Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của đề tài là xây dựng được một số chương trình du lịch đi Lào hấp dẫn và mang tính khả thi cao cho thị trường khách Hà Nội, đồng thời
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-o0o -PHẠM TIẾN CƯỜNG
XÂY DỰNG VÀ BÁN CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH ĐI LÀO DÀNH CHO THỊ TRƯỜNG KHÁCH HÀ NỘI CỦA CHI NHÁNH CÔNG TY CỔ PHẦN DU LỊCH QUỐC TẾ HỮU NGHỊ
Trang 2đến năm 2009 42
Bảng 2.3 Bảng tính giá thành của chương trình du lịch Hà Nội – Vinh – Hà Tĩnh –
Cầu Treo – Lạc Xao – Viêng Chăn – Udonthani (6 ngày, 5 đêm) 85
Bảng 2.4 Bảng tính chi phí theo các khoản mục của chương trình du lịch Hà Nội –
Vinh – Hà Tĩnh – Cầu Treo – Lạc Xao – Viêng Chăn – Udonthani
Hữu Nghị 93
Hình 3.2 Hệ thống phân phối sản phẩm là chương trình du lịch đi Lào của Chi nhánh
Công ty Cổ phần Du lịch Quốc tế Hữu Nghị
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 9
7 Cấu trúc của luận văn 10
Chương 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XÂY DỰNG VÀ BÁN CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH 1.1 Chương trình du lịch 11
1.1.1.Khái niệm chương trình du lịch 11
1.1.2.Phân loại chương trình du lịch 12
1.1.3 Các yếu tố cấu thành chương trình du lịch 15
1.2 Xây dựng chương trình du lịch 18
1.2.1 Quy trình xây dựng chương trình du lịch 18
1.2.2 Xác định thị trường mục tiêu và nhu cầu của khách du lịch 20
1.2.3 Nghiên cứu khả năng đáp ứng nhu cầu 21
1.2.4 Xác định giá thành và giá bán và các quy định của một chương trình du lịch 22
1.2.3.1 Xác định giá thành của một chương trình du lịch 22
1.2.3.2 Xác định giá bán của một chương trình du lịch 25
1.2.3.3 Các quy định của một chương trình du lịch 27
1.2.5.Những điểm cần lưu ý khi xây dựng chương trình du lịch 28
1.3 Bán chương trình du lịch 28
Trang 41.3.1 Tổ chức bán chương trình du lịch .28
1.3.2 Xúc tiến hỗn hợp chương trình du lịch 32
Chương 2: TỔ CHỨC XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH ĐI LÀO CHO THỊ TRƯỜNG KHÁCH HÀ NỘI CỦA CHI NHÁNH CÔNG TY CỔ PHẦN DU LỊCH QUỐC TẾ HỮU NGHỊ 2.1 Khái quát về Chi nhánh công ty cổ phần du lịch Quốc tế Hữu Nghị 36
2.1.1 Lịch sử hình thánh và phát triển công ty mẹ 36
2.1.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy công ty mẹ 38
2.1.3 Chi nhánh Công ty Cổ phần Du lịch Quốc tế Hữu Nghị tại Hà Nội 42
2.2 Tình hình hợp tác du lịch Việt Nam - Lào 44
2.2.1 Khái quát về đất nước và du lịch Lào 44
2.2.2 Hợp tác du lịch Việt – Lào thời gian qua 46
2.3 Xây dựng chương trình du lịch đi Lào cho thị trường khách Hà Nội của Chi nhánh Công ty cổ phần du lịch Quốc tế Hữu Nghị 48
2.3.1 Nghiên cứu thị trường khách Hà Nội và xác định thị trường mục tiêu .48
2.3.1.1 Điều kiện kinh tế - chính trị - văn hóa – xã hội 48
2.3.1.2 Trình độ dân trí 50
2.3.1.3 Thu nhập và mức sống của người dân Hà Nội 51
2.3.1.4 Thời gian rỗi 52
2.3.1.5 Xác định thị trường mục tiêu 53
2.3.2 Nghiên cứu về khả năng cung ứng của du lịch Lào 54
2.4.2.1 Tiềm năng du lịch & định hướng phát triển không gian du lịch của Lào 54
2.4.2.2 Kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch 61
Trang 52.3.3 Thiết kế chương trình du lịch đi Lào 69
2.3.3.1 Các tuyến du lịch ở Lào 69
2.3.3.2 Chương trình du lịch đề xuất phục vụ cho du khách Hà Nội 75
2.3.4 Xây dựng phương án vận chuyển 82
2.3.4.1 Xây dựng phương án vận chuyển đường bộ 82
2.3.4.2 Xây dựng phương án vận chuyển đường hàng không 86
2.3.5 Xây dựng phương án lưu trú, ăn uống 87
2.3.5.1 Xây dựng phương án lưu trú 87
2.3.5.2 Xây dựng phương án ăn uống 88
2.3.6 Xác định giá thành giá thành và giá bán cho chương trình du lịch đi Lào 89
2.3.6.1 Xác định giá thành của chương trình du lịch đi Lào 89
2.3.6.2 Xác định giá bán của chương trình du lịch đi Lào 92
Chương 3: TỔ CHỨC BÁN CHUƠNG TRÌNH DU LỊCH ĐI LÀO DÀNH CHO THỊ TRƯỜNG KHÁCH HÀ NỘI CỦA CHI NHÁNH CÔNG TY CỔ PHẦN DU LỊCH QUỐC TẾ HỮU NGHỊ 3.1 Đảm bảo các điều kiện đối với Huunghitour để tổ chức bán chương trình du lịch đi Lào 96
3.1.1 Điều kiện về các thủ tục pháp lý 96
3.1.2 Điều kiện về tổ chức và nhân lực 97
3.1.3 Điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật
3.1.4 Điều kiện về vốn
3.1.5 Điều kiện về các mối quan hệ đối tác
3.2 Tổ chức xúc tiến hỗn hợp cho chương trình du lịch đi Lào
Trang 63.2.1 Hoạt động quảng cáo chương trình du lịch đi Lào
3.2.2 Hoạt động tuyên truyền và quan hệ công chúng
3.2.3 Hoạt động khuyến khích, thúc đẩy tiêu thị, khuyến mãi
3.3 Tổ chức bán chương trình du lịch đi Lào
3.3.1 Xác định kênh phân phối & nguyên tắc quản lý kênh
3.3.2 Tổ chức hệ thống đại lý bán chương trình du lịch
3.4 Các đề xuất đối với ban ngành quản lý trong việc hỗ trợ doanh nghiệp
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Những năm gần đây, cùng với sự đổi mới của đất nước, sự phát triển giao lưukinh tế, văn hóa với các nước láng giềng có chung đường biên giới với nước ta đã ảnhhưởng sâu sắc tới sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, cũng như của các tỉnhbiên giới Du lịch là một ngành kinh tế mang nhiều yếu tố kinh tế quốc tế, nên sự pháttriển giao lưu kinh tế, văn hóa với các nước láng giềng có chung biên giới ngày cácđòng vai trò quan trong trong sự nghiệp phát triển du lịch của đất nước
Tiềm năng du lịch của Lào khá đa dạng và phong phú, cả về tự nhiên và nhânvăn, mang nhiều yếu tố mới, hấp dẫn du khách Việt Nam nói chung và du khách HàNội nói riêng Đất nước Lào với các di tích, danh lam thắng cảnh nổi tiếng ở hầu hếtcác địa phương, mà nổi bật 2 di sản văn hóa thể giới là cố đô Luông Phrabang và WatPhu, với nhiều dân tộc có truyền thồng văn hóa dân gian đặc sắc, có nền ẩm thực vớinhững nét đặc trưng độc đáo, có vị trí giao thông đường bộ khá thuận tiện đối với dukhách xuất phát từ Việt Nam, có đường vành đai hơn 1000 km giáp với Việt Nam,Lào có đầy đủ điều kiện để trở thành một điểm du lịch hấp dẫn đối với du khách ViệtNam
Hợp tác du lịch với Lào thời gian qua được triển khai theo tinh thần hợp tác hữunghị, đoàn kết đặc biệt giữa hai Đảng và nhân dân 2 nước Mặc dù điều kiện phát triểncủa ngành Du lịch hai nước còn thấp nhưng Du lịch Việt Nam trong khả năng củamình luôn hỗ trợ, chia sẻ kinh nghiệm với phía Bạn Cùng nằm trong khu vực ĐôngDương, với nhiều điểm tương đồng và quan hệ truyền thống tốt đẹp giữa hai nước lànhững điều kiện hết sức thuận lợi để ngành du lịch hai nước tăng cường hợp tác nhằmkhai thác tối đa thế mạnh, tiềm năng của mỗi nước
Quan hệ hợp tác hữu nghị Việt Nam – Lào là quan hệ hữu nghị truyền thốngđặc biệt Hiệp ước hữu nghị hợp tác, Hiệp ước bổ sung và hoạch định biên giới giữa 2
Trang 8nước, Hiệp định quy chế biên giới, Hiệp định hợp tác Kinh tế - Văn hóa – Khoa học
kỹ thuật, Hiệp định thương mại (mới năm 1998), Nghị định thư về trao đổi hàng hóa.Bản thỏa thuận một số quy định chung về Hải Quan đối với phương tiện quá cảnh vàđấu tranh chống buôn lậu Thỏa thuận về việc mở 11 cặp chợ biên giới, Nghị định thư
về quản lý phương tiện vận tải đường bộ, Hiệp định về Lãnh sự, Hiệp định về hợp táclao động, Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần, Hiệp định hợp tác năng lượng, Hiệp địnhkiều dân….mà hai bên đã ký kết là có cơ sở pháp lý chung cho hợp tác du lịch
Thị trường khách Hà Nội trong những năm gần đây với nhu cầu đi du lịch nướcngoài đang tăng với số lượng ngày một lớn, đặc biệt trong 5 năm trở lại đây Giai đoạn
2005 - 2009 là giai đoạn bùng nổ nhu cầu đi du lịch ra nước ngoài của du khách HàNội Các điểm đến quen thuộc trong khu vực Châu Á với nhiều ưu điểm nổi trội vềgiá, về dịch vụ, về tài nguyên du lịch của điểm đến đã thu hút lượng lớn du khách ViệtNam nói chung và Hà Nội nói riêng, đặc biệt là điểm đến Thái Lan, Trung Quốc,Singapore, Malaysia Đến nay các điểm đến đó đã phần nào trở nên quen thuộc Đứng
ở vai trò của người công tác trong ngành kinh doanh lữ hành, tác giả thiết nghĩ cầnkhai thác điểm đến mang tính lạ cho du khách Hà Nội
Seagame 25 lần đầu tiên được tổ chức tại Lào, giúp cho du khách Việt Nam biếtđến đất nước con người Lào nhiều hơn, một đất nước dù còn nhiều khó khăn nhưngluôn giàu lòng hiếu khách, một đất nước đầy sức cuốn hút và hấp dẫn từ yếu tố conngười, văn hóa, ẩm thực, danh thắng Trong tương lai không xa, Lào sẽ trở thành mộtđiểm đến mới mang đầy tính khám phá cho du khách Việt Nam nói chung và khách
Hà Nội nói riêng
Chính vì vậy, tác giả đã tiến hành chọn đề tài: “Xây dựng và bán chương trình du lịch đi Lào dành cho thị trường khách Hà Nội của Chi nhánh công ty cổ phần du lịch quốc tế Hữu Nghị”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trang 9Đây là một đề tài mang tính mới trong nghiên cứu của học viên cao học, nghiêncứu sinh khối ngành xã hội trong nước Các đề tài trước đây chủ yếu được thực hiệnbởi các cơ quan, tổ chức quản lý nhà nước mang tầm vĩ mô như các công trình nghiêncứu của Viện Nghiên Cứu Đông Nam Á, Tổng Cục Du Lịch Việt Nam, Viện NghiênCứu và Phát triển Du Lịch, hay của các khối ngành văn hóa, kinh tế có tính chuyênbiệt về văn hóa vùng, tiểu vùng.
Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu về hợp tác du lịch Việt – Lào củaViện Nghiên Cứu Đông Nam Á:
- Chính sách đối ngoại của Lào và tác động của nó đối với quan hệ Lào - Việtnhững năm đầu thế kỷ XXI;
- Vai trò và vị thế của Lào trong hợp tác Đông Á;
- Hợp tác du lịch Việt - Lào - Campuchia trong khu vực Tiểu vùng sôngMêkông mở rộng;
- Quan hệ Lào - Thái Lan
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là xây dựng được một số chương trình du lịch
đi Lào hấp dẫn và mang tính khả thi cao cho thị trường khách Hà Nội, đồng thời tổchức được các hoạt động bán phù hợp cho Chi nhánh Công ty Cổ phần Du lịch Quốc
tế Hữu Nghị
Để đạt được mục đích trên thì nhiệm vụ đặt ra được xác định là :
- Hệ thống và xây dựng những vấn đề lý thuyết mang tính cơ sở lý luận về xâydựng và bán chương trình du lịch
- Nghiên cứu và đánh giá đặc điểm thị trường khách du lịch Hà Nội cũng nhưtiềm năng du lịch Lào trong việc thu hút khách du lịch nói chung và khách du lịch HàNội nói riêng, từ đó đưa ra các phương án xây dựng chương trình du lịch đi Lào chokhách Hà Nội
Trang 10- Đánh giá khả năng khai thác kinh doanh của Chi nhánh Công ty Cổ phần Du lịchQuốc tế Hữu Nghị, trên cơ sở đó tổ chức các hoạt động tiêu thụ sản phẩm chươngtrình du lịch đi Lào cho khách Hà Nội một cách phù hợp và hiệu quả.
4 Đối tượng & phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là : vấn đề lý luận và thực tiễn việc xây dựng
và bán chương trình du lịch đi Lào cho thị trường khách Hà Nội của Chi nhành Công
ty Cổ phần Du lịch Quốc tế Hữu Nghị
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là : thị trường khách Hà Nội và tất cà các điềukiện có thể thỏa mãn nhu cầu đi du lịch Lào của thị trường khách Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện đề tài, các phương pháp sau đây được áp dụng để đảmbảo tính khoa học và thống nhất của đề tài: Phương pháp tổng hợp và phân tích thứcấp, phương pháp chuyên gia và phương pháp thực địa
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Trên cơ sở học hỏi và kế thừa những hướng nghiên cứu và lý luận nghiên cứu
đi trước, đề tài bước đầu tổng hợp cơ sở khoa học của du lịch với điểm đến Lào Đây
là đóng góp lý thuyết của đề tài nhằm khẳng định hướng nghiên cứu chương trình dulịch mới như một hướng nghiên cứu cần thiết với ngành học có ý nghĩa thực tiễnmạnh mẽ như du lịch học
Khi thực hiện đề tài này, tác giả mong muốn đề tài của mình có thể giúp chonhững người đọc, những người quan tâm có thể tìm hiểu kỹ lưỡng hơn về đất nước,con người Lào Hy vọng đề tài có thể trở thành một tài liệu có ích cho người đọc cónhu cầu quan tâm, tìm hiểu sản phẩm du lịch Lào Và hơn hết chương trình du lịch
Trang 11Lào khi đó, đề tài sẽ mang lại một ý nghĩa khác khi được áp dụng để nhận diện và ứngdụng trong thực tế nhằm khai thác điểm đến mới một cách có hiệu quả hơn.
7 Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bố cục luận văn được chia thành 3 chương nhưsau:
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về xây dựng và bán chương trình du lịch
Chương 2: Tổ chức xây dựng chương trình du lịch đi Lào dành cho thị trường
khách du lịch Hà Nội của Chi nhánh Công ty cổ phần du lịch quốc tế Hữu Nghị
Chương 3: Tổ chức bán chương trình du lịch đi Lào dành cho thị trường khách
Hà Nội của Chi nhánh Công ty cổ phần du lịch quốc tế Hữu Nghị
Trang 12Chương 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XÂY DỰNG VÀ BÁN
CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH 1.1 Chương trình du lịch
1.1.1 Khái niệm chương trình du lịch
Theo Luật Du Lịch của Việt Nam thì: “Chương trình du lịch là lịch trình, các
dịch vụ và giá bán chương trinh được định trước cho chuyến đi của khách du lịch
từ nơi xuất phát đến điểm kết thúc chuyến đi” [6, tr.12]
Với khách du lịch thì chương trình du lịch là một hành trình khép kín bao gồmmột hay nhiều nơi đến, điểm đến tham quan du lịch, và tất nhiên phải quay trở về nơixuất phát
Với người kinh doanh du lịch (Công ty lữ hành, đại lý du lịch….) thì chươngtrình du lịch cùng là hành trình du lịch khép kín trong đó quy định: nơi xuất phát(cũng như nới kết thúc) của hành trình, những điểm đến trong chương trình, độ dàithời gian chuyến đi và các dịch vụ kèm theo nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách
du lịch
Với nhà quản lý du lịch thì theo Quy chế Quản lý Lữ hành của Tổng cục du lịch
Việt Nam quy định: “Chương trình du lịch là một tập hợp các dịch vụ như xuất
cảnh, lưu trú, ăn uống, phương tiện vận chuyển và chương trình tham quan” Quy
định này nhằm giúp các doanh nghiệp lữ hành hiểu đúng phạm vi hoạt động và đặcđiểm sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp đang kinh doanh
Theo David Wright trong cuốn: “Tư vấn nghề nghiệp lữ hành” thì: “Chươngtrình du lịch là các dịch vụ trong lộ trình du lịch, thông thường bao gồm dịch vụ giaothông, nơi ăn ở, di chuyển và tham quan một quốc gia hay nhiều hơn, vùng lãnh thổhay thành phố Sự phục vụ này phải được đăng ký đầy đủ hoặc hợp đồng trước vớimột doanh nghiệp lữ hành và khách du lịch phải thanh toán đầy đủ trước khi các dịch
vụ được thực hiện” [2, tr 11]
Trang 13Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu một cách tổng quát về bản chất của chươngtrình du lịch như sau:
- Chương trình du lịch là một hành trình khép kín bắt đầu từ điểm xuất phát đếnđiểm kết thúc được xây dựng lên bao gồm nhiều điểm đến và các điểm tham quan dulịch
- Chương trình du lịch là tập hợp của các dịch vụ như vận chuyển, lưu trú, ănuống, vui chơi giải trí…
- Mức giá của chương trình du lịch là một mức giá tổng hợp thường được xácđịnh cụ thể theo các dịch vụ kèm theo trong chương trình
- Một chương trình du lịch có thể được thực hiện nhiều lần và vào nhiều thờiđiểm khác nhau
Khi doanh nghiệp lữ hành xây dựng một chương trình du lịch, ngoài các yếu tốchung là nơi xuất phát và điểm kết thúc (thường gắn với khu vực địa lý mà doanhnghiệp lữ hành đang hoạt động) thì còn có các yếu tố riêng như: Các điểm đến trongchương trình; Các hoạt động bổ sung tại điểm; Phương tiện vận chuyển; Dịch vụ lưutrú, ăn uống, bảo hiểm, hướng dẫn viên… Chính nhờ những yếu tố riêng này mà cácdoanh nghiệp lữ hành xây dựng được các chương trình du lịch phong phú đa dạng đểđáp ứng và thỏa mãn nhu cầu của du khách Đồng thời chính những chương trình dulịch này sẽ tạo ra bản sắc riêng cho các doanh nghiệp lữ hành để tạo thành những sảnphẩm đặc trưng của mỗi doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tạo được vị thế và có khảnăng cạnh tranh với các đối thủ khác
1.1.2 Phân loại chương trình du lịch
Có rất nhiều tiêu chí để phân loại chương trình du lịch Tuy nhiên, đơn giảnnhất có thể phân loại theo một số tiêu chí cơ bản sau:
a Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh.
- Chương trình du lịch chủ động:
Trang 14Công ty lữ hành chủ động nghiên cứu nhu cầu thị trường, khảo sát tuyến điểm
du lịch, xây dựng chương trình với bảng giá chi tiết và ấn định ngày thực hiện Sau đócông ty lữ hành mới tiến hành khuếch trương, quảng cáo chương trình đến tay dukhách, chào bán và thực hiện chương trình Tuy nhiên, do tính rủi do cao nên khôngphải công ty lữ hành nào cũng có thể làm được điều này Chỉ có các công ty lớn có thịtrường khách ổn định, có khả năng liên kết chặt chẽ với các công ty lữ hành vừa vànhỏ mới có khả năng thực hiện những chương trình du lịch chủ động này (khi công ty
đó đã định ra ngày khởi hành thì dù có đủ khách hay không vẫn phái tiến hành thựchiện chương trình du lịch để giữ uy tín cho công ty Vì vậy, nếu không có một nguồnkhách ổn định hoặc không được các công ty khác hỗ trợ ghép khách thì nguy cơ lỗ làrất cao)
- Chương trình du lịch bị động
Chương trình này được thực hiện khi khách tự tìm đến với công ty lữ hành đểđưa ra các yêu cầu và nguyện vọng của họ Sau khi nắm bắt được nhu cầu của khách,nhà điều hành tiến hành xây dựng chương trình với mức giá cụ thể Hai bên sẽ đi đếnthỏa thuận và thực hiện chương trình du lịch sau khi đã đạt được sự nhất trí Chươngtrình du lịch này ít mang tính mạo hiểm hơn song đòi hỏi công ty lữ hành phải cóthương hiệu trên thị trường hoặc có khả năng quảng cáo để lượng khách tìm đến công
ty đông, ổn định Tuy nhiện nhược điểm lớn nhất của chương trình này là khiến chocông ty lữ hành rơi vào thế bị động
Trang 15Loại chương trình này phù hợp với đại đa số các công ty du lịch hiện nay khikhông có nguồn khách ổn định và dung lượng khách chưa thật lớn Hầu hết các công
ty lữ hành đang bán chương trình du lịch theo cách này vì nó khá linh hoạt, mềm dẻo
và đáp ứng được tối đa nhu cầu của du khách lại tránh đặt các công ty lữ hành vào thế
bị động
b Căn cứ vào nội dung và mục đích của chuyến du lịch
- Chương trình du lịch nghỉ ngơi, giải trí và chữa bệnh
- Chương trình du lịch theo chuyền đề: văn hóa, lịch sử, phong tục tập quán, lễhội, nghiên cứu
- Chương trình du lịch tôn giáo, tín ngưỡng
- Chương trình du lịch thể thao, khám phá, mạo hiểm, leo núi, lặn biển
- Chương trình du lịch đặc biệt: tham quan chiến trường xưa, DMZ
- Chương trình du lịch tổng hợp (như du lịch xuyên việt….)
c Căn cứ vào mức giá
- Chương trình du lịch trọn gói
Đây là chương trình du lịch theo mức giá trọn gói đã bao gồm hầu hết các dịch
vụ chính như vận chuyển, lưu trú, ăn uống, hướng dẫn viên, vé thắng cảnh… trongquá trình thực hiện chương trình này, du khách sẽ không phái trả thêm khoản nàongoài những chi tiêu cá nhân của họ Hầu hết các công ty lữ hành để áp dụng thựchiện chương trình du lịch trọn gói này vì nó mang lại sự liền mạch, liên kết các dịch
vụ đơn lẻ thành một hệ thống hoàn chỉnh Đây cùng là chương trình du lịch được dukhách mua nhiều nhất vì họ có thể sử dụng hết các dịch vụ trong chương trình do công
ty lữ hành đã đặt mà không phái lo lắng gì cả
- Chương trình du lịch với mức giá phổ cập
Đây là chương trình du lịch được áp dụng phổ biến với các hãng hàng không,khách sạn… Giá của chương trình này chỉ bao gồm một số dịch vụ chủ yếu như vậnchuyển, lưu trú… Và nó được áp dụng cho khách du lịch công vụ hoặc khách đi tuần
Trang 16trăng mật (Thường là khách lẻ, không đi vào một ngày cố định nào cả, không chiu sự
gò ép về không gian và thời gian….)
- Chương trình du lịch với mức giá tự chọn.
Với loại chương trình du lịch này, khách du lịch có thể tùy ý lựa chọn tiêuchuẩn chất lượng dịch vụ theo khả năng chi trả thực tế của mình, ví dụ như lựa chọn
về thứ hạng của khách sạn, loại phương tiện vận chuyển, mức tiêu chuẩn về ănuống… Khách có thể lựa chọn đối với từng thành phần riêng lẻ của chương trìnhhoặc các mức khác nhau trong cả một chương trình tổng thể Ưu điểm nổi bật củachương trình này là giúp công ty lữ hành phân loại ra được từng nhóm khách theo khảnăng chi trả của họ Từ đó, họ có thể phục vụ khách được tốt hợn và đáp ứng tối đanhu cầu chính đáng của khách
d Căn cứ vào thị trường khách du lịch hay đối tượng khách.
- Chương trình du lịch nội địa
Là chương trình du lịch đưa người Việt nam, người nước ngoài định cư ở ViệtNam đi du lịch trong nước
1.1.3 Các yếu tố cấu thành chương trình du lịch
Như đã nói ở trên, chương trình du lịch là một tập hợp của tất cả các dịch vụ dulịch, có thể là dịch vụ trọn gói hoặc chỉ một vài dịch vụ đơn lẻ tùy thuộc vào từnghoàn cảnh cụ thể Tuy nhiên cấu thành của một chương trình du lịch thông thường sẽbao gồm các thành phần cơ bản: Vận chuyển, lưu trú, ăn uống, hướng dẫn, lịch trình
và dịch vụ bổ xung
Trang 17Vai trò của các yếu tố cấu thành trên là ngang nhau, tùy thuộc vào mỗi chươngtrình du lịch cụ thể mà yếu tố cấu thành nào là quan trọng nhất Có thể hiểu rõ hơn vềcác yếu tố cấu thành chương trình du lịch như sau:
- Thành phần đầu tiên quan trọng không thế thiếu trong tất cả các chương trình
du lịch là dịch vụ vận chuyển - một khâu tất yếu cần phải có Trong một chương trình
du lịch, du khách có thể kết hợp rất nhiều phương tiện vận chuyển khác nhau Ví dụnhư khi du khách đi từ nước mình sang một đất nước khác thì có thể sử dụng máy bay,tàu hỏa, ô tô, tàu thủy… làm phương tiện vận chuyển và họ có thể sử dụng cácphương tiện trên để đi lại trong chính quốc gia mà họ đến Tùy theo quỹ thời gian vàkhả năng chi trả của mình mà họ sẽ lựa chọn một chương trình phù hợp nhất Chính vìvậy mà các công ty du lịch thường phải thiết kế rất nhiều chương trình du lịch khácnhau để có thể đáp ứng được tối đa nhu cầu của du khách
- Thành phần quan trọng thứ hai phải kể đến ngay sau dịch vụ vận chuyển làdịch vụ lưu trú Theo lẽ thông thường, khi du khách rời khỏi nơi ở thường xuyên củamình thì họ sẽ phải được cung cấp một chỗ ở khác trong suốt chặng hành trình củamình Tuy nhiên dịch vụ lưu trú thì rất đa dạng và phong phú nên đòi hỏi các công ty
lữ hành phải giới thiệu và tư vấn cho du khách thật kỹ càng trước khi họ quyết địnhmua tour Cùng một điểm đến nhưng sẽ có rất nhiều lựa chọn khác nhau về dịch vụlưu trú cho du khách Với du khách có khả năng chi trả cao, họ có thể lựa chọn chomình một dịch vụ lưu trú cao cấp như khách sạn đạt tiêu chuẩn 4-5 sao hoặc các khuVilla, Resort sang trọng, còn với những khách ba lô thì họ thậm chỉ có thể qua đêm ởnhững khu nhà trọ bình dân nhất Mối quan hệ giữa công ty du lịch và nhà cung ứngdịch vụ là rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, giá cả của chươngtrình du lịch Nếu đó là một mối quan hệ chặt chẽ, lâu bền thì các công ty du lịch sẽđược hưởng một chế độ ưu đãi và các điều kiện tốt nhất của nhà cung ứng dịch vụ lưutrú và còn nếu ngược lại thì có thề ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ khách hàng
Trang 18hoặc có thể làm cho mức giá của công ty lữ hành này sẽ bị cao hơn so với các công tycạnh tranh khác
- Tiếp ngay sau 2 dịch vụ trên là phải kể đến dịch vụ ăn uống Đây cùng là mộtdịch vụ rất quan trọng trong chương trình du lịch, quyết định thành công hay thất bạicho chuyến đi của du khách Thường thì các chương trình du lịch sẽ giới thiệu rất cụthể về dịch vụ này như bao gồm tổng cộng mấy bữa ăn chính, mấy bữa ăn phụ, ăn ởđâu, mức giá mỗi bữa là bao nhiêu… tùy theo chương trình cụ thể mà người điều hành
du lịch sẽ quyết định cho khách ăn ở đâu, trong cơ sở lưu trú như khách sạn hay nhànghỉ, hay ăn ở ngoài nhà hàng, ăn trên tàu… Để cho một chương trình du lịch đượcphong phú và hấp dẫn thì thường có sự kết hợp đan xen của các điểm ăn uống khácnhau trong chương trình
- Dịch vụ hướng dẫn: Hướng dẫn viên sẽ là người đại diện cho doanh nghiệpthực hiện nhiệm vụ hướng dẫn, giới thiệu cho du khách về lịch trình, các điểm đếntrong chương trình du lịch và phục vụ du khách trong suốt quá trình đi du lịch Hướngdẫn viên sẽ là người đại điện cho cả một đất nước để đón tiếp những vị khách từ xađến, đại diện cho công ty lữ hành để phục vụ du khách vì hướng dẫn viên sẽ là ngườiđầu tiên gặp gỡ khách tại sân bay, nhà ga, là người cuối cùng tiễn họ, và cũng làngười theo suốt họ trong suốt chuyến đi du lịch Hướng dẫn viên còn đại diện cho dukhách để đòi hỏi quyền lợi chính đáng mà họ sẽ được hưởng theo thỏa thuận đã được
ký kết… Chính vì vậy, vai trò của hướng dẫn viên là rất quan trọng và đóng góp tolớn cho sự thành công của cả chương trình du lịch trọn gói
- Ngoài các thành phần trên thì các chương trình du lịch còn cần phải có mộtlịch trình đầy đủ bao gồm số lượng ngày tham quan, các điểm tham quan của từngngày, thời gian cụ thể dành cho các hoạt động tham quan mua sắm, gia cả, các dịch vụbao gồm và không bao gồm trong giá bán… Thông thường thì các lịch trình sẽ đượclàm sẵn, được bán ra và được thông qua ký kết giữa công ty du lịch và du khách trướckhi thực hiện chuyến đi
Trang 19- Các chương trình du lịch còn có thể bao gồm thêm một số dịch vụ bổ xung đểđáp ứng những nhu cầu tối thiểu nhất cho du khách như: Mua bảo hiểm, nước uống,khăn lạnh, mũ… nhằm nâng cao chất lượng phục vụ cũng như góp phần nâng caochất lượng chuyến đi của du khách.
Như đã phân tích, không phải chương trình du lịch nào cũng sẽ có được đầy đủcác thành phần như kể trên Thông thường thì một chương trình du lịch trọn gói sẽ baogồm tất cả các thành phần như vận chuyển, lưu trú, ăn uống, hướng dẫn viên cho đếnnhững dịch vụ bổ xung tối thiểu…Tuy nhiên đối với các chương trình du lịch khácnhư du lịch chuyên đề, du lịch hội thảo, du lịch thăm thân… thì người ta se lược bỏ đimột số thành phần không cần thiết như hướng dẫn viên, dịch vụ lưu trú, ăn uống…
1.2 Xây dựng chương trình du lịch
1.2.1 Quy trình xây dựng chương trình du lịch
Chương trình du lịch khi được xây dựng phải đảm bảo những yêu cầu chủ yếunhư tính khả thi, phù hợp với như cầu của thị trường, đáp ứng những mục tiêu củacông ty lữ hành, có sức lôi cuốn thúc đẩy khách du lịch ra quyết định mua chươngtrình Để đạt được những yêu cầu đó, chương trình du lịch được xây dựng theo quytrình gồm các bước sau đây:
- Xác dịnh thị trường mục tiêu và nhu cầu của khách du lịch
- Nghiên cứu khả năng đáp ứng nhu cầu
- Xác định khả năng và vị trí của doanh nghiệp lữ hành
- Xây dựng mục đích, ý tưởng của chương trình du lịch
- Giới hạn quỹ thời gian và mức giá tối đa
- Xây dựng tuyến hành trình cơ bản, bao gồm những điểm du lịch chủ yếu, bắtbuộc của chương trình
- Xây dựng phương án vận chuyển
- Xây dựng phương án lưu trú ăn uống
Trang 20- Những điều chỉnh nhỏ, bổ sung tuyến hành trình Chi tiết hóa chương trình vớinhững hoạt động tham quan, nghỉ ngơi, giải trí.
- Xác định giá thành và giá bán của chương trình
- Xây dựng những quy định của chương trình
Cần nhận thấy rằng không phải xây dựng chương trình du lịch nào cũng phảituân thủ lần lượt theo các bước nói trên Tùy thuộc vào tình hình thực tế của mỗidoanh nghiệp mà người xây dựng chương trình du lịch có thể bỏ qua hoặc đi sâu vàotừng giai đoạn [3, tr 172]
Xây dựng chương trình du lịch là công đoạn cực kỳ quan trọng đòi hỏi người làm
có kinh nghiệm thực tiễn, có đầu óc và tư duy phân tích tốt Từ kinh nghiệm thực tiễn,người thiết kế phải nắm được lịch bay, giờ tàu, giờ mở và đóng cửa của các điểm thamquan, nắm được vị trí, ưu điểm của từng khách sạn, nhà hàng… từ đó có thể bố trí thờigian và sắp xếp thứ tự của các điểm tham quan trong lịch trình một cạch hợp lý nhất
Để có được điều này đòi hỏi người thiết kế chương trình du lịch phải trực tiếp đi khảosát các điểm du lịch, các khách sạn nhà hàng… Đồng thời phải thường xuyên tìmhiểu cập nhật những thông tin mới từ sách vở, báo chí và phương tiện truyền thôngkhác
Ngoài ra, người xây dựng chương trình du lịch còn phải có đầu óc phân tích và
tư duy phân tích tốt để có thể nắm bắt được tâm lý, nhu cầu, thị hiếu của thị trườngkhách tiềm năng và nhận biết được những điểm mạnh của công ty mình từ đó có thểphát huy được tối đa lợi thế đó trong quá trình xây dựng chương trình du lịch
1.2.2 Xác định thị trường mục tiêu và nhu cầu của khách du lịch
Đây là bước đầu tiên và là bước đóng vai trò quan trọng trong quá trình xâydựng và thực hiện chương trình du lịch Cũng như các ngành kinh doanh khác, xácđịnh thị trường mục tiêu là bước không thể thiếu nhằm giúp doanh nghiệp tập trungkhai thác vào đúng thị trường tiềm năng từ đó có thể giúp doanh nghiệp sử dụng cóhiệu quả nguồn nhân lực và đáp ứng tối đa nhu cầu chính đáng của khách hàng Việc
Trang 21phân đoạn thị trường mục tiêu có thể dựa trên những tiêu chí khác nhau như nghềnghiệp, tuổi tác, giới tính, thu nhập, quốc tịch…
Sau khi xác định được thị trường mục tiêu, các doanh nghiệp sẽ tập trung phântích nhu cầu của khách du lịch ở giai đoạn thị trường đó Để xác định được nhu cầucủa du khách thì cần được làm rõ 2 vấn đề chính đó là: khách du lịch là ai và họ mongchờ điều gì ở công ty du lịch Việc xác định được mong muốn của du khách sẽ đóngvai trò rất quan trọng trong quá trình xây dựng, tiếp thị và bán chương trình du lịch.Chính vì vậy, các công ty lữ hành cần tập trung vào việc phân tích và nghiên cứu thịtrường, điển hình là qua quá trình điều tra (Ví dụ điều tra trực tiếp là phỏng vấn vàđiều tra gián tiếp qua bảng hỏi, qua sách báo, qua các công trình nghiên cứu….) Saukhi thu thập được một lượng thông tin nhất định, các nhà điều hành sẽ dựa vào đó đểxây dựng những chương trình cho phù hợp, thu hút được sự quan tâm của thị trườngmục tiêu đó
Ví dụ, nếu doanh nghiệp tập trung khai thác mảng khách hàng với đối tượng làsinh viên thì cần phải chú ý đến giá thành phải rẻ, độ dài chương trình thường là ngắnngày, thời gian của chuyến đi (thường vào cuối tuần, cuối năm, dịp hè), mục đíchtham gia chương trình du lịch (có thể là giao lưu, đốt lửa trại, thực tập, các ngày lễ….)
1.2.3 Nghiên cứu khả năng đáp ứng nhu cầu
Sau khi đã xác định được thị trường mục tiêu và nhu cầu của du khách, cáccông ty lữ hành cần tập trung vào việc nghiên cứu khả năng đáp ứng nhu cầu đó củacông ty lữ hành, của tài nguyên du lịch và của các nhà cung ứng dịch vụ khác như lưutrú, vận chuyển, nhà hàng…
Về khả năng đáp ứng của các công ty lữ hành cần kể đến các yếu tố như vốn,nhân lực, mối quan hệ với những nhà cung cấp dịch vụ… sau khi xác định được khảnăng của mình, nhà điều hành sẽ xem xét và đưa ra quyết định để xây ựng và thiết kếcác chương trình sao cho phù hợp và khả thi nhất
Trang 22Khi đã nhìn nhận ra khả năng đáp ứng của mình, nhà điều hành sẽ quyết địnhtìm kiềm, lựa chọn tài nguyên phù hợp để đưa ra chương trình du lịch của mình Côngđoạn đánh giá và lựa chọn tài nguyên sẽ dựa trên một số tiêu chí như sau:
- Sự hấp dẫn của tài nguyên du lịch
- Giá trị của tài nguyên du lịch
- Sự phù hợp của chương trình du lịch với thị trường mục tiêu
- Các điều kiện khác như cơ sở hạ tầng, an ninh, môi trường văn hóa, xã hộicủa khu vực có tài nguyên…
Sau đó công ty lữ hành cần nghiên cứu khả năng đáp ứng của các nhà cung cấpdịch vụ khác nhưng vận chuyển, khách sạn, nhà hàng… Để từ đó lựa chọn ra nhữngnhà cung cấp có dịch vụ với giá thành cạnh tranh nhất Để có thể làm được điều nàyđòi hỏi các công ty lữ hành có quan hệ rộng và tốt đối với các nhà cung cấp dịch vụ
1.2.4 Xác định giá thành, giá bán và các quy định của một chương trình du lich
1.2.4.1 Xác định giá thành của một chương trình du lịch
a Khái niệm giá thành của một chương trình du lịch
Giá thành của một chương trình du lịch bao gồm toàn bộ những chi phí trực tiếp
mà công ty lữ hành phải chi trả một lần thực hiện chương trình du lịch
Nếu các chi phí này tính cho 1 khách thì gọi là giá thành cho một lần thực hiệnchương trình du lịch
Nếu các chi phí này tính cho cả đoàn khách thì gọi là tổng chi phí cho một lầnthực hiện chương trình du lịch
Trước hết cần nhận thấy rằng, giá thành của một lần thực hiện chương trình dulịch dù là xác định cho một khách cũng phụ thuộc vào số lượng khách du lịch trongđoàn Vì vậy, người ta nhóm toàn bộ các chi phí vào hai loại cơ bản: chi phí cố định
và chi phí biến đổi
Trang 23 Các chi phí cố định tính cho cả đoàn khách Bao gồm tất các các loại hàng hóa
và dịch vụ mà đơn giá của chúng được xác định cho cả đoàn khách, không phụ thuộcmột cách tương đối vào số lượng khách trong đoàn Nhóm này gồm các chi phí chocác dịch vụ và lượng hàng hóa mà mọi thành viên trong đoàn đều tiêu dùng chung,không tách bóc được cho từng thành viên một cách riêng rẽ
Các chi phí biến đổi tính cho một khách Bao gồm chi phí tất cả các loại hànghóa và dịch vụ mà đơn giá của chúng được quy định cho từng khách Đây thường làcác chi phí của các dịch vụ và hàng hóa gắn liền trực tiếp với sự tiêu dùng trực triếpvới sự tiêu dùng riêng biệt của khách du lịch
Công thức tính giá thành
Giá thành cho 1 khách: z = VC + FC/Q Tổng chi phí tính cho cả đoàn khách: Z = VCxQ + FC hoặc = z.Q
Trong đó:
z: giá thành cho một khách
Z: tổng chi phí cho cả đoàn khách
Q: số thành viên trong đoàn
FC: tổng chi phí cố định tính cho cả đoàn khách
VC: Tổng chi phí biến đổi tính cho một khách
b Phương pháp tính giá thành
Trên cơ sở hai loại chi phí cố định và biển đổi, tồn tại một số phương pháp xácđịnh giá thành của các chương trình du lịch, chúng ta có hai phương pháp xác định giáthành cơ bản
Phương pháp 1: Xác định giá thành theo khoản mục chi phí.
Phương pháp này xác định giá thành bằng cách nhóm toàn bộ các chi phí phátsinh vào một số khoản mục chủ yếu Thông thường, người ta lập bảng để xác định giáthành của một chương trình du lịch
Trang 24Bảng 1.1: Xác định giá thành của một chương trình du lịch theo khoản
mục chi phí
Ghi chú: Các chi phí được đánh dấu (*) vào nhóm tương ứng
Ưu điểm của phương pháp:
Dễ tính, gọn nhẹ, thuận tiện cho việc kiểm tra
Linh hoạt, khi có sự thay đổi của dịch vụ nào đó trong chương trình vẫnxác định được giá thành một cách dễ dàng Theo phương pháp này thì vận có thể xâydựng các mức giá thành làm cơ sở cho việc áp dụng các mức giá tự chọn
Có thể các định mức giá thành khi số lượng khách trong đoàn thay đổi.Tuy nhiên cần chú ý tới giới hạn thay đổi Khi số khách vượt quá mức hạn nào đó thìbản thân các chi phí cố định không còn giữ nguyên
Nhược điểm của phương pháp: các khoản chi phí dễ bị bỏ sót khi tính gộp vào
các khoản mục
Phương pháp 2: Xác định giá thành theo lịch trình
Về cơ bản phương pháp này không có gì khác biệt so với phương pháp thứnhất Tuy nhiên ơ đây chi phí được liệt kê cụ thể và chi tiết lần lượt theo từng ngàycủa lịch trình Có thế hình dung phương pháp này dựa vào bảng sau:
Bảng 1.2: Xác định giá thành của một chương trình du lịch theo lịch trình
Thời gian
lịch trình
Số TT Nội dung chi phí Phí biến đổi Phí cố định
Trang 251.2.4.2 Xác định giá bán của một chương trình du lịch
Giá bán của một chương trình du lịch phụ thuộc vào những yếu tố sau đây:
Mức giá phổ biến trên thị trường
Vai trò, vị thế, thương hiệu của doanh nghiệp trên thị trường
Mục tiêu của doanh nghiệp
Giá thành của chương trình
P: khoản lợi nhuận dành cho doanh nghiệp lữ hành
Cb: Chi phí bán bao gồm hoa hồng cho các đại lý, chi phí khuếch trương
Ck: các chi phí khách: chi phí quản ký, chi phí thiết kế chương trình, chi phíkhấu hao, chi phí dự phòng, marketing, thuê văn phòng
T: các khoản thuế
a Các phương pháp khách để xác định giá bán
Phương pháp 1 : Xác định giá bán chuyến du lịch theo lợi nhuận mục tiêu.
Trang 26Phương pháp này chỉ dựa trên cơ sở định mức tỷ suất, lợi nhuận đạt được theotổng số vốn đầu tư:
Gb = Z + ROI/QTrong đó;
Gb: là giá bán của chuyến du lịch
Z là giá thành chuyến du lịch
ROI là lợi nhuận mục tiêu
ROI = tỷ suất lợi nhuận đặt ra * tổng vốn đầu tư
Q là dự kiến số lượng khách mua chuyến du lịch để đạt lợi nhuận mục tiêu.Vấn đề quan trọng bậc nhất ở đây là việc sự kiên số lượng khách mua chuyến
du lịch phải chính xác và đảm bảo được mức giá thành Để khắc phục được việc dựkiến số lượng bản không chính xác hoặc đưa ra các mức giá bán tương ứng với sốlượng bán để đạt được lợi nhuận mục tiêu ta có thể áp dụng phương pháp hòa vốn
Phương pháp 2 : Phương pháp hòa vốn
Qhv = FC/(Gb-Vc)Qhv là số khách cần thiết tham gia chuyến để đạt điểm hòa vốn
FC là chi phí cố định của chuyến du lịch
Gb là giá bán của chuyến du lịch
Vc là chi phí biển đổi của chuyến du lịch
Khối lương lợi nhuận mục tiêu được tính bằng tỷ suất lợi nhuận nhân với tổng vốn đầu tư thực hiện chuyến du lịch Lợi nhuận mục tiêu được quyết định bởi khối lượng tiêu thụ và mức giá dự kiến tương ứng Do đó, số lượng khách mua chuyến du lịch đạt lợi nhuận mục tiêu được xác định như sau:
Q = FC + LN Gb - VcTrong đó:
Q là số lượng khách cần thiết tham gia vào chuyến du lịch để đạt được lợinhuận mục tiêu
Trang 27FC là chi phí cố định của chuyến du lịch
LN la lợi nhuận mục tiêu
Gb là giá bán
VC là chi phí biến đổi của chuyến du lịch
Một số điểm lưu ý khi xác định Z & G:
Giá của các dịch vụ và hàng hóa để tính giá thành phải là giá gốc, nghĩa
là không bao gồm hoa hồng và thuế GTGT (VAT)
Hệ thống thuế của nhà nước, tránh hiện tượng đánh thuế 2 lần Công typhải có phương pháp xử lý linh hoạt trong trường hợp bán các chương trình trọn góithông qua các đại lý bán
Có thể nhận thấy các khoản chi phí như khuếch trương, chi phí quản lý,phí thiết kế chương trình… Phần lớn các chi phí được phân bổ thường được áp dụngtheo số khách, số đoàn hoặc doianh số (hoặc tổng chi phí)
Khi xác định giá thành và giá bản của chương trình, do tính chất, đặcđiểm của hoạt động du lịch và đảm bảo tính cạnh tranh, các công ty lữ hành thườnglấy mức giá phòng đôi trong khách sạn chia cho 2 làm mức chi phí lưu trú cơ bản chomột khách Vì vậy khi tiến hành quảng cáo và thực hiện, công ty sử dụng một mứcgiá phòng đơn Những khách du lịch có nhu cầu ở phòng đơn phải trả thêm khoản phụgiá cho phòng đơn này Cách tính phụ giá phòng đơn có thể tính theo từng khách sạn,tính trung bình hoặc tính tổng số Ngoài ra người ta còn có thể sử dụng mức phụ giánâng cao chất lượng chương trình Phụ giá vé máy bay hạng nhất, phụ giá thay đổikhách sạn…
Từ các công thức xác định giá thành và giá bán của chương trình du lịch
có thể nhận thấy các mức giá này tỷ lệ nghịch với số lượng khách trong đoàn Vì vậy,khi xây dựng mức giá của các chương trình du lịch, các doanh nghiệp thường có cácmức giá tương ứng với số lượng khách trong đoàn
1.2.4.3 Các quy định của một chương trình du lich
Trang 28Các quy định của một chương trình du lịch có mục đích hướng dẫn, giúp đỡkhách hiểu biết thêm về hình thức tổ chức, cách thức đăng ký tại chỗ cũng như nộidung của chương trình Đồng thời, những quy định này mang ý nghĩa pháp ý nhưnhững điều khoản về trách nhiệm của doanh nghiệp lữ hành cũng như của khách dulịch Nội dung của các quy định của chương trình du lịch mang tính chất truyền thống,mặc dù các điều khoản cụ thể phụ thuộc vào mức giá (giá trị), thời gian, tính chất củatừng chương trình du lịch Theo thông lệ thì các quy định của một chương trình dulịch bao gồm những điểm chủ yếu sau :
- Nội dung, mức giá của chương trình du lịch
- Những quy định về giấy tờ, visa, hộ chiếu
1.2.5 Một số điểm cần lưu ý khi xây dựng chương trình du lịch
Một chương trình du lịch được xây dựng phải chú ý tới các điểm sau:
- Phù hợp với đặc điểm tiêu dùng
- Chương trình phải có tốc độ hoạt động hợp lý
- Chương trình phải có tính hấp dẫn Đa dạng hóa các loại hình hoạt đồng, tránh
sự nhàm chán, (chú ý đến hoạt động đón tiếp, tiễn, và các hoạt động bổ trợ buổitối trong chương trình)
- Chương trình phải có tính khả thi
- Chương trình phải đúng mục đích lữ hành
1.3 Bán chương trình du lịch
1.3.1 Tổ chức bán chương trình du lịch
1.3.1.1 Xác định nguồn khách
Trang 29Khi xây dựng các chương trình du lịch, các doanh nghiệp lữ hành thường đãxác định thị trường mục tiêu chủ yêu cho sản phẩm của mình Đây là một trong nhưnggiai đoạn cơ bản và đóng vai trò quyết định để đạt được mục đích kinh doanh chươngtrình du lịch của doanh nghiệp lữ hành Vì vậy cần lựa chọn các phương pháp vàphương tiện tới ưu nhằm tiêu thụ được lượng sản phẩm tối đa chỉ với chi phí tối thiểu.Giai đoạn này bao gồm các công việc chính như là lựa chọn kênh tiêu thụ, và quản lýcác kênh tiêu thụ trong chương trình du lịch.
Doanh nghiệp kinh doanh lữ hành có thể lựa chọn các kênh tiêu thụ sản phẩmcho phù hợp với từng thị trường mục tiêu
Kênh tiêu thụ trong du lịch được hiểu như là một hệ thống tổ chức dịch vụnhằm tạo ra các điểm bán hoặc cách tiếp cận sản phẩm thuận tiện cho khách du lịch, ởngoài địa điểm diễn ra quá trình sản xuất và tiêu dùng sản phẩm Tùy thuộc và đặcđiểm nguồn khách chính của doanh nghiệp mà lựa chọn kênh tiêu thụ cho phù hợp
Thông thường có các kiểu kênh phân phối chủ yếu sau:
Hình 1.1: Hệ thống kênh phân phối là chương trình du lịch
Đại lý
du lịch bán buôn
Đại lý
du lịch bán lẻ
DU KHÁCH
1 1 1 1 1 1
3 1 1 1 4
5
Trang 30Căn cứ vào mối quan hệ với du khách mà các kênh tiêu thụ trên chia thành 2loại:
Kênh tiêu thụ sản phẩm trực tiếp: bao gồm kênh (1) và kênh (2)
Trong đó doanh nghiệp giao dịch trực tiếp với khách không qua bất kỳ mộttrung gian nào Các kiểu tổ chức kênh như sau:
Sử dụng nguồn nhân lực của doanh nghiệp để chào và bán hàng trực tiếp chokhách du lịch Trong đó đặc biệt chú ý tới bán hàng cá nhân
Trực tiếp sử dụng văn phòng hoặc các chi nhánh trong và ngoài nước để làm cơ
sở bán chương trình du lịch
Mở các văn phòng đại diện, các đại diện bán lẻ chương trình du lịch
Sử dụng hệ thống thông tin liên lạc, đặc biệt là hệ thống tổ chức nối mạng tổchức bán chương trình du lịch cho du khách tại nhà (thương mại điện tử)
Kênh tiêu thụ sản phẩm gián tiếp: từ kênh (3) và kênh (5)
Đặc điểm của loại hình kênh này là quá trình mua – bán sản phẩm của doanhnghiệp lữ hành được ủy nhiệm cho các doanh nghiệp lữ hành khác làm đại lý tiêu thụhoặc với tư cách của doanh nghiệp lữ hành gửi khách Doanh nghiệp lữ hành sản xuấtchương trình du lịch sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm về sản phẩm mình ủy thác, về chấtlượng dịch vụ trong chương trình đã bán cho khách
Bên cạnh việc tổ chức các kênh tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp còn phải đẩymạnh các hoạt động tuyên truyền để bổ trợ thêm cho quá trình bán hàng như tuyêntruyền trên báo hình, báo nói, báo viết về các điểm du lịch mới, các chương trình dulịch mới…
Đối với các kênh tiêu thụ gián tiếp, chủ thể hoạt động với tư cách là người muacho khách hàng của họ Họ là những doanh nghiệp kinh doanh độc lập, họ có quyềnhạn và chiến lược kinh doanh riêng, trong nhiều trường hợp quan điểm của các doanhnghiệp lữ hành gửi khách, các đại lý lữ hành rất khác với quan điểm của doanhnghiệp lữ hành nhận khách Vì vậy, để tiêu thụ được nhiều chương trình du lịch trọn
Trang 31gói, doanh nghiệp lữ hành nhận khách cần dành nhiều ưu đãi cho doanh nghiệp lữhành gửi khách, các đại lý lữ hành tức là thực hiện chiến lược đẩy.
Để quản lý các kênh tiêu thụ, doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nhận khách cần
sử dụng ba phương pháp phổ biến là hợp tác, thiết lập quan hệ thành viên, xây dựng
kế hoạch tiêu thụ và đặt định mức tiêu thụ cho các doanh nghiệp lữ hành gửi khách vàcác đại lý lữ hành độc lập Đánh giá hoạt động của các kênh tiêu thụ theo nhưng tiêuchuẩn như số chuyến du lịch, số lượt khách, số ngày khách, doanh thu đạt được, độchính xác của các hợp đồng, mức độ hợp tác trong các chương trình xúc tiến và cácthông tin thị trường mà họ cung cấp
Tổ chức bán có tác động trực tiếp tới mức tiêu thụ sản phẩm của bất cứ doanhnghiệp nào Thực chất đó là quá trình xác lập các kênh phân phối, xác định các điềukiện bán cũng như các công cụ hỗ trợ bán hàng Với các đặc điểm của mình, quá trình
tổ chức của các doanh nghiệp lữ hành có những thuận lời và khó khăn riêng khác vớihàng hóa thông thường Do sản phẩm lữ hành tồn tại dưới dạng dịch vụ nên trong cáckênh phân phối chỉ có các dòng lưu chuyển tiền, thông tin và xúc tiến bán hàng màkhông có dòng lưu chuyển của hàng hóa do vậy việc tổ chức và điều hành thường đơngiả và ít tốn kém hơn so với hàng hóa vật chất Tuy nhiên, do đặc điểm cầu du lịchphân tán nên việc kênh phân phối trong kinh doanh lữ hành đòi hỏi phải có phạm vibao phủ rộng hơn cũng như hiệu quả của từng kênh đơn lẻ thường thấp hơn Bên cạnh
đó, cũng do đặc điểm tồn tại dưới dạng dịch vụ nên việc bán hàng thường diễn ra khókhăn và vì vậy, yêu cầu về kiến thức cũng như kỹ năng bán hàng của các đại lý, cácđiểm bán hay nhân viên bán hàng trực tiếp phải rất cao
1.3.1.2 Quan hệ giữa các công ty lữ hành với nhau và với khách du lịch
Hợp tác giữa các công ty lữ hành bao giờ cũng đóng vai trò đặc biệt quan trọng.Đối với công ty lữ hành tại Việt Nam, khi điều kiện tiếp xúc và khai thác trực tiếp cácnguồn khách quốc tế tại nơi lưu trú của họ và vô cùng hạn chế thì việc nhận khách
Trang 32thông qua các công ty lữ hành gửi khách gần như là một tất yếu Giữa các công ty gửikhách và nhận khách thường có một bản hợp đồng thỏa thuận
Đối với khách du lịch tự đến với các doanh nghiệp (chủ yếu là khách lẻ), khi họmua chương trình của doanh nghiệp lữ hành, nếu chương trình có giá trị tương đối lớnthì giữa doanh nghiệp và khách hàng thường có 1 bản hợp đồng về việc thực hiệnchương trình du lịch
Khi doanh nghiệp lữ hành tổ chức thu hút khách trực tiếp cho các chương trình
du lịch chủ động thì hoạt động xúc tiến bán các chương trình đóng một vai trò đặc biệtquan trọng Các doanh nghiệp thường tận dụng hầu hết các kênh phân phối sản phẩmtrong du lịch
Công việc tổ chức bán các chương trình du lịch có thể được chuẩn bị trước vớimột thời gian dài Ngày nay, với hệ thống máy tính được ứng dụng rộng rãi, người ta
đã lưu giữ những tập hồ sơ về khách hàng trong đó gi rõ sở thích, thị hiếu cũng nhưnhững dịch vụ, hàng hóa mà khách hàng đã sử dụng Đó là một trong những biểu hiện
rõ nét nhất của sự quan tâm tới khách hàng – một bước quyết định đến sự thành bạicủa doanh nghiệp
1.3.2 Xúc tiến hỗn hợp chương trình du lịch
1.3.2.1 Khái niệm xúc tiến hỗn hợp
Thực chất của xúc tiến hồn hợp là quá trình kết hợp truyền thông trong kinhdoanh du lịch cho người tiêu dùng trên thị trường mục tiêu Một mặt giúp họ nhậnthức được các chương trình du lịch của doanh nghiệp, mặt khác dẫn dụ, thu hút ngườitiêu dùng mục tiêu mua sản phẩm của doanh nghiệp và trung thành với sản phẩm baogồm quảng cáo tuyên truyền và quan hệ công chúng, thúc đẩy tiêu thụ, chào hàng trựctiếp Việc lựa chọn các hoạt động xúc tiến hồn hợp cần phải phân tích các yếu tố ảnhhưởng sau đây: bản chất, đặc điểm của từng loại chương trình du lịch mà doanhnghiệp đưa ra thị trường, mục tiêu mà tham vọng truyền thông hướng tới, các giaiđoạn trong chu kỳ sống của sản phẩm (tính thời vụ du lịch), tình hình mà doanh
Trang 33nghiệp phải đối mặt và xác định vị trí của mình trên thị trường mục tiêu, ngân quỹ cóthể dành cho hoạt động xúc tiến hỗn hợp.
1.3.2.2 Hoạt động quảng cáo chương trình du lịch
Tất cả các hoạt động quảng cáo đều nhằm khơi dậy nhu cầu của du khách đốivới các sản phẩm của doanh nghiệp lữ hành Các sản phẩm quảng cáo phải tạo ra sựphù hợp giữa các chương trình du lịch với nhu cầu, mong muôn và nguyện vọng củakhách du lịch
Tổ chức các chiến dịch quảng cáo cho các chương trình du lịch đang ngày càngtrở nên đa dạng, phong phú và tốn kém hơn Để thu hút khách du lịch, các doanhnghiệp lữ hành mời các ngôi sao nghệ thuật, các nhân vật nổi tiếng, các nhà báo….Thực hiện chuyến đi miễn phí theo các chương trình du lịch của doanh nghiệp Mặc
dù doanh nghiệp phải bỏ ra nhưng khoản chi phí không nhỏ, song những ngôi saohoặc nhừng người lãnh đạo dư luận này là những nam châm kỳ diệu để thu hút khách
du lịch mua tour của doanh nghiệp Để tạo uy tín hoặc gây tiếng vang cho một sảnphẩm mới, các doanh nghiệp không ngần ngại bỏ chi phí thực hiện các chuyến,chương trình khảo sát (FAM TRIP), có sự tham gia của các trực tiếp các khách hàng,hoặc của các đơn vị truyền thông báo chí… Hình thức quảng cáo hữu hiệu chính làchất lượng của mỗi lần thực hiện đạt được sự thỏa mãn cao của khách du lịch trên thịtrường mục tiêu Chất lượng cao dẫn đến tiếng lành đồn xa làm cho thương hiệu sảnphẩm của doanh nghiệp lữ hành trở nên nổi tiếng và đặc biệt xây dựng được lòngtrung thành của du khách đối với sản phẩm của doanh nghiệp
1.3.2.3 Hoạt động tuyên truyền và quan hệ công chúng
Hoạt động tuyên truyền là việc tác động một cách gián tiếp nhằm khơi dậy nhucầu du lịch hay làm tăng uy tín của doanh nghiệp lữ hành bằng cách đưa những thôngtin về điểm, tuyến du lịch mới thông qua việc sử dụng các phương tiện truyền thông
Trang 34đại chùng (báo hình, báo nói, báo viết, tạp chí, báo điện tử) với sự hỗ trợ của cácphóng viên.
Trong kinh doanh lữ hành hiện đại, tuyên truyền là một hình thức rất quantrọng của doanh nghiệp lữ hành đạt được mục tiêu của mình Thông qua hình thứctuyên truyền doanh nghiệp lữ hành có thể đạt được các mục tiêu:
- Tạo ra sự biết đên dịch vụ du lịch mới
- Tạo dựng được uy tín
- Tạo điều kiện tốt cho người bán hàng và các kênh phân phối
- Chi phí thấp hơn quảng cáo
Xuất bản ấn phẩm, tổ chức sự kiện đặc biệt, cung cấp thông tin cho các nhà báotham gia trả lời phỏng vấn, thuyết trình, tham gia vào các hoạt động xã hội – từ thiệnxây dựng thương hiệu của doanh nghiệp
1.3.2.4 Hoạt động khuyến khích, thúc đẩy tiêu thụ, khuyến mãi
Hoạt động khuyến khích thúc đẩu tiêu thụ của doanh nghiệp lữ hành là việc sửdụng các biện pháp kích thích trực tiếp vào đội ngũ bán chương trình du lịch của đại
lý lữ hành, các doanh nghiệp lữ hành, nhằm tạo động lực cho người bán hàng tích cựcchủ động đẩy nhanh tiên độ bán các chương trình du lịch Các hình thức khuyến mạimaf doanh nghiệp lữ hành có thể áp dụng: tăng mức hoa hồng cơ bản, hoa hồngthưởng… Tạo điều kiện thuận lợi và các chính sách ưu đãi cho nhân viên bán và cácđại lý…
Hoạt động khuyến mại (kích thích khách du lịch) là việc sử dụng các biện pháp,hình thức trực tiếp vào khách du lịch (người tiêu dùng cuối cùng) làm cho khách sẵnsàng mua chương trình du lịch Các biện pháp, hình thức cơ bản nhất có thể áp dụngtrong kinh doanh lữ hành là tặng quà, tham gia vào các cuộc thi, phiếu mua chươngtrình du lịch, phiếu lĩnh thưởng, nhận hoàn lại tiền, bán giá theo ưu đãi…
Để tiến hành hai hoạt động khuyến mại và khuyến mãi, nhà quản lý cần xácđịnh rõ: cường đọ kích thích, điều kiện tham gia, các phương tiện phổ biến về chương
Trang 35trình kích thích, thời gian kéo dài của chương trình kích thích, lựa chọn thời gian đểthực hiện, ngân sách cho việc kích thích người bán và người mua Phải lập kế hoạch
cụ thể cho hoạt động kích thích và đánh giá kết quả của chương trình kích thích tiêuthụ
Chào bán chương trình du lịch trực tiếp là sử dụng các biện pháp, hình thức tiếpcận đến tận địa chỉ của khách du lịch Các biện pháp, hình thức mà doanh nghiệp lữhành sử dụng trong kinh doanh chương trình du lịch, giá của chương trình và các thủtục đăng ký qua điện thoại, bưu điện, truyền hình…
Trang 36Chương 2: XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH ĐI LÀO CHO THỊ TRƯỜNG KHÁCH HÀ NỘI CỦA CHI NHÁNH CÔNG TY CỔ PHẦN DU
chứng nhận kinh doanh lữ hành quốc tế số: 0911/2008/TCDL-GPLHQT với mạng
lưới các đơn vị thành viên tại Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Nghệ An
Thành lập ngày 21/01/2002 với sự phấn đấu không ngừng ngày 21/01/2007Công ty đã chính thức được công nhận là Hội viên của Hiệp hội Du lịch Việt Nam,giấy chứng nhận Hội viên số 2292/HHDL – HV
Từ năm 2005 đến nay công ty liên tục được hiệp hội du lịch tặng bằng khen vì
có thành tích thúc đẩy công tác lữ hành
Ngày 31/10/2007 công ty TNHH thương mại và du lich Hữu Nghị đã đượcTổng Cục du lịch Việt Nam cấp giấy phép kinh doanh lữ hành Quốc tế số: 0737/2007/TCDL-GPLHQT
- Bằng sự nỗ lực vươn lên không ngừng đến ngày 30/12/2007 chúng tôi đã đượccông nhận là Hội viên chính thức của Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam,giấy chứng nhận Hội viên số: 4460/PTM-HV
- Cũng trong năm 2007 Huunghitour đã ủng hộ cho đồng bào huyện ThạchThành sau cơn bão
- Ngày 10 tháng 10 năm 2008 Huunghitour đã cổ phần hóa thành công và đươc
Sở kế hoạch đầu tư Thanh Hóa cấp giấy phép kinh doanh số: 2603000944 cho Công
Trang 37ty cổ phần du lịch quốc tế Hữu nghị Sau khi cổ phần hóa Công ty Cổ phần Du lịchQuốc tế Hữu Nghị làm công văn gửi Tổng cục du lịch Việt Nam và đã được cấp lạigiấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế số: 0911/2008/TCDL-GPLHQT ngày 27 tháng
11 năm 2008
- Ngày 12/12/2008 thí sinh Nguyễn Hữu Bắc nhân viên của công ty Công ty cổphần quốc tế Hữu Nghị trải qua ba vòng thi : Tự giới thiệu, phần thi kiến thức và phầnthi sử lý tình huống sau khi vượt qua rất nhiều tên tuổi lớn trong làng du lịch ViệtNam như Saigontourist, Hanoi Toserco , Vitour Đà Nẵng Nguyễn Hữu Bắc đã vinh
dự đạt giải nhì toàn quốc mang lại sự vinh quang, tiếng vang lớn của công ty và chongành du lịch tỉnh Thanh
- Năm 2009 Huunghitour xây nhà tình nghĩa cho hộ nghèo Trương Công Đứchuyện Ngọc Lặc
- Ngày 13/10/2009 ngày doanh nhân Chủ tịch hội đồng quản trị Ông Đỗ HoàngHữu đã vinh dự được Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) tặng bằngkhen vì đã có thành tích xuất sắc trong hoạt động sản xuất kinh doanh và đóng góptích cực vào sự phát triển cộng đồng các doanh nghiệp
- Ngày 09/07/2010, nhân dịp kỉ niệm 50 năm ngày truyền thống ngành du lịchViệt Nam, với sự kết hợp tổ chức của sở văn hoá thể thao và du lịch Thanh Hoá vớihiệp hội du lịch Thanh Hóa Ông Đỗ Hoàng Hữu - chủ tịch Hội đồng quản trị, tổngGiám đốc Công ty Cổ phần Du lịch Quốc tế Hữu Nghị đã vinh dự được nhận bằngkhen kỉ niệm chương về sự cống hiến cho sự nghiệp của ngành với những nội dung cụthể:
+ Doanh nghiệp lữ hành tiêu biểu 2005 – 2009 do sở văn hoá thể thao và dulịch, hiệp hội du lịch Thanh Hoá chứng nhận
+ Ông Đỗ Hoàng Hữu được Sở Văn hoá thể thao và Du lịch, hiệp hội du lịchThanh Hoá chững nhận là doanh nhân du lịch tiêu biểu 2005 – 2009
Trang 38+ Bằng khen “Đã có thành tích xuất sắc trong hoạt động kinh doanh, thực hiệnchương trình phát triển du lịch của tỉnh Thanh Hoá” do VITA - hiệp hội du lịch ViệtNam tặng.
+ Bộ trưởng bộ văn hoá thể thao và du lịch tặng “kỉ niệm chương” vì sự nghiệpvăn hoá thể thao và du lịch cho ông đỗ Hoàng Hữu đã có nhiều đóng góp cho sựnghiệp phát triển văn hoá thể thao và du lịch
+ Chủ tịch uỷ ban nhân dân Tỉnh Thanh Hoá tặng bằng khen công ty cổ phần dulịch quốc tế Hữu Nghị đã có nhiều đóng góp trong sự nghiệp phát triển du lịch ThanhHoá
+ Chứng nhận là Hội viên của VCCI
+ Chứng nhận là Hội viên của VITA
2.1.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy công ty mẹ
Hình 2.1: Sơ đồ hoạt động công ty cổ phần du lịch quốc tế Hữu Nghị
Chức năng các phòng ban
a Phòng sale Outbound
Hội đồng quản trị
P Sale Nội địa
P sale
Outbound
GĐ Kinh doanh
GĐ điều hành
máy bay
Trang 39- Tổ chức các hoạt động hợp tác, liên kết với các nhà cung cấp dịch vụ ở nướcngoài như các hãng lữ hành ở Trung Quóc, Thái Lan, Malaysia, Singapore, HồngKông
- Xây dựng và marketing các chương trình tham quan du lịch nước ngoài đặcsắc tới những người có nhu cầu
- Tư vấn và bán các chương trình du lịch Outbound và các sản phẩm đơn lử nhưđặt Phòng khách sạn, vé máy bay, làm thủ tục visa, giấy thông hành cho khách có nhucầu đi du lịch nước ngoài
b Phòng sale Nội địa
- Tổ chức hoạt động liên kết và hợp tác với các nhà cung cấp dịch vụ du lịchđơn lẻ như lưu trú, vận chuyển, ăn uống ở các vùng du lịch, điểm đến du lịch trongphạm vi lãnh thổ Việt Nam
- Xây dựng và marketing các chương trình du lịch tới khách dulịch
Trang 40- Triển khai thị trường cung cấp vé máy bay nội địa và quốc tế cho các đơn vịtrong và ngoài tỉnh.
- Book vé (giữ chỗ), báo giá (theo giá gốc bán tại hãng hàng không) và tư vấnđường bay cho khách hàng miễn phí Tư vấn cho khách về giá cả các chuyến bay tốtnhất theo nhu cầu và khả năng tài chánh của khách
- Xuất vé trong thời gian nhanh nhất, giao vé tận nơi và xuất chứng từ thanhtoán hợp lý theo quy định của Nhà nước
- Hỗ trợ khách hàng đăng ký với các hãng hàng không các yêu cầu dịch vụmiễn phí khác như: xe đẩy dành cho người bệnh; hành khách không thể giao tiếp bằngtiếng nước ngoài; suất ăn chay, suất ăn đặc biệt trên máy bay
d Phòng điều hành
- Chịu trách nhiệm xây dựng các chương trình du lịch Nội địa và Quốc tế
- Báo giá chương trình du lịch, đảm bảo lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm củacông ty và mức lợi nhuận tối thiểu cho chương trình được ký kết lớn hơn 10% (Ngoạitrừ một số hợp đồng đặc biệt được ban giám đốc đồng ý)
- Nhiệm vụ của phòng điều hành là tổ chức thực hiện chương trình du lịch chokhách Thông qua bản hợp đồng giữa khách và Công ty, bộ phận điều hành có nhiệm
vụ đặt các dịch vụ cần thiết như khách sạn, nhà hàng, phương tiện vận chuyển vàhướng dẫn viên
- Quan hệ với các cơ quan hữu quan như Cục xuất nhập cảnh, Bộ ngoại giaotrong việc làm thủ tục hộ chiếu, visa cho khách
- Theo dõi, kiểm tra quá trình thực hiện chương trình du lịch của hướng dẫnviên, kiểm tra các nhà hàng cung cấp dịch vụ du lịch
- Xử lý các tình huống bất thường có thể xảy ra trong quá trình thực hiệnchương trình du lịch
- Bồi thường vi phạm vật chất: Làm lỗi tour, ký và thỏa thuận các điều khoảnvới khách hàng mà công ty không đủ điều kiện để thực hiện, không được sự đồng ý