt mồi trong suốt quá trình thí nghiệm Định kỳ 5 ngày/lần, lấy mẫu để xác định các chỉ tiêu: sinh trưởng và tỉ lệ sống của ấu trùng Thí nghiệm được lặp lại 3 lần

và kết thúc sau 20 ngày ương

2.3.5 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

2.3.5.1 Phương pháp xác định các thông số môi trường

- Nhiệt độ: đo bằng nhiệt kế bách phân, chính xác đến 1oC

- pH đo bằng máy WQC-22A chính xác đến 0,1

- Độ mặn: Đo bằng Salimeter, chính xác đến 1%o

2.3.5.2 Các công thức tính toán

Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối về chiều dài (DLG):

Trang 27

L2 – L1DLG (µm/ngày) =

t2 – t1(Trong đó: L1, L2 lần lƣợt là chiều dài của ấu trùng ở thời điểm kiểm tra t1, t2)

Ngày đăng: 19/03/2016, 08:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Ốc đĩa N. balteata  2.2  Nội dung nghiên cứu - Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn, thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ốc đĩa (nerita baleata reeve, 1855) tại khánh hòa
Hình 2.1 Ốc đĩa N. balteata 2.2 Nội dung nghiên cứu (Trang 23)
Hình 2.2: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu  2.3  Phương pháp nghiên cứu - Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn, thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ốc đĩa (nerita baleata reeve, 1855) tại khánh hòa
Hình 2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 2.3 Phương pháp nghiên cứu (Trang 24)
Bảng 3.1: Sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng veliger ốc đĩa ở các độ mặn khác nhau - Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn, thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ốc đĩa (nerita baleata reeve, 1855) tại khánh hòa
Bảng 3.1 Sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng veliger ốc đĩa ở các độ mặn khác nhau (Trang 28)
Hình 3.2: Tăng trưởng tuyệt đối của ấu trùng veliger ốc đĩa ở các độ mặn khác nhau - Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn, thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ốc đĩa (nerita baleata reeve, 1855) tại khánh hòa
Hình 3.2 Tăng trưởng tuyệt đối của ấu trùng veliger ốc đĩa ở các độ mặn khác nhau (Trang 29)
Hình 3.3: Tỷ lệ sống của ấu trùng veliger ốc đĩa ở các độ mặn khác nhau - Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn, thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ốc đĩa (nerita baleata reeve, 1855) tại khánh hòa
Hình 3.3 Tỷ lệ sống của ấu trùng veliger ốc đĩa ở các độ mặn khác nhau (Trang 30)
Bảng 3.2: Sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng veliger sử dụng các loại thức ăn - Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn, thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ốc đĩa (nerita baleata reeve, 1855) tại khánh hòa
Bảng 3.2 Sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng veliger sử dụng các loại thức ăn (Trang 31)
Hình 3.5: Tăng trưởng tuyệt đối của ấu trùng veliger sử dụng các loại thức ăn - Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn, thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ốc đĩa (nerita baleata reeve, 1855) tại khánh hòa
Hình 3.5 Tăng trưởng tuyệt đối của ấu trùng veliger sử dụng các loại thức ăn (Trang 33)
Hình 3.6: Tỷ lệ sống của ấu trùng giai đoạn veliger sử dụng các loại thức ăn khác nhau - Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn, thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ốc đĩa (nerita baleata reeve, 1855) tại khánh hòa
Hình 3.6 Tỷ lệ sống của ấu trùng giai đoạn veliger sử dụng các loại thức ăn khác nhau (Trang 34)
Bảng 3.3: Sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng spat ở các độ mặn khác nhau - Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn, thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ốc đĩa (nerita baleata reeve, 1855) tại khánh hòa
Bảng 3.3 Sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng spat ở các độ mặn khác nhau (Trang 35)
Bảng 3.3 cho thấy, có sự sai khác có ý nghĩa thống kê về kích thước chiều cao và  tốc độ tăng trưởng tuyệt đối của ấu trùng - Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn, thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ốc đĩa (nerita baleata reeve, 1855) tại khánh hòa
Bảng 3.3 cho thấy, có sự sai khác có ý nghĩa thống kê về kích thước chiều cao và tốc độ tăng trưởng tuyệt đối của ấu trùng (Trang 36)
Hình 3. 9: Tỷ lệ sống của ấu trùng spat ở các độ mặn khác nhau - Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn, thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ốc đĩa (nerita baleata reeve, 1855) tại khánh hòa
Hình 3. 9: Tỷ lệ sống của ấu trùng spat ở các độ mặn khác nhau (Trang 37)
Hình 3. 10: Tăng trưởng tuyệt đối của ấu trùng spat sử dụng các loại thức ăn - Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn, thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ốc đĩa (nerita baleata reeve, 1855) tại khánh hòa
Hình 3. 10: Tăng trưởng tuyệt đối của ấu trùng spat sử dụng các loại thức ăn (Trang 38)
Bảng 3.4: Sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng spat sử dụng các loại thức ăn - Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn, thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ốc đĩa (nerita baleata reeve, 1855) tại khánh hòa
Bảng 3.4 Sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng spat sử dụng các loại thức ăn (Trang 38)
Hình 3.11: Tỷ lệ sống của ấu trùng spat sử dụng các loại thức ăn khác nhau - Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn, thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng ốc đĩa (nerita baleata reeve, 1855) tại khánh hòa
Hình 3.11 Tỷ lệ sống của ấu trùng spat sử dụng các loại thức ăn khác nhau (Trang 39)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w