TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TRƯƠNG QUỐC TUÂN NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TẠI KHU BẢO TỒN LOÀI VÀ SINH CẢNH NAM XUÂN LẠC, HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN LUẬN V
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRƯƠNG QUỐC TUÂN
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ MỘT
SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TẠI KHU BẢO TỒN LOÀI VÀ SINH CẢNH NAM XUÂN LẠC, HUYỆN CHỢ ĐỒN,
TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRƯƠNG QUỐC TUÂN
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ MỘT
SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TẠI KHU BẢO TỒN LOÀI VÀ SINH CẢNH NAM XUÂN LẠC, HUYỆN CHỢ ĐỒN,
TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60 62 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THANH TIẾN
ThS NGUYỄN VĂN MẠN
CHỮ KÝ PHÒNG ĐÀO TẠO CHỮ KÝ KHOA CHUYÊN MÔN CHỮ KÝ GIÁO VIÊN HƯƠNG DẪN
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi, công trình được thực hiện trong thời gian từ tháng 11 năm 2014 đến tháng 9 năm
2015 Các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Thái Nguyên, 2015
Tác giả
Trương Quốc Tuân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
theo chương trình đào tạo cao học chuyên ngành Lâm học khóa 21 (2014 - 2015)
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn tác giả đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu, Khoa Sau Đại học và các thầy, cô giáo trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên các bạn bè đồng nghiệp và các cán bộ nơi tác giả
thực hiện nghiên cứu Nhân dịp này tác giả xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ hiệu quả đó
Trước tiên, tác giả xin đặc biệt cảm ơn TS Nguyễn Thanh Tiến người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo, cán bộ thuộc Ban quản lý Khu bảo tồn loài
và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, UBND và người dân xã Xuân Lạc, xã Bản Thi huyện Chơ Đồn, tỉnh Bắc Kạn đã hết mực giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu.Tôi cũng xin cam đoan số liệu thu thập, kết quả nghiên cứu là trung thực và được trích dẫn rõ ràng
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, 2015
Tác giả
Trương Quốc Tuân
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Mục tiêu nghiên cứu 4
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5
1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới 8
1.2.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 8
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 20
1.2.3 Thảo luận và xác định vấn đề nghiên cứu của đề tài 21
1.2.4 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 23
1.3 Thực trạng công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 30
1.3.1 Số liệu thống kê về thực vật, động vật 30
1.3.2 Cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của Khu bảo tồn 32
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Giới hạn đối tượng và vấn đề nghiên cứu 35
2.1.1 Về đối tượng nghiên cứu 35
2.1.2 Về vấn đề nghiên cứu 35
2.1.3 Về địa điểm nghiên cứu 35
2.2 Nội dung nghiên cứu 35
2.3 Phương pháp nghiên cứu 35
Trang 62.3.1 Phương pháp kế thừa các tài liệu sẵn có 35
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu ở hiện trường 36
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 40
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44
3.1 Sự đa dạng thảm thực vật Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 44
3.1.1 Sự đa dạng về tầng cây gỗ 44
3.1.2 Sự đa dạng về loài của các thảm thực vật dưới tán rừng Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 47
3.2 Một số yếu tố tác động đến bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 59
3.2.1 Các yếu tố nội tại 59
3.2.2 Các nhân tố ngoại cảnh 60
3.2.3 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố 60
3.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 65
3.3.1 Cơ chế chính sách hợp lý đảm bảo đời sống của người sống trong và xung quanh khu bảo tồn 66
3.3.2 Tuyên truyền giáo dục người dân 66
3.3.3 Đầu tư vào nguồn nhân lực 67
3.3.4 Có những chế tài đủ mạnh để làm tốt công tác quản lý 67
Chương 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
4.1 Kết luận 68
4.2 Kiến nghị 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
KBTL&SC : Khu bảo tồn loài và sinh cảnh
QĐ - UB : Quyết định uỷ ban
NĐ - CP : Nghị định - Chính phủ
DDSH : Đa dạng sinh học
KBTTN : Khu bảo tồn thiên nhiên
QĐ - BNN- KL : Quyết định - Bộ nông nghiệp - Kiểm lâm
QXTV : Quần xã thực vật
BNN&PTNT : Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tình hình dân số xã Bản Thi, xã Xuân Lạc và xã Đồng Lạc 26
Bảng 1.2 Các loài thực vật quý hiếm tại KBTL&SC Nam Xuân Lạc 31
Bảng 3.1 Chỉ số về đa dạng loài thực vật thân gỗ 44
Bảng 3.2 Danh lục thực vật KBT Nam Xuân Lạc 45
Bảng 3.3 Mật độ và công thức tổ thành cây tái sinh của toàn bộ OTC 48
Bảng 3.4 Các chỉ số đa dạng cây tái sinh 49
Bảng 3.5 Chỉ số đa dạng của cây bụi 50
Bảng 3.6 Đặc điểm tái sinh và các chỉ số đa dạng cây tái sinh kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa á nhiệt đới độ cao trên 800 m 51
Bảng 3.7 Các chỉ số đa dạng cây bụi 52
Bảng 3.8 Đặc điểm tái sinh và các chỉ số đa dạng cây tái sinhkiểu rừng kín thường xanh nhiệt đới núi thấp từ 600 - 800 m 53
Bảng 3.9 Các chỉ số đa dạng cây bụi kiểu rừng kín thường xanhnhiệt đới núi thấp độ cao từ 600 - 800 m 53
Bảng 3.10 Đặc điểm cây tái sinh kiểu rừng phục hồi sau nương rẫy 54
Bảng 3.11 Các chỉ số đa dạng cây bụi ở trạng thái rừng sau nương rẫy 54
Bảng 3.12 Đặc điểm cây tái sinh ở trạng thái rừng IIIA1 55
Bảng 3.13 Chỉ số đa dạng cây bụi ở trạng thái rừng IIIA1 56
Bảng 3.14 Đặc điểm cây tái sinh ở trạng thái rừng IIIA2 56
Bảng 3.15 Chỉ số đa dạng cây bụi ở trạng thái rừng IIIA2 57
Bảng 3.16 Các nhân tố nội tại ảnh hưởng đến bảo tồn ĐDSHtại KBT loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc 59
Bảng 3.17 Các nhân tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến bảo tồnĐDSH tại KBT loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc 60
Bảng 3.18 Ảnh hưởng của hoạt động khai thác gỗ của con ngườiđến bảo tồn ĐDSH tại KBT loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc 61
Bảng 3.19 Ảnh hưởng của hoạt động thu hái lâm sản ngoài gỗ của con người 62
Bảng 3.20 Ảnh hưởng của hoạt động chăn thả gia súc 63
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Bản đồ hiện trạng KBTL&SCNXL 23 Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ các nhân tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến bảo tồn đa
dạng sinh học 60
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Trong các loại tài nguyên, rừng là loài tài nguyên có khả năng tái tạo Rừng là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của hành tinh chúng ta nói chung và của mỗi quốc gia nói riêng Ngoài chức năng cung cấp những lâm sản như gỗ, củi, thực phẩm, dược liệu,… phục vụ nhu cầu của con người, rừng còn có chức năng bảo vệ môi trường sinh thái như điều hòa nguồn nước, bảo vệ đất, làm sạch không khí, hạn chế thiên tai,…và rừng còn là nơi lưu giữ các nguồn gen động thực vật phục vụ cho các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp Rừng có được những chức năng đó là nhờ có đa dạng sinh học (ĐDSH) ĐDSH là một trong những nguồn tài nguyên quí giá nhất, vì nó là
cơ sở của sự sống còn, thịnh vượng và tiến hoá bền vững của các loài sinh vật trên hành tinh chúng ta Mối đe doạ lớn nhất đối với trái đất là suy giảm ĐDSH dẫn đến rối loạn cơ chế điều chỉnh chức năng hệ thống của chúng ĐDSH được thể hiện ở 3 mức độ đó là đa dạng loài, đa dạng nguồn gen và đa dạng các hệ sinh thái (HST), đặc biệt là các hệ sinh thái rừng (HSTR) Nhưng hiện nay dân số thế giới tăng nhanh, nhu cầu về lâm sản tăng theo dẫn đến khai thác rừng quá mức và không khoa học làm cho diện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng kéo theo suy giảm ĐDSH Chính vì vậy loài người đã, đang và sẽ phải đứng trước một thử thách, đó là sự suy giảm về ĐDSH dẫn đến làm mất trạng thái cân bằng của môi trường kéo theo là những thảm họa như lũ lụt, hạn hán, lở đất, gió bão, cháy rừng, ô nhiễm môi trường sống, các căn bệnh hiểm nghèo,… xuất hiện ngày càng nhiều Tất cả các thảm họa đó là hậu quả, một cách trực tiếp hay gián tiếp của việc suy giảm ĐDSH
Việt Nam được coi là một trong những trung tâm ĐDSH của vùng Đông Nam Á Từ kết quả nghiên cứu về khoa học cơ bản trên lãnh thổ Việt Nam, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đều nhận định rằng Việt Nam
là một trong 10 quốc gia ở Châu Á và một trong 16 quốc gia trên thế giới có tính đa ĐDSH cao do có sự kết hợp của nhiều yếu tố
Trang 11Tuy nhiên, tài nguyên rừng Việt Nam đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng do nhiều các nguyên nhân khác nhau như nhu cầu lâm sản ngày càng tăng, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khai thác quà mức, không đúng
kế hoạch, chiến tranh,… Theo số liệu mà Maurand P công bố trong công trình “Lâm nghiệp Đông Dương” thì đến năm 1943 Việt Nam còn khoảng 14,3 triệu ha rừng tự nhiên với độ che phủ là 43,7% diện tích lãnh thổ Quá trình mất rừng xảy ra liên tục từ năm 1943 đến đầu những năm 1990, đặc biệt
từ năm 1976 -1990 diện tích rừng tự nhiên giảm mạnh, chỉ trong 14 năm diện tích rừng giảm đi 2,7 triệu ha, bình quân mỗi năm mất gần 190 ngàn ha (1,7%/năm) và diện tích rừng giảm xuống mức thấp nhất là 9,2 triệu ha với độ che phủ 27,8% vào năm 1990 [6] Việc mất rừng, độ che phủ giảm, đất đai bị suy thoái do xói mòn, rửa trôi, sông hồ bị bồi lấp, môi trường bị thay đổi, hạn hán lũ lụt gia tăng, ảnh hưởng lớn đến mọi mặt đời sống của nhiều vùng dân cư Mất rừng còn đồng nghĩa với sự mất đi tính đa dạng về nguồn gen động thực vật
Từ năm 1993, các chương trình quốc gia như 327, 556 và 661 đã đẩy mạnh phủ xanh đất trống đồi núi trọc, tái trồng rừng và cải thiện công tác quản lý rừng, đã góp phần làm hạn chế suy giảm tài nguyên rừng Theo thống
kê chính thức năm 2004, diện tích rừng đã tăng lên 12,3 triệu ha với độ che phủ 37,3%, và đến tháng 12 năm 2007 diện tích rừng Việt Nam đã tăng lên 12,8 triệu ha với độ che phủ 38,2% Nhưng hơn hai phần ba diện tích rừng của Việt Nam là rừng nghèo hoặc rừng đang phục hồi, trong khi đó rừng giàu
và rừng kín năm 2000 chỉ chiếm 3,4% và năm 2004 chiếm 4,6% tổng diện tích rừng Hầu như ở các vùng thấp không còn các khu rừng với tính đa dạng còn nguyên vẹn Các cơ hội để phục hồi đang giảm đi nhanh chóng vì các khu rừng giàu đã bị chia cắt và cô lập thành những mảnh nhỏ [2]
Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc (KBTL&SCNXL) huyện Chợ đồn, tỉnh Bắc Kạn được thành lập theo Quyết định số 342/QĐ-UB ngày 17/03/2004 của UBND tỉnh Bắc Kạn với diện tích 1.788 ha, nằm trong địa
Trang 12giới hành chính của xã Xuân Lạc và chủ yếu là rừng gỗ quý hiếm trên núi đá vôi Mặc dù có diện tích nhỏ, nhưng KBTL&SCNXL là hành lang quan trọng nối liền Vườn quốc gia Ba Bể với Khu Bảo tồn thiên nhiên Na Hang Hiện trạng rừng ở Khu bảo tồn này còn nguyên khá nguyên vẹn, nhiều nơi chưa bị tác động bởi con người, còn lưu giữ nhiều loài động vật quý hiến đang có nguy cơ bị tuyệt chủng ở Việt Nam và trên thế giới như Voọc mũi hếch, Voọc đen má trắng, Vạc Hoa và các loài thực vật quý hiếm như Trai, Nghiến, Đinh, Lan hài và thông [7]
Núi đá vôi là hệ sinh thái rất đặc biệt của nước ta, nó chứa đựng một nguồn tài nguyên sinh học vô cùng quí giá Nằm trong hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam, KBTL&SCNXL là một đơn vị địa lý sinh vật có ý nghĩa
vô cùng quan trọng đối với sự sống còn của cộng đồng trong việc duy trì tính
đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường sinh thái Tuy nhiên trong thực tế nguồn tài nguyên rừng tại đây đang bị tác động mạnh bởi sức ép dân số xung quanh Chính vì vậy, công tác bảo tồn tính đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn gen quí cũng như các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác tại Khu bảo tồn đã được tỉnh Bắc Kạn rất quan tâm Từ khi thành lập, KBTL&SCNXL đã có một
số cuộc điều tra, đánh giá tài nguyên rừng, bước đầu cũng đã đánh giá được giá trị, tiềm năng và ý nghĩa của một khu bảo tồn Nhưng một số nội dung quan trọng chưa được thực hiện một cách có hệ thống, đó là đánh giá đa dạng sinh học về các taxon phân loại một cách chính xác, yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật, công dụng và mức độ nguy cấp của các loài để từ đó đưa ra các biện pháp bảo tồn thích hợp Để góp phần đánh giá tính đa dạng thực vật vùng núi
đá vôi KBTL&SCNXL, làm cơ sở cho công tác bảo tồn và sử dụng hợp lý tài
nguyên sinh vật vùng đá vôi, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tính đa dạng
sinh học và một số yếu tố tác động tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn”
Trang 132 Mục đích nghiên cứu
Cung cấp thêm những thông tin khoa học về sự tác động của các yếu tố đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn nói riêng Làm cơ sở khoa học đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn đa dạng sinh học
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích được một số yếu tố ảnh hưởng đến bảo tồn đa dạng sinh học tại địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất được một số giải pháp bảo tồn và phát triển nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại khu vực nghiên cứu
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học
Bổ sung những hiểu biết về đa dạng sinh học của thảm thực vật trên núi
đá nói chung và tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn nói riêng để làm cơ sở khoa học cho các giải pháp lâm sinh phục hồi rừng tự nhiên ở khu vực nghiên cứu
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở điều tra, đánh giá phân tích được những yếu tố ảnh hưởng đến bảo tồn đa dạng sinh học, đề tài đưa ra những giải pháp thiết thực, có tính khoa học nhằm nâng cao hiệu quả công tác Bảo tồn đa dạng sinh học; Là tài liệu tham khảo cho cán bộ, lãnh đạo Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tham khảo và ứng dụng
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Lần đầu tiên thuật ngữ "đa dạng sinh học" (Biodiversity hay biological diversity) được Norse and McManus (1980) giới thiệu, bao gồm hai khái niệm có liên quan với nhau là đa dạng di truyền (tính đa dạng về mặt di truyền trong một loài) và đa dạng sinh thái (số lượng các loài trong một quần xã sinh vật) Theo ước tính gần đây nhất thì có đến 12 định nghĩa khác nhau về ĐDSH (Gaston and Spicer, 1998) Tuy nhiên trong số này thì định nghĩa được
sử dụng trong Công ước đa dạng sinh học (1992) được coi là "toàn diện và đầy đủ nhất" xét về mặt khái niệm
Trong Công ước về đa dạng sinh học, thuật ngữ đa dạng sinh học được dùng để chỉ sự phong phú và đa dạng của giới sinh vật từ mọi nguồn trên trái đất,
nó bao gồm sự đa dạng trong cùng một loài, giữa các loài và sự đa dạng hệ sinh
thái (Gaston and Spicer, 1998) [30] Như vậy đa dạng sinh học là toàn bộ các
dạng sống trên trái đất, bao gồm tất cả các nguồn tài nguyên di truyền, các loài, các hệ sinh thái và các tổ hợp sinh thái Đa dạng sinh học thường được thể hiện ở
3 cấp độ: đa dạng trong loài (đa dạng di truyền), giữa các loài (đa dạng loài) và các hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái)
“Đa dạng sinh học là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong hệ sinh thái trên cạn, ở biển và các hệ sinh thái dưới nước khác, và mọi tổ thợp sinh thái mà chúng tạo nên; Đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền), giữa các loài và các hệ sinh thái” - Công ước đa dạng sinh học, 1992
Vì thế giới sự sống chủ yếu được xem xét ở khía cạnh các loài, nên
thuật ngữ ĐDSH thường được dùng như một từ đồng nghĩa của "đa dạng
loài", hay "sự phong phú về loài", thuật ngữ dùng để chỉ số lượng loài trong
Trang 15một vùng hoặc một nơi cư trú ĐDSH nói chung thường được hiểu là số lượng các loài thuộc các nhóm phân loại khác nhau trên toàn cầu Ước tính tổng số loài tồn tại trên trái đất khoảng từ 5 triệu đến gần 100 triệu loài, nếu xét trên khái niệm số lượng loài đơn thuần, thì sự sống trên trái đất chủ yếu bao gồm côn trùng và vi sinh vật Đến thời điểm này đã có khoảng 1,7 triệu loài đã được xác định [30]
Cuộc sống của loài người trên trái đất đang phụ thuộc hoàn toàn vào các hệ sinh thái (HST) Các HST lọc sạch không khí và nước, phân huỷ và tái quay vòng các chất dinh dưỡng, duy trì ĐDSH cũng như các chức năng quan trọng khác của chúng, làm cho trái đất có sự sống Tuy nhiên, các HST vẫn đang bị chính con người xâm phạm không thương tiếc Khắp mọi nơi trên thế giới, con người sử dụng quá mức và lạm dụng các HST, từ rừng mưa nhiệt đới cho tới các rạn san hô, đồng cỏ, thảo nguyên, đã gây suy thoái và huỷ hoại nghiêm trọng các HST - nơi nuôi dưỡng của mọi loài Dẫn đến suy giảm
số lượng các loài hay suy giảm ĐDSH trên trái đất, được xác nhận bằng con
số các loài bị tuyệt chủng hay đang bị đe doạ tuyệt chủng, đồng thời tác động tiêu cực đến các lợi ích của con người do các nguồn tài nguyên mà chúng ta sống phụ thuộc đang bị cạn kiệt dần Ngày nay, ở nhiều nơi trên Trái đất đang hứng chịu những tác động tiêu cực do suy thoái các HST gây ra như: Nạn thiếu nước ở Punjab, Ấn Độ; xói mòn đất ở Tuva, Cộng hoà Liên Bang Nga;
cá chết ngoài khơi Bắc Carolina, Hoa Kỳ, cháy rừng Sumatra, Inđônêxia; hàng nghìn người chết và hàng triệu người mất nhà cửa do lũ lụt ở sông Dương Tử, Trung Quốc - hậu quả của chặt phá rừng đầu nguồn, Mặc dù phải trả giá rất đắt do làm suy thoái các HST và chúng ta phải phụ thuộc vào năng suất của các HST, song chúng ta lại biết quá ít về toàn bộ tình trạng của của các HST trái đất [2]
Tính đến thời điểm năm 1982, các nhà sinh vật học đã biết được tất cả khoảng 1,4 triệu loài sinh vật, chỉ đạt 5 - 10% tổng số các loài ước tính có trên trái đất (Parker 1982, trong A.Pitterle 1993) Điều này có nghĩa là đại đa số các
Trang 16loài sinh vật chưa được con người biết đến và đang có nguy tuyệt chủng trước khi chúng ta biết đến vai trò của chúng đối với sự sống Vùng có ĐDSH phong phú nhất là vùng nhiệt đới, trong khi đó rừng nhiệt đới (môi trường sống chính của đại đa số sinh vật) đang bị mất đi với tốc độ 11,3 triệu ha/năm (kéo theo từ 20-50% số loài có nguy cơ biến mất) Các rừng rậm nhiệt đới có hơn một nửa
số loài của thế giới, mặc dù chỉ chiếm 7% diện tích đất liền của trái đất Tuy nhiên mức độ phong phú loài tương đối của quần xã sinh vật rừng nhiệt đới và các kiến thức khoa học về độ phong phú loài của một số bậc phân loại vẫn còn hạn chế [2]
Thông tin đầy đủ nhất hiện có về rừng nhiệt đới là các thông tin về các loài thực vật Vùng tân nhiệt đới (trung và nam Mỹ) ước tính có khoảng 86.000 loài thực vật có mạch, vùng nhiệt đới và nửa khô hạn châu Phi có 30.000 loài, vùng Madagascar có 8.200 loài, vùng nhiệt đới châu Á bao gồm
cả New Guinea và vùng nhiệt đới Australia có khoảng 45.000 loài Nhìn tổng thể, vùng nhiệt đới chiếm 2/3 con số ước tính 250.000 loài thực vật có mạch trên Trái đất Alwyn Gentry, Norman Myers ước tính rằng 2/3 số loài thực vật nhiệt đới được tìm thấy ở các khu rừng nhiệt đới ẩm (rừng rậm rụng lá và thường xanh) Như vậy, khoảng 45% các loài thực vật mạch gỗ được tìm thấy trong các rừng rậm nhiệt đới [30]
Là một HST đặc thù bởi tính đa dạng về loài, rừng gắn liền với việc bảo tồn nguồn gen hay bảo đa dạng các loài, đặc biệt là trong bối cảnh biến đổi hệ thống sinh thái - môi trường do tác động của con người diễn ra với tốc
độ ngày càng nhanh và phức tạp Những biến đổi này được gây ra:
- Trực tiếp bởi việc thúc đẩy và/hoặc loại bỏ một số loài động, thực vật nhất định của các ngành sản xuất (nông, lâm nghiệp, săn bắn)
- Gián tiếp thông qua sự thay đổi khí hậu, ô nhiểm môi trường, sức ép dân
số, độc canh và khai thác trắng,… làm thu hẹp cảnh quan tự nhiên/môi trường sống của các loài
Trang 17Mối quan hệ giữa các loài trong tự nhiên là vấn đề rất phức tạp, trong rừng tự nhiên, đặc biệt là trong rừng tự nhiên hỗn loài, sự đa dạng về loài làm phong phú thêm về cơ cấu mạng lưới thức ăn Một số tác giả sau khi nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng, sự phong phú của loài đã làm tăng tính ổn định về mặt sinh thái cho quần xã sinh vật sinh trưởng, phát triển và lúc đó lượng sinh khối trên một đơn vị diện tích là tối đa Trước đây, khi nghiên cứu sự phong phú về loài, các nhà khoa học chỉ mới dừng lại ở mức độ định tính, mô tả Các nghiên cứu mới đây nhất đã sử dụng một số chỉ số nhằm đánh giá mức độ đa
dạng các loài thực vật thông qua Chỉ số Simpson, Hàm số liên kết Shannon -
Weaver (H'), chỉ số hợp lý
1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới
1.2.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.1.1 Các nghiên cứu liên quan đến ĐDSH
Việt Nam có khoảng 12.000 loài thực vật có mạch, trong đó đã định tên được khoảng 7.000 loài thực vật bậc cao, 800 loài rêu và 600 loài nấm Tính đặc hữu của hệ thực vật rất cao, có ít nhất là 40% số loài đặc hữu, không có
họ thực vật đặc hữu, nhưng có tới 3% số chi thực vật đặc hữu Các khu vực: Hoàng Liên Sơn, Tây Nguyên, Bắc và Trung Trường Sơn được coi là trung
tâm các loài đặc hữu [6]
Như chúng ta đã biết, tính đa dạng sinh học của một hệ sinh thái tiêu biểu hay một vùng lãnh thổ nào đó đều được biểu hiện trong các phạm trù khác nhau Trước hết là sự đa dạng các taxon (ngành, lớp, họ, chi, loài…); sau
đó là sự đa dạng trong cấu trúc của hệ sinh thái, mối quan hệ tương hỗ giữa các quần hệ, quần xã, tạo nên sự cân bằng sinh thái bền vững, tồn tại một cách
tự nhiên; và cuối cùng là vai trò của con người tác động vào sự đa dạng đó để duy trì, phát triển, phá vỡ, huỷ hoại sự cân bằng đó Việt Nam nằm ở Đông Nam bán đảo Đông Dương có phần đất liền rộng khoảng 330.000 km2, với bờ biển dài khoảng 3200 km, phần nội thuỷ và lãnh hải gần với bờ biển rộng
Trang 18khoảng hơn 22.600 km Ba phần tư diện tích của cả nước là đồi núi với đỉnh núi cao nhất là Phan Xi Păng 3143m ở phía Tây Bắc Nơi đây các dãy núi cao được hình thành do sự kéo dài của dãy núi Hymalaya Mặc dù có những tổn thất quan trọng về diện tích rừng trong một thời kỳ kéo dài nhiều thế kỷ nhưng hệ thực vật nước ta vô cùng phong phú và đa dạng về chủng loại… Điều đặc biệt là hệ thực vật nước ta giàu những loài cây gỗ, cây bụi, dây leo gỗ… và rất nhiều đại diện có tồn tại từ kỷ đệ tam Theo dự đoán của các nhà thực vật học (Takhtajan, Phạm Hoàng Hộ, Phan Kế Lộc) số loài ít nhất sẽ lên đến 12.000 loài thực vật bậc cao, trong đó có khoảng 2.300 loài được sử dụng làm nguồn lương thực, thực phẩm, làm thuốc chữa bệnh, thức ăn cho gia súc, lấy gỗ, lấy tinh dầu, dầu béo và nhiều loại nguyên liệu khác (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997) [16], mặt khác hệ thực vật Việt Nam có mức độ đặc hữu cao Tuy rằng hệ thực vật Việt Nam không có các họ đặc hữu mà chỉ có các chi đặc hữu chiếm khoảng 3% nhưng số loài đặc hữu chiếm đến khoảng 20%, tập trung ở 4 khu vực chính: núi Hoàng Liên Sơn, Ngọc Linh, cao nguyên Lâm Viên và khu vực rừng ẩm Bắc Trung Bộ [30]
ĐDSH của Việt Nam là sự khác biệt của tất cả các dạng sống hiện hữu trên mọi miền của đất nước ĐDSH không tĩnh tại mà thường xuyên thay đổi, nó tăng lên do sự biến đổi về gen và các quá trình tiến hóa và giảm bởi các quá trình như suy thoái và mất sinh cảnh, suy giảm quần thể và tuyệt chủng Năm 1992, Trung tâm giám sát bảo tồn thế giới đã xác định Việt Nam là một trong 16 nước
có tính ĐDSH cao nhất trên thế giới Việt Nam được công nhận là một trung tâm đặc hữu về loài, 3 vùng sinh thái trong hơn 200 vùng sinh thái toàn cầu do WWF xác định và 6 trung tâm đa dạng về thực vật do IUCN xác định Toàn bộ đất nước Việt Nam nằm trong điểm nóng Inđô-Bơ Ma do tổ chức bảo tồn quốc tế xác định, là một trong những vùng sinh học bị đe dọa nhất và giàu có nhất trên trái đất Độ che phủ của rừng Việt Nam khoảng 37% với tổng diện tích tự nhiên
Trang 19là 12,3 triệu ha Số loài thực vật ở cạn ở Việt Nam vào khoảng 13.766 loài,
chiếm khoảng 6,3% so với toàn cầu [2]
Theo kết quả kiểm kê rừng được công bố tại Quyết định số BNN-KL ngày 17/7/2008 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT, diện tích rừng của Việt Nam là 12,837 triệu ha, với độ che phủ rừng tương ứng là 38,2%, trong đó
2159/QĐ-có 10,283 triệu ha rừng tự nhiên [20]
Những nghiên cứu về nguy cơ suy giảm ĐDSH và các biện pháp bảo tồn cũng đã được chú ý ngày càng nhiều ở Việt Nam Trước năm 1975, ở cả hai miền đã xây dựng được nhiều khu rừng cấm Sau giải phóng 1975, nhà nước đã quan tâm xây dựng các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia để bảo vệ tính ĐDSH Số lượng các khu bảo tồn và vườn quốc gia đã tăng từ 49 khu năm 1975 lên 73 khu năm 1980 và năm 2005 đã lên tới 128 khu với tổng diện tích gần 2 triệu ha
Hiện nay, đã có nhiều các công trình nghiên cứu liên quan đến bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam đã được tiến hành và công bố dưới các hình thức khác nhau, sau đây chúng tôi chỉ điểm qua một vài công trình chủ yếu Nguyễn Hoàng Nghĩa (1997, 1999) [14] đã đề cập rất chi tiết đến bảo tồn nguồn gen cây rừng Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [16] với “Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật” đã cung cấp các phương pháp nghiên cứu đa dạng sinh vật và cách nhận biết nhanh các các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam Hàng loạt các nghiên cứu, điều tra, đánh giá sự phong phú của tài nguyên sinh vật phục vụ cho việc qui hoạch, xây dựng các khu bảo tồn thiên nhiên đã được tiến hành Với sự giúp đỡ của các dự án quốc tế do các tổ chức như IUCN, WWF, Bird Life, UNDP… nhiều nghiên cứu chuyên đề về ĐDSH cũng đã được tiến hành ở các Vườn quốc gia Nhiều luận án tiến sĩ cũng đã được hoàn thành liên quan đến vấn đề nghiên cứu bảo tồn ĐDSH, Cao Thị Lý (2007)[3] với luận án: “Nghiên cứu bảo tồn ĐDSH: những vấn đề liên quan đến quản lý tổng hợp tài nguyên rừng ở một số khu bảo tồn thiên nhiên vùng Tây Nguyên” đã đề cập đến một
Trang 20hệ thống phương pháp tiếp cận kết hợp kỹ thuật với xã hội để nghiên cứu giám sát trong quản lý, bảo tồn tài nguyên rừng và đã đề xuất hai giải pháp cụ thể phục vụ quản lý tài nguyên rừng nhằm giải quyết hài hoà hai mục tiêu: sinh kế của dân cư vùng đệm và quản lý bền vững tài nguyên bảo tồn Ngô Tiến Dũng (2007) [8] với luận án “Tính đa dạng thực vật của VQG Yok Đôn, tỉnh Đak Lak” đã mô tả sự biến đổi thảm thực vật thông qua điều tra theo tuyến với 5 kiểu thảm, 21 ưu hợp và 4 kiểu trảng và hoàn thiện danh lục thực vật của VQG Yok Đôn với 129 họ, 478 chi, 858 loài thực vật bậc cao có mạch, trong đó tác giả đã bổ sung 21 họ, 188 chi và 292 loài
Về mặt địa sinh học, Việt Nam là giao điểm của các hệ động thực vật thuộc vùng Ấn Độ - Miến Điện, Nam Trung Quốc và Inđônêxia - Malaysia Cùng với các yếu tố địa lý, địa hình, khí hậu thủy văn đã tạo cho nơi đây trở thành một trong những khu vực có tính đa dạng sinh học cao của thế giới (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2002 - Báo cáo quốc gia về các khu bảo tồn và phát triển kinh tế) ĐDSH có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tự nhiên và cân bằng sinh thái Đó là cơ sở của sự sống còn và thịnh vượng của loài người và sự bền vững của thiên nhiên trên trái đất Theo ước tính Việt Nam có khoảng 15.000 loài thực vật có mạch Hiện nay đã xác định tên được 11.373 loài thực vật bậc cao, 793 loài rêu và hơn 600 loài nấm Để bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là các vùng có tính ĐDSH cao, nơi phân
bố các loài quý hiếm, Chính phủ Việt Nam đã cho thành lập một hệ thống các Khu rừng đặc dụng bao gồm Vườn quốc gia, Khu dự trữ thiên nhiên, Khu bảo tồn loài/sinh cảnh, Khu bảo vệ cảnh quan được phân bố trên hầu khắp các vùng sinh thái, gồm 127 khu Cần phải hoàn thiện hệ thống chính sách, luật pháp, nâng cao ý thức và năng lực bảo tồn, huy động được sự tham gia của cộng đồng vào công tác bảo tồn (Dẫn theo Nguyễn Duy Chuyên) [11]
Nguyễn Gia Lâm (2003), nghiên cứu về Đa dạng sinh học tài nguyên rừng Bình Định cho biết hiện có khoảng 155 họ, 1.625 loài, trong đó thực vật hạt kín
Trang 21hai lá mầm 113 họ, 1.162 loài; thực vật hạt kín 1 lá mầm 22 họ, 141 loài; ngành hạt trần có 6 họ, 286 loài, quyết thực vật 14 họ, 36 loài, số loài thực vật làm thuốc có 282 loài, cây có công dụng đặc biệt có 41 loài Thực vật Bình Định mang tính đặc trưng, có rất nhiều loài cây quý hiếm như Lát, Cà te, Giáng hương, Gụ, Trắc, Thông tre [13]
Vườn quốc gia Yok Đôn đặc trưng cho hệ sinh thái rừng khộp, kết quả điều tra thống kê được 566 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 290 chi và 108
họ Hệ cây gỗ ở đây khá phong phú và đa dạng Sự phân bố của các taxon trong ngành là không đồng đều, trong đó ngành hạt kín có số loài nhiều nhất 559 loài chiếm 98,8% và ít nhất là ngành hạt trần có 1 loài chiếm 0,1% Tuy nhiên tác giả cũng so sánh với hệ thực vật ở Pù Mát, Cúc Phương, Sa Pa thì thấy mức độ đa dạng của hệ cây gỗ Yok Đôn thấp hơn Điều đó cũng phù hợp với thực tế điều kiện khí hậu Yok Đôn khô, không thích hợp Hệ thống phân loại thảm thực vật Yok Đôn gồm: Kiểu rừng kín thường xanh, kiểu rừng thưa nửa rụng lá, kiểu rừng thưa cây lá rộng rụng lá (rừng khộp), phân quần xã này rất đặc trưng, độc đáo, bao trùm nhất Vườn quốc gia, với chủ yếu cây họ dầu, cấu trúc đơn giản về tầng thứ, nghèo về thành phần loài, mật độ cây thấp [8]
Bằng phương pháp điều tra theo tuyến song song và phóng xạ, lập các ô tiêu chuẩn, tính đa dạng thực vật Vườn quốc gia Cúc Phương, Nguyễn Bá Thụ đã đưa ra số liệu tổng số loài thực vật bậc cao là 1.944 loài thuộc 912 chi, 219 họ, 86
bộ của 7 ngành thực vật, trong đó có 98 loài quý hiếm So với tổng số loài thực vật bậc cao của Việt Nam (11.374 loài kể cả ngành Rêu), số loài thực vật bậc cao của Cúc Phương chiếm 17,27% Tác giả cũng đã đưa ra được sự đa dạng về các quần
xã thực vật của hệ thực vật Cúc Phương, có 19 quần xã thực vật đã được phân loại, mô tả và lần đầu tiên được thể hiện trên bản đồ [10]
Kết quả nghiên cứu đa dạng thực vật thuộc dự án ICBG tại Cúc Phương,
đã bổ sung thêm 119 loài thực vật mới cho Cúc Phương (so với danh lục năm
1997), phát hiện được 2 chi thực vật mới cho Việt Nam là Nyctocalos thuộc họ
Trang 22Núc nác (Bignoniacea) và chi Gardneria thuộc họ Mã tiền (Loganiaceae), đặc biệt đã phát hiện một chi mới và loài mới cho khoa học là Vietorchis aurea
Averyanov thuộc họ Lan (Orchidaceae) Phát hiện được 45 điểm đa dạng thực
vật tại khu vực Cúc Phương [18]
Phân tích tổ thành thực vật Vườn quốc gia Ba Vì cho thấy: thành phần loài ở đai cao Ba Vì khá phong phú, có nhiều chi và loài thuộc các họ thực vật phân bố chủ yếu ở á nhiệt đới và ôn đới Đã phát hiện có 417 loài, thuộc 323 chi, 136 họ thực vật bậc cao có mạch trong đó ngành hạt kín chiếm chủ yếu
với 377 loài Có một số loài quý hiếm như: Bách xanh (Calocedus
macrolepis), phỉ (Cephalotaxus mannii), thông tre (Podacapus neriifilius), ba
gạc (Rauwolfia vertieilata), sến mật (Madhuca pasquieri), vàng tâm (Manglietia conifera), Trên vùng cao Ba Vì còn tồn tại hai kiểu chính: kiểu
rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp và kiểu rừng hỗn hợp cây lá rộng, lá kim ẩm á nhiệt đới núi thấp Kiểu rừng thứ nhất chiếm phần lớn diện tích khu vực nghiên cứu, là một phức hợp những loài ưu thế: Re vàng, vàng tâm, kháo lá to, bản xe giả, bời lời Ba Vì, trám trắng, bạc tán, dẻ đấu nứt, vỏ mản, tổ kén, re lá bạc, Kiểu rừng thứ hai phân bố ở vị trí cao hơn và thể hiện qua sự hiện diện của một số loài cây hạt trần và họ đỗ quyên, rừng không có loài ưu thế rõ rệt [12]
Khi nghiên cứu về khả năng tái sinh phục hồi rừng vùng Đông Bắc Việt Nam, Phạm Quốc Hùng (2005), cho biết trong vùng Đông Bắc, trạng thái rừng IIa
có nhiều dạng ưu hợp, tùy từng nơi sẽ có những loài hoặc nhóm loài ưu thế khác nhau, các loài tiên phong ưa sáng chiếm tỷ lệ lớn trong tổ thành Ở vùng
có độ cao thấp, những loài dẻ, thẩu tấu, trám, dung, chẹo, côm và ba soi chiếm tỷ lệ cao trong lâm phần Ở nơi tương đối cao, từ 500-700m, những loài có khả năng chịu lạnh chiếm ưu thế như: cáng lò, vối thuốc, chân chim và lòng trứng Trạng thái rừng IIb, bên cạnh những loài tiên phong ưa sáng đến
Trang 23định cư còn có những loài nửa chịu bóng sẽ là chủ nhân tương lai của bước diễn thế tiếp theo như lim xanh, trường, de, trám và các loài dẻ Một số loài chịu bóng dưới tán rừng cũng đã thấy xuất hiện trong lâm phần như mạy tèo, trâm và cọc rào Và trạng thái rừng IIb ở xã Tuấn Đạo, Sơn Động, Bắc Giang
có 28 loài cây gỗ thuộc 16 họ thực vật cùng sinh sống, trong đó, 2 loài ưu hợp
là lim xanh và trám đã chiếm 50% tổng số cá thể trong lâm phần [19]
Như vậy có thể thấy nghiên cứu về đa dạng sinh học thực vật theo các taxon đã được rất nhiều các tác giả tiến hành bằng nhiều phương pháp khác nhau
và đã đưa ra được số liệu thống kê về thành phần loài thực vật ở các khu vực nghiên cứu Tuy nhiên, nghiên cứu tính đa dạng thực vật thân gỗ ở trên núi đá vôi thì vẫn ít được nghiên cứu, đặc biệt là ở trạng thái rừng trên núi đá vôi ở một khu bảo tồn thiên nhiên mới được thành lập như Thần Sa - Phượng Hoàng
1.2.1.2 Các nghiên cứu về thảm thực vật rừng trên núi đá vôi ở Việt Nam
Trong quá trình phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam, Thái Văn Trừng (1978) [22] đã xem xét loại hình thực vật trên núi đá vôi Theo đó rừng trên núi
đá vôi được xác định thuộc kiểu phụ thổ nhưỡng kiệt nước trên đất đá vôi xương
xẩu (Đk) và nằm trong các kiểu thảm thực vật sau:
- Kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm nhiệt đới (Rkx)
Đây là kiểu thảm thực vật chủ yếu của rừng trên núi đá vôi với ưu hợp
Nghiến + Trai lý (Burretiodendron hsienmu + Garcinia fragraoides) xuất hiện ở
những lèn, sườn núi đá vôi có độ dốc lớn, đặc trưng của những cảnh quan Karst,
có nhiều khoảng trống lớn để lộ đá gốc, sườn núi thường lởm chởm thấp dưới 700m thuộc một số tỉnh miền Bắc Việt Nam (Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Ninh Bình) Tuy nhiên do quá trình khai thác và sử dụng quá mức nên diện tích rừng nguyên sinh hoặc ít bị tác động còn lại rất ít, thường nằm ở các VQG và các KBTTN như Cúc Phương, Pù Luông, Loại thực bì này niện nay chủ yếu là những khu rừng thứ sinh trên núi đá vôi, phân bố chủ yếu ở vùng gần dân cư, ven các trục đường, nơi mà việc khai thác vận
Trang 24chuyển gặp nhiều thuận lợi Tại nhiều nơi, do khai thác mạnh và cháy, rừng đã trở nên nghèo kiệt, còn ít những loài cây gỗ, tổ thành rừng đã thay đổi, các loài cây mọc nhanh chiếm ưu thế như Mạy tèo, Ô rô, Ba bét, Ràng ràng mít, Chẩn,
Do vậy, kiểu thảm thực vật này còn được xác định là kiểu phụ thứ sinh nhân tác trên đất đá vôi xương xẩu
- Kiểu rừng kín nửa rụng lá, ẩm nhiệt đới (Rkn):
Rừng trên núi đá vôi ở đây có sự kết hợp của nhiều loài cây khác nhau như Nghiến + Trai lý + Chò nhai + Ô rô cùng các loài rụng lá như Trường sâng, Xoan
nhừ, Gạo, Dâu da xoan, Lòng mang, Cui rừng… ở một số nơi thuộc các tỉnh Cao
Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn và Quảng Bình Loại thảm thực vật này thường gặp trên những sườn núi đá vôi dốc đứng hoặc tại các thung lũng núi đá vôi với đất dốc tụ, thấp ẩm, thực vật phát triển cao, lớn gần giống với thực vật trên núi đất
- Kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp (Rka):
Kiểu rừng này phân bố ở đai cao trên 700m: Chợ Rã (Bắc Cạn), Nguyên Bình (Cao Bằng), Quản Bạ, Đồng Văn (Hà Giang), và vùng Tây Bắc Đặc điểm nổi bật là thực vật thuộc ngành Hạt trần có tỷ lệ tương đối lớn và tập trung, có các loài như Thông Pà cò, Sam Kim hỷ, Trắc bách Quản bạ, ở độ cao 1000m thuộc
vùng Tây Bắc, xuất hiện ưu hợp Kiêng + Heo (Burretiodendron brilletti + Croton
pseudoverticillata) thuộc kiểu phụ thổ nhưỡng kiệt nước trên đất rendzina giàu
chất dinh dưỡng
- Kiểu rừng kín hỗn hợp cây lá rộng, lá kim ẩm á nhiệt đới núi thấp (Rkh)
ở Hà Giang, Tuyên Quang và Ninh Bình ở độ cao dưới 700m, với ưu hợp
Nghiến + Kim giao + Hoàng đàn (Burretiodendron hsienmu + Podocarpus
latiofolia + Cupressus terulus) cùng một số loài cây thuộc các họ Thích, Dẻ,
Ngoài ra, tại những khu vực sau hoạt động nương rẫy hoặc những khu rừng
đã bị khai thác nhiều lần đến cạn kiệt ở nhiều tỉnh như Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Hoà Bình, Quảng Bình , xuất hiện một dạng thực bì có diện tích tương
Trang 25đối lớn với những loài cây bụi, cây gỗ nhỏ như Ô rô, Mạy tèo, Xẻn gai, Dạng
thực bì này được gọi là Quần lạc cây bụi, cây gỗ rải rác trên núi đá vôi
Trần Ngũ Phương (1970) [23], khi đề cập đến rừng ở miền Bắc Việt Nam
đã xếp rừng trên núi đá vôi vào: (1) đai rừng nhiệt đới mưa mùa với kiểu rừng
nhiệt đới lá rộng thường xanh núi đá vôi, kiểu này có 4 kiểu phụ thổ nhưỡng
nguyên sinh 1-2 tầng cây gỗ, trong đó Nghiến là loài cây ưu thế; (2) đai rừng á
nhiệt đới mưa mùa với kiểu rừng á nhiệt đới lá kim trên núi đá vôi, kiểu này có 3 kiểu phụ một tầng, trong đó các loài Vân sam (Keteeleria calcarea), Hoàng đàn (Cupressus terulus) và Kim giao (Podocarpus latiofolia) chiếm ưu thế
Ngoài ra, Theo Nguyễn Bá Thụ (1995) [9], rừng trên núi đá vôi ở Cúc
Phương được xếp vào quần hệ phụ rừng rậm nhiệt đới thường xanh mưa mùa
cây lá rộng trên đất thấp (dưới 500 m so với mặt nước biển) thoát nước phong hoá từ đá vôi và quần hệ phụ này bao gồm 6 quần xã, trong đó các loài cây chính
tham gia gồm Chò đãi, Sấu, Nhội, Vàng anh, Chò nhai, Mạy tèo, Sâng, Dẻ gai,
Re đá, Côm lá lớn, Trường nhãn, Vải guốc, Mang cát, Hồng bì rừng và Ô rô
Thông qua kết quả phân loại thảm thực vật rừng trên núi đá vôi của một
số tác giả trên đây, chúng tôi có một số nhận xét sau:
Trần Ngũ Phương (1970) [23] chỉ tiến hành phân loại rừng trên núi đá vôi ở trạng thái nguyên sinh, nên ở kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh
núi đá vôi Nghiến (Burretiodendron hsienmu) là loài cây luôn giữ vai trò ưu
thế Trong thực tế, phần lớn các diện tích rừng trên núi đá vôi hiện nay đã bị tác động, số lượng tầng và loài cây ưu thế ở các kiểu rừng này đã thay đổi
Hệ thống phân loại rừng của UNESCO (1973) khá chi tiết và dễ dàng vận dụng thích hợp cho việc phân loại thảm thực vật trong phạm vi một vùng khí hậu như phân loại thảm thực vật cho một Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên
Hệ thống phân loại thảm thực vật rừng của Thái Văn Trừng được xây dựng trên cơ sở học thuyết về hệ sinh thái của Tansley A.P (1935) và học thuyết
sinh địa quần học của Sucasev (1957) theo nguyên lý "sinh thái phát sinh thảm
Trang 26thực vật" Do vậy, lý luận của phân loại này hoàn toàn chặt chẽ và đáp ứng được
thực tiễn, vì khả năng áp dụng dễ dàng Để xác định một kiểu rừng chính, theo Thái Văn Trừng, chỉ cần dựa vào 4 tiêu chuẩn là dạng sống ưu thế, tàn che, hình
thái sinh thái của lá và trạng mùa của tán lá của tầng cây ưu thế sinh thái Mặt
khác, hệ thống phân loại của Thái Văn Trừng có thể áp dụng cho tất cả các loại thảm thực vật dù đó là rừng nguyên sinh hay rừng thứ sinh bị tác động, thậm chí
là những khu rừng nhân tạo do con người xây dựng Vì vậy, chúng tôi đã sử dụng các tiêu chuẩn phân loại rừng của Thái Văn Trừng để tiến hành xác định các kiểu phụ và các QXTV rừng ở khu vực nghiên cứu của đề tài
1.2.1.3 Các nghiên cứu liên quan đến ĐDSH trên núi đá vôi
Viện Điều tra - Quy hoạch rừng (1965) cùng với Viện sinh thái tài nguyên sinh vật, Viện Dược liệu, đã tiến hành nghiên cứu mức độ đa dạng sinh vật, công tác quản lý bảo vệ và sử dụng tài nguyên rừng trên núi đá vôi ở Cao Bằng
và một số địa phương khác (Dẫn theo Bùi Thế Đồi, 2001)
Trong hai năm 1967 và 1968, Nguyễn Vạn Thường và đội 9 Lâm học - Viện Điều tra Quy hoạch (Bộ Lâm nghiệp) thực hiện điều tra chuyên đề rừng núi
đá vôi tại một số khu vực thuộc tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Hoà Bình, Cao Bằng, Quảng Ninh Kết quả điều tra đã đưa ra nhận xét khái quát: sự biến đổi các đặc trưng lâm học của các quần hệ rừng trên núi đá vôi miền Bắc Việt Nam
có sự sai khác rõ rệt về cấu trúc (ngay cả trong trạng thái rừng nguyên sinh) trên các dạng địa hình chủ yếu (Dẫn theo Bùi Thế Đồi, 2001)
Báo cáo "Đặc điểm tự nhiên rừng núi đá vôi Na Hang, Tuyên Quang"
(1968) [9] đã đưa ra số liệu về diện tích và trữ lượng tài nguyên rừng núi đá vôi đồng thời xác định các đặc điểm chủ yếu của một số loài cây trên núi đá vôi như Nghiến, Trai, Tre trinh, Đao, Báng, và tình hình sâu bệnh hại trong vùng Ngoài ra, báo cáo này còn đưa ra một số nhận định về tái sinh của Nghiến, Trai lý (Dẫn theo Bùi Thế Đồi, 2001)
Trang 27Hoàng Kim Ngũ (1990-1998) đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và khả năng gây trồng các loài cây như Nghiến, Mạy sao, Trai lý, Hoàng đàn, Mắc rạc, Xoan nhừ, Mắc mật trên núi đá vôi ở Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn Tác giả này đã xác định được một số đặc điểm sinh thái và đề xuất kỹ thuật gây trồng các loài cây này ở các địa phương trên Từ năm 1999 tác giả tiến hành gây trồng thử nghiệm các loài cây này trên đất đá vôi ở một số nơi khác ở Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn và các tỉnh vùng Tây Bắc Tuy nhiên, do còn đang trong thời gian thử nghiệm nên đây chỉ là những khẳng định ban đầu về khả năng thành công của các mô hình phục hồi rừng, đặc biệt là các mô hình ở vùng Tây Bắc (Dẫn theo Bùi Thế Đồi, 2001)
Tại Phúc Sen, Cao Bằng, người dân địa phương (chủ yếu là người Nùng Inh) đã tiến hành trồng rừng trên đất đá vôi bằng loài Mắc rạc Kết quả cho thấy, khả năng thành rừng khi trồng loài cây này rất cao, góp phần che phủ những diện tích đất trống và cung cấp chất đốt cho bà con Đây được xem là những đóng góp quan trọng cho việc nghiên cứu phục hồi rừng trên núi đá vôi (Dẫn theo Bùi Thế Đồi, 2001)
Tài nguyên và ĐDSH trên núi đá vôi là một nguồn tài nguyên quý giá
và quan trọng đã tạo nên sự phong phú, đa dạng của các loài động thực vật cũng như các hệ sinh thái rừng của Việt Nam Theo số liệu thống kê tài nguyên rừng năm 2003 của Viện Điều tra quy hoạch rừng, diện tích rừng và đất rừng của Việt Nam là 18.866.473 ha, diện tích núi đá là 1.012.625 ha, phần lớn diện tích trên là núi đá vôi, chiếm gần 5,4% tổng diện tích đất lâm nghiệp cả nước Kết quả điều tra thành phần thực vật rừng trên núi đá tương đối phong phú Thực vật phát triển đa dạng về loài bao gồm các loài cây lá kim và các loài cây lá rộng Vùng Lạng Sơn có 104 họ với 365 loài, vùng Tuyên Quang - Hà Giang có 149 họ và 967 loài, Vùng Tây Bắc - tây Thanh Hóa - Nghệ An có 149 họ với 1049 loài, vùng Trường Sơn Bắc có 575 loài của 129 họ Trong số các họ ở các vùng đều có khoảng 15 họ có trên 10 loài
Trang 28và xuất hiện hầu khắp các vùng như họ đay (Tiliaceae), bứa (Clusiaceae), dâu tằm (Moraceae), bồ hòn (Sapindaceae), xoan (Meliaceae), na (Annonaceae),
ba mảnh vỏ (Euphorbiaceae), vang (Caesalpiniaceae), thị (Ebenaceae), đinh (Bignoliaceae), [15]
Đánh giá tính đa dạng thực vật trên núi đá vôi phía đông bắc khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên - Hữu Lũng - lạng Sơn, Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng
sự đã điều tra trong diện tích khoảng 48 km2, và đã xác định được 554 loài,
334 chi, 124 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch là: Thông đất - Licopodiophyta, Cỏ tháp bút - Equisetophyta, Dương xỉ - Polypodiophyta,
Thông nghiệp (Hạt trần) - Pinophyta (Gymnospermae), Mộc lan (Hạt kín) - Magnoliophyta (Angiospermae)
Khi nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng trên núi đá vôi tại ba địa phương ở miền Bắc Việt Nam tác giả Bùi Thế Đồi (2001) cho rằng: Trong tất
cả các quần xã thực vật rừng nghiên cứu ở ba địa phương, chỉ có <10 loài cây tham gia trong công thức tổ thành, cao nhất ở Tân Hoá - Quảng Bình và thấp nhất là ở Tự Do - Cao Bằng Các loài cây chính tham gia trong các QXTV rừng ở các địa phương khác nhau Tầng cây gỗ của các QXTV rừng ở Tân Hoá - Quảng Bình có chỉ số đa dạng lớn hơn so với ở Đa Phúc - Hòa Bình và
Tự Do - Cao Bằng Trong đó ở Tự Do (Cao Bằng) thì Nghiến chiếm tỷ lệ tổ thành trên 20% [5]
Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng có số lượng loài thực vật khá phong phú: 1.096 loài Theo hệ thống phân loại năm 1997 của Mabberley, 1.096 loài thực vật này được xếp vào 645 chi, 160 họ ở 5 ngành thực vật Hiện tại, một số loài thực vật quý hiếm trong khu vực đang
bị suy giảm về số lượng cá thể nghiêm trọng và đang đứng trước nguy cơ
bị tiêu diệt Đó là các loài: Nghiến gân ba, sến mật, táu mật, Đặc biệt loài lan hài Việt Nam coi như đã bị tuyệt chủng ngoài thiên nhiên Qua đó thấy
Trang 29rằng, tài nguyên thực vật rừng đang ngày càng nghèo cả về số lượng và chất lượng [21]
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.2.2.1 Nghiên cứu về đa dạng sinh học
Trước nguy cơ mất ĐDSH một cách nhanh chóng trên phạm vi toàn thế giới nhiều công trình nghiên cứu khoa học liên quan đã ra đời Công ước RAMSAR, Iran (1971), Công ước (CITES, 1972), Công ước Paris (1972), Công ước bảo vệ các loài ĐVHD di cư, Born (1979)
So sánh số loài cây gỗ có D1.3 >2,5cm trong một ô tiêu chuẩn có diện tích 0,1 ha thì ở vùng Địa Trung Hải (24-136 loài) tương tự như trong rừng khô nhiệt đới và rừng mưa bán thường xanh (41-125 loài); trong rừng mưa thường xanh nhiệt đới số loài cao hơn nhiều (118-136 loài) (Mooney, 1992) Số loài bình quân trong rừng ôn đới khoảng 21- 48 loài Sự đa dạng về loài của rừng mưa nhiệt đới được diễn đạt bằng công thức Shannon-Weaver (1971) như là một thông số so sánh mật độ tham gia của mỗi loài với H = 6,0 (cực đại có thể 6,2 = 97%) lớn gấp 10 lần so với rừng lá rộng ôn đới (0,6) Thông số này giảm dần từ vùng nhiệt đới đến hai cực và phụ thuộc vào các lục địa khác nhau Theo
lý thuyết ốc đảo của Mac Arthur-Wilson (1971) thì số lượng loài tương tự bằng căn bậc bốn của diện tích ốc đảo (Công thức tính nhanh: diện tích tăng lên 10 lần có nghĩa là số loài tăng lên gấp đôi) Ngược lại, diện tích bị thu hẹp lại có nghĩa là một số loài tương ứng sẽ bị tiêu diệt hoặc phải đấu tranh để tồn tại (Wilson, 1992)
Danh sách các loài có tên trong sách đỏ ngày càng tăng lên, có nghĩa là các loài có nguy cơ bị tuyệt chủng ngày càng nhiều mà nguyên nhân không có
gì khác hơn là các hoạt động sống của con người Khi so sánh các dạng sử dụng đất khác nhau (chẳng hạn nông nghiệp, du lịch, giao thông, ) thì lâm nghiệp đứng hàng thứ 2 (sau nông nghiệp) như là nguyên nhân của việc suy giảm, trong khi cách đây một phần tư thế kỷ (1981) còn xếp ở vị trí thứ 6 (sau
Trang 30nông nghiệp, du lịch, khai thác vật liệu, đô thị hoá và thuỷ lợi) (Sukopp, 1981-dẫn theo Pitterle, A 1993)
1.2.2.2 Các nghiên cứu liên quan đến thảm thực vật rừng trên núi đá vôi
Để góp phần xây dựng những nguyên lý, và đề cập đến nhiều biện pháp
kỹ thuật về kinh doanh rừng mưa nhiệt đới đã có nhiều tác giả ngoài nước như: Richard (1960) với công trình Rừng mưa nhiệt đới; Catinot (1965) với công trình Lâm sinh học nhiệt đới; G Baur (1970) với tác phẩm Cơ sở sinh thái của kinh doanh rừng mưa, Lampard (1989) với công trình Lâm sinh học nhiệt đới , các công trình nghiên cứu này đã chỉ ra rằng rừng nhiệt đới rất đa dạng phong phú về thành phần loài Sự đa dạng trong thành phần loài của thảm thực vật rừng phụ thuộc vào quá trình tái sinh tự nhiên
Viện Lâm nghiệp Quảng Tây và Quảng Đông (Trung Quốc) đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của một số loài cây trên núi đá vôi như: Tông
dù, Mắc rạc (Dầu choòng), Xoan nhừ, Lát hoa, Nghiến, trong thời kỳ
1985-1998 Những nghiên cứu đó đã được tổng kết sơ bộ sau nhiều hội thảo khoa học
ở Học viện Lâm nghiệp Bắc Kinh với sự tham gia của nhiều nhà khoa học lâm nghiệp đầu ngành của nước này và những hướng dẫn tạm thời về kỹ thuật phục hồi rừng trên núi đá vôi đã được xây dựng Tuy nhiên, những nguyên lý về phục hồi và phát triển rừng trên núi đá vôi chưa được tổng kết một cách có hệ thống nên việc áp dụng những hướng dẫn này cho nhiều quốc gia khác, trong
đó có Việt Nam còn khiêm tốn và đang trong giai đoạn thử nghiệm (Dẫn theo Bùi Thế Đồi, 2001)
1.2.3 Thảo luận và xác định vấn đề nghiên cứu của đề tài
Gần đây số lương các các công trình nghiên cứu liên quan đến ĐDSH được công ngày cáng tăng cả trên thế giới và ở Việt Nam Điều đó một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của vấn đề bảo tồn ĐDSH đối với sự tiến hoá
và sự phát triển bền vững của thế giới tự nhiên nói chung và của của xã hội loài người nói riêng Bảo tồn ĐDSH liên quan chặt chẽ đến việc sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên, trong đó có tài nguyên rừng và đặc biệt là
Trang 31rừng nhiệt đới, nơi được coi là trung tâm ĐDSH của thế giới Tuy nhiên, vấn
đề bảo vệ rừng nhiệt đới cũng đồng nghĩa với sự hy sinh về sinh kế của nhiều cộng đồng cư dân nghèo sống phụ thuộc vào nguồn tài nguyên rừng ở các nước đang phát triển vùng nhiệt đới Do đó, bảo tồn ĐDSH phải đi đôi với việc quan tâm đến vấn đề xã hội - nhân văn nhằm gắn kết bảo tồn với phát triển bền vững
Ở Việt Nam, bảo tồn ĐDSH là vấn đề đã và đang được quan tâm Cụ thể là đã thành lập hệ thống các vườn quốc gia, các khu bảo tồn trên phạm vi
cả nước, đặc biệt là Luật đa dạng sinh học đã được Quốc hội thông qua năm
2008 và gia nhập các Công ước quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh học Tuy nhiên cần phải quan tâm nhiều hơn đến việc giải quyết vấn đề sinh kế cho các cộng đồng người dân cư sống trong và gần rừng, đặc biệt là ở xung quang các Vườn quốc gia và các khu bảo tồn tiên nhiên
Để xây dựng các biện pháp quản lý tài nguyên rừng phù hợp và gắn kết được mục tiêu bảo tồn với phát triển kinh tế - xã hội bền vững, các kiến thức
về đa dạng hệ thực vật, về cấu trúc, động thái và khả năng phát triển tự nhiên của các loài là hết sức quan trọng Các nghiên cứu liên quan đến việc đánh giá
sự đa dạng của hệ thực vật ở Khu bảo loài và sinh cảnh Nam Xuân lạc đã thu được một số kết quả nhất định Bước đầu đã lập được danh mục các loài thực vật, trong đó xác định có một số loài phân bố hẹp, là những đối tượng quí hiếm được có nguy cơ tuyệt chủng; cần có những nghiên cứu sâu về khu phân
bố, đặc trưng cấu trúc quần xã Đa dạng thực vật là một lĩnh vực nghiên cứu rất rộng, các điều tra, đánh giá đã có ở Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân lạc mới tập trung đánh giá đa dạng về taxon, thống kê sự đa dạng về ngành thực vật, số chi, số họ và số loài; và việc thống kê này mới chỉ mang tính chất tổng quát, chưa mang ý nghĩa bảo tồn cao Và những nghiên cứu đề cập đến các chỉ số đa dạng loài và khả năng tái sinh của các loài có ý nghĩa bảo tồn trong các quần xã thì lại ít được đề cập Trong khuôn khổ của một luận văn tiến sĩ với thời gian và nguồn lực có hạn, đề tài muốn đóng góp mốt
số kiến thức về ĐDSH để bổ sung vào kho tàng kiến thức về đa dạng hệ thực
Trang 32vật rừng ở Việt nam nói chung và Khu bảo tồn bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân băng một nghiên cứu trường hợp cụ thể, đó là: Nghiên cứu đa dạng thực vật thân gỗ và những yếu tố tác động đến bảo tồn thực vật thân gỗ làm có sở cho việc đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển ở Khu bảo tồn
1.2.4 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
1.2.4.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
a Vị trí địa lý
KBTL&SC Nam Xuân Lạc có diện tích vùng bảo vệ nghiêm ngặt là 1.788 ha, diện tích vùng đệm 7.508 ha Diện tích rừng tự nhiên chiếm trên 92% tổng diện tích KBT, diện tích rừng ở đây chủ yếu nằm trên núi đá KBTL&SC Nam Xuân Lạc nằm chủ yếu trên địa phận hai thôn Nà Dạ và thôn Bản Khang
xã Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, có tọa độ địa lý 22º17’- 22º19’ và 105º28’ -105º33’ E
Hình 1.1 Bản đồ hiện trạng KBTL&SCNXL
+ Phía Bắc giáp thôn Bản Eng và Bản Tưn, Xã Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Trang 33+ Phía tây giáp xã Thanh Tương và Vĩnh Yên, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang
+ Phía Đông giáp thôn Cốc Tộc, xã Đồng Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
+ Phía Nam giáp thôn Phia Khao, thôn Khuổi Kẹn, xã Bản Thi, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
KBT cách trung tâm thị trấn Bằng Lũng, huyện Chợ Đồn 35 km về phía Bắc, giao thông đi lại khó khăn Đây là khu rừng còn tương đối nguyên vẹn với hệ sinh thái đa dạng, phong phú và nối liền với KBT thiên nhiên Na Hang (Tuyên Quang) KBT nằm trên địa bàn xã Xuân Lạc và giáp với xã Bản Thi, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
b Điều kiện khí hậu, thủy văn
hậu nhiệt đới gió mùa, mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau
+ Nhiệt độ trung bình hàng năm là 21,1ºC, nhiệt độ trung bình cao nhất
là 26,7ºC vào tháng 7, nhiệt độ trung bình thấp nhất là 13,5ºC vào tháng 1
+ Lượng mua trung bình năm là 153mm phân bố không đều giữa các tháng trong năm, tập trung cao nhất vào các tháng mùa mưa như tháng 6,7 lượng mua đạt tới 340mm
+ Sương muối thường xuất hiện vào các tháng mùa đông, mỗi năm thường xuất hiện 1 đến 2 đợt sương muối, mỗi đợt thường kéo dài từ 2 đến 4 ngày nhưng mức độ không cao, ít gây ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống
Vĩnh Yên, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang chảy theo hướng Tây-Bắc, qua các thôn Nà Dạ, Bản Eng, Bản Tưn, Bản Ó và Tà Han của xã Xuân Lạc rồi đổ
ra Hồ Ba Bể với chiều dài khoảng 9 km, thường xuyên có nước chảy quanh
Trang 34năm nhưng về mùa đông thì mực nước thấp hơn Ngoài ra còn có nhiều khe suối nhỏ bắt nguồn từ các đỉnh núi cao đổ xuống suối Tà Han Do hiện tượng Cacxtơ nên một số khe suối có đoạn chảy ngầm trong lòng đất, có đoạn chảy
nổi trên mặt đất
c Đặc điểm địa hình
Khu bảo tồn loài sinh cảnh Nam Xuân Lạc có địa hình phức tạp, bị chia cắt mạnh, chủ yếu là rừng trên núi đá vôi ở miền Bắc Việt Nam, với độ cao trung bình từ 400 m đến 800 m so với mực nước biển, đỉnh cao nhất 1.159 m,
đi lại khó khăn và chia thành 2 vùng rõ rệt: Vùng núi đá và vùng núi đất
d Đặc điểm hệ động thực vật
thường xanh cây lá rộng ẩm cận nhiệt đới ở phía bắc Việt Nam có giá trị bảo tồn cao Tại đây có nhiều loài cây gỗ quý, các loại cây có giá trị dược liệu, các
loài đặc hữu như: Nghiến (Burretiodendron hsienmu) là loài đặc hữu của
miền bắc Việt Nam và miền nam Trung Quốc Đây cũng là loài chiếm ưu thế
ở các sườn núi đá khu vực Nam Xuân Lạc Các loài Lan và Tuế cũng là đối tượng quan trọng trong công tác bảo tồn trong khu vực
năm 2000 đã ghi nhận tổng số 373 loài động vật thuộc 70 họ, 22 bộ, 5 lớp trong đó có 34 loài thú (có 8 loài Dơi), 159 loài chim, 19 loài bó sát, 14 loài ếch nhái và 150 loài bướm ở khu vực Nam Xuân Lạc Trong đó có 20 loài quý hiếm bao gồm 9 loài thú, 1 loài chim, 9 loài bò sát và 1 loài ếch nhái Có
11 loài bị đe dọa cấp toàn cầu ghi trong Danh lục Đỏ IUCN (2000) gồm 3 loài bậc EN, 4 loài bậc VU, 2 loài bậc NT và 2 loài bậc DD Có 15 loài bị đe dọa cấp quốc gia được ghi trong sách đỏ Việt Nam (2000) gồm 2 loài bậc E, 6 loài bậc V, 2 loài bậc R và 5 loài bậc T
e Điều kiện giao thông, thủy lợi
Trang 35• Giao thông: Hầu hết đường giao thông từ trung tâm xã đi các thôn đều
bằng đường đất, do độ dốc cao, nền địa chất kém bền vững nên hiện tượng sạt
lở, thậm chí trượt núi gây tắc đường không có khả năng khắc phục ngay Việc
đi lại giữa một số thôn trong xã phai đi bộ, việc giao lưu văn hóa, hàng hóa gặp nhiều khó khăn Hiện nay xã đã chú trọng xây dựng đường liên thôn, liên
xã nhưng đường vấn còn hẹp và khá dốc vào mua mưa thường bị lầy lội đi lại khó khăn
không khó khăn nhưng do chưa được đầu tư nên hệ thống thủy lợi chưa phát triển Người dân địa phương thường đắp các phai đập nhỏ làm hệ thống tự chảy phục vụ sản xuất và sinh hoạt Các công trình tự tạo này chỉ tồn tại được trong mùa khô, đến mùa mưa chúng lại bị nước cuốn trôi Việc đầu tư cho hệ thống thủy lợi là hết sức cần thiết để tăng năng suất cây trồng, tăng số vụ trên diện tích đất đã có đảm bảo ổn định tình hình an ninh lương thực, góp phần cho người dan tham gia vào công cuộc bảo tồn đa dạng sinh học trên địa bàn
1.2.4.2 Điều kiện dân sinh kinh tế - xã hội
a Tình hình dân cư kinh tế
KBTL&SC nằm trên địa bàn của xã Xuân Lạc với tổng số 669 hộ, 3.329 khẩu, xã Bản Thi với tổng số 506 hộ với 1.911 khẩu, xã Đồng Lạc với tổng số 557 hộ, 2378 khẩu phần lớn là đồng bào Tày, Dao
Bảng 1.1 Tình hình dân số xã Bản Thi, xã Xuân Lạc và xã Đồng Lạc
Trang 36(Chú thích: Tỉ lệ hộ nghèo được xác định theo tiêu chuẩn nghèo của Bộ lao
động - thương binh và xã hội)
Cư dân trong vùng sống chủ yếu tập trung thành các làng, bản những
hộ dân sống trên cao rải rác cũng đã chuyển xuống thấp sống trong các làng, bản Phần lớn trong số họ chuyển từ nơi khác đến định cư ở khu vực này vào những năm 1979 - 1980 Các hộ nghèo trong khu vực này chủ yếu là người H’mông và Dao
b Tình hình văn hóa xã hội
Giáo dục: Trong xã có trường tiểu học và trung học cơ sở, nhưng điều
kiện cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên giảng dạy còn thiếu, chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu học tập của con em nhân dân trong xã Đa số các lớp học tại các thôn, bản chủ yếu là nhà tạm, lớp học lụp xụp, bàn ghế tạm bợ không đảm bảo cho việc dạy và học Số trẻ em trong độ tuổi đi học phổ thông trung học được đến trường rất ít
Y tế: Xã có trạm y tế và cán bộ y tế, nhưng cơ sở vật chất và năng lực
của cán bộ y tế con yếu chưa đáp ứng được nhu cầu của nhân dân địa phương
1.2.4.3 Tình hình sản xuất nông nghiệp
a Tình hình phát triển ngành trồng trọt
Diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ quá nhỏ so với tổng diện tích đất
tự nhiên của địa phương Trong đó diện tích đất trồng lúa, trồng màu bình quân của địa phương là 383m²/khẩu Sản phẩm trồng trọt chủ yếu là lúa nước, ngô, sắn, lúa nương, đậu tương… Ruộng được phân bố ở vùng thấp gần khu dân cư, ven suối và một số một diện tích nhỏ ruộng bậc thang Năng suất lúa thấp do kỹ thuật canh tác chưa cao, còn phụ thuộc quá nhiều vào điều kiện tự nhiên, nguồn giống phục vụ cho sản xuất chưa được cải thiện
b Tình hình phát triển chăn nuôi
Chăn nuôi trong khu vực vấn chưa được chú trọng đầu tư và phát triển Thành phần đàn gia súc khá đơn giản chủ yếu là trâu, bò, ngựa, lợn, gà…
Trang 37Ngựa là loài vật nuôi chủ yếu và quan trọng đối với đồng bào vùng cao, trong điều kiện chưa có đường, giao thông đi lại khó khăn thì ngựa là phương tiện chủ yếu trong việc đi lại và trung chuyển hàng hóa Công tác thú y chưa phát triển, các thôn bản chưa có cán bộ thú y thôn hoặc cán bộ thu y chưa qua trường lớp đào tạo chính quy Một số hộ dân đã xây dựng ao nuôi cá, tuy nhiên số lượng không nhiều đa số chỉ là các ao tạm thời, người dân chưa có
kỹ thuật nuôi chủ yếu vấn là nuôi theo phương pháp truyền thống
c Tình hình phát triển lâm nghiệp
Trong khu vực không có hoạt động sản xuất lâm nghiệp của các lâm trường Khai thác gỗ của nhân dân mà chủ yếu là thu hái lâm sản tự phát, người dân chủ yếu thu hái từ nguồn lâm sản ngoài gỗ phục cho nhu cầu tại chỗ Gỗ củi là chất đốt chủ yếu ở vùng nông thôn, người dân thường lấy cành khô, cây khô từ khu bảo tồn Đặc biệt để có được nguồn củi khô thì sau những lần vào rừng lấy củi họ đều chặt hạ một số cây tươi trong rừng để phục vụ cho những chuyến đi sau Theo ước tính trung bình một tháng mỗi hộ sử dụng từ 300 - 350kg củi khô (sử dụng nhiều củi hay ít củi phụ thuộc vào nhu cầu và phụ thuộc vào mùa, đặc biệt là vào mùa đông củi được sử dụng nhiều để sưởi ấm)
Hoạt động khai thác gỗ: Hiện tại vẫn còn một số người dân còn lén lút
vào khu bảo tồn chặt trộm gỗ để làm nhà, đóng đồ gia dụng phục vụ cho gia đình và luôn tìm mọi khe hở của lực lượng kiểm lâm để mang đi tiêu thụ Các loại gỗ thường bị người dân khai thác nhiều như Nghiến, Trai, Dâu rừng, Xoan mộc Việc khai thác được thực hiện ngay trong rừng và vận chuyển về nhà Đây là hoạt động khai thác tài nguyên trái pháp luật và không bền vững làm ảnh hưởng đến việc bảo tồn tài nguyên rừng Trước đây hầu hết các thôn đều có khai thác nhưng do có sự tuyên truyền vận động và quản lý chặt chẽ của các cán bộ kiểm lâm nên hoạt động khai thác gỗ đã giảm dần
Hoạt động khai thác lâm sản ngoài gỗ: Các loại lâm sản như Măng,
Nấm, Mộc nhĩ được người dân thu hái để sử dụng và để bán, không chỉ những người dân trong khu bảo tồn thu hái mà còn có cả người dân ở ngoài vùng đệm vào trong khu bảo tồn để khai thác Ngoài ra cây thuốc cũng được người
Trang 38dân địa phương đặc biệt là người dân tộc thiểu số thu hái làm thảo dược phục
vụ cho mục đích chữa bệnh Nhìn chung việc thu hái cây thuốc của các thầy lang không nhiều và không ảnh hưởng đáng kể đến sự đa dạng sinh học Một tác nhân lớn gây ảnh hưởng đến sự phục hồi của các loại cây thuốc là chiến dịch thu mua các loại cây thuốc quý như Ba kích, Sâm cau, Sâm trâu, Hoàng đằng, Khúc khắc, Tầm gửi, Huyết đằng, của các thương lái, họ thu mua của người dân và chuyển đi tiêu thụ ở nơi khác hoặc xuất sang Trung Quốc
Hoạt động săn bắt động vật rừng: Tình trạng săn bắn động vật rừng
hoang dã vẫn còn diễn ra, chủ yếu do người dân sống quanh khu bảo tồn, các dụng cụ người dân thường sử dụng là bẫy sắt, bẫy treo, súng săn tự chế, sản phẩm của săn bắn động vật hoang dã chủ yếu phục vụ nhu cầu của người dân,
cố một số được bán ra ngoài thị trường tiêu thụ, đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến suy thoái đa dạng sinh học trong khu bảo tồn
d Nhận xét chung về những thuận lợi và khó khăn của địa phương
và hệ sinh thái của địa phương; khu bảo tồn có hệ thống Ban quản lý với số lượng lớn và chất lượng phần nào đáp ứng được nhu cầu của thực tế do vậy việc bảo tồn được duy trì và phát triển tốt, đóng góp lớn vào công tác bảo tồn của địa phương; Địa hình trong khu bảo tồn chủ yếu là núi đá, địa hình cao, hiểm trở do vậy việc khai thác gỗ trái phép và các hoạt động làm suy giảm giá trị đa dạng sinh học con ít; Khí hậu là điều kiện thuận lợi để khu bảo tồn lưu giữ và bảo tồn một số loài động thực vật đặc hữu của miền Bắc Việt Nam
* Khó khăn
KBT có hệ động thực vật phong phú một nơi lý tưởng của các đối tượng khai thác trái phép tài nguyên thiên nhiên; Địa hình hiểm trở khiến cho công
Trang 39tác quản lý và bảo vệ gặp rất nhiều khó khăn; Trình độ dân trí của người dân trong khu bảo tồn còn chưa cao, do vậy ý thức bảo tồn và phát triển bền vững khu bảo tồn còn gặp nhiều khó khăn
1.3 Thực trạng công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc được thành lập theo quyết định 342/QĐ - UB ngày 17/3/2004 của UBND tỉnh Bắc Kạn với diện tích 1.788 ha, nằm trên Xuân Lạc và giáp ranh với các xã các xã Đồng Lạc, Bản Thi và Quảng Bạch Trong khu vực có khoảng 373 loài động vật, trong
đó có 20 loài quý hiếm; hệ thực vật khá phong phú gồm 515 loài thực vật bậc cao, trong đó có 30 loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam Đặc biệt
có những loài tưởng như đã tuyệt chủng trong vòng 25 năm qua như loài Vạc hoa lại được phát hiện xuất hiện tại khu bảo tồn Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc được thành lập nhằm mục đích bảo tồn các loài động, thực vật quý, hiếm trước nguy cơ bị tuyệt chủng Khu bảo tồn thuộc sự quản
lý, chỉ đạo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Kạn; sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bắc Kạn
1.3.1 Số liệu thống kê về thực vật, động vật
* Về thực vật
Do vị trí địa lý gân khu vực Vườn Quốc Gia Ba Bể và Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang với hệ thống động, thực vật đa dạng, phong phú với nhiều loài có giá trị kinh tế cao Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc
là hệ sinh thái rừng kín thường xanh cây lá rộng ẩm cận nhiệt đới ở phía bắc Việt Nam có giá trị bảo tồn cao Các loài thực vật quý hiếm và có nguy cơ bi
tuyệt chủng trong khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc được liệt kê
trong bảng sau:
Trang 40Bảng 1.2 Các loài thực vật quý hiếm tại KBTL&SC Nam Xuân Lạc
VN 2007
(Nguồn: Báo cáo về tài nguyên thiên nhiên của KBTL&SC Nam Xuân Lạc)
* Về động vật
Theo kết quả điều tra đã thống kê về khu hệ động vật và ghi nhận sự có mặt của 29 loài thú thuộc 04 bộ, 12 họ, 47 loài chim thuộc 09 bộ và 12 loài bò sát thuộc 06 bộ Chính sự có mặt của các loài này đã lam cho KBTL&SC Nam Xuân Lạc trở thành một trong những khu vực được ưu tiên bảo tồn cao ở miền Bắc Việt Nam
Một số loài động vật quý của KBTL&SC Nam Xuân Lạc như Cu li lớn
(Nycticebus begalensis), Cu li nhỏ (Nycticebus pygmaeus), Voọc đen má trắng