Mục tiêu cụ thể của Tập làm văn, ở phần kiến thức là : “ Nắm được những tri thức và các kiểu văn bản thường dùng: văn bản tự sự, văn bản miêu tả, văn bản biểu cảm, văn bản thuyết minh và
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẬN HOÀN KIẾM TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HOÀN KIẾM
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Vận dụng và luyện tập các kĩ năng cơ bản để
làm tốt một bài văn miêu tả cho học sinh lớp 6
GIÁO VIÊN THỰC HIỆN : PHẠM VÂN ANH
MÔN : NGỮ VĂN
NĂM HỌC 2013-2014
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU PHẦN I: LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Tập làm văn là một phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc đánh giá kết quả học tập bộ môn Ngữ văn trong nhà trường ở các bậc học thông qua
hệ thống các bài tập tạo lập văn bản cũng như thực hành sử dụng tiếng Việt
“Chính tập làm văn, như chúng ta đã biết lại là nơi thể hiện cuối cùng, quan trọng nhất và đáng tin cậy nhất, trình độ viết văn của học sinh Không phải ở phân môn Tiếng Việt, cũng không phải ở phân môn Văn, mà chính là Tập làm văn và chỉ ở Tập làm văn, điểm số và kết quả thi cử mới thực sự có khả năng quyết định số phận, quyết định đường đời của một sinh viên, hoặc một thiếu niên đang còn lứa tuổi học trò”
Mục tiêu cụ thể của Tập làm văn, ở phần kiến thức là : “ Nắm được những tri thức và các kiểu văn bản thường dùng: văn bản tự sự, văn bản miêu tả, văn bản biểu cảm, văn bản thuyết minh và văn bản điều hành ; nắm được những tri thức thuộc cách lĩnh hội và tạo lập các kiểu văn bản đó.” Phần kĩ năng trong mục tiêu môn học cũng được qui định rất rõ: “ Có kĩ năng nói và viết Tiếng Việt đúng chính tả, đúng từ ngữ, đúng có pháp…biết cách sử dụng các thao tác cần thiết để tạo lập các kiểu văn bản được học Biết vận dụng các kiểu văn bản được học phục vụ cho việc học tập ở nhà trường và phục vụ đời sống gia đình, xã hội.” Với mục tiêu cụ thể về kiến thức và kĩ năng như thế, cấu tạo chương trình phân môn Tập làm văn được học ở lớp 6 gồm những nội dung sau:
1 Văn bản tự sự:
Phần lý thuyết:
- Tìm hiểu chung về văn tự sự
- Sự việc và nhân vật trong văn tự sự
- Chủ đề và dàn bài của bài văn tự sự
- Tìm hiểu chủ đề và cách làm bài văn tự sự
- Lời văn , đoạn văn tự sự
- Ngôi kể trong văn tự sự
- Thứ tự kể trong văn tự sự
Trang 3- Tìm hiểu chung về văn miêu tả
- Quan sát, tưởng tượng, so sánh và nhận xét trong văn miêu tả
- Phương pháp tả cảnh
- Phương pháp tả người
Phần thực hành:
- Luyện nói về quan sát, tưởng tượng, so sánh và nhận xét trong văn miêu tả
- Luyện nói về văn miêu tả
- Viết bài miêu tả: tả người , tả cảnh, miêu tả sáng tạo
Quả thực môn Tập làm văn là kết quả của hai phân môn Văn – Tiếng Việt, nó
có vai trò hết sức quan trọng trong việc đánh giá quá trình học tập của một học sinh Thế nhưng, phân môn này lại bị rất nhiều học sinh không yêu thích, thậm chí sợ và ngại thực hành Ở lớp 6A (2013-2014) của tôi, trong các giờ học các văn bản, các em học sinh rất hào hứng, sôi nổi, rất thích thú khi tự mình khám phá ra những chi tiết hay, đặc sắc của tác phẩm, thích được trình bày ý kiến của mình trước lớp về một nhân vật, một tình huống truyện nào đó Trong các giờ Tiếng Việt, các em tiếp thu bài nhanh, biết vận dụng các từ loại, biện pháp tu từ nghệ thuật một cách tương đối linh hoạt, chính xác Ở giờ Tập làm văn, các em hiểu được bài, nắm được phần lý thuyết và làm tốt các bài tập theo yêu cầu của sách Giáo Khoa Nhưng cả một học kỳ nhìn lại, điểm số chung của các em tương đối cao, riêng phần Tập làm văn, điểm số rất khiêm tốn Đa số, học sinh mắc phải những lỗi diễn đạt, và hơn nữa là cách bố cục và viết văn theo đoạn còn nhiều hạn chế Trong bài Tập làm văn thường có nhiều đoạn văn liên kết với nhau, các bài tập trong Sách Giáo Khoa cũng được giáo viên hướng dẫn một
Trang 4cách cụ thể Thế nhưng khi tự các em xây dựng một đoạn văn trong bài Tập làm văn thì các em tỏ ra lúng túng, khó thực hiện một đoạn văn đúng với yêu cầu của
Vậy để giúp học sinh nắm vững hơn những lí thuyết cơ bản, tăng cường kĩ năng thực hành và hứng thú hơn với phân môn Tập làm văn, tôi xin trình bày
một vài tìm tòi, thử nghiệm của mình trong đề tài : “ Vận dụng và luyện tập các kỹ năng cơ bản để làm tốt một bài văn miêu tả cho học sinh lớp 6” Tôi
cũng mong muốn chia sẻ với đồng nghiệp những cách làm hay, đồng thời cũng muốn được các đồng nghiệp góp ý kiến, trao đổi thêm để chúng ta có thể giúp học sinh làm được những bài văn miêu tả có chất lượng tốt nhất
Trang 5NỘI DUNG PHẦN II – GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
A CƠ SỞ ĐỂ VẬN DỤNG VÀ LUYỆN TẬP CÁC KỸ NĂNG CƠ BẢN ĐỂ LÀM TỐT MỘT BÀI VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 6
Văn miêu tả là loại văn giúp người đọc hình dung ra những đặc điểm, tính chất nổi bật của sự vật, sự việc, con người, phong cảnh “làm cho những vật, việc, người, cảnh đó như hiện lên trước mắt người đọc” Văn miêu tả rất cần với tuổi thơ Miêu tả giúp các em diễn tả lại được cảnh, vật, người trong cuộc sống Miêu tả còn giúp các em làm văn kể chuyện hay hơn và sinh động hơn Trong chương trình lớp 6, văn miêu tả không phải là một thể loại mới, các em đã được làm quen với thể loại này ở bậc tiểu học Nhưng ở cấp II, yêu cầu làm văn miêu
tả của học sinh cao hơn rất nhiều Với quan điểm chú trọng tới việc rèn luyện, nâng cao kĩ năng thực hành tạo lập văn bản nói và viết tiếng Việt, phân môn Tập làm văn đó xây dựng theo cấu trúc đồng tâm, có lặp lại ( nâng cao) ở các lớp khác nhau Cụ thể bài văn miêu tả ở Ngữ văn 6 yêu cầu dung lượng chỉ từ 300-
400 từ nhưng ở lớp 9 có thể từ 500-700 từ và mức độ miêu tả cũng sâu hơn và phức tạp hơn Trong miêu tả, học sinh phải vận dụng lại từ ngữ để tái hiện lại sự vật, con người với các trạng thái, tính chất và đặc điểm của chúng Đồng thời qua thể loại văn miêu tả, giáo viên có thể kiểm tra được năng lực quan sát, trí tưởng tượng, kỹ năng so sánh, nhận xét và tạo lập một văn bản miêu tả của từng học sinh
Một bài Tập làm văn có thể coi là một mốc quan trọng, một kết quả tổng hợp để đánh giá khả năng học tập của học sinh về phân môn Văn và Tiếng Việt Bởi thông qua bài Tập làm văn, giáo viên có thể đánh giá được quá trình, khả năng vận dụng kiến thức Tiếng Việt để diễn đạt thành câu và đoạn, vận dụng những kiến thức Văn học để có những đoạn văn hay, rõ ràng Bài Tập làm văn tốt phải là bài văn viết đúng thể loại, có bố cục rõ ràng, mạch lạc; các đoạn, các
ý phải có sự liên kết chặt chẽ Nhưng trong thực tế, rất ít học sinh đạt được yêu cầu trên, đặc biệt là yêu cầu về bố cục và cách diễn đạt trong bài làm văn
Trang 6Trong thực tế, Sách Giáo Khoa vẫn là tài liêu chính, ở đây học sinh đã được làm quen với những nguyên tắc, những yêu cầu phải đạt tới của bất kỳ thể loại văn nào Vì vậy, trước hết giáo viên phải tận dụng tốt và triệt để các kiến thức, các hệ thống bài tập có trong Sách Giáo Khoa Nhưng để làm bài được tốt, học sinh phải có một kỹ năng viết bài, viết đoạn nhất định Vậy giáo viên phải làm gì đề các em thấy được văn miêu tả không khó, không quá sức, cách diễn tả trong từng bài văn cũng trở nên đơn giản, nhẹ nhàng hơn và hơn nữa là tạo cho các em hứng thú khi học Tập làm văn?
Theo tôi, trước khi viết bài văn hoàn chỉnh, học sinh sẽ làm các dạng bài tập khác nhau để hiểu những kỹ năng cơ bản trong văn miêu tả, mặt khác rèn các thao tác nhỏ để hoàn thành một bài hoàn chỉnh Bởi khi có những bước đi cụ thể, những phương pháp rõ ràng, học sinh thực hành và hoạt động theo hướng dẫn của thầy cô giáo thì sẽ tạo ra một văn bản hoàn chỉnh và có chất lượng
Từ đó, tôi đã xác định các bước khi vận dụng và luyện tập các kỹ năng cơ bản để làm tốt một bài văn miêu tả cho học sinh lớp 6 như sau:
1- Hướng dẫn học sinh nhận diện thể loại, bài, đoạn văn miêu tả
2- Tìm hiểu đề và tìm ý cho bài văn miêu tả
I HƯỚNG DẪN HỌC SINH NHẬN DIỆN THỂ LOẠI, BÀI VÀ ĐOẠN VĂN MIÊU TẢ:
1 Sự khác nhau giữa văn miêu tả với văn tự sự và thuyết minh:
a) Văn miêu tả và văn tự sự: thường được kết hợp chặt chẽ trong quá trình nói
hoặc viết Điểm khác nhau giữa chúng là:
Văn tự sự ( kể chuyện) Văn miêu tả
Trang 7-chú ý vào diễn tiến của sự vật, sự việc,
hoạt động của các nhân vật
- chú ý vào đặc điểm, tính chất của các
sự vật, sự việc, hoạt động của các nhân vật
- khi kể: sắp xếp các sự vật, sự việc
theo trình tự của thời gian
- khi tả: sắp xếp các sự vật, sự việc theo bố cục của không gian
Các nhà văn thường kết hợp cả kể và tả trong qua trình sáng tác: khi nào kể, khi nào tả tùy theo đối tượng và mục đích của mình
Ví dụ một đoạn văn miêu tả:
Sớm, tiết trời còn se lạnh Gió thoảng, khẽ lay động cành lá để lộ nhũng giọt
sương mại trắng muốt của một buổi sớm tinh khôi Cả xóm làng bồng bềnh trong biển sương sớm Về phía đông, mặt trời e thẹn, ửng hồng sau hàng bạch đàn và thả muôn ngàn tia nắng lấp lánh xuống mặt đất Trên trời, những đám mây đang nhè nhẹ trôi với các sắc màu kì ảo
( Bài làm của học sinh)
Ví dụ về đoạn văn tự sự:
Bà ngoại tôi rất thích chăm sóc cây xanh Sáng sáng, bà thường tự tay tưới
tắm và bắt sâu cho cây Một lần, em tôi hỏi bà: “Bà ơi, tại sao bà quí những cái cây này thế? Có khi nào bà yêu chúng hơn bọn cháu không?” Bà nhìn chúng tôi
âu yếm và bảo: “ Sao thế được, tất nhiên là bà phải yêu các cháu bà hơn rồi Những cái cây này chỉ là thú vui của bà thôi Đây là những cái cây mà ông để lại khi mất nên bà thay ông chăm sóc chúng.”
( Bài làm của học sinh)
b) Văn miêu tả và văn thuyết minh: tuy đều chú ý tới những đặc điểm, tính
chất của các sự vật, sự việc những giữa chúng cũng có sự khác nhau:
- nhằm làm nổi bật những đặc điểm
tính chất của các sự vật, sự việc, tạo ấn
tượng cho người đọc
- nhằm cung cấp những tri thức về đặc điểm tính chất của các sự vật, sự việc
để người đọc, người nghe nắm chắc được về sự vật, sự việc
- đòi hỏi người viết phải quan sát, - đòi hỏi người viết phải khách quan,
Trang 8tưởng tượng, liên tưởng khi trình bày chính xác, khoa học khi trình bày
Ví dụ cách viết của văn miêu tả về cái chổi rơm như sau:
“ Trong họ hàng nhà chổi thì cô bé Chổi Rơm vào loại xinh xắn nhất Cô
có chiếc váy vàng óng, không ai đẹp bằng Áo của cô cũng bằng rơm thóc nếp vàng tươi, được tết săn lại, cuốn từng vũng quanh người, trông cứ như cái áo len vậy.”
Còn đây là cách viết của văn thuyết minh về cái chổi rơm như sau:
“ Trong các loại chổi, chổi rơm vào loại đẹp nhất Chổi được tết bằng rơm
nếp vàng Tay chổi được tết săn lại thành sợi và quấn quanh thành cuộn.”
2 Các dạng bài văn miêu tả thường gặp:
A Tả cảnh: bao gồm tả cảnh thiên nhiên ( núi rừng, sông biển, ruộng đồng ),
tả cỏ cây, hoa lá, sự vật, tả cảnh sinh hoạt ( đường phố, trường học, chợ Tết )
B Tả người: bao gồm tả ngoại hình, hoạt động, tính cách, tâm trạng nhằm giúp
cho người đọc hình dung được rõ ràng chân dung của đối tượng được tả và thấy được tình cảm của người viết với đối tượng được tả
Để học sinh nắm chắc hơn về kiến thức văn miêu tả, tôi đã đưa ra bài tập sau: Bài tập: Cho các đoạn văn sau:
Đoạn 1: Chiều nào cũng vậy, con chim họa mi ấy không biết tự phương nào bay
đến đậu trong bụi tầm xuân ở vườn nhà tôi mà hót
Hình như nó vui mừng vì suốt ngày đó được tha hồ rong ruổi bay chơi trong khắp trời mây gió, uống bao nhiêu nước suối mát lành trong khe núi Cho nên những buổi chiều tiếng hót có khi êm đềm, có khi rộn rã, như một điệu đàn trong bóng xế mà âm thanh vang mãi giữa tĩnh mịch, tưởng như làm rung động lớp sương lạnh mờ mờ rủ xuống cỏ cây
Hót một lúc lâu, nhạc sĩ giang hồ không tên tuổi ấy từ từ nhắm hai mắt lại, thu đầu vào lòng cổ, im lặng ngủ, ngủ say sưa sau một cuộc viễn du trong bóng đêm dày
Rồi hôm sau, khi phương đông vừa vẩn bụi hồng, con họa mi ấy lại hót vang lừng chào mừng nắng sớm Nó kéo dài cổ ra mà hót, tựa hồ nó muốn các bạn xa
Trang 9gần đâu đó lắng nghe Hót xong, nó xù lông rũ hết những giọt sương rồi nhanh nhẹn chuyền từ bụi nọ sang bụi kia, tìm vài con sâu ăn lót dạ, đoạn vỗ cánh bay vút đi
(Con chim họa mi hút – Ngọc Giao)
Đoạn 2: “Mùa hè mới là mùa đầy sức quyến rũ của Sa Pa Màn mây vén lên
cùng với tiếng sấm động tháng tư, để biểu hiện bộ mặt thiên nhiên như mới tinh khôi: sóng núi nhấp nhô vô tận, rừng xanh lên trong nắng, suối rì rào, thác xối, chim mở dàn hợp xướng khắp cánh rừng và hoa tưng bừng nở Những ngày hè
đổ lửa ở đồng bằng thì ở Sa Pa không khí trong lành mát rượi Những cơn mưa rào thoắt đến, ồn ào một chốc rồi đi, đủ cho núi rừng cỏ cây tắm gội, cho các suối dào dạt nước, cho các búp hoa xoè nở, cho cảnh vật biếc xanh”
( Lãng văn - Đọc văn và luyện văn)
Đoạn 3: Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc, các bắp thịt cuồn
cuộn, hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa ghì trên ngọn sào giống như một hiệp sĩ của Trường Sơn oai linh, hùng vĩ
(Vượt thác-Đỗ Quảng)
a Các đoạn văn trên tái hiện điều gì?
b Tìm các đặc điểm tiêu biểu để làm nổi rõ những đối tượng được nhắc tới?
c Mỗi đoạn văn dùng phương thức biểu đạt nào?
Với kiến thức đã học ở trên lớp, học sinh dễ dàng nhận thấy rằng:
-Đoạn 1: Tác giả miêu tả thật sinh động hình ảnh chú chim họa mi: khi hót thì
kéo dài cổ ra, hót xong thì từ từ nhắm hai mắt lại, thu đầu vào lòng cổ, im lặng ngủ ; tiếng hút khi êm đềm, khi rộn rã, vang lừng như một điệu đàn của người
nhạc sĩ giang hồ
- Đoạn 2: Tác giả miêu tả Sa Pa vào mùa hè với đầy sức quyến rũ của nó: sóng
núi nhấp nhô, suối rì rào, không khí trong lành, những cơn mưa rào
- Đoạn 3: Nhà văn miêu tả hình ảnh dượng Hương Thư với vẻ đẹp thể chất và sự
dũng mãnh như những nhân vật trong sử thi Tây Nguyên: bắp thịt cuồn cuộn,
hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa
Trang 10- Cả ba đoạn đều dùng phương thức miêu tả
II.TÌM HIỂU ĐỀ VÀ TÌM Ý CHO BÀI VĂN MIÊU TẢ:
1 Tìm hiểu đề:
a Nhận diện đề văn miêu tả:
Học sinh phải có kỹ năng tìm hiểu đề một cách nhanh và chính xác để xác định đúng thể loại, đúng với yêu cầu của đề bài Với bước này, học sinh không nắm chắc kiến thức sẽ mất nhiều thời gian vô ích, đồng thời sẽ rất lúng tùng khi làm bài, thậm chí sẽ sai lệch hoàn toàn với yêu cầu của đề, sai phương thức biểu đạt chủ yếu Chính vì thế, tôi đã đưa ra một số đề bài sau để học sinh vận dụng
và luyện tập kỹ năng tìm hiểu đề một cách nhanh và chính xác nhất
Bài tập:
Trong những đề bài sau, đề nào là đề văn miêu tả:
Đề 1: Mùa đông, cảnh vật như cũng cố gắng tránh những đợt gió mùa lạnh lẽo Hãy tả lại cảnh nơi em ở vào một sớm mùa đông
Đề 2: Một lần, em đó mắc lỗi làm bố mẹ phiền lòng Hãy kể lại chuyện đó
Đề 3: Hãy viết thư cho một người bạn ở xa để giới thiệu về ngày Tết Nguyên đán
ở Hà Nội
Với 3 đề trên, học sinh sẽ dễ dàng nhận biết đề 1 là đề văn miêu tả vì đề có yêu cầu trực tiếp “Hãy tả lại” Với đề văn số 2, học sinh cũng dễ dàng nhận thấy rằng đây là một đề văn tự sự ( kể chuyện đời thường) Riêng đề số 3, học sinh rất lúng túng và có nhiều ý kiến khác nhau Nhưng đa số học sinh đều biết đây là
đề văn miêu tả, yêu cầu tả lại không khí ngày Tết Nguyên đán, tuy nhiên đề văn chưa có từ ngữ yêu cầu miêu tả trực tiếp như những đề trên, mà yêu cầu gián tiếp qua từ “giới thiệu” Và để thực hiện được yêu cầu của đề bài, học sinh phải làm rõ không khí ngày Tết để bạn có thể hình dung ra một cách cụ thể, sinh động như mình đã được chứng kiến Vậy có thể khẳng định đề số 3 là đề văn miêu tả nhưng được viết dưới dạng một bức thư
b.Tìm hiểu đề:
Trang 11Học sinh nhận biết đề bài văn miêu tả thôi thì chưa đủ, tiếp theo phải hiểu rõ các yêu cầu cụ thể từng đề bài để từ đó định hướng chính xác cho bài làm của mình Vì vậy, tôi đã yêu cầu học sinh tìm hiểu một số đề bài sau:
Đề 1: Em hãy tả lại một buổi tối sum họp của gia đình em
-Thể loại: tả cảnh sinh hoạt
-Nội dung tả: một buổi sum họp gia đình (một khoảng thời gian nào đó trong ngày hoặc một ngày nghỉ.)
Đề 2: Hãy tả lại hình ảnh cây bàng trong sân trường em
đề, thậm chí học sinh khi đọc đầu bài đã có thể xác định được thể loại, hình dung được đối tượng cần miêu tả mà đề yêu cầu
2 Tìm ý cho bài văn miêu tả:
Tìm ý chính là chuẩn bị các vật liệu cho việc xây dựng công trình kiền trúc, tức là bài tập làm văn Vật liệu tốt, phong phú sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi công, sẽ đảm bảo độ bền vững của công trình Đối với việc làm tập làm văn cũng vậy, tìm được nhiều ý, ý chính xác, độc đáo sẽ tạo điều kiện để làm một bài tập làm văn đúng và hay Để tìm ý được đầy đủ, có hệ thống khoa học, học sinh phải trải qua những kĩ năng rất quan trọng trong văn miêu tả, đó là: quan sát, tưởng tượng, so sánh và nhận xét Nhưng trong thực tế, với học sinh
Trang 12lớp 6, những kĩ năng này còn rất chung chung, khó hiểu Hệ thống bài tập trong sách Giáo khoa chưa phong phú để các em có thể nhận biết và tìm ý một cách đơn giản và dễ dàng Vịêc miêu tả người có thể còn khả thi hơn như : tả hình ảnh mẹ ( hoặc cha), hình ảnh cô giáo đang giảng bài, người bạn thân mà em yêu quí Điều đó cũng rất dễ hiểu bởi các em thường xuyờn được tiếp xúc với những đối tượng miêu tả trên nhưng phải tả cảnh thiên nhiên như cánh đồng lúa quê hương, khu vườn hoặc một phiên chợ quê thì quả là không có hoặc ít
có sự quan sát trực tiếp Vì lẽ đó bài làm của các em thường sơ sài, thiếu kiến thức từ thực tế
Vì vậy, tôi đã xây dựng một hệ thống bài tập để học sinh có thể vận dụng
và luyện tập kỹ năng tìm ý qua các bước: quan sát, tưởng tượng, so sánh và nhận xét
a Vận dụng và luyện tập kỹ năng quan sát, ghi chép:
Quan sát để ghi nhận, để khám phá và để hiểu về thế giới quanh mình Quan sát kĩ đối tượng miêu tả để tìm ra những đặc điểm, tính chất, tiêu biểu, đặc sắc nhất của đối tượng Điều này cũng giống như việc lựa chọn các sự việc, chi tiết khi làm văn tự sự Đối với các nhà văn, kĩ năng quan sát đóng một vị trí hết sức quan trọng, thậm chí được coi là yếu tố khơi nguồn cho cảm hứng sáng tác cũng như quyết định cho sự thành công của quá trình miêu tả hiện thực cuộc sống Sau những buổi họp nhóm chuyên môn, chúng tôi có sự thống nhất trong nhóm
về một số đề Tập làm văn miêu tả Tôi đã yêu cầu HS quan sát những đối tượng miêu tả rất gần gũi với các em như : bố / mẹ em, thầy / cô giáo, ngôi trường của
em, người bạn thân của em, không khí giờ ra chơi HS không những quan sát
mà phải tự đặt ra những câu hỏi để tự giải đáp nhằm tìm hiểu và khắc sâu vào trí nhớ những hình ảnh xung quanh
Ví dụ 1:
- Hình ảnh bố / mẹ em khi đang làm việc như thế nào?-
- Hình ảnh cô giáo đang giảng bài trên lớp như thế nào?
- Hãy xem quang cảnh trong trường em như thế nào? Cây cối cảnh vật ra sao?
- Cảnh khu vườn về mùa đông khác với về mùa hè như thế nào?
Trang 13- Hãy quan sát lớp học của em
- Hình ảnh mẹ em khi chăm sóc em lúc ốm như thế nào?
Tương tự những câu hỏi như thế, học sinh có thể tự đặt câu hỏi cho từng đối tượng miêu tả Tôi đưa ra lời khuyên và khuyến khích mỗi học sinh nên có một cuốn sổ tay hay những tập giấy nhớ nhỏ xinh thường dán ở mỗi góc học tập Ở
đó, các em sẽ ghi chép được đầy đủ những gì các em quan sát được, cảm nhận được để làm tư liệu làm bài Ở các tiết học văn miêu tả, tôi thường dành khoảng 5-10 phút để kiểm tra sự ghi chép của 3-5 em Từ đó nhận xét những chi tiết mà các em đã quan sát và cảm nhận cuộc sống, cho điểm khuyến khích đối với các
em có ghi chép tốt, đầy đủ, khoa học Các học sinh lớp 6A tôi dạy rất hào hứng trong việc quan sát và ghi chép vào sổ tay của mình để có tư liệu làm bài và tôi thường cho điểm để động viên, khuyến khích các em Tuy nhiên, tôi không yêu cầu quá cao ở HS trong bước quan sát đối tượng, chủ yếu là HS ghi chép được những gì cơ bản nhất, đặc trưng nhất của đối tượng miêu tả
Ví dụ: tư liệu ghi chép của em Phạm Minh Phương như sau:
*Đặc điểm ngôi nhà của em:
-Ngôi nhà nhỏ ba tầng xinh xắn
-Tường được sơn màu hồng tím nhạt
-Cánh cửa màu trắng sữa với những ô kính màu trẻ trung
-Phòng khách yên tĩnh, cổ điển với các vật dụng cần thiết để tiếp khách, giải trí, thư giãn
-Phòng ăn sạch sẽ với những bữa ăn ngon, vui vẻ của gia đình
-Phòng ngủ của em như một “vương quốc nhỏ bé” được sơn màu kem với bàn học kê ngay ngắn cạnh cửa sổ, giá sách, giừơng ngủ
-Đi ra ban công là được chạm tới cây hoa sữa với hương thơm ngọt ngào của mùa thu Hà Nội
Ví dụ 2: tư liệu ghi chép của em Hà My như sau:
*Hình ảnh mẹ em:
-Dáng người thon thả, cân đối
-Mái tóc dài, suôn mềm, được uốn nhẹ như những làn sóng nhỏ, êm dịu
Trang 14-Đôi mắt long lanh, tràn đầy tình yêu thương, trìu mến dành cho con cái
-Mẹ là cô giáo dạy Tiểu học, công việc vất vả nhưng đầy thú vị, vì mẹ yêu nghề, yêu những học trò thân yêu như những đứa con bé bỏng của mình
Với những bài có sự ghi chép đầy đủ, khoa học, tôi thường đọc cho cả lớp nghe để tham khảo, tôi khuyến khích các em trong việc quan sát những đối tượng gần gũi với mình, để từ đó tìm ra những nét đặc trưng, nét riêng biệt của đối tượng Ngoài ra, tôi còn hướng dẫn các em tập thói quen quan sát khi có cơ hội đi du lịch, đi tham quan dã ngoại, qua những hình ảnh trên truyền hình, quan sát những bức tranh phong cảnh, đọc những tác phẩm văn học có nghệ thuật miêu tả đặc sắc ( “Dế Mèn phiêu lưu kí – Tô Hoài, “Đất rừng phương Nam- Đoàn Giỏi ….) Bản thân tôi, trong các giờ Tập làm văn miêu tả cũng có
cố gắng sưu tầm những hình ảnh về sự vật, con người, phong cảnh để làm tư liệu giúp các em học sinh có thể quan sát, nhận xét (khi việc đi quan sát của học sinh từ thực tế còn hạn chế) Từ nhiều nguồn khác nhau đó, chúng ta sẽ có một vốn kiến thức thực tế phong phú qua việc quan sát
Trang 15Hình ảnh về khu vườn
Trang 16Hình ảnh về khu vườn
Trang 17Hình ảnh cây bàng và quả bàng
Trang 18Hình ảnh chợ hoa ngày Tết
Trang 19Hình ảnh phiên chợ quê
Trang 20Hình ảnh con đường làng
Hình ảnh ông chăm sóc cho cây bưởi
Trang 21Hình ảnh về cây quất
Trang 22b Vận dụng và luyện tập kỹ năng tưởng tượng:
Học sinh quan sát đối tượng từ thực tế, ghi chép đầy đủ những gì quan sát
và cảm nhận được để khi làm bài tránh được sự suy diễn đáng cười, thiếu vốn sống từ thực tế Tức là học sinh phải ghi chép những điều có thực trong thực tế Nhưng với nghệ thuật nói chung và văn miêu tả nói riêng không thể chấp nhận kiểu sao chép hiện thực cuộc sống một cách máy móc, khô cứng Vì vậy cần tưởng tượng sáng tạo thêm để bổ sung những hình ảnh phù hợp, làm cho bức tranh miêu tả trở nên phong phú và sinh động hơn
Để học sinh thấy được vai trò của trí tưởng tượng trong văn miêu tả, tôi
đã cho học sinh so sánh các đoạn văn sau:
-Tường sơn màu kem: Chiếc áo màu kem được khoác lên ngôi nhà trông thật
ngọt ngào
- Trời xanh, mây trắng: Bầu trời kiêu hãnh khoác chiếc áo xanh thẳm, điểm
những bông hoa tuyết khổng lồ trắng muốt
- Gió thổi nhẹ: Chị gió dịu dàng vuốt ve từng lá cây, ngọn cỏ
-Mẹ chăm sóc em khi ốm: Từ viên thuốc, cốc nước cam tôi uống, bát cháo tôi
ăn, không thể thiếu bàn tay của “ vị bác sĩ gia đình’’ ấy
Đối với học sinh khá, việc vận dụng trí tưởng tượng phong phú vào bài văn miêu tả thì không phải là một việc làm khó khăn Nhưng đối với những học sinh Trung bình, việc tưởng tượng để đưa ra một hình ảnh mới cho bài văn sinh động lại mất rất nhiều thời gian Đối với những học sinh này, tôi thường gợi ý, giao bài về nhà làm và kiểm tra, đánh giá, nhận xét bài làm của các em Từ đó tạo được ý thức học tập nghiêm túc và làm giàu thêm trí tưởng tượng của từng học sinh
c Luyện tập và vận dụng kỹ năng so sánh
“So sánh là đối chiếu sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng khác có nét tuơng đồng nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt” So sánh là một biện pháp tu từ phổ biến mà các em đã được làm quen nhiều từ bậc Tiểu học Và
ở chương trình lớp 6, các em đã được học kỹ hơn về biện pháp tu từ này Vì vậy, việc rèn kỹ năng so sánh trong văn miêu tả không mấy phức tạp Bởi các em đã