1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận bảo hiểm thương mại bảo HIỂM NÔNG NGHIỆP

13 507 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 119,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn nữa, sản xuất nông nghiệp là một thị trường rất rộng lớn cho các công ty bảo hiểm, mặc dù triển khai bảo hiểm gặp nhiều khó khăn, song với đối tượng là hàng trăm loại cây trồng và co

Trang 1

Học viên: Đặng Trường Thi Hà Nội, Ngày 07/04/2013

Mã HV: CH210338

Lớp: CH21L

Môn: Kinh Tế Bảo Hiểm

BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP- NHÓM LẺ

Bảo hiểm nông nghiệp là loại hình bảo hiểm đã được triển khai ở Việt Nam từ những năm 1980 Tuy nhiên cho đến nay bảo hiểm nông nghiệp ở nước ta mặc dù rất tiềm năng và hết sức cần thiết nhưng lại gần như không phát triển được Chính vì vậy, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 315/QĐ-TTg “Về việc thực hiện thí điểm BHNN giai đoạn 2011-2013” do Bộ Tài chính thực hiện.

Yêu cầu đối với nhóm nghiên cứu:

1 Thuận lợi và khó khăn khi triển khai bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam?

2 Thực trạng bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam?

3 Nội dung của Quyết định số 315/QĐ-TTg và ý kiến đánh giá của nhóm nghiên cứu về Quyết định này (điểm nào hợp lý hay không hợp lý, điểm nào khả thi hay không khả thi )?

Bài làm:

1 Sự cần thiết khách quan phải có Bảo hiểm Nông nghiệp

Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất quan trọng, cung cấp lương thực thực và thực phảm cho con người, nguyên liệu cho công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm và hàng hóa để xuất khẩu Nông nghiệp cũng là ngành thu hút nhiều lao động xã hội, góp phần giải quyết công ăn việc làm

và đồng thời còn là một ngành đóng góp không nhỏ vào tổng sản phẩm quốc nội Nhưng sản xuất nông

Trang 2

nghiệp thường không ổn định, bởi ngành này có nhiều đặc điểm khác biệt so với những ngành sản xuất khác Những đặc điểm cơ bản đó là:

Thứ nhất, sản xuất nông nghiệp thường trải trên một phạm vi rộng lớn và hầu hết được tiến hành ở ngoài trời nên chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện tự nhiên

Thứ hai, đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những cơ thể sống như: cây trồng, vật nuôi Chúng không chỉ chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên mà còn chịu ảnh hưởng của các quy luật sinh học: đồng hóa, dị hóa, biến dị, di truyền; quy luật về thời gian sinh trưởng và cho sản phẩm

Thứ ba, chu kỳ sản xuất trong nông nghiệp thường kéo dài, thời gian lao động và thời gian sản xuất không trùng nhau, do đó việc đánh giá, kiểm soát; việc phòng ngừa quản lý rủi ro là rất khó thực hiện

Thứ tư, trong nông nghiệp có hàng trăm, hàng ngàn loại cây trồng và vật nuôi khác nhau Thậm chí, có những loại rủi ro mà thiệt hại chúng gây ra mang tính chất thảm họa Từ đó ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của người chăn nuôi và trồng trọt

Thứ tư, các rủi ro thường gặp trong nông nghiệp bao gồm rất nhiều loại, có những loại mang tính tích lũy rủi ro, hậu quả cuả chúng mang tính thảm họa và diễn ra trên diện rộng

Vì vậy, xác suất rủi ro trong nông nghiệp đã lớn lại càng lớn hơn so với nhiều ngành sản xuất khác

Ngoài ra, trong điều kiện kinh tế thị trường, mô hình tổ chức và quản lý nông nghiệp rất đa dạng phong phú, trong đó mô hình trang trại diễn ra khá phổ biến và mang tính quy luật Tổ chức quản

lý kiểu trang trại đã làm cho lao động, đất đai và tiền vốn được tích tụ và tập trung Vì vậy nhu cầu ổn định sản xuất , bảo toàn và tăng trưởng đồng vốn luôn là vấn đề bức xúc, được các chủ trang trại quan tâm hàng đầu

Những đặc điểm trên cho thấy tính chất ổn định trong sản xuất nông nhiệp là rất thấp, đặc biệt

là sản xuất nông nghiệp ở nước ta Thông số liệu thống kê, bình quân mỗi namwcacs hiện tượng thiên tai đã làm thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp nước ta từ 15 đến 20% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp Hàng năm, ngân sách Nhà nước và quỹ lương thực dự trữ quốc gia phải dành ra những khoản lương thực và những khoản tiền rất lớn để cứu trợ nông dân gặp thiên tai, miễn giảm thuế nông nghiệp cho những nơi bị mất mùa Trong điều kiện kinh tế thị trường, mặc dù các biện pháp đó là cần thiết nhưng lại tỏ ra bị động và kém hiệu quả Vì vậy để chủ động đối phó và có quỹ dự trữ dự phòng bồi thường kịp thời những tổn thất do thiên tai gây ra, biện pháp tốt nhất và hữu hiệu nhất là phải tiến hành bảo hiểm nông nghiệp Như vậy Bảo hiểm nông nghiệp ra đời là cần thiết khách quan, nhưng trong quá trình triển khai, các công ty bảo hiểm phải tính đến tất cả những đặc điểm của ngành này Có như vậy mới giúp cho công ty triển khai bảo hiểm được đúng hướng, tính phí bảo hiểm chính xác, dễ dàng đánh

Trang 3

giá, kiểm soát và quản lý được rủi ro Đồng thời đòi hỏi công ty bảo hiểm phải luôn chú ý và quản lý tốt nguồn quỹ dự trữ dự phòng, bên cạnh đó phải luôn đặt ra vấn đề tái bảo hiểm để tránh phá sản

2 Vai trò của Bảo hiểm Nông nghiệp

Ngoài những tác dụng đã được đề cập trong các loại hình bảo hiểm, bảo hiểm nông nghiệp ra đời có tác dụng rất lớn Chẳng hạn nó góp phần bảo vệ an toàn các loại tài sản và quá trình sản xuất nông nghiệp, góp phần ổn định cuộc sống cho hàng triệu người dân cùng một lúc, ổn định giá cả trên thị trường tự do, đặc biệt là giá cả những mặt hàng thiết yếu nhất như: lương thực và thực phẩm Điều này

có ý nghĩa rất lớn đối với nước ta, một đất nước có gần 80% dân số và gần 70% lực lượng lao động xã hội sống dựa vào sản xuất nông nghiệp

Nếu triển khai bảo hiểm trên diện rộng còn góp phần giảm nhẹ và ổn định ngân sách, ổn định đời sống xã hội và giữ vững an ninh lương thực cho quốc gia Hơn nữa, sản xuất nông nghiệp là một thị trường rất rộng lớn cho các công ty bảo hiểm, mặc dù triển khai bảo hiểm gặp nhiều khó khăn, song với đối tượng là hàng trăm loại cây trồng và con gia súc khác nhau sẽ giúp các công ty bảo hiểm dễ dàng khai thác, hạn chế được sức ép cạnh tranh Đồng thời nó còn phát huy tối đa quy luật “số đông bù

số ít” trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm

3 Bảo hiểm Nông nghiệp trên thế giới

Năm 1898 đánh dấu sự ra đời bảo hiểm nông nghiệp Nước Phổ đã tiến hành bảo hiểm mọi rủi

ro cây trồng thông qua hoạt động của các công ty bảo hiểm tương hỗ nhỏ Nhưng các công ty này không tồn tại và phát triển được trước các thảm họa

Từ năm 1949 đến nay, nhiều nước trên thế giới tiến hành bảo hiểm cây trồng theo hướng bảo hiểm mọi rủi ro hoặc một số loại rủi ro Hình thức bảo hiểm bao gồm: tự nguyện hoặc bắt buộc, do công ty tư nhân hoặc công ty nhà nước tiến hành.Tình hình bảo hiểm nông nghiệp ở một số nước trên thế giới được thể hiện qua bảng sau:

Bảo hiểm nông nghiệp cây trồng trên thế giới

TT Tên nước

Năm triển khai

Rủi ro BH Loại cây

được BH

CQ tiến hành

Nguồn hình thành quỹ BH

Hình thức

2 canada 1917 Mưa đá Tất cả cây

trồng

3 TBN 1954 Cháy, mưa đá Mọi cây Chính phủ Từ phí BH Tự nguyện

Trang 4

- Công ty

nhà nước

- Công ty

tư nhân 1972

và những rủi

ro thảm họa không được

BH Cháy, mưa đá

trồng

Lúa mạch, lúa mỳ

Công ty

tư nhân

của nông dân và sự

hỗ trợ của CP

4 Nhật Bản

1938 1947

Mọi rủi ro

Cây ngũ cốc, cây ăn quả, dâu tằm

Hội BH tương hỗ

có giúp

đỡ của chính quyền

Phí nông dân đóng góp và sự

hỗ trợ của chính phủ

Bắt buộc với chủ nông lớn,

tự nguyện với chủ nông nhỏ

5 Srilanca 1958 Mọi rủi ro Cây lúa Chính phủ

Phí nông dân đóng góp và sự

hỗ trợ của CP

Bắt buộc với cây lúa, tự nguyện với những cây khác

6 Phillipin 1978 Mọi rủi ro

Ngô lúa, lạc, đậu tương, bông hướng dương

Công ty

BH nhà nước

Phí nông dân đóng góp

Bắt buộc với người vay tiền

4 Các loại Bảo hiểm Nông nghiệp

4.1 Bảo hiểm cây trồng

Cây trồng rất đa dạng và phong phú về chủng loại Tùy theo quá trình sinh trưởng, mục đích sử dụng và biện pháp canh tác, có thể phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau Căn cứ vào đặc điểm sinh trưởng, cây trồng được chia ra:

- Cây hàng năm: là những loại cây trồng có chu kỳ sinh trưởng và cho sản phẩm trong vòng

dưới 1 năm: lúa ngô, khoai, sắn, đậu đỗ các loại… Đặc điểm của nhóm cây này là thời gian sinh trưởng ngắn, gieo trồng mang tính thời vụ, mỗi loại cây phù hợp với một thời kỳ nhất định, Trong năm đầu tư gieo trồng không lớn nhưng việc kiểm soát và quản lý rủi ro rất khó

Trang 5

- Cây lâu năm: là loại cây trồng có chu kỳ sinh trưởng và cho sản phẩm từ 1 năm trở lên như:

cà phê, cao su, hồ tiêu… Đặc điểm của cây lâu năm là chu kỳ sinh trưởng kéo dài, có loại 20 đến 30 năm như cà phê, cũng có loại từ 50 đến 80 năm như cây cao su Việc gieo trồng cây lâu năm đòi hỏi kỹ thuật cao, chi phí đầu tư rất lớn Cây lâu năm là một trong những loại tài sản cố định có giá trị ban đầu thường rất lớn so với các loại tài sản cố định khác trong nông nghiệp

- Vườn ươm (cây giống): là loại cây trồng có chu kỳ sinh trưởng rất ngắn, sản phẩm của chúng

được coi là chi phí sản xuất cho những quá trình sản xuất tiếp theo Đặc điểm của vườn ươm là giá trị thường rất thấp, nhưng kỹ thuật đòi hỏi rất cao và rất nhạy cảm với thời tiết khí hậu

4.1.1 Đối tượng bảo hiểm của bảo hiểm cây trồng

Đối tượng bảo hiểm cây trồng có thể là bản thân cây trồng trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển hoặc cũng có thể là sản phẩm cuối cùng do cây trồng đem lại tùy theo mục đích trồng trọt Vì thế có thể chia ra:

+ Đối với cây hàng năm, đối tượng bảo hiểm là sản lượng thu hoạch

+ Đối với cây lâu năm, đối tượng bảo hiểm là giá trị của các loại cây đó hoặc sản lượng từng năm của mỗi loại cây

+ Đối với vườn ươm, đối tượng bảo hiểm là giá trị của cây giống trong suốt thời gian ươm giống đến khi nhổ đi trồng ở nơi khác

Phạm vi bảo hiểm: trong quá trình sinh trưởng và phát triển, cây trồng thường gặp rất nhiều rủi

ro khác nhau (cùng một lúc có thể gặp một hoặc một số loại rủi ro gây thiệt hại)

Khi triển khai bảo hiểm, các công ty thường tiến shành bảo hiểm một hay một số loại rủi ro nhất định Về nguyên tắc, những rủi ro được bảo hiểm phải đảm bảo các điều kiện sau:

+ Là hiện tượng bất ngờ mà con người chưa lường trước được hoặc hoàn toàn chưa khống chế

và loại trừ được

+ Dù đã áp dụng các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất nhưng không có kết quả hoặc không thể tránh khỏi tổn thất

+ Là hiện tượng bất ngờ đối với nơi xảy ra, có cường độ phá hoại, hủy hoại lớn hơn hoặc xảy

ra sớm hơn hay muộn hơn bình thường hàng năm

4.1.2 Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm

Bảo hiểm cây trồng cũng là loại hình bảo hiểm tài sản GTBH cây trồng là giá trị của bản thân cây trồng hoặc giá trị sản lượng cây trồng trên một đơn vị bảo hiểm Tuy nhiên, nếu bảo hiểm theo sản lượng thu hoạch thì phải căn cứ vào giá trị sản lượng thực thu của những năm trước để xác định STBH của năm báo cáo

Trang 6

- STBH vườn ươm được xác định bằng cách lấy giá cả của 1 cây nhân với số cây trên 1 đơn vị bảo hiểm Hoặc giá trị của 1 mét vuông cây giống nhân với số mét vuông trên 1 đv bảo hiểm Giá cả cây giống hoặc 1 mét vuông cây giống được xác định căn cứ vào giá bán bình quân 1 số năm trước đó

- STBH đối với cây hàng năm được xác định căn cứ vào sản lượng thu hoạch thực tế của từng loại cây trong 1 số năm trước đó và giá cả 1 đơn vị sản phẩm trong những năm đó

- STBH cây lâu năm là giá trị của từng cây, từng lô cây hoặc từng đơn vị bảo hiểm Nhưng cây lâu năm là tài sản cố định, giá trị ban đầu của loại tài sản này được xá định tại thời điểm vườn cây đưa vào kinh doanh Vì thế STNH chính là giá trị ban đầu của cây đó trừ đi khấu hao cơ bản nếu có

4.1.3 Các chế độ bảo hiểm cây trồng:

Thứ nhất, chế độ bảo hiểm bồi thường theo tỷ lệ: khi tổn thất xảy ra, người bảo hiểm chỉ bồi thường cho người trồng trọt theo một tỷ lệ nhất định so với toàn bộ giá trị tổn thất Tỷ lệ bồi thường do các bên thỏa thuận, nhưng tỷ lệ này phụ thuộc vào trình độ phát triển của sản xuất nông nghiệp, trình

độ thâm canh tăng năng suất cây trồng, khả năng tổ chức và quản lý của công ty bảo hiểm, khả năng tài chính của người tham gia bảo hiểm, trình độ dân trí và sự tiến bộ của xã hội

Thông thường ở nhiều nước, tỷ lệ được bồi thường trong khoảng 60% đến 80% so với giá trị tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm

Thứ hai, chế độ bảo hiểm trên mức miễn thường: có nghĩa là khi ký hợp đồng bảo hiểm, các bên thỏa thuận với nhau về mức miễn thường Nếu tổn thất xảy ra bằng mức miễn thường hoặc trở xuống, người bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường phần tổn thất đó Nếu tổn thất xảy ra lớn hơn mức miễn thường, người bảo hiểm sẽ bồi thường phần vượt quá hoặc bồi thường toàn bộ tổn thất

4.2 Bảo hiểm chăn nuôi

4.2.1 Đối tượng và phạm vi bảo hiểm

Đối tượng bảo hiểm chăn nuôi là các sản phẩm chăn nuôi và các loại vật nuôi Đối với vật nuôi

là tài sản cố định thường được bảo hiểm đến từng con, còn đối với vật nuôi là tài sản lưu động có thể bảo hiểm cả đàn

Phạm vi bảo hiểm: các rủi ro sau đây thông thường được bảo hiểm:

+ Thiên tai, bão lũ, mưa đá, nóng, lạnh bất thường, khô cạn nguồn nước

+ Bệnh dịch, bao gồm cả bệnh truyền nhiễm, bệnh không truyền nhiễm

+ Buộc phải giết mổ để phòng trừ dịch bệnh lây lan Hoặc khi vật nuôi bị ốm, bị tai nạn, bị thương tật không còn tiếp tục nuôi dưỡng và sử dụng được

Trang 7

+ Các rủi ro khác như: động vật ăn thịt, hoặc phá hoại; đánh cắn lẫn nhau, tai nạn giao thông, hỏa hoạn…

4.2.2 Số tiền bảo hiểm và chế độ bảo hiểm:

Đối với súc vật vỗ béo lấy thịt, STBH thường được xác định căn cứ vào giá trị trọng lượng xuất chuồng bình quân một số năm trước đó (thông thường là từ 3 đến 5 năm) Đối với vật nuôi là tài sản cố định trừ đi khấu hao cơ bản nếu có Còn STBH sản phẩm chăn nuôi như trứng, sữa… được xác định căn cứ vào giá trị sản lượng thực tế thu được bình quân một số năm trước đó (thường là 3 đến 5 năm)

Cũng như trong trồng trọt, trong chăn nuôi, khi tiến hành bảo hiểm cũng có thể áp dụng các chế độ bảo hiểm khác nhau nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm, làm giảm phí bảo hiểm và phù hợp với tình hình tổ chức và quản lý của công ty bảo hiểm

5 Tình hình bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam

5.1 Thuận lợi khi triển khai bảo hiểm Nông nghiệp ở Việt Nam

Nếu xét về tiềm năng, thị trường bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam là rất lớn Đây sẽ là một mảnh đất tốt để các công ty bảo hiểm Việt Nam có kế hoạch khai thác trong thời gian tới Chẳng hạn, chỉ tính riêng diện tích một số loại cây trồng chủ yếu ở nước ta hàng năm đã lên tới gần 10 triệu ha, chưa kể đến hàng triệu gia súc, gia cầm các loại cũng có khả năng tham gia bảo hiểm

5.2 Những khó khăn trong quá trình triển khai

BHNN là một nghiệp vụ rất khó khăn không chỉ riêng ở Việt Nam mà trên phạm vi toàn thế giới Với thị phần rất nhỏ trên thị trường bảo hiểm thế giới, BHNN đang chứng minh tính chất khó khăn phức tạp khi triển khai Chính vì vậy, để giải bài toán BHNN, chính phủ của nhiều quốc gia đã phải can thiệp vào BHNN nhằm hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp

Có rất nhiều nguyên nhân khiến BHNN chưa thành công tại Việt Nam Đầu tiên phải kể tới là

do rủi ro trong sản xuất nông nghiệp là rất lớn và thường xuyên Nếu chỉ bảo hiểm theo hướng kinh doanh đơn thuần thì không có doanh nghiệp bảo hiểm nào mặn mà với BHNN vì nguy cơ thua lỗ cao Nếu có triển khai BHNN thì cũng chọn rủi ro, chọn đối tượng ít có rủi ro để nhận bảo hiểm hoặc tiến hành một cách cầm chừng

Thứ hai là: đối tượng được bảo hiểm là những cơ thể sống chịu tác động mạnh của các yếu tố thiên nhiên dẫn đến công tác quản lý rủi ro gặp rất nhiều khó khăn

Thứ ba, công tác đánh giá rủi ro, đánh giá mức độ thiệt hại trong BHNN gặp nhiều khó khăn

Trang 8

Thứ tư, mâu thuẫn trong việc lựa chọn rủi ro và đối tượng Doanh nghiệp bảo hiểm chọn loại rủi ro, đối tượng có mức độ rủi ro thấp để nhận bảo hiểm, ngược lại người tham gia bảo hiểm chỉ chấp nhận bảo hiểm cho đối tượng có mức độ rủi ro cao, thường xuyên có thiệt hại

Ngoài ra còn phải kể tới các nguyên nhân như: đặc thù sản xuất nông nghiệp Việt Nam (nhỏ lẻ, manh mún, tập quán sản xuất ); rủi ro đạo đức; thị trường tái bảo hiểm gặp rất nhiều khó khăn cho việc tái bảo hiểm các nghiệp vụ nông nghiệp; thiếu kinh nghiệm; chưa có cơ chế chính sách hỗ trợ của nhà nước

5.3 Thực trạng triển khai Bảo hiểm Nông nghiệp ở Việt Nam

Việt Nam triển khai bảo hiểm nông nghiệp chậm hơn so với các nước trên thế giới Mãi đến năm 1981, Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam mới tiến hành thí điểm bảo hiểm mùa màng ở 2 huyện Vụ Bản và Nam Ninh, tỉnh Hà Nam Ninh cũ

Tổng công ty tiến hành bảo hiểm cây lúa với mọi rủi ro do thiên tai gây ra Năng suất chuẩn để bảo hiểm là năng suất bình quân 5 năm ở từng hợp tác xã, từng vụ và thực hiện chế độ bảo hiểm theo

tỷ lệ bồi thường từ 50 – 70% với mức miễn thường 15% Phí bảo hiểm tính trên cơ sở thiệt hại của từng huyện và áo dụng thống nhất cả huyện, hình thức bảo hiểm là tự nguyện

Đợt thí điểm tiến hành trên phạm vi hẹp (2 huyện) với thời gian không dài (chỉ kéo dài 2 năm

1981, 1982), sau đó phải dừng lại vì nhiều lý do khác nhau, đặc biệt do cơ chế tổ chức quản lý trong nông nghiệp có sự thay đổi căn bản sau chỉ thị 100 của Ban bí thư TW Đảng (1981) Hơn nữa các công

ty bảo hiểm ở các tỉnh thành trực thuộc tổng công ty bảo hiểm Việt Nam lúc đó chưa đủ mạnh, kinh nghiệm triển khai bảo hiểm nông nghiệp còn hạn chế Tuy nhiên chúng ta đã rút ra được những bài học kinh nghiệm bổ ích

Trong những năm gần đây, Nhà nước đã coi bảo hiểm nông nghiệp như là một bộ phận trong chiến lược phát triển nông thôn Văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng đã nêu: Xây dựng cơ chế bảo hiểm nông sản để chủ động bù đắp thiệt hại khi bị thiên tai hoặc khi giá cả biến động bất lợi, nhất là đối với lương thực Để phát triển bảo hiểm nông nghiệp, Nghị quyết Trung ương 7 (khoá X) đã yêu cầu: Thí điểm bảo hiểm nông nghiệp, bảo đảm mức sống tối thiểu cho cư dân nông thôn Để góp phần phát triển nông nghiệp bền vững, bảo đảm an sinh xã hội, Văn kiện Đại hội XI tiếp tục chỉ rõ: Phát triển các hình thức bảo hiểm phù hợp trong nông nghiệp

Tuy việc triển khai thực hiện bảo hiểm nông nghiệp đã được tiến hành, nhưng dịch vụ bảo hiểm này ở nước ta mới manh nha Theo số liệu của Bộ Tài chính, tỷ trọng tham gia bảo hiểm của nông dân rất thấp, chưa tới 1% tổng diện tích cây trồng, vật nuôi Thực tiễn cho thấy, sau mỗi lần hứng chịu thiên tai, rất nhiều nông dân dễ dàng trở nên trắng tay, trở về với nghèo đói và Chính phủ phải hỗ trợ hàng nghìn tỷ đồng Mặt khác, các doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh thua lỗ dẫn tới việc không hoạt

Trang 9

động hoặc ngừng hoạt động bảo hiểm cây trồng, vật nuôi Vì vậy, việc hình thành và phát triển bảo hiểm nông nghiệp phù hợp với đặc thù của nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam và tình hình thị trường bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam hiện nay là hết sức cần thiết và cấp bách

Trong số các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam, có 2 doanh nghiệp (Tổng công

ty bảo hiểm Bảo Việt và Groupama) đã triển khai bảo hiểm nông nghiệp và 2 doanh nghiệp ở dạng tiềm năng (Bảo Minh và Công ty bảo hiểm ngân hàng nông nghiệp)

Tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt đã tiến hành bảo hiểm cây lúa, mùa màng tại huyện Vụ Bản (tỉnh Nam Định) từ năm 1982 nhưng không thành công, hiện nay đã dừng hoạt động này (kết thúc năm 1983) Thời gian gần đây, Bảo Việt tiến hành bảo hiểm cây cao su, bạch đàn, vật nuôi (bò sữa), tuy nhiên, tổn thất quá lớn, chi phí cao, hiệu quả thấp

Từ năm 1993, bảo hiểm mùa màng cũng được triển khai tới các hộ nông dân của 12 tỉnh trong

cả nước, bao gồm: An Giang, Bình Định, Bình Thuận, Bắc Giang, Bến Tre, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Tháp, Hà Tĩnh, Kiên Giang, Sóc Trăng và Vĩnh Long Kết quả bảo hiểm này chưa thực ý nghĩa vì tổng diện tích được bảo hiểm chỉ chiếm khoảng 1,16% tổng diện tích gieo trồng toàn quốc (năm 1995) và 0,27% (năm 1997)

Rừng và cao su (2 sản phẩm bảo hiểm cây công nghiệp chính của Bảo Việt) cũng được bảo hiểm, nhưng chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với diện tích gieo trồng thực tế Diện tích cao su được bảo hiểm chỉ chiếm 10% (doanh thu phí bảo hiểm trong 3 năm 1996, 1997 và 1998 là 3,4 tỷ đồng, bồi thường 200 triệu đồng), còn rừng chỉ được bảo hiểm một vùng 20.000ha ở Kiên Giang Bảo hiểm cây bạch đàn làm nguyên liệu giấy mới được thực hiện cho một dự án liên doanh trồng rừng với 44.000ha trong 2 năm

1997, 1998 với phí bảo hiểm thu được 120.000 USD

Bảo hiểm vật nuôi trước đây có triển khai một số nơi, nhưng Bảo Việt thấy không hiệu quả nên

đã dừng triển khai

Nhìn chung những năm gần đây, trong bảo hiểm nông nghiệp, Bảo Việt chủ yếu triển khai bảo hiểm nông nghiệp cho hai đối tượng là cây cao su (Bình Phước, Tây Ninh) và bò sữa (Kon Tum) Tuy nhiên, hiệu quả kinh doanh không cao, tỷ lệ bồi thường chiếm trên 80% so với doanh thu phí bảo hiểm, cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ bồi thường của các nghiệp vụ bảo hiểm khác của Bảo Việt (tỷ lệ bồi thường 50%)

Cùng với Bảo Việt, Công ty TNHH bảo hiểm tổng hợp Groupama Việt Nam cũng triển khai bảo hiểm nông nghiệp Groupama là một công ty bảo hiểm của Pháp bắt đầu hoạt động tại Việt Nam năm 2001 Groupama cung cấp các dịch vụ bảo hiểm vật nuôi, cây trồng; bảo hiểm tài sản, thiệt hại dùng trong sản xuất nông nghiệp, bảo hiểm việc cung ứng nguyên vật liệu thiết bị và bao tiêu các sản phẩm nông nghiệp; bảo hiểm tai nạn lao động nông nghiệp và trách nhiệm dân sự trong sản xuất nông

Trang 10

nghiệp, bảo hiểm đối với hoạt động nuôi tôm từ năm 2002 Mặc dù là nhà bảo hiểm nông nghiệp lớn và

có nhiều kinh nghiệm tại Pháp và trên thế giới, song Groupama không thành công với bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam, doanh thu thấp, bồi thường cao, liên tục lỗ từ khi thành lập đến nay

Trước đây, Groupama hoạt động chủ yếu tại các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long với việc cung cấp các dịch vụ bảo hiểm vật nuôi, cây trồng; bảo hiểm tài sản, thiệt hại dùng trong sản xuất nông nghiệp, bảo hiểm việc cung ứng nguyên vật liệu thiết bị và bao tiêu các sản phẩm nông nghiệp; bảo hiểm tai nạn lao động nông nghiệp và trách nhiệm dân sự trong sản xuất nông nghiệp từ năm 2002 Groupama cũng đã thử nghiệm cung cấp dịch vụ bảo hiểm đối với các hoạt động ngư nghiệp, chủ yếu

là đối với hoạt động nuôi tôm Tuy nhiên, công ty đã chấm dứt cung cấp dịch vụ này sau một cơn bão gây ra thiệt hại nặng nề Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng doanh thu từ loại hình bảo hiểm nông nghiệp của Groupama cũng không đáng kể, tỷ lệ bồi thường rất lớn (năm 2005 tỷ lệ bồi thường lên tới 4.426%)

Từ năm 2005, công ty này mở rộng địa bàn hoạt động ra ngoài khu vực đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ, đồng thời thu hẹp đối tượng bảo hiểm, theo đó, chỉ bảo hiểm cho vật nuôi (bò và lợn) Doanh thu bảo hiểm nông nghiệp thấp chỉ đạt 11 triệu đồng năm 2007

Hai doanh nghiệp khác ở dạng tiềm năng, đó là Tổng Công ty cổ phần Bảo Minh và Công ty

cổ phần bảo hiểm Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam Bảo Minh triển khai bảo hiểm tín dụng khoản vay phục vụ sản xuất nông nghiệp theo chỉ số thời tiết ở Đồng Tháp Tuy nhiên,

do mức phí tương đối cao (khoảng 15% giá trị khoản vay) nên phía ngân hàng cũng không mặn mà lắm Công ty cổ phần bảo hiểm Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn được phép triển khai bảo hiểm nông nghiệp Hiện nay, cũng đang nghiên cứu đề án tiền khả thi triển khai bảo hiểm nông nghiệp

Quyết định số 315/QĐ-TTg về việc thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp

Ngày 01/3/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 315/QĐ-TTg về việc thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011-2013 với mục đích hỗ trợ cho người sản xuất nông nghiệp chủ động khắc phục và bù đắp thiệt hại tài chính do hậu quả của thiên tai, dịch bệnh gây ra

Theo đó, giai đoạn 2011-2013 sẽ thực hiện thí điểm BHNN đối với cây lúa tại Nam Định, Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Thuận, An Giang, Đồng Tháp; thực hiện bảo hiểm đối với trâu, bò, lợn, gia cầm tại Bắc Ninh, Nghệ An, Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Thanh Hóa, Bình Định, Bình Dương và Hà Nội; thực hiện bảo hiểm đối với nuôi trồng thủy sản cá tra, cá ba sa, tôm sú, tôm chân trắng tại Bến Tre, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau

Người tham gia thí điểm sẽ được Nhà nước hỗ trợ 100% phí bảo hiểm cho hộ nông dân, cá nhân nghèo sản xuất nông nghiệp; hỗ trợ 80% phí bảo hiểm cho hộ nông dân, cá nhân cận nghèo sản

Ngày đăng: 17/03/2016, 13:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức - Tiểu luận bảo hiểm thương mại bảo HIỂM NÔNG NGHIỆP
Hình th ức (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w