* Công ước Luật Biển 1982 Tại Hội nghị của Liên hợp quốc về luật biển lần III, về cơ bản đại diện các quốc gia cho rằng định nghĩa đảo trong Công ước luật biển mới nên kế thừa định ngh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ GIANG
QUY CHÕ PH¸P Lý CñA C¸C §¶O THEO KHO¶N 3 §IÒU 121 C¤NG ¦íC LUËT BIÓN 1982 - LI£N HÖ VíI TRANH CHÊP
TR£N BIÓN §¤NG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ GIANG
QUY CHÕ PH¸P Lý CñA C¸C §¶O THEO KHO¶N 3 §IÒU 121 C¤NG ¦íC LUËT BIÓN 1982 - LI£N HÖ VíI TRANH CHÊP
TR£N BIÓN §¤NG
Chuyên ngành: Luật quốc tế
Mã số: 60 38 01 08
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa ho ̣c: PGS TS NGUYỄN BÁ DIẾN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phạm Thị Giang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội cùng tất cả các Thầy Cô đã giúp tôi trang bị những tri thức hết sức cần thiết và hữu ích cho quá trình học tập, nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Viện Nghiên cứu Khoa học Biển và Hải đảo, Trung Tâm Luật Biển và Hàng hải Quốc tế trong việc tìm kiếm, tập hợp các tài liệu có liên quan phục vụ cho việc triển khai thực hiện Luận văn
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và gửi lời cám ơn chân thành đến PGS.TS Nguyễn Bá Diến, người Thầy đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi tìm ra hướng nghiên cứu, tiếp cận thực tế, phân tích và giải quyết các nội dung trong Luận văn để Luận văn hoàn thành một cách tốt nhất
Cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các cán bộ trong Khoa Luật, gia đình, bạn bè đã hỗ trợ và luôn động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện Luận văn!
Tác giả
Phạm Thị Giang
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các hình ảnh
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA CÁC ĐẢO THEO KHOẢN 3 ĐIỀU 121 CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN 1982 6
1.1 Khái niệm đảo và quy chế đảo 6
1.1.1 Đi ̣nh nghĩa "đảo" trong luâ ̣t biển quốc tế 6
1.1.2 Khái niệm quy chế đảo theo quy định của Công ước Luâ ̣t Biển 1982 7
1.1.3 Vai trò của quy chế đảo trong hê ̣ thống luâ ̣t biển quốc tế 11
1.2 Quy chế pháp lý cu ̣ thể của các đảo theo quy định tại Khoản 3 Điều 121 của Công ước Luật biển năm 1982 13
1.2.1 Khái niệm và lịch sử của chế định "đảo theo Khoản 3 Điều 121" trong luâ ̣t biển quốc tế 13
1.2.2 Quy chế pháp lý của các đảo theo Khoản 3 Điều 121 Công ước Luật Biển 1982 25
1.3 Ý nghĩa và vai trò của các đảo theo Khoản 3 Điều 121 Công ước Luật Biển 1982 trong xác lâ ̣p chủ quyền quốc gia đối với các vùng biển và giải quyết tranh chấp biển đảo 30
1.3.1 Ý nghĩa và vai trò của đảo nói chung và theo quy đi ̣nh của Công ước Luật biển 1982 30
1.3.2 Một số trường hợp trong thực tiễn quốc tế về vận dụng quy chế pháp lý của các đảo theo Khoản 3 Điều 121 Công ước Luâ ̣t biển 1982 32
Trang 6Chương 2: QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA CÁC ĐẢO THEO KHOẢN 3
ĐIỀU 121 CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN 1982 TRONG MỐI LIÊN HỆ VỚI CÁC TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG 41 2.1 Khái quát về quy chế pháp lý của đảo theo pháp luật Việt Nam 41
2.2 Tổng quan về các tranh chấp biển , đảo của Việt Nam trên
Biển Đông 44 2.3 Vai trò của đảo trong hoa ̣ch đi ̣nh đường cơ sở thẳng của Viê ̣t
Nam- tiền đề cho viê ̣c hoa ̣ ch đi ̣nh ranh giới các vùng biển 50
2.4 Ảnh hưởng của các đảo theo Khoản 3 Điều 121 Công ước
Luật Biển 1982 đối với viê ̣c hoa ̣ch đi ̣nh các vùng biển và giải quyết tranh chấp về phân đi ̣nh biển của Viê ̣t Nam 53
2.4.1 Vấn đề hiê ̣u lực đảo trong thực tiễn phân đi ̣nh vùng biển chồng
lấn với Thái Lan trong vi ̣nh Thái Lan 53 2.4.2 Vấn đề hiê ̣u lực đảo trong thực tiễn phân đi ̣nh vi ̣nh Bắc Bô ̣ với
Trung Quốc 55 2.4.3 Vấn đề hiê ̣u lực đảo trong thực tiễn phân đi ̣nh thềm lu ̣c đi ̣a
với Indon esia 60 2.4.4 Vấn đề hiê ̣u lực đảo trong thực tiễn phân đi ̣nh biển giữa Viê ̣t
Nam và Campuchia 62 2.4.5 Vấn đề hiê ̣u lực đảo trong thực tiễn phân đi ̣nh biển Viê ̣t Nam –
Malaysia 64
2.5 Ảnh hưởng của các đảo đối với nhóm tranh chấp về quy chế
đảo-quần đảo và yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc 65
2.5.1 Quan điểm của Viê ̣t Nam và các bên liên quan về quy chế pháp
lý của Hoàng Sa, Trường Sa 65 2.5.2 Quy chế pháp lý của Hoàng Sa , Trường Sa dựa trên quy đi ̣nh
của UNCLOS và khả năng tạo ra các vùng biển xung quanh 77
Trang 7Chương 3: NHỮNG KHUYẾN NGHI ̣ CHO VIỆT NAM TRONG VIỆC
VẬN DỤNG QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA NHÓM ĐẢO THEO KHOẢN 3 ĐIỀU 121 (TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
BIỂN ĐẢO, BẢO VỆ CHỦ QUYỀN TRÊN BIỂN ĐÔ NG) 82
3.1 Đối với nhóm đảo Hoàng Sa, Trường Sa 82
3.1.1 Các bãi cạn lúc nổi lúc chìm thuộc hai quần đảo 82
3.1.2 Các đảo đáp ứng được điều kiện là đảo theo Định nghĩa tại Khoản 1 Điều 121 Công ước Luâ ̣t Biển 1982 83
3.1.3 Xem xét khả năng một số đảo thuộc Hoàng Sa , Trường Sa có thể có Vùng đă ̣c quyền kinh tế và thềm lu ̣c đi ̣a 83
3.2 Đảo trong vùng chồng lấn cửa vi ̣nh Bắc Bô ̣ 89
3.3 Vấn đề đảo trong v ùng chồng lấn đă ̣c quyền kinh tế với Indonesia ở khu vực Nam Biển Đông 93
3.4 Vấn đề hiê ̣u lực đảo trong phân đi ̣nh các vùng chồng lấn ở khu vực vi ̣nh Thái Lan với Campuchia, Thái Lan và Malaysia 94
3.4.1 Vùng chồng lấn với Campuchia 94
3.4.2 Vùng chồng lấn với Malaysia ở cửa vi ̣nh Thái Lan 98
3.4.3 Các khu vực chồng lấn ba bên trong vịnh Thái Lan 99
3.5 Khu vực khác 101
3.5.1 Khu vực giữa quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa 101
3.5.2 Khu vực phía Đông Nam Biển Đông (không bao gồm quần đảo Trường Sa) 101
KẾT LUẬN 103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 112
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu,
chữ viết tắt Tên tiếng Anh đầy đủ Tên tiếng Viê ̣t
UNCLOS/ UNCLOS
1982/ Công ước/ Công
ước Luật Biển 1982
United Nations Convention on the Law of the Sea 1982
Công ước của Liên hợp quốc về Luâ ̣t Biển năm 1982
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Bản đồ đính kèm các công hàm ngày 07/5/2009 của Trung
Hình 2.3: Đường cơ sở Hoàng Sa theo tuyên bố năm 1996 của Trung Quốc 69
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Mô ̣t trong những vấn đề nóng hổi và cấp bách nhất của Viê ̣t Nam hiê ̣n nay chính là vấn đề chủ quyền trên Biển Đông Hiê ̣n nay, Viê ̣t Nam còn tồn ta ̣i rất nhiều tranh chấp biển đảo với các quốc gia láng giềng và những tranh chấp này kéo dài trong nhiều năm , thâ ̣m chí là nhiều thâ ̣p kỷ Trong khi đó , những xung đô ̣t , mâu thuẫn khác liên quan đến Biển Đông vẫn ngày ngày xảy ra là m cho tình hình an ninh các vùng biển , đảo càng trở nên bất ổn , ảnh hưởng tiêu cực rất nhiều đến quá trình phát triển biển, đảo nói riêng và phát triển đất nước nói chung
Xuất phát từ tính nóng hổi và cấp bách của vi ệc tìm ra giải pháp cho các vấn
đề tranh chấp ở Biển Đông hiện nay , tác giả đã lựa chọn lĩnh vực luật biển đối với
đề tài luận văn thạc sỹ của mình Trong điều kiê ̣n mà các nghiên cứu hiê ̣n nay liên quan đến quy chế đảo nói chung, quy chế của các đảo không có đời sống đô ̣c lâ ̣p nói riêng còn có những hạn chế nhất định và trong khi còn quá nhiều vấn đề phải
giải quyết, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài "Quy chế pháp lý của các đả o theo
khoản 3 Điều 121 Công ước Luật biển 1982 - Liên hê ̣ với tranh chấp trên Biển Đông" Qua viê ̣c nghiên cứu đề tài này , tác giả mong muốn đóng góp một phần
trong viê ̣c làm rõ các vấn đề cu ̣ thể mà Viê ̣t Nam cần phải thực hiê ̣ n được để giải quyết các tranh chấp hiê ̣n còn tồn ta ̣i , bảo vệ toàn vẹn chủ quyền và tối đa các quyền và lợi ích của quốc gia ở Biển Đông
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề quy chế đảo không phải là vấn đề hoàn toàn mới , nhưng vấn đề quy chế pháp lý của các đảo theo Khoản 3 Điều 121 Công ước Luật Biển 1982 lại là một vấn đề nghiên cứu khá mới Liên quan đến quy chế đảo , hiê ̣n nay có mô ̣t số tài liê ̣u
và công trình nghiên cứu trong nước điển hìn h như: Cuốn sách chuyên khảo Thềm
lục địa trong pháp luật quốc tế của PGS.TS Nguyễn Bá Biến & ThS Nguyễn Hùng
Cường Nhà xuất bản Thông tin – Truyền thông xuất bản năm 2012; Cuốn sách Sổ
tay pháp lý cho người đi biển do Luật sư, TS Hoàng Ngọc Giao chủ biên xuất bản
Trang 11năm 2002; Bài nghiên cứu "Quy chế pháp lý quốc tế chung về biển , đảo và những vấn đề cần áp du ̣ng đối với Hoàng Sa , Trường Sa" của PGS.TS Nguyễn Bá Biến
đăng trên Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2009; Bài tham luận
"Địa vị pháp lý của đảo trong phân định các vùng biển" của PGS.TS Nguyễn Bá
Biến ta ̣i Hội thảo quốc gia về Biển Đông lần thứ hai (Hà Nội 4/2011); Bài tham
luâ ̣n hô ̣i thảo "Quy chế pháp lý của đảo và tranh chấp Biển Đông : Quan điểm nào cho Viê ̣t Nam" của TS Nguyễn Thị Lan Anh, Bài nghiên cứu tựa đề "Biển, đảo Viê ̣t
Nam và quy chế pháp lý của nó" của Luật sư TS Phan Đăng Thanh (2009), Tạp chí
nghiên cứu và Phát triển , Số 4(75), tr.23-33 Bên ca ̣nh đó còn có các bài viết , bài
báo ngắn khác đăng trên các tạp chí điện tử , internet Như vâ ̣y , các công trình nghiên cứu trong nước về vấn đề này là chưa nhiều và chủ yếu là các bài viết đăng trên các ta ̣p chí Các sách chuyên khảo ở trên cũng chỉ có một dung lượng rất ít đề
câ ̣p đến quy chế đảo Thêm nữa, các tài liệu và công trình nghiên cứu trên mới chỉ nghiên cứu về quy chế đ ảo chung, hoă ̣c là nhấn ma ̣nh đến quy chế của các đảo có đời sống kinh tế riêng mà chưa đề câ ̣p sâu đến các đảo theo Khoản 3 Điều 121 Công ước Luật Biển 1982 cũng như vai trò của nhóm đảo này
Đối với các tài liệu nước ngoài, liên quan đến quy chế đảo có thể kể đến : The
Regime of Islands in International Law của Hiran Wasantha Jayewardene năm
1990; The Legal Regime of Islands in International Law của D W Bowett năm 1979; The Maritime Zones of Islands in International Law của Clive Ralph Symmons năm 1979; The Legal Regime of Islands in the South China Sea của Marius Gjetnes năm 2000; The Regime of Islands in International Conventions (Part 1) của Terasaki Naomichi Hiro năm 2014; The Legal Regime of Islands in
International Law của Derek W Bowett Leslie C Green năm 1980; The Regime of Islands under the United Nations Convention on the Law of the Sea: Implications for the South China Sea (NBR Special Report no 37, pp61-77) của Clive H
Schofield năm 2012; Yann-Huei Song ( 宋 燕輝–Tống Yến Huy ) (2009), “The Application of Article 121(3) of the Law of the Sea Convention to the Five Selected
Trang 12China Sea, Hanoi… Các công trình nghiên cứu này cũng đã đa ̣t được những thành
quả nhất định trong việc làm rõ quy chế đảo theo luật biển quốc tế Tuy nhiên, các nghiên cứu này phần nhiều đã được thực hiê ̣n từ nhiều năm trước đây , thâ ̣m chí là trước khi Công ước Luâ ̣t biển 1982 ra đời nên chắc chắn sẽ không có tính phù hợp với quy đi ̣nh của luâ ̣t biển quốc tế hiê ̣n ta ̣i Mă ̣t khác, các nghiên cứu này cũng chưa
đề cập một cách sâu sắc đến nhóm đảo theo Khoản 3 Điều 121 Công ước Luật Biển
1982 cũng như những liên hệ đối với thực tiễn tranh chấp biển đảo của Việt Nam Thêm nữa các nghiên cứu bằng tiếng nước ngoài sẽ có những khó khăn và ha ̣n chế cho viê ̣c tiếp câ ̣n mang tính rô ̣ng rãi, phổ biến ở trong nước
Nói tóm lại , các tài liệu trong và ngoài nước hiện nay đều chưa nghiên cứu
sâu và kỹ lưỡng về quy chế pháp lý của nhóm đảo theo Khoản 3 Điều 121 Công ước Luật Biển 1982 và chưa có những liên hệ cụ thể đố i với các tranh chấp ở Biển Đông hiê ̣n nay của Viê ̣t Nam Do vâ ̣y, mô ̣t nghiên cứu cu ̣ thể như đề tài hiê ̣n ta ̣i là hết sức cần thiết và có ý nghĩa Đây là công trình nghiên cứu mới và đầu tiên của tác giả liên quan đến vấn đề này
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn gồm quy định của luật biển quốc tế hiện
đa ̣i, cụ thể là Công ước Luật biển về quy chế pháp lý của một nhóm các đảo được gọi là “các đảo theo Khoản 3 Điều 121 Công ước Luật Biển 1982” và thực tiễn ảnh hưởng của các quy đi ̣nh đó đối với tranh chấp Biển Đông
Luâ ̣n văn tâ ̣p trung nghiên cứu về các quy đi ̣nh pháp lý quốc tế liên quan đến quy chế đảo và chỉ tâ ̣p trung phân tích v ề các quy định liên quan đến quy chế đảo theo Khoản 3 Điều 121 Công ước Luật Biển 1982 Những đề câ ̣p đến quy chế đảo nói chung sẽ chỉ được phân tích một cách tổng quan , khái quát để làm rõ thêm cho các nội dung chính của luận văn Mă ̣t khác, trong phần liên hê ̣ với tranh chấp Biển Đông, luâ ̣n văn sẽ chỉ tâ ̣p trung liên hê ̣ đến các tranh chấp biển đảo của Viê ̣t Nam ,
và có thể chỉ chọn một hoặc một số tranh chấp điển hình để làm rõ các luận điểm đưa ra mà không đề câ ̣p đến tất cả các tranh chấp biển đảo ở khu vực Biển Đông
Trang 134 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Quy chế đảo theo Công ước Luâ ̣t biển 1982 không phải là vấn đề hoàn toàn mới Tuy nhiên, đề tài vẫn rất có ý nghĩa vì đề cập sâu và cụ thể hơn đến quy chế pháp lý của một nhóm đảo được gọi là các đảo theo Khoản 3 Điều 121 theo quy
đi ̣nh của UNCLOS 1982 Do vâ ̣y, quy chế đảo sẽ được phân tích kỹ lưỡng và đào sâu hơn nữa Thêm vào đ ó, đề tài cũng sẽ đưa ra những luận điểm và minh họa về vai trò, ý nghĩa của nhóm đảo này trên cơ sở làm rõ quy chế pháp lý của chúng Mă ̣t khác, đề tài cũng sẽ đưa ra những vận dụng thiết thực và cụ thể vào việc gi ải quyết các tranh chấp biển , đảo của Viê ̣t Nam ở Biển Đông hiê ̣n nay Các công trình nghiên cứu khác sau này cũng có thể lấy thông tin từ kết quả nghiên cứu của đề tài
5 Mục tiêu nghiên cứu
Luâ ̣n văn sẽ không nghiên cứu sâu về quy chế của quốc gia quần đả o cũng như tác động ảnh hưởng của đảo đối với quốc gia quần đảo mà tập trung làm rõ nội dung và tính chất quy chế pháp lý của các đảo theo Khoản 3 Điều 121 Công ước Luật Biển 1982 và tìm ra nhữ ng điểm vâ ̣n du ̣ng đóng góp vào viê ̣c giải quyết các
tranh chấp biển đảo của Viê ̣t Nam ở Biển Đông hiê ̣n nay Cụ thể:
- Phân tích được khái niê ̣m và quy chế pháp lý cũng như vai trò của các đảo theo Khoản 3 Điều 121 Công ước Luật Biển 1982
- Tâ ̣p hợp và lựa cho ̣n được mô ̣t số thực tiễn điển hình trên thế giới mà trong đó
có thể hiện rõ vai trò của các đảo theo Khoản 3 Điều 121 Công ước Luật Biển 1982 trong giải quyết tranh chấp biển đảo
- Phân tích đư ợc những điểm trọng tâm nhất về vai trò , ảnh hưởng của các đảo theo Khoản 3 Điều 121 Công ước Luật Biển 1982 đối với viê ̣c giải quyết các tranh chấp biển đảo của Viê ̣t Nam ở Biển Đông , với những dẫn chứng và minh ho ̣a chính xác, cụ thể
- Đưa ra đươ ̣c mô ̣t số kiến nghi ̣ cho Viê ̣t Nam trong viê ̣c vâ ̣n du ̣ng quy chế pháp
lý của các đảo theo Khoản 3 Điều 121 Công ước Luật Biển 1982 vào giải quyết các tranh chấp biển, đảo, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên Biển Đông
Trang 146 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình triển khai các nô ̣i dung nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu được sử du ̣ng chủ yếu gồm: phương pháp phân tích , phương pháp tổng hợp , phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp kết hợp giữa lý luận với thực tiễn, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp cho ̣n lo ̣c điển hình… Tương ứng với các nô ̣i dung nghiên cứu cu ̣ thể, Luâ ̣n văn có thể sử dụng thêm các phương pháp nghiên cứu mang tính đă ̣c thù khác
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu , Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phu ̣ lu ̣c , Nô ̣i dung chính của Luâ ̣n văn được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về quy chế pháp lý của các đảo theo Khoản 3 Điều
121 Công ước Luâ ̣t Biển 1982
Chương 2: Quy chế pháp lý của các đảo theo Khoản 3 Điều 121 Công ước
Luâ ̣t Biển 1982 trong mối liên hê ̣ với các tranh chấp trên Biển Đông
Chương 3: Những khuyến nghi ̣ cho Viê ̣t Nam trong viê ̣c vâ ̣n du ̣ng quy chế
pháp lý của nhóm đảo theo Khoản 3 Điều 121 (trong giải quyết tranh chấp biển đảo ,
bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông)
Trang 15Chương 1
TỔNG QUAN VỀ QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA CÁC ĐẢO
THEO KHOẢN 3 ĐIỀU 121 CÔNG ƢỚC LUẬT BIỂN 1982
1.1 Khái niệm đảo và quy chế đảo
1.1.1 Đi ̣nh nghĩa "đảo" trong luật biển quốc tế
* Định nghĩa đảo trong giai đoạn trước Công ước 1958
Hội nghị Pháp điển hóa Luật quốc tế La Hay 1930 là diễn đàn đầu tiên chính thức thảo luận về định nghĩa đảo và các điều kiện để đảo có thể tạo ra lãnh hải Dự
thảo định nghĩa đảo đã được Ủy ban II đưa ra “đảo là một vùng đất có nước bao
bọc xung quanh, thường xuyên ở trên mức nước cao” Nhìn chung, trong Hội nghị
La Hay 1930, định nghĩa đảo không dành được sự quan tâm nhiều của các quốc gia
và kết quả cuối cùng của Hội nghị cũng không thống nhất định nghĩa đảo [10]
* Công ước 1958 về Lãnh hải và Vùng tiếp giáp
Tại Hội nghị Geneva 1958 các nước đã đưa ra được một định nghĩa thống
nhất về đảo, theo đó: “Đảo là một vùng đất hình thành tự nhiên có nước bao bọc,
khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước” [39, Điều 10, Khoản 1]
“Sự hình thành tự nhiên” là nội dung mới được bổ sung vào định nghĩa đảo trong Công ước 1958 Yếu tố này đưa ra nhằm phân biệt đảo tự nhiên với đảo nhân tạo, hạn chế trường hợp những quốc gia có khoa học kỹ thuật phát triển xây dựng các đảo nhân tạo để thực hiện tham vọng lấn chiếm biển của mình, ảnh hưởng đến quyền lơ ̣i của các quốc gia khác
* Công ước Luật Biển 1982
Tại Hội nghị của Liên hợp quốc về luật biển lần III, về cơ bản đại diện các quốc gia cho rằng định nghĩa đảo trong Công ước luật biển mới nên kế thừa định nghĩa đảo của Công ước 1958 về Lãnh hải và Vùng tiếp giáp Bên cạnh đó, định nghĩa trong Công ước mới cũng phải phản ánh được những phát triển mới như sự hình thành khái niệm vùng đặc quyền kinh tế và xác định rõ ràng hơn các yếu tố cấu thành đảo Sau một quá trình thảo luận rất dài và căng thẳng, cuối cùng các
Trang 16quốc gia đã đi đến được một công thức thoả hiệp về định nghĩa đảo và được đưa
vào Điều 121 Khoản 1 của Công ước Luật Biển 1982 như sau: "1 Đảo là một
vùng đất hình thành một cách tự nhiên có nước bao bọc, khi thuỷ triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước" [16, Điều 121, Khoản 1]
Như vậy, Khoản 1 của Điều 121 của Công ước Luật Biển 1982 có nội dung giống như nội dung của định nghĩa đảo trong Công ước 1958 về Lãnh hải và Vùng tiếp giáp Mô ̣t thực thể được hưởng quy chế đảo theo Khoản 1 Điều 121 cần phải đáp ứng được các tiêu chí sau:
- Phải là một vùng đất , theo đó mô ̣t đảo không th ể là vật thả trôi hay là các
tảng băng mà phải gắn bó hữu cơ với đáy biển Tuy nhiên, UNCLOS không coi thành phần cấu tạo địa chất của đảo là một tiêu chuẩn để xác định quy chế đảo
- Hình thành tự nhiên, tức là không có sự tác đô ̣ng của con người, khoa ho ̣c
kỹ thuật
- Có nước bao bọc và thư ờng xuyên ở trên mặt biển lúc thủy triều lên Tiêu
chí này đươ ̣c dùng đ ể phân biệt những cấu tạo tự nhiên nào được hưởng quy chế
đảo và những cấu tạo nào không được hưởng quy chế này mà c hỉ có thể là những bãi cạn lúc nổi lúc chìm Tiêu chuẩn này yêu cầu m ột đảo phải ở trên mặt biển lúc thuỷ triều cao nhất không phân biệt thuỷ triều theo các mùa
1.1.2 Khái niệm quy chế đảo theo quy định của Công ước Luật Biển 1982
1.1.2.1 Khái niệm "quy chế" và "quy chế pháp lý"
Đa ̣i từ điển tiếng Viê ̣t đưa ra khái niê ̣m “Quy chế là những quy đi ̣nh đã thành
chế độ để mọi người tuân theo ” [26] Theo giải thích tại Từ điển tiếng Việt của
Trung tâm Từ điển học do NXB Đà Nẵng phát hành năm 2007, trang 1260: Quy chế
là những điều đã được quy định thành chế độ để mọi người theo đó mà thực hiện trong những hoạt động nhất định nào đó Ví dụ: Quy chế xuất bản, quy chế làm việc
của quận ủy Rất nhiều từ điển tiếng Viê ̣t online khác như: leipzig.de; http://tratu.soha.vn/, http://vdict.com/, http://tratu.coviet.vn/ đều có cách
http://www.informatik.uni-đi ̣nh nghĩa "Quy chế là những Đi ều định ra để nhiều người, nhiều nơi cùng theo
đó mà làm"
Trang 17Viê ̣n Từ điển ho ̣c và Bách Khoa thư thuô ̣c Viê ̣n Hàn Lâm Khoa ho ̣c Xã hô ̣i Viê ̣t Nam đưa ra cá ch hiểu : " Quy chế " là văn b ản nêu các điều, khoản quy định thành chế độ hoạt động chung của tổ chức, cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị hoặc trong xã hội để các thành viên có liên quan thi hành, nhằm bảo đảm sự thống nhất hành động, tinh thần kỉ luật, hiệu quả công việc và mục tiêu cần đạt tới Quy chế của mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị hoặc trong các tổ chức kinh tế, văn hoá, xã hội thường do từng tổ chức, cơ quan, đơn vị đó soạn thảo và phải được cơ quan có thẩm quyền chuẩn y mới được thi hành để bảo đảm tính thống nhất của pháp luật nhà nước và quyền dân chủ của các thành viên tham gia Do vậy, "quy chế" chính là một hình thức mang tính bắt buộc đã được thông qua đại đa
số và để mọi người thực hiện theo
Như vậy, các cách đi ̣nh nghĩa nhìn chung đều có cách hiểu "quy chế" chính
là những điều được đặt ra trong một khuôn khổ tổ chức có tính ràng buộc nhất
đi ̣nh đối với các đối tượng tham gia trong đó và thường được thể hiê ̣n thành các quy đi ̣nh có tính áp dụng chung trong các văn bản
* "Quy chế pháp lý"
Trên thực tế , quy chế thường được ban hành bởi các chủ thể có thẩm quyền trong xã hô ̣i , thường là các cơ quan nhà nước và do vâ ̣y quy chế mang tính chất pháp lý, sự vi pha ̣m các quy đi ̣nh trong quy chế có thể dẫn đến viê ̣c xuất hiê ̣n và áp dụng các hình thức kỷ luật hay thậm chí là chế tài Chẳng ha ̣n: Quy chế pháp lý của pháp nhân nước ngoài ; Quy chế pháp lý hành chính của viên chức nhà nước; Quy chế pháp lý của Công ty Cổ phần ; Quy chế pháp lý hành chính của công dân Viê ̣t Nam Mỗi quy chế bao gồm tất cả các quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t về các quyền và nghĩa vụ mà mỗi loại chủ thể tương ứng được hưởng hay phải gánh chịu
Liên quan đến biên giới lãnh thổ , Chính phủ ban hành Nghị định S ố:
34/2014/NĐ-CP Về Quy chế khu vực biên giới đất liền nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam ngày 29/4/2014 Nghị định này quy định về Quy chế và quản lý
hoạt động của người, phương tiện trong khu vực biên giới đất liền; trách nhiệm của
cơ quan, tổ chức và cá nhân trong xây dựng, quản lý, bảo vệ khu vực biên giới đất
Trang 18Trên bình diê ̣n quốc tế , quy chế có thể được đă ̣t ra với sự thỏa thuâ ̣n của các chủ thể luật quốc tế , nhằm ta ̣o ra những cách ứng xử chung thống nhất , hạn chế
đươ ̣c tình trạng bất ổn định hay tranh chấp Ví dụ, Hiê ̣p đi ̣nh về Quy chế quản lý
biên giới trên đất liền Viê ̣t Nam – Trung Quốc giữa Chính phủ nước CHHXCN Viê ̣t Nam và Chính phủ nước CHND Trung Hoa ngày 18/11/2009
Trong li ̃nh vƣ̣c biển đả o các thuật ngữ sau cũng thường xuyên được đề cập :
quy chế pháp lý của các vùng biển , quy chế pháp lý của lãnh hải , quy chế pháp lý của vùng tiếp giáp lãnh hải , quy chế pháp lý của vùng đă ̣c quyền kinh tế , quy chế pháp lý của thềm lu ̣c đi ̣a trong pháp luâ ̣t quốc tế (Công ước Luâ ̣t Biển 1982) hoă ̣c (và) quốc gia Theo đó, đối với mỗi quy chế pháp lý tương ứng được đề câ ̣p gồm tổng thể các quy đi ̣nh trong các văn kiê ̣n pháp lý quốc tế hoă ̣c (và) pháp luật quốc gia liên quan đến các vùng biển ở trên (từ đi ̣nh nghĩa, cách xác định , các quyền và nghĩa vụ tương ứng của các quốc gia có vùng biển đó cũng như các quốc gia khác , nguyên tắc hay cách thức giải quyết t ranh chấp phát sinh)
Như vậy, "quy chế pháp lý " nhìn chung được hiểu là tổng thể các quy định pháp luật do các chủ thể có thẩm quyền ban hành liên quan đến quyền và nghĩa vụ hay trách nhiệm mà chủ thể /đối tượng được hướ ng tới được hưởng hay phải gánh chịu và những chủ thể đó phải tuân theo các quy định này một cách đầy đủ, nghiêm chỉnh
1.1.2.2 Khái niệm quy chế đảo theo quy định của UNCLOS 1982
Công ước Luâ ̣t biển 1982 đă ̣t chế đô ̣ riêng c ho đảo ta ̣i Phần VIII với mô ̣t điều duy nhất Điều 121 "Chế độ các đảo" gồm ba khoản quy đi ̣nh:
1 Một đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước
2 Với điều kiện phải tuân thủ khoản 3, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của hòn đảo được hoạch định theo đúng các quy định của Công ước áp dụng cho các lãnh thổ đất liền khác
3 Những hòn đảo đá nào không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng, thì không có vùng đặc quyền về
Trang 19Nguyên văn tiếng Anh:
Article 121 Regime of islands
1 An island is a naturally formed area of land, surrounded by water, which is above water at high tide
2 Except as provided for in paragraph 3, the territorial sea, the contiguous zone, the exclusive economic zone and the continental shelf
of an island are determined in accordance with the provisions of this Convention applicable to other land territory
3 Rocks which cannot sustain human habitation or economic life of their own shall have no exclusive economic zone or continental shelf [63, Điều 121]
Phần VIII UNCLOS 1982 không sử du ̣ng khái niê ̣m “quy chế đảo” , thay vì đó, Công ước sử du ̣ng thuâ ̣t ngữ “chế đô ̣ các đảo” – “Regime of islands” Trong các từ điển tham khảo , “chế đô ̣” có nhiều cách hiểu nhưng cách hiểu g ần với vấn đề
xem xét ở đây là toàn thể những quy định cần tuân theo trong một việc nào đó Ví
dụ: chế độ luyện tập của cầu thủ; chế độ khen thưởng và kỷ luật Như vâ ̣y , cách hiểu về quy chế và chế đô ̣ ở đây là giống nhau
Do đó , có thể hiểu “quy chế pháp lý của đảo” là toàn bô ̣ những quy đi ̣nh pháp lý được đặt ra có tính ràng buộc các chủ thể phải tuân theo khi thực hiện các hành xử có liên quan đến các đảo Ở đây, các chủ thể được hiểu là các chủ thể của luâ ̣t quốc tế mà chủ yếu và trước hết là các quốc gia (đă ̣c biê ̣t là các quốc gia thành viên của Công ước Luâ ̣t biển 1982) Cách hiểu này dường như chưa diễn tả được
chính xác hàm ý trong quy định của UNCLOS Chế độ của các đảo ở đây nên được
Những gì “được hưởng” và “những điều kiê ̣n” này do các quốc gia thống nhất , thỏa thuâ ̣n với nhau , cụ thể là trong Hộ i nghi ̣ Quốc tế lần thứ ba về Luâ ̣t biển của Liên
hơ ̣p quốc – Hô ̣i nghi ̣ mà ta ̣i đó UNCLOS nói chung và Điều 121 ra đời
Trong Điều 121, Khoản 1 đưa ra đi ̣nh nghĩa về "đảo", khoản 2 quy đi ̣nh về cách thức xác định các vùng biển của đảo và khoản 3 đă ̣t ra điều kiê ̣n để phân biê ̣t
Trang 20Về cách di ̣ch từ "rocks“ trong nguyên văn ta ̣i Khoản 3 Điều 121, có nhiều quan điểm khác nhau Bản dịch Công ước Luật biể n của Bô ̣ Ngoa ̣i giao di ̣ch là
"những hòn đảo đá ", nhiều công trình hay tài liê ̣u nghiên cứu khác cũng ghi là đảo đá Tuy nhiên, theo các từ điển đều ghi "rock" nghĩa là "đá; khối đá nhô lên khỏi
mặt đất, mặt biển; hòn đá, tảng đá lớn, tách rời ra“ Có ý kiến khác cho rằng , viê ̣c
sử du ̣ng cách go ̣i nào không quan tro ̣ng , điểm quan tro ̣ng là bản chất của đối tượng đươ ̣c nói đến để xác đi ̣nh "đảo đá/đá" đó có đáp ứng được điều kiê ̣n do điều khoản Công ước đưa ra hay không Luâ ̣n văn hiê ̣n ta ̣i cũng sử du ̣ng cách di ̣ch là "đảo đá"
bởi vì: Thứ nhất: cách gọi này khá thông dụng trong các công trình nghiên cứu tại Viê ̣t Nam và nhắc đến "đảo đá" có thể liên hệ ngay đến Khoản 3 Điều 121 Thứ hai:
xét trong mối liên hệ logic với khoản 1 và 2 của Điều 121 UNCLOS có thể nhâ ̣n
thấy rằng: (i) Khoản 3 muốn đề câ ̣p đến những thực thể đi ̣a lý trước hết đã đáp ứng
đươ ̣c các điều kiê ̣n ta ̣i Khoản 1, tức là đã được coi là "đảo", do đó cách go ̣i "đá"
dường như không thể hiê ̣n được du ̣ng ý này ; (ii) Khoản 3 đă ̣t ra nhằm phân biê ̣t
giữa những hòn đảo đáp ứng được điều kiê ̣n "thích hợp cho con người đến ở hay cho mô ̣t đời sống kinh tế riêng " với những hòn đảo không đáp ứng được các điều
kiê ̣n này mà không đă ̣t ra vấn đề có phải là đảo hay không ; (iii) sử du ̣ng cách go ̣i
"đá" dễ gây hiểu lầm rằng thực thể này chưa hẳn đã đáp ứng được điều kiê ̣n là đảo tại Kho ản 1 do có thể là hòn đá "lúc chìm lúc nổi " (so với mực nước thủy triều ) hoă ̣c là "đá ngầm"
1.1.3 Vai trò của quy chế đảo trong hê ̣ thống luật biển quốc tế
Trái đất có đến ¾ diện tích là biển và đại dương và thực ch ất các lục địa từ lớn nhất đến nhỏ nhất đều như những hòn đảo trên biển Trên toàn thế giới có hàng triê ̣u hòn đảo, rất nhiều trong số đó là lãnh thổ của các quốc đảo -quốc gia nằm trọn trên một hay nhiều hòn đảo và không có một phần lãnh thổ nào trên lục địa Có 47 đảo quốc, chiếm phần lớn các quốc gia nhỏ nhất trên thế giới Các đảo quốc là thành phần không tách rời của cô ̣ng đồng quốc tế Trước hết, những đảo quốc này là đi ̣a bàn sinh sống của đông đảo các cộng đồng dân cư Những đảo quốc này cũng đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế – thương ma ̣i, văn hóa, của thế giới Khi
Trang 21UNCLOS ra đời , mục đích của Công ước là "quan tâm đúng mức đến chủ quyền của tất cả các quốc gia, thiết lập được một trật tự pháp lý cho các biển và đại dương làm dễ dàng cho việc sử dụng công bằng và hiệu quả những tài nguyên, việc bảo tồn những nguồn lợi sinh vật của các biển và các đại dương, việc nghiên cứu, bảo vệ và gìn giữ môi trường biển; thiết lập nên một trật tự kinh tế quốc tế đúng đắn và công bằng, trong đó có tính đến các lợi ích và nhu cầu của toàn thể loài người và đặc biệt
là các lợi ích và nhu cầu riêng của các nước đang phát triển, dù có biển hay không
có biển” Bởi vâ ̣y, mọi quy chế pháp lý trao cho các quốc gia ven biển hay đảo quốc phải đạt được những điểm đồng bộ hướng đến sự công bằng cho tất cả các quốc gia
Trải qua quá trình phát triển lâu dài một nguyên tắc dần hình thành và ngày càng định hình rõ nét trong hệ thống pháp luật biển đó là "nguyên tắc đất thống tri ̣ biển" ("the land dominates the sea") Theo nguyên tắc này, việc mở rộng chủ quyền quốc gia ra biển không thể tách rời yếu tố chủ quyền lãnh thổ Viê ̣c mở rô ̣ng các vùng biển phải xuất phát trước hết từ một lãnh thổ giáp biển Lãnh thổ này có thể là đất liền cũng có thể là đảo Ý nghĩa của nguyên tắc này là ở chỗ một vùng lãnh thổ tuy nhỏ cũng có thể ta ̣o ra những vùng biển rô ̣ng lớn với những lợi ích khổng lồ nhiều mă ̣t cho nhà nước sở hữu nó
Nguyên tắc này được ghi nhâ ̣n rõ trong quy đi ̣nh về các vùng biển trong
UNCLOS 1982 Cụ thể , Công ước quy đi ̣nh : “Chủ quyền của quốc gia ven biển
được mở rộng ra ngoài lãnh thổ và nội thủy của mình, và trong trường hợp một quốc gia quần đảo, ra ngoài vùng nước quần đảo, đến một vùng biển tiếp liền, gọi
là lãnh hải” [16, Điều 2] Bên ca ̣nh đó là các quy đi ̣nh về vùng đă ̣c quyền kinh tế
trong Phần V và quy đi ̣nh về thềm lu ̣c đi ̣a trong phần VI Công ước Quy đi ̣nh về chế
đô ̣ của đảo ta ̣i Điều 121 cũng là sự thể hiện của nguyên tắc đất thống trị biể n Theo đó, “đảo” khi đáp ứng được những điều kiê ̣n nhất đi ̣nh thì sẽ có cả lãnh hải , vùng
đă ̣c quyền kinh tế và thềm lu ̣c đi ̣a như đất liền
Nếu như UNCLOS chỉ dành quyền mở rô ̣ng cho các phần lãnh thổ của các lục địa trên thế giới, rõ ràng thiếu sự công bằng đối với các quốc gia chỉ có lãnh thổ
là các đảo Mă ̣t khác , rất nhiều quốc gia ven biển cũng có các phần lãnh thổ của
Trang 22mình là các đảo và sẽ thật không hợp lý nếu như đảo của h ọ nằm trong lãnh hải của quốc gia khác UNCLOS dành cho các đảo những hiê ̣u lực trong viê ̣c ta ̣o ra các vùng biển nhất định tương tự như đất liền nhưng phải đáp ứng được những điều kiê ̣n nhất đi ̣nh chính là sự thể hiê ̣n ghi nhâ ̣n nguyên tắc "đất thống tri ̣ biển", thể hiê ̣n sự công bằng áp du ̣ng cho các loa ̣i hình lãnh thổ , công bằng giữa các quốc gia ven biển và các quốc gia chỉ có lãnh thổ là các đảo
Bằng viê ̣c đi ̣nh ra hê ̣ thống các quy đi ̣nh t ạo thành quy chế pháp lý của đảo , UNCLOS đã đóng góp rất lớn vào viê ̣c ta ̣o ra những quy tắc , trâ ̣t tự cho các quốc gia áp du ̣ng giải quyết những xung đô ̣t , bất đồng liên quan đến viê ̣c hoa ̣ch đi ̣nh biên giới, ranh giới trên biể n giữa các nước Sự phân đi ̣nh rõ ràng pha ̣m vi chủ quyền , phạm vi tài phán là điều kiện tất yếu để các hoạt động trên biển được tiến hành thuâ ̣n lợi và phát triển ma ̣nh mẽ
1.2 Quy chế pháp lý cu ̣ thể của các đảo theo quy đi ̣nh tại Khoản 3 Điều
121 của Công ƣớc Luật biển năm 1982
luật biển quốc tế
Khoản 3 Điều 121 đươ ̣c xây dựng nhằm đă ̣t ra tiêu chu ẩn để phân biệt một
đảo đá và một hòn đảo bình thường, đã quy định "các đảo đá nào không thích hợp
cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng thì không có vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa" [16, Điều 121, Khoản 3] Có hai cách hiểu đối với
điều khoản này:
Cách hiểu thứ nhất : Khoản 3 Điều 121 gián tiếp quy định là các đảo đá chỉ
có nô ̣i thủy, lãnh hải và vùng tiếp giáp Nghĩa là bất cứ đảo nào cấu tạo bởi đá cũng chỉ có thể có những vùng biển như vậy mà không thể có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lu ̣c đi ̣a Theo cách hiểu này , có thể đặt ra giả thiết rằng có thể có đảo đá thích
hơ ̣p "cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng", khi đó cách hiểu
này dường như trở nên phiến diện và áp đặt
Cách hiểu thứ hai : Có thể có hai trường hợp xảy ra đó là : (i) đảo đá chỉ có
nô ̣i thủy, lãnh hải và vùng tiếp giáp; và (ii) đảo đá có cả vùng đă ̣c quyền kinh tế và
Trang 23thềm lu ̣c đi ̣a Đương nhiên, để có các vùng biển này , đảo đá đó phải thích hợp "cho
con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng" Song nếu hiểu theo cách này
thì câu hỏi là tại sao phải sử dụng từ "đảo đá " ( rocks) thay vì "đảo" ( island) mà Công ước đã sử du ̣ng trong khoản 1 và Khoản 2? Cách dùng phân biệt đó là để nói lên tính khác biê ̣t giữa khả năng hưởng các vùng biển giữa "đảo đá" và "đảo"
Mă ̣t khác , viê ̣c sử du ̣ng từ "đảo đá " (rocks) thay vì "đảo" nói chung trong Khoản 3 đă ̣t ra mô ̣t câu hỏi đó là liê ̣u rằng các đảo cấu ta ̣o đi ̣a chất khác với đá (như các đảo đất ) có luôn được hưởng đầy đủ các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền? Ở khía cạnh nào đó cách hiểu như vậy có thể không hoàn toàn hợp lý Bởi vì Khoản 3 đã nêu ra điều kiê ̣n để phân biê ̣t giữa đảo không được hưởng đầy đủ các vùng biển với đảo được hưởng đầy đủ các vùng biển là không thích hợp hay có
thích hợp "cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng" Do đó, nếu như đảo không cấu ta ̣o bởi đá nhưng cũng không thích hợp "cho con người đến ở
hoặc cho một đời sống kinh tế riêng" thì việc ban cho đảo này cả vùng đặc quyền
kinh tế và thềm lu ̣c đi ̣a dường như là sự đi ngược la ̣i với tinh thần của Khoản 3 Điều
121 Song nếu không hiểu rằng các đảo không cấu ta ̣o bởi đá luôn có đầy đủ các vùng biển bao gồm cả vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thì việc dùng từ
"rocks" là không hợp lý trong khi các quốc gia khi thiết lâ ̣p điều khoản này ta ̣i Hô ̣i nghị quốc tế lần thứ III về luật biển rõ ràng có hàm ý tạo ra một sự phân biệt nhằm hạn chế quyền của các "đảo đá"
Vâ ̣y “đảo theo Khoản 3 Điều 121 UNCLOS” nên được hiểu như thế nào ? Cách sử dụng ngôn từ giả định tại Khoản 3 Điều 121 cho phép đưa ra hai đi ̣nh nghĩa xuất phát từ ý nghĩa trực tiếp và ý nghĩa suy ra của điều khoản này
Đi ̣nh nghĩa thứ nhất : (có thể nhìn thấy ngay từ c ác từ ngữ của điều khoản )
những đảo đá không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng với chế đô ̣ pháp lý là không có đầy đủ các vùng biển như đất liền , cụ thể là
không có vùng đă ̣c quyền kinh tế và thềm lục địa
Đi ̣nh nghĩa thứ hai : những đảo (bất kể là đảo cấu ta ̣o bởi đá hay đảo có cấu
tạo địa chất khác ) thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế
Trang 24riêng với chế đô ̣ pháp lý là có đầy đủ các vùng biển n hư đất liền, cụ thể là có vùng
đă ̣c quyền kinh tế và thềm lu ̣c đi ̣a
Các tiêu chí để xác định "thích hợp cho con người đến ở " hay "thích hợp cho
một đời sống kinh tế riêng" là không cụ thể và cố định Chúng ta chỉ có thể xác định
các tiêu chí này theo các trường hợp cụ thể mà khó giới hạn được những tiêu chí áp dụng chung Bởi vâ ̣y viê ̣c đưa ra các đi ̣nh nghĩa gắn với các tiêu chí xác đi ̣nh cu ̣ thể cho hai loa ̣i đảo trên dường như là không cần thiết và không phù hợp Do đó, đi ̣nh nghĩa các đảo theo Khoản 3 Điều 121 chỉ nên dừng lại với các ngôn từ mà Công ước đã sử dụng
Tuy nhiên, "thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế
riêng" nên đươ ̣c hiểu như t hế nào cho hợp lý ? Nghĩa là dựa vào những căn cứ nào
để xác định đảo thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng
hay không? "Thích hợp cho người đến ở " và "đời sống kinh tế riêng " là hai tiêu chí
song trùng hay hai tiêu chí đồng thời cần đáp ứng?
Thích hợp cho người đến ở là một thuật ngữ không có nội dung rõ ràng Tại
Hội nghị Pháp điển hoá Luật pháp quốc tế năm 1930 đã có một số ý kiến nêu nên sử
dụng tiêu chuẩn "thích hợp cho con người sinh sống" để phân biệt một đảo thực sự
với đảo nhân tạo Tại Hội nghị, Anh đã cho rằng một đảo muốn có lãnh hải thì
không chỉ phải có thể ở được mà còn “có thể sử dụng được" Tuy vậy, Hội nghị đã bác bỏ đề nghị của Anh (Theo Clive Ralph Symmons trong "Các khu vực hàng hải
của quần đảo trong Luật quốc tế" 1979)
Tại Uỷ ban Luật pháp quốc tế khi chuẩn bị cho Hội nghị Luật biển lần thứ I, Lauterpacht có ý kiến cho rằng muốn được coi là một đảo thực sự, đảo đó phải được
"chiếm đóng và kiểm soát có hiệu quả" Tuy vậy, Báo cáo viên của Ủy ban đã
không đồng ý với ý kiến trên vì cho rằng bất cứ mô ̣t đảo đá nào cũng có thể sử du ̣ng như mô ̣t đài quan sát khí tượng hoă ̣c mô ̣t đài phát thanh và điều đó có nghĩa là đảo đó đã được kiểm soát và chiế m đóng có hiê ̣u quả Như vâ ̣y, tại Hội nghị Luật biển
lần thứ I, tiêu chuẩn “có người ở” hoă ̣c “có thể sử dụng được” đã không được đưa
vào trong định nghĩa đảo của Công ước 1958 về Lãnh hải và Vùng tiếp giáp
Trang 25Đến Hô ̣i nghị Liên hợp quốc về luật biển lần III , phần lớn các tuyên bố , kiến nghị hay đề xuất về quy chế đảo đã được đưa ra thảo luận trong phiên thứ hai năm
1974 Sau khi kết thúc phiên thứ sáu của UNCLOS III vào tháng 7 năm 1977, kết quả của hội nghị đã được đưa vào Văn bản Đàm phán Tổng hợp Không chính thức
(ICNT) Vấn đề quy chế đảo được nêu ra trong phần VIII của ICNT trong đó chỉ có
mô ̣t điều khoản là Điều 121 Từ phiên thứ bảy cho đến phiên cuối cùng của Hội nghị,
mô ̣t số kiến nghi ̣ và sửa đổi liên quan đến quy chế của đảo đã được đưa ra thảo luâ ̣n
Mô ̣t số quốc gia bao gồm Nhâ ̣t Bản , Hy La ̣p , Pháp, Venezuela, Vương quốc Anh , Brazil, Bồ Đào Nha , Iran, Ecuador và Australia đ ã đề xuất và ủng hộ việc xóa bỏ Điều 121(3) Trong khi đó, mô ̣t số quốc gia khác đã phản đối viê ̣c sửa đổi hoă ̣c xóa
bỏ điều này trong đó có Ireland, Cô ̣ng hòa Dominica, Singapore, Đức, Liên bang Xô Viết, Algeria, Hàn Quốc, Đan Ma ̣ch, Mông Cổ, Thổ Nhĩ Kỳ và Colombia [65]
Nhâ ̣t Bản đưa ra ba lý do để ủng hô ̣ cho quan điểm của mình về viê ̣c xóa bỏ
Điều 121(3) Thứ nhất, viê ̣c phân biê ̣t giữa các đảo dựa trên diê ̣n tích của chúng hay dựa trên viê ̣c chúng có thích hợp với đời sống của con người là không đúng đắn Thứ
hai, Công ước 1958 về Thềm lu ̣c đi ̣a không hề phân biê ̣t giữa các đảo thích hợp hay
không thích hợp với đời sống con người Thứ ba, rất nhiều quốc gia khi đưa ra tuyên
bố về EEZ 200 hải lý của mình cũng không có sự phân biệt như vậy Pháp ủng hộ đề xuất của Nhâ ̣t Bản trong viê ̣c xóa bỏ Điều 121(3) mà không đưa ra giải thích Vương quốc Anh cũng đưa ra đề xuất loại trừ Điều 121(3) vì trong luâ ̣t quốc tế không có
mô ̣t cơ sở nào để đưa ra mô ̣t sự phân biê ̣t giữa các da ̣ng lãnh thổ khác nhau nhằm xác
đi ̣nh các vùng biển và mô ̣t sự phân biê ̣t như thế sẽ đi trái với quyền của các quốc gia
đối với các lãnh thổ của mình Brazil củng ủng hộ đề xuất của Anh với lập luận rằng không có mô ̣t cách giải thích hợp lý nào cho Điều 121(3) cả Tuy nhiên, Hàn Quốc
thì lại thấy khó mà ủng hộ việc xóa bỏ Điều 121(3) bởi vì viê ̣c này sẽ phá hỏng trạng thái cân bằng mong manh đã đạt được sau một quá trình đàm phán lâu dài về quy chế của đảo Liên bang Xô Viết cũng phản đối viê ̣c sửa đổi Điều 121 bởi vì những thay đổi này sẽ phá hỏng hoàn toàn những thỏa thuâ ̣n đã đa ̣t được trong các buổi đàm
phán trước Romania quốc gia chủ chốt trong quá trình soa ̣n thảo Điều 121 tại
Trang 26UNCLOS III đã đê ̣ trình mô ̣t đề xuất sửa đổi Điều 121 bằng cách thêm mô ̣t khoản 4
quy đi ̣nh như sau : "các đảo nhỏ không có người sinh sống sẽ không ảnh hưởng đến
các vùng biển thuộc đất liền của quốc gia có liên quan" [65]
Mă ̣c dù vâ ̣y, bất chấp những phản đối từ mô ̣t số đoàn đa ̣i biểu ta ̣i UNCLOS III, quy chế của đảo đã được quy đi ̣ nh trong Phần VIII của UNCLOS với ngôn từ giống hê ̣t như các dự thảo trong Phần VIII của ICNT Ngày 30/4/1982, UNCLOS
đươ ̣c thông qua Khi ký kết Công ước , Iran đã đưa vào bản ghi nhớ cách hiểu của
mình liên quan đến một số điều trong UNCLOS Mục đích chính của việc làm này
là để tránh các cách giải thích một số điều khoản về sau trong tương lai một cách không phù hợp với dự đi ̣nh ban đầu và quan điểm trước đấy hoă ̣c không phù hợp với nô ̣i luâ ̣t củ a nước Cô ̣ng hòa Hồi giáo Iran Mô ̣t trong những ghi nhớ này liên quan đến Điều 121(3) trong đó Iran nói rằng:
Các đảo nhỏ nằm trong các biển khép kín hoặc bán khép kín có thể có khả năng thích hợp cho viê ̣c cư trú của con người hoă ̣c có đời sống kinh tế riêng của mình , nhưng do các điều kiê ̣n về thời tiết , các hạn chế về tài nguyên hoă ̣c các ha ̣n chế khác , chưa thể đưa vào để phát triển , sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 121(2) liên quan đến "Quy chế của đảo" và do đó , có ảnh hưởng toàn bộ đến việc phân định các vùng biển của quốc gia ven biển có liên quan [65]
Quay trở la ̣i với các tiêu chí để xác đi ̣nh mô ̣t "đảo" có thuộc phạm vi Điều
121(3) hay không Trong Hô ̣i nghi ̣ lần III tiêu chuẩn “ có người ở” đã được ủng hô ̣
rô ̣ng rãi Trong Tuyên bố về các vấn đề của luâ ̣t biển , các nước Tổ chức Thống nhất Châu Phi đã nêu lên yếu tố dân cư Tuy vâ ̣y, mô ̣t số nước như Ireland đã phản đố i mạnh mẽ đề nghị dành quyền tài phán cho các đảo không có người ở Trong đề nghi ̣ của Rumani có nêu ra yêu cầu đảo phải duy trì được đời sống kinh tế và xã hội ,
trong đó bao gồm cả tiêu chuẩn “có người ở” Có đại diện quốc gia còn nêu đến số
lươ ̣ng cu ̣ thể của dân số trên đảo (A/Conf.13/C.4/C.15) Cuối cùng Hội nghị đã nhất
trí chấp nhận tiêu chuẩn "có người ở" để xác định quy chế đảo
Điều 121(3) của UNCLOS 1982 quy định rằng một đảo thích hợp cho con
Trang 27người đến ở thì sẽ được hưởng quy chế đầy đủ của đảo Tuy vậy, thế nào là "thích
hợp cho người đến ở" lại không được Công ước giải thích rõ ràng
Trên thực tế rất khó xác định thế nào là một đảo thích hợp cho con người đến
ở Người ta có thể đến ở một đảo nhưng rồi sau đó lại ra đi do các điều kiện tự nhiên khắc nghiệt Ngược lại, một đảo san hô giữa biển khơi hôm nay còn không thể là nơi sinh sống của con người nhưng nhờ vào tiến bộ khoa học kỹ thuật rất có thể sau này sẽ trở thành nơi con người có thể sinh sống được Bất kỳ mỏm đá nào, bãi cạn nào cũng có thể dùng làm nơi cư trú của con người nếu quốc gia đó đầu tư thích đáng để con người có thể sinh sống ở đó
Tiêu chuẩn "thích hợp cho đời sống kinh tế riêng" cũng rất khó để xác
đi ̣nh Một đảo được coi là thích hợp cho một đời sống kinh tế riêng có hoàn toàn phải có khả năng tự chủ so với đất liền hay không? Và nếu đúng như vậy thì dựa trên tiêu chuẩn nào? Tiêu chuẩn có nước uống, đất đai hay tài nguyên sinh vật? Những đảo không có triển vọng phát triển kinh tế, ví dụ như những đảo ở Nam Thái Bình Dương nhưng chúng có thể tồn tại được nhờ các hoạt động đánh cá xung quanh các đảo đó thì có thể coi là có đời sống kinh tế riêng hay không? Việc con người dùng các biện pháp nhân tạo để tạo ra đời sống kinh tế riêng cho đảo có thể được chấp nhận không?
Điều 121(3) của Công ước Luật Biển 1982 quy định một đảo “thích hợp cho
con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng” nhưng đã không đưa ra
những chỉ dẫn cụ thể để xác định các yếu tố cần thiết để giải thích cho vấn đề này Công ước 1958 về Lãnh hải và Vùng tiếp giáp và Công ước Luật Biển 1982 đều không coi ý nghĩa của đảo đối với an ninh và quốc phòng của quốc gia có đảo là tiêu chuẩn để xác định quy chế đảo Các yếu tố khác như cấu tạo địa chất và vị trí địa lý của đảo cũng không được coi là tiêu chuẩn để xác định quy chế đảo
* Những cách giải thích không thực sự thống nhất về Điều 121(3)
Theo quan điểm của Jon M Vandyke trong công trình “Islands and the
Delimitation of Ocean Space in the South China Sea” (1993): Trong Điều 121(3), việc giải thích về “thích hợp cho con người đến ở” và “đời sống kinh tế” cho thấy
Trang 28đôi khi thuật ngữ “đảo đá” đòi hỏi phải có những điều kiện nhiều hơn định nghĩa địa lý thuần túy khách quan… Nếu nhấn mạnh đến hoạt động thực sự hay khả năng
có thể của con người, thì tiêu chuẩn quan trọng nhất trong định nghĩa “đảo đá” nên chăng là địa hình dạng đảo đáp ứng được một cộng đồng dân cư ổn định là những người sử dụng vùng biển xung quanh nó Điều tất yếu là tiêu chuẩn này không thể đòi hỏi một địa hình dạng đảo tự bản thân có thể đảm bảo cho con người định cư vĩnh cửu, nhưng ít nhất nó cũng phải là chỗ dựa cho cộng đồng dân cư ổn định ở cạnh đó Chẳng hạn, có thể địa hình loại này là nơi lui tới của các ngư dân ở những đảo gần đó, sử du ̣ng nó làm cơ sở đánh bắt tài nguyên sinh vật ở khu vực này Theo nghĩa đó, cụm từ “thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng” là một khái niệm đơn giản
Như vậy, Jon M Vandyke cho rằng việc “thích hợp cho con người đến ở hoặc
cho một đời sống kinh tế riêng” không nhất thiết phải của chính đảo đó Ông gắn kết
địa hình dạng đảo này với các đảo và đời sống dân cư xung quanh Tuy nhiên, Mark
Valencia trong cuốn sách "Chia sẻ nguồn tài nguyên ở Biển Nam Trung Hoa" (1999)
lại cho rằng, theo đúng câu chữ trong khoản 3 Điều 121 thì có vẻ như quy định “đời sống kinh tế” thích hợp của các vị trí phải là “của chính những vị trí đó” Một đời sống kinh tế nhân tạo được sự hỗ trợ bởi dân cư sống ở xa để giành được quyền kiểm soát ở một vùng biển mở rộng là không thích hợp” Hiện nay quan điểm của Mark Valencia được nhiều học giả ủng hộ hơn bởi lẽ nếu không phải tự bản thân đảo đó đáp ứng đủ điều kiện cho con người đến ở thì sẽ dẫn đến tình trạng các quốc gia đua nhau tạo ra các công trình nhân tạo và các luồng di dân để thiết lập chủ quyền trên đảo, thực hiện tham vọng xâm chiếm các vùng biển rộng lớn
Mục đích của Điều 121(3) là để hạn chế việc áp dụng quy chế pháp lý đầy đủ
cho các đảo Do đó yếu tố “thích hợp cho con người đến ở” phải hiểu rằng con
người ở đây là một cộng đồng người đang sinh sống trên đảo và họ tới đảo với mục
đích xây dựng một cuộc sống xã hội ổn định, lâu dài Một đảo “thích hợp cho con
người đến ở” là một đảo mà điều kiện tự nhiên về khí hậu, địa lý cho phép ổn định
cuộc sống cho dân cư trên đảo Đảo đá có “đời sống kinh tế riêng” nghĩa là các tài
Trang 29nguyên trên đảo và ở xung quanh đảo được đánh giá là có giá trị kinh tế, đang tồn tại trên thực tiễn mà cộng đồng dân cư trên đảo đã tạo lập một đời sống kinh tế xã hội từ các nguồn lợi đó
Jonathan I Charney đưa ra mô ̣t cách giải thích rô ̣ng hơn về vấn đề này Charney cho rằng Điều 121(3) sử du ̣ng từ "hoă ̣c" nên chỉ cần phải chứng minh mô ̣t đảo là thích hợp cho con người đến ở HOẶC có các hoa ̣t đô ̣ ng kinh tế riêng thì đảo đó sẽ được có vùng đă ̣c quyền kinh tế hay thềm lu ̣c đi ̣a [65] Sau khi xem xét các văn bản soa ̣n thảo của UNCLOS III , Charney cũng cho rằng viê ̣c cư trú của người dân theo đi ̣nh nghĩa của Điều 121(3) không cần phải thường xuyên và các hoạt
đô ̣ng kinh tế thì không cần phải đảm bảo cho cuô ̣c sống con người trong suốt cả năm Bên ca ̣nh đó, các hoạt động kinh tế theo Điều 121(3) có thể bao gồm các hoạt
đô ̣ng công nghiê ̣p hoă ̣c khai thá c các tài nguyên khoáng chất hoă ̣c sinh vâ ̣t trong vùng lãnh hải của đảo Charney cho rằng mô ̣t đời sống kinh tế theo Điều 121(3) cần phải được hiểu là khi đảo này có các nguồn lợi có thể khai thác và kiếm lời đủ để mua các nhu yếu phẩm còn thiếu khác Charney kết luâ ̣n rằng với những thay đổi tùy theo các hoàn cảnh khác nhau có thể giúp cho các đảo thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 121(3) vẫn có thể có được đi ̣a vi ̣ pháp lý của mô ̣t đảo v à có quyền hưởng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa [65]
E.D.Brown nêu ý kiến:
Mô ̣t phép thử có thể dùng là liê ̣u đảo đấy có nước ngo ̣t hay không nhưng nếu đảo được cung cấp các nhu yếu phẩm từ đất liền hay các cây ngâ ̣p mă ̣n được trồng trên đảo thì sao ? Liê ̣u đảo đó có cần phải có khả năng sản xuất ra mô ̣t số lượng nhu yếu phẩm tối thiểu hay có đời sống không phu ̣ thuô ̣c vào nguồn cung ở bên ngoài trước khi nó được xem là thích hợp cho đời sống con người hay không ? Liê ̣u mô ̣t người trông giữ ngọn hải đăng có được xem là bằng chứng của khả năng thích hợp cho cuô ̣c sống con người không? [65]
Theo đó , Brown nhâ ̣n xét rằng " Điều 121(3) theo quy đi ̣nh hiê ̣n tại có vẻ
như là một công thức hoàn hảo để tạo ra các sự nhầm lẫn và xung đột" [65]
Trang 30Học giả Barry Hart Dubner đã liê ̣t kê mô ̣t số hoa ̣t đô ̣ng để ủng hô ̣ lâ ̣p luâ ̣n
rằng các đảo đá có thể có đời sống kinh tế riêng như : khả năng sử du ̣ng quân đô ̣i chiếm giữ các đảo , tạo ra các công trình xây dựng và điểm đánh dấu , thành lập các trạm nghiên cứu , ban hành các quy chế , sát nhập các đảo này vào các tỉnh lân cận , phát hành bản đồ trong đó có vẽ các vùng tuyên bố chủ quyền và phát hành các tài liê ̣u li ̣ch sử để ủng hô ̣ cho các tuyên bố về chủ quyền , cho phép khách du li ̣ch hoă ̣c các nhà báo đến thăm đảo , cho phép các công ty dầu mỏ hoa ̣t đô ̣ng , bắt giữ ngư dân
và xây dự ng các khu nghỉ dưỡng du li ̣ch với khách sa ̣n và sân bay [65] Cách giải thích này có phần hơi đi xa với mục đích của Điều 121(3) bởi vì điều khoản này hướng đến viê ̣c ha ̣n chế sự mở rô ̣ng thẩm quyền tài phán của các quốc gia mô ̣t cách
"quá đáng" ảnh hưởng đến lợi ích chung của cộng đồng quốc tế
Tiến si ̃ Nguyễn Toàn Thắng – Đa ̣i ho ̣c Luâ ̣t Hà Nô ̣i cho rằng, tiêu chí "thích
hơ ̣p cho con người đến ở" và tiêu chí "thích hợp cho một đời sống kinh tế riêng" cần phải hiểu là áp dụng đồng thời Theo đó, mô ̣t đảo đá có khả năng và tiềm năng đảm bảo cho con người đến ở và đời sống kinh tế riêng sẽ có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lu ̣c đi ̣a
Học giả Alex G Gude Elferink thì cho rằng việc đáp ứng cả hai yêu cầu về
thích hợp cho đời sống con người và đời sống kinh tế riêng là không cần thiết , "kể
cả khi tiêu chí đầu tiên được đáp ứng bằng sự có mặt của một cộng đồng dân cư ổn
đi ̣nh, đời sống kinh tế của một đảo đá mà không có dân cư ổn đi ̣nh cũng dẫn đến kết quả là đảo này có được EEZ và thềm lục địa" [65]
Trong khi đó, học giả Roger O’Keefe đã trích dẫn nhiều bài viết của các ho ̣c
giả quốc tế để đưa ra nhâ ̣n đi ̣nh:
Trừ khi có mô ̣t yêu cầu không bằng văn bản về "khả năng tự nhiên" đươ ̣c đưa vào , Điều 121(3) dường như đã ủng hô ̣ viê ̣c trao các vùng biển cho hầu như bất kỳ một vùng đất rất nhỏ (skerrick of land) nào
mà vẫn ở trên mực nước khi triều lên Trong thời đa ̣i công nghê ̣ cao này , nếu mô ̣t quốc gia sẵn sàng đầu tư tiền ba ̣c thì hầu như tất cả các đảo , kể
cả các đảo nhỏ cũng có thể thích hợp với cuộc sống con người theo mô ̣t
Trang 31Học giả Jonathan L.Hafetz lại nêu ra rằng việc bảo tồn biển cũng có thể cấu
thành các hoạt động kinh tế theo nghĩa của Điều 121(3) bởi vì hoa ̣t đô ̣ng này có thể đem la ̣i các lợi ích về kinh tế và mô ̣t sự phát t riển bền vững thông qua các hình thức như thiết lâ ̣p các khu bảo vê ̣ môi trường biển và bờ biển Thêm vào đó, Hafetz cũng cho rằng cách giải thích Điều 121(3) của ông phù hợp với ngôn từ của UNCLOS , đối tươ ̣ng và mu ̣c đích củ a Công ước, sự phát triển về sau của luâ ̣t quốc tế và chính sách công cộng trong việc bảo vệ môi trường biển khi việc này mang lại lợi ích về kinh tế [65] Quan điểm này có tính hợp lý vì tâ ̣p trung vào bảo vê ̣ môi trường biển sẽ có ích lợi lâu dài không chỉ với quốc gia có đảo mà còn đối với những vùng biển xung quanh của các nước khác giáp với đảo đó Và nếu như mô hình này được nhân
rô ̣ng trên toàn cầu , lợi ích của nhân loa ̣i sẽ đượ c đảm bảo và tăng lên rất nhiều từ những khu bảo tồn như vâ ̣y Tuy nhiên mă ̣t ha ̣n chế của quan điểm này đó là dường như chưa thể hiê ̣n được tính công bằng khi mà những nước giàu sẽ có điều kiê ̣n hơn
để xây dựng và phát triể n các khu bảo tồn và như thế khả năng các nước này được hưởng thêm các vùng biển rô ̣ng lớn cũng cao hơn Trong khi đó , đối với những nước đang phát triển hay kém phát triển , hoạt động này sẽ diễn ra vô cùng chậm chạp nếu như không có sự chung tay giúp đỡ của các nước lớn và cô ̣ng đồng quốc tế nói chung
Tổng kết la ̣i quan điểm từ các chuyên gia luâ ̣t pháp quốc tế , tiêu chí để xác
đi ̣nh mô ̣t đảo có "thích hợp cho con ngư ời đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế
riêng" là không thể cố định và đúng như những gì "chung chung" và "trừu tượng"
mà Điều 121(3) UNCLOS đã thể hiê ̣n Cho đến nay vẫn chưa có văn bản chính thức hướng dẫn về viê ̣c thực hiê ̣n điều khoản này Mă ̣c dù cũng có tồn ta ̣i mô ̣t số cơ chế quốc tế có liên quan đến luâ ̣t biển như Cuô ̣c ho ̣p của Các quốc gia thành viên của UNCLOS (SPLOS), cuô ̣c ho ̣p này chủ yếu tâ ̣p trung vào các vấn đề hành chính và tài chính Bên ca ̣nh đó , cũng có c uô ̣c ho ̣p xem xét các vấn đề về biển và luâ ̣t biển của Đại hội đồng Liên hợp quốc chủ yếu dựa vào các báo cáo do Tổng Thư ký Liên
hơ ̣p quốc cũng như Hô ̣i nghi ̣ Tư vấn Không chính thức đối với các vấn đề về đa ̣i đương và luâ ̣t biển soa ̣n thảo Các cuộc họp của Đại hội đồng thỉnh thoảng cũng có
Trang 32chú ý đến chính sách về biển của các quốc gia liên quan đến UNCLOS nhưng cuộc họp này lại không thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan giám sát hỗ trợ các quốc gia thực hiê ̣n theo đúng ngôn từ và tinh thần của Công ước [65] Học giả Timo Koivurova cho rằng , nếu UNCLOS có một thể chế tương tự như các công ước hiện nay, các chính sách và pháp luật về biển của các quốc gia sẽ phát triển một cách thống nhất và phù hợp hơn với các thuâ ̣t ngữ và mu ̣c tiêu của UNCLOS [65]
Qua nghiên cứu quan điểm của các ho ̣c giả , những nhà nghiên cứu sâu về vấn đề này , có thể tổng kết một số luận điểm sau nhằ m giải thích cho các tiêu chí trong Khoản 3 Điều 121 UNCLOS:
- Các đảo được nêu tại Khoản 3 cần đươ ̣c hiểu rằng đã đáp ứng được các tiêu chí tại Khoản 1 Điều 121, tức là có quy chế của "đảo" theo đúng yêu cầu của điều khoản này (là vùng đất tự nhiên có nước biển bao bọc , luôn ở trên mă ̣t nước biển kể
cả khi triều lên cao)
- Xem xét khả năng thích hợp cho con người đến ở hay thích hợp cho mô ̣t đời sống kinh tế riêng của mô ̣t đảo phải là đảo tự nhiên và yếu tố tự nhiên này phải đáp ứng đối với cả cách thức hình thành của đảo cũng như thành phần của đảo Nếu như đảo có sự tác đô ̣ng của khoa ho ̣c kỹ thuâ ̣t thì dù chất liê ̣u xây dựng đảo dù là chất liê ̣u tự nhiên cũng không có ý nghĩa
- Các tiêu chí "thích hợp cho con người đến ở " và "thích hợp cho một đời sống kinh tế riêng " không nhất thiết phải là đồng thời , đúng như cách sử du ̣ng từ
"hoă ̣c" (or) của Công ước
- Thích hợp cho con người đến ở không nhất thiết phải theo mô ̣t con số nhất
đi ̣nh về dân cư, nhưng thích hợp cho con người đến ở cần được hiểu là mô ̣t sự đi ̣nh
cư có tính ổn đi ̣nh mà không phải là nhất thời Tuy nhiên, sự ổn đi ̣nh cũng không có nghĩa phải là toàn bộ các ngày trong năm Hoạt động di cư sang các đảo khác hay đất liền để tránh các thời điểm có thiên tai không là yếu tố quy kết rằng sự đi ̣nh cư đó không ổn đi ̣nh (Bởi vì ngay cả trên đất liền, hiê ̣n tra ̣ng này cũng có thể xảy ra )
- Sự tồn ta ̣i của nước ngo ̣t , phần đất cho phép canh tác , trồng tro ̣t hay tồn tại nguồn tài nguyên sinh vật hay khoáng sản tạo ra khả năng độc lập trong việc
Trang 33bảo đảm cho cuộc sống định cư của con người không phụ thuộc vào sự viện trợ của đất liền
- Độc lập không đồng nghĩa với khép kín , tự cung tự cấp Điều này phù hợp với sự phát triển ngày càng ma ̣nh mẽ của khoa ho ̣c công nghê ̣ , kỹ thuật, những mối giao lưu giữa đảo với đất liền , đảo với đảo khác càng được đẩy ma ̣nh hơn , thường xuyên hơn
- Không đươ ̣c xác đi ̣nh mô ̣t đời sống kinh tế nhân ta ̣o , hoàn toàn dựa vào nguồn lực của lu ̣c đi ̣a để thay đổi khả năng của đảo đá tron g viê ̣c ta ̣o ra các vùng biển xung quanh
- Sự tồn ta ̣i của tài nguyên thiên nhiên hay sinh vâ ̣t là bằng chứng quan tro ̣ng thể hiê ̣n khả năng của đảo đá trong viê ̣c đảm bảo đời sống kinh tế của đảo
- Đời sống kinh tế riêng nên đượ c hiểu là mô ̣t đời sống kinh tế có tính chất thường xuyên kể từ thời điểm khởi lâ ̣p cho đời sống kinh tế đó Theo đó , hoạt
đô ̣ng giao hàng hóa đơn thuần trên đảo không được hiểu là ta ̣o ra mô ̣t đời sống kinh tế riêng
- Yếu tố tài nguyên đảm bảo cho sự sinh sống của dân cư và đời sống kinh tế của đảo không chỉ bao gồm tài nguyên trên chính phần lãnh thổ đảo mà còn gồm cả tài nguyên của các vùng nước và đáy biển ngay liền kề đảo , và nên tí nh giới ha ̣n liền kề này là giới ha ̣n lãnh hải, tức là 12 hải lý từ đường cơ sở của đảo
- Mô ̣t đảo mă ̣c dù không có dân cư sinh sống ổn đi ̣nh , không có các hoa ̣t
đô ̣ng sản xuất vâ ̣t chất như khai thác tài nguyên , nhưng la ̣i có tiềm năng du li ̣ch (sinh thái, đi ̣a chất, thể thao, nghỉ dưỡng), vẫn được hiểu là đáp ứng được tiêu chí
có đời sống kinh tế riêng và do đó có thể có EEZ cũng như thềm lục địa Song trong trường hợp mô ̣t đảo như vâ ̣y , hiê ̣u lực của đảo đến đâu vẫn do các bên liên quan thỏa thuận quyết định
- Nhìn chung thích hợp cho con người đến ở hay cho một đời sống kinh tế riêng có thể được hiểu là ta ̣i thời điểm hiê ̣n ta ̣i hoă ̣c có tính tiềm năng cho tương l ai Tuy nhiên, yếu tố tiềm năng này đến thời điểm nào cần do các bên liên quan thỏa thuâ ̣n, thương lượng trong từng trường hợp cu ̣ thể
Trang 34Các quốc gia khi xây dựng quy chế pháp lý cho các đảo của mình , đúng như tinh thần của UNCL OS, trong khi hướng đến những lợi ích tối đa cho quốc gia cần tính đến quyền lợi của các nước khác một cách hợp lý Các quốc gia có xung đột trong vấn đề xác đi ̣nh quy chế pháp lý của đảo cần thông qua các cơ chế thỏa th uâ ̣n, trao đổi và giải quyết xung đô ̣t mà UNCLOS đã đi ̣nh hướng Trường hợp các nước không thể tự thỏa thuâ ̣n được , họ có thể giao vấn đề đó cho một bên thứ ba độc lập
và khách quan giải quyết dựa trên những tiêu chuẩn thườ ng đươ ̣c áp du ̣ng và đã trở
thành thông lệ trong thực tiễn quốc tế
1.2.2 Quy chế pháp lý của các đảo theo Khoản 3 Điều 121 Công ước Luật Biển 1982
Các quy định của UNCLOS 1982 cho phép xác đi ̣nh quy chế pháp lý của đảo
đươ ̣c thể hiê ̣n ở những khía ca ̣nh – cấp đô ̣ cu ̣ thể sau : một là, qua viê ̣c đảo được
hưởng những vùng biển nào theo quy đi ̣nh của UNCLOS (bao gồm loa ̣i vùng biển
và giới hạn của vùng biển đó ); hai là, tiếp đó đối với mỗi vùng biển mà nó có được
quốc gia sở hữu đảo đó có được những quyền – lợi ích và đồng thời là trách nhiê ̣m
– nghĩa vụ như thế nào ; và ba là, vùng chồng lấn do các vùng biển của đảo tạo ra ,
viê ̣c phân đi ̣nh những vùng đó và vùng biển thực tế quốc gia có được sau phân đi ̣nh
1.2.2.1 Khía cạnh, cấp độ thứ nhất
Nhìn chung quy định tại Khoản 3 Điều 121 UNCLOS 1982 đưa ra hai khả năng có thể áp du ̣ng cho các đảo khi các đảo đó có thể đáp ứng được tiêu c huẩn mà
điều khoản này đă ̣t ra hay không Khi đáp ứng được điều kiê ̣n "thích hợp cho con
người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng" đảo đó được hưởng quy chế như
đất liền với đầy đủ các vùng biển bao gồm : nô ̣i thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Và trường hợp thứ hai , khi các đảo không đáp ứng được điều kiê ̣n trên thì không có đầy đủ các vùng biển , cụ thể là không có vùng đă ̣c quyền kinh tế và thềm lu ̣c đi ̣a
Trong cả hai trường hợp, các đảo theo Khoản 3 Điều 121 UNCLOS 1982 đều
có nội thủy , lãnh hải và tiếp giáp với những quyền lợi và nghĩa vụ tương ứng Nội
thủy là vùng nước phía trong đường cơ sở dùng để tí nh chiều rô ̣ng lãnh hải của đảo
Trang 35và sẽ không có giới hạn xác định như những vùng biển khác Giới ha ̣n này tùy thuô ̣c vào đă ̣c điểm bờ biển và những đă ̣c điểm khác có tác đô ̣ng đến viê ̣c hoa ̣ch
đi ̣nh đường cơ sở của quốc gia ven biển Lãnh hải của đảo là vùng tiếp liền và bên
ngoài của nội thủy , có ranh giới trong là đường cơ sở và ranh giới ngoài là đường cách đường cơ sở khoảng cách không quá 12 hải lý Như vâ ̣y , 12 hải lý là chiều
rô ̣ng tối đa của lãnh hải và không thể có trường hợp lãnh hải quá 12 hải lý được coi
là hợp pháp Vùng tiếp giáp lãnh hải của đảo là vùng tiếp liền và bên ngoài lãnh hải
Vùng này có ranh giới trong là ranh giới ngoài của lãnh hải và ranh giới ngoài là đường nối các điểm cách đường cơ sở mô ̣t khoảng cách là không quá 24 hải lý Nói cách khác, ranh giới ngoài của vùng tiếp giáp là đường mà các điểm trên đó cách ranh giới ngoài của lãnh hải một khoảng cách là không quá 12 hải lý Như vâ ̣y , tương tự như lãnh hải, chiều rô ̣ng của vùng tiếp giáp tối đa là 12 hải lý
Theo Khoản 3 Điều 121, chỉ những đảo "thích hợp cho con người đến ở hoặc
cho một đời sống kinh tế riêng" mới có thêm vùng đă ̣c quyền kinh tế và thềm lu ̣c
đi ̣a Trong đó, vùng đặc quyền kinh tế là vùng nước tiếp liền và bên ngoài lãnh hải
có ranh giới ngoài không quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở Ranh giới trong của vùng đă ̣c quyền kinh tế la ̣i là ranh giới ngoài của lãnh hải Bề rô ̣ng của vùng đă ̣c quyền kinh tế do đó tối đa có thể đa ̣t 188 hải lý Thềm lu ̣c đi ̣a cũng là vùng tiếp liền
và bên ngoài lãnh hải nhưng là gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền (ở đây là đất liền của đảo ) của quốc gia
đó cho đến mép ngoài của rìa lục địa Về giới ha ̣n của thềm lu ̣c đi ̣a có thể có mô ̣t số khả năng sau: (1) 200 hải lý tính từ đường cơ sở trong trường hợp mép ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ờ khoảng cách gần hơn (2) nhỏ hơn 200 hải lý do khi xác
đi ̣nh giới ha ̣n 200 hải lý đã có sự chồng lấn với thềm lục địa của quốc gia khác (3) thềm lu ̣c đi ̣a mở rộng ngoài 200 hải lý khi mép ngoài của rìa lục địa mở rộng ra quá
200 hải lý và quốc gia hoa ̣ch đi ̣nh theo đúng quy đi ̣nh từ Khoản 4 đến khoản 6 Điều
76 UNCLOS Tương tự như vùng đă ̣c quyền kinh tế , bề rô ̣ng có tính tiêu chuẩn của thềm lu ̣c đi ̣a trong trường hợp bình thường là 188 hải lý
Trang 361.2.2.2 Khía cạnh, cấp độ thứ hai
Quy chế của các đảo theo Khoản 3 Điều 121 gắn bó chă ̣t chẽ với quy đi ̣nh ta ̣i
Khoản 2 bên trên bởi v ì điều khoản này nói rằng : "Với điều kiện phải tuân thủ
Khoản 3, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của hòn đảo được hoạch định theo đúng các quy định của Công ước áp dụng cho các lãnh thổ đất liền khác" [16, Điều 121, Khoản 2] Theo đó, Khoản 2 của Điều 121
quy định cách thức xác định các vùng biển do đảo tạo ra như lãnh hải , vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Các vùng biển này được xác định theo đúng các quy định của Công ước áp dụng cho lãnh thổ đất liền Các vùng biển của đảo cũng được hưởng các quy chế như các vùng biển của đất liền Cụ thể:
* Nội thủy
Điều 8 của Công ước Luật Biển 1982 quy định trừ trường hợp được quy định
ở Phần IV liên quan đến quốc gia quần đảo, các vùng nước ở phía bên trong đường
cơ sở của lãnh hải là nội thuỷ của quốc gia ven biển [16, Điều 8] Tương tự như vậy, các vùng nước ở phía bên trong đường cơ sở của lãnh hải của đảo cũng được coi là vùng nước nội thuỷ Về đường cơ sở thông thường để xác định vùng nước nội thuỷ của đảo là ngấn nước triều thấp nhất dọc theo bờ biển của đảo, như đã được thể hiện trên các hải đồ tỷ lệ lớn được quốc gia ven biển chính thức công bố [16, Điều 5] Trong nội thủy, quốc gia sở hữu đảo có chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối như đối với lãnh thổ đất liền
* Lãnh hải
Các quốc gia có đảo có quyền mở rộng chủ quyền trong lãnh hải của đảo đến vùng trời phía trên, cũng như đến đáy và lòng đất dưới đáy của vùng biển này [16, Điều 2] Chủ quyền này là chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ, quốc gia ven biển có chủ quyền trên
cả ba mặt lập pháp , hành pháp và xét xử nhưng lại bị giới hạn bởi quyền qua lại không gây hại của tàu thuyền nước ngoài Điều 17 UNCLOS 1982 quy đi ̣nh , với điều kiện phải chấp hành Công ước, tàu thuyền của tất cả các quốc gia, có biển hay không có biển, đều được hưởng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải
“Đi qua” là đi ở trong lãnh hải, nhằm mục đích: a) Đi ngang qua nhưng
Trang 37không đi vào nội thủy, không đậu lại trong một vũng tàu hoặc một công trình cảng
ở bên ngoài nội thủy; hoặc b) Đi vào hoặc rời khỏi nội thủy, hoặc đậu lại hay rời khỏi một vũng tàu hay một công trình cảng trong nội thủy Việc đi qua phải liên tục
và nhanh chóng Tuy nhiên, việc đi qua bao gồm cả việc dừng lại và thả neo, nhưng chỉ trong trường hợp gặp phải những sự cố thông thường về hàng hải hoặc vì một trường hợp bất khả kháng hay mắc nạn hoặc vì mục đích cứu giúp người, tàu thuyền hay phương tiện bay đang lâm nguy hoặc mắc nạn [16, Điều 18]
Việc đi qua là không gây hại, chừng nào nó không làm phương hại đến hòa bình, trật tự hay an ninh của quốc gia ven biển Việc đi qua không gây hại cần phải được thực hiện theo đúng với các quy định của Công ước và các quy tắc khác của pháp luật quốc tế [16, Điều 19] Ở trong lãnh hải, tàu ngầm và các phương tiện đi ngầm khác buộc phải đi nổi và phải treo cờ quốc tịch [16, Điều 20]
Quốc gia ven biển có thể định ra, phù hợp với các quy định của Công ước và các quy tắc khác của pháp luật quốc tế, các luật và quy định liên quan đến việc đi qua không gây hại ở trong lãnh hải của mình [16, Điều 22] Quốc gia ven biển khi cần bảo đảm an toàn hàng hải có thể đòi hỏi tàu thuyền nước ngoài đi qua không gây hại trong lãnh hải của mình phải đi theo các tuyến đường do mình ấn định và phải tôn trọng các cách bố trí phân chia các luồng giao thông do mình quy định nhằm điều phối việc qua lại các tàu thuyền [16, Điều 22]
* Vùng Tiếp giáp lãnh hải
Theo UNCLOS, vùng tiếp giáp của đảo không thể mở rộng quá 24 hải lý
kể từ đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải của đảo Trong vùng biển này, quốc gia có đảo có quyền ngăn ngừa và trừng trị những vi phạm đối với các luật
lệ, quy định về hải quan , thuế khóa , y tế hay nhập cư trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình [16, Điều 33]
* Vùng đặc quyền kinh tế
Trong vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia có đảo có các quyền chủ quyền về việc thăm dò và khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên sinh vật hoặc không sinh vật của vùng nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy
Trang 38biển, cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế, như việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió; các quyền tài phán đối với việc lắp đặt, sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị công trình biển, nghiên cứu khoa ho ̣c về biển, bảo vệ và gìn giữ môi trường biển… [16, Điều 56]
Trong vùng đặc quyền về kinh tế, tất cả các quốc gia, dù có biển hay không
có biển, trong những điều kiện trong những quy định thích hợp của Công ước trù định, được hưởng các quyền tự do hàng hải và hàng không, quyền tự do đặt dây cáp ngầm nêu ở Điều 87 UNCLOS, cũng như quyền tự do sử dụng biển vào những mục đích khác hợp pháp về mặt quốc tế và gắn liền với việc thực hiện các quyền tự do này và phù hợp với các quy định khác của Công ước, nhất là những khuôn khổ việc khai thác các tàu thuyền, phương tiện bay và dây cáp, ống dẫn ngầm [16, Điều 58]
* Thềm lục địa
Áp dụng Điều 76 UNCLOS, thềm lục địa của một đảo có thể hiểu là bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của đảo đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của đảo cho đến mép ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi mép ngoài của rìa lục địa của đảo ở khoảng cách gần hơn Trong trường hợp mép rìa ngoài của thềm lục địa của đảo vượt quá 200 hải lý thì có thể vạch ra ngoài khoảng cách đó nhưng không quá 350 hải lý hoặc nằm cách đường đẳng sâu 2500 m là đường nối liền các điểm có độ sâu 2500 m một khoảng cách không quá 100 hải lý
Trên vùng thềm lục địa của đảo, các quốc gia có đảo thực hiện các quyền chủ quyền về thăm dò, khai thác tài nguyên; quyền tài phán về nghiên cứu khoa học; quyền đối với các đảo nhân tạo, các thiết bị, công trình trên thềm lục địa và quyền bảo vệ, giữ gìn môi trường biển
Như vậy, do UNCLOS ban cho các đảo khả năng được hưởng những vùng
biển rô ̣ng lớn đã ta ̣o ra nguy cơ và thực tế là tranh chấp về các vùng biển chồng lấn càng trở nên phức tạp hơn Đó là chưa kể đến những tranh chấp này gắn chă ̣t với tranh chấp về chủ quyền lã nh thổ, mô ̣t khi chủ quyền đảo chưa được làm rõ , tiến trình phân định biển vẫn tiếp tục bị kéo dài
Trang 391.2.2.3 Khía cạnh, cấp độ thứ ba
Với giả thiết rằng đảo đã đáp ứng được tiêu chuẩn "thích hợp cho con người
đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng", các trường hợp có thể xảy ra xuất phát
từ vi ̣ trí của những đảo như vâ ̣y bao gồm:
- Đảo gần bờ và góp phần trong hoa ̣ch đi ̣nh đường cơ sở của đất liền , (và từ điểm cơ sở ta ̣i những đảo như vâ ̣y s ẽ có thể tạo ra vị trí chồng lấn của quốc gia ven biển với các quốc gia láng giềng có bờ biển đối diê ̣n hay tiếp liền )
- Đảo không quá xa bờ và ta ̣o ra vùng chồng lấn với chính các vùng biển của đất liền lu ̣c đi ̣a của quốc gia ven biển (và có thể tạo ra vùng chồng lấn với các vùng biển của các quốc gia khác xung quanh)
- Đảo nằm xa hoàn toàn với đất liền lu ̣c đi ̣a của quốc gia ven biển (có thể tạo
ra vùng chồng lấn với các vùng biển của các quốc gia khác xung quanh)
1.3 Ý nghĩa và vai trò của các đảo theo Khoản 3 Điều 121 Công ƣớc Luật Biển 1982 trong xác lâ ̣p chủ quyền quốc gia đối với các vùng biển và giải quyết tranh chấp biển đảo
1.3.1 Ý nghĩa và vai trò của đảo nói chung và theo quy đi ̣nh của Công ước Luật biển 1982
1.3.1.1 Trong hoạch đi ̣nh đường cơ sở
Đảo có vai trò quan tro ̣ng trong viê ̣c hoa ̣ch đi ̣nh đường cơ sở của quốc gia dùng
để tính chiều rộng lãnh hải Vai trò này được thể hiện qua một số khía cạnh sau:
Thứ nhất : Các quốc gia được phép hoạch định đường cơ sở theo phương
pháp đường cơ sở thông thường áp dụng cho các đảo Theo đó, đường cơ sở này là
"ngấn nước triều thấp nhất dọc theo bờ biển, như được thể hiện trên các hải đồ tỷ lệ
lớn đã được quốc gia ven biển chính thức công nhận" [16, Điều 5]
Thứ hai: Sự tồn ta ̣i của các đảo là cơ sở để mô ̣t quốc gia áp du ̣ng phương pháp
đường cơ sở thẳng UNCLOS quy đi ̣nh trong trường hợp "nếu có một chuỗi đảo nằm
sát ngay và chạy dọc theo bờ biển" thì quốc gia ven biển có thể vạch đường cơ sở dùng
để tính chiều rộng lãnh hải bằng cách "nối liền các điểm thích hợp có thể được sử dụng
để kẻ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải" [16, Điều 7, Khoản 1]
Trang 40Quy định này hàm ý ba tiêu chí khác nhau nhưng trong cùng một thể thống nhất: số lượng đảo tạo thành chuỗi , chuỗi chạy dọc theo bờ biển và độ gần kề của chuỗi đảo so với bờ biển Theo khuyến cáo của Văn phòng pháp luật của Liên hợp
quốc thuâ ̣t ngữ “Chuỗi nằm sát và chạy dọc theo bờ biển” phải thỏa mãn các điều
kiê ̣n sau: Phải có ít nhất từ 3 đảo trở lên; Điểm nằm gần bờ nhất của mỗi đảo trong chuỗi đảo cách đường bờ biển không quá 24 hải lý (lãnh hải của đất liền và lãnh hải của đảo), cách bờ xa nhất không quá 48 hải lý tức là hai lần khoảng cách 24 hải lý
do sự biện minh có các quyền lợi kinh tế trong khu vực Mỗi đảo trong chuỗi cách các đảo khác trong chuỗi khoảng cách không qúa 24 hải lý.Chuỗi đảo phải chắn ít nhất 50% đường bờ biển liên quan [71]
Thứ ba: Nếu xung quanh các đảo có bãi ca ̣n lúc nổi lúc chìm và khi "toàn bộ
hay một phần bãi cạn lúc nổi lúc chìm đó ở cách đảo một khoảng cách không vượt quá chiều rộng của lãnh hải, thì ngấn nước triều thấp nhất ở trên các bãi cạn này
có thể được dùng làm đường cơ sở để tính chiều rộng của lãnh hải" Trong đó, bãi
cạn lúc nổi lúc chìm (Low-tide elevations) đươ ̣c xác đi ̣nh là "những vùng đất nhô
cao tự nhiên có biển bao quanh, khi thủy triều xuống thấp thì lộ ra, khi thủy triều lên cao thì bị ngập nước" [16, Điều 13]
Thứ tư: Trong trường hợp những bộ phận đảo cấu tạo bằng san hô hoặc các
đảo có đá ngầm ven bờ bao quanh thì đường cơ sở là ngấn nước triều thấp nhất ở bờ phía ngoài cùng của các mỏm đá, như đã được thể hiện trên các hải đồ được quốc gia ven biển chính thức công nhận [16, Điều 6] Như vâ ̣y , những đảo mà xung quanh chúng có các mỏm đá như trên sẽ được nới rô ̣ng đường cơ sở , và đây là điều kiê ̣n để mở rô ̣ng thêm vùng biển của quốc gia sở hữu đảo ra phía biển khơi
Thứ năm: Trong những trường hợp mà phương pháp kẻ đường cơ sở thẳng
được áp dụng ở nơi bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm hoặc nếu có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển, khi ấn định một số đoạn đường cơ sở có thể tính đến những lợi ích kinh tế riêng biệt của khu vực đó mà thực tế và tầm quan trọng của nó đã được một quá trình sử dụng lâu dài chứng minh rõ ràng Nếu như mô ̣t đảo không quá xa bờ của quốc gia có những lợi ích kinh tế riêng biệt đáp ứng được điều