1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh hoạt động đầu tư của DNBH phi nhân thọ và DNBH nhân thọ

12 251 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 95,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Mang đặc điểm của các trung gian tài chính nên vốn đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm đều được huy động từ các nguồn: + Vốn điều lệ: Các DNBH có vốn điều lệ tương đối lớn, thường phải ký

Trang 1

Họ và tên: Hoàng Hải Hà

Khoa: Bảo hiểm

Mã SV: CQ493982

BÀI KIỂM TRA MÔN: QUẢN TRỊ KINH DOANH BẢO HIỂM.

Câu 1: So sánh hoạt động đầu tư của DNBH phi nhân thọ và DNBH nhân thọ?

1) Giống nhau:

- Đều dùng dòng tiền nhàn rỗi lấy từ quỹ tài chính thu từ phí bảo hiểm để đem

đi đầu tư

- Ngoài những nghiệp vụ chính, các DNBH tham gia các hoạt động đầu tư đều

vì muốn theo đuổi mục đích:

- Cạnh tranh: Tỷ suất lợi nhuận cao giúp DNBH giảm phí bảo hiểm →Giành khách hàng từ các đối thủ cạnh tranh

+ Giảm giá sản phẩm, mở rộng phạm vi trách nhiệm hay tăng quyền lợi cho khách hàng

+ Bù đắp sự mất giá của đồng tiền, bảo toàn quỹ tài chính bảo hiểm trước rủi ro lạm phát

+ Mở rộng quy mô doanh nghiệp, tăng cổ tức cho cổ đông, tăng quỹ khen thưởng phúc lợi và thu nhập cho người lao động

+ Khuyếch trương quảng cáo, tạo thêm khách hàng…

- Hoạt động đầu tư của các DNBH đều phải tuân thủ các nguyên tắc:

+ Nguyên tắc an toàn

+ Nguyên tắc sinh lời

+ Nguyên tắc đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên

Trang 2

- Mang đặc điểm của các trung gian tài chính nên vốn đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm đều được huy động từ các nguồn:

+ Vốn điều lệ: Các DNBH có vốn điều lệ tương đối lớn, thường phải ký quỹ 2% vốn pháp định, phần còn lại đem đầu tư để sinh lời Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng không phải là lớn nhất xong nó là vốn tự có không phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ của pháp luật nên các DNBH có điều kiện đầu tư vào những lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận cao

+ Quỹ đầu tư bắt buộc và quỹ dự trữ tự nguyện: Là nguồn vốn đầu tư chiếm tỷ lệ nhỏ

+Các khoản lãi của những năm trước chưa sử dụng

+ Nguồn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm: Luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn đầu tư của DNBH – Nhưng nguồn vốn này chịu sự kiểm soát chặt chẽ của pháp luật

- Trong hoạt động đầu tư của mình các DNBH đều phải chịu tác động của nhân

tố bên trong và nhân tố bên ngoài:

+ Cả DNBH nhân thọ và phi nhân thọ đều có 2 loại nghĩa vụ tài chính chủ yếu là: Trách nhiệm với người tham gia bảo hiểm và trách nhiệm đối với cổ đông

→ ảnh hưởng đến chính sách lựa chọn danh mục đầu tư và số lượng vốn đầu tư vào từng danh mục

+ Cả DNBH nhân thọ hay phi nhân thọ, khi tham gia đầu tư cũng cần chú

ý tới quy mô của doanh nghiệp mình Quy mô doanh nghiệp lớn hay nhỏ sẽ có hành vi đầu tư khác nhau

+ Thái độ đầu tư có thận trọng hay không không phụ thuộc vào việc đó là DNBH nhân thọ hay phi nhân thọ mà quyết định đầu tư cuối cùng là do người chịu trách nhiệm quản lý hoạt động đầu tư quyết định

Trang 3

+ Hoạt động đầu tư của DNBH nào cũng chịu tác động của các nhân tố: Môi trường pháp lý, môi trường kinh tế xã hội, môi trường chính trị, môi trường kinh tế quốc tế

- Danh mục đầu tư của các DNBH đều bị hạn chế trong sự quản lý của nhà nước

- Việc tổ chức hoạt động đầu tư của các DNBH như thế nào đều phụ thuộc vào

3 nhân tố chủ yếu: Quy mô của doanh nghiệp, tính chất của nghiệp vụ bảo hiểm

và quy định pháp luật nơi DNBH hoạt động

- Việc đánh giá hoạt động đầu tư của DNBH phải dựa trên nhiều chỉ tiêu khác nhau để có được những nhìn nhận đúng đắn từ đó có phương án đầu tư chính xác

2) Khác nhau:

1 Nghĩa vụ tài

chính đối với

người tham gia

bảo hiểm

- Dự báo về mức thanh toán khiếu nại trong tương lai thường không chắc chắn kể

cả dự đoán về thời gian khiếu nại lẫn số tiền phải trả nên nghĩa vụ tài chính với người tham gia bảo hiểm có thể phát sinh bất ngờ Để đối phó với tình trạng mức khiếu nại tăng cao một cách bất thường và thanh toán các khiếu nại trong thời gian ngắn, DNBH phi nhân thọ phải đầu tư một tỷ lệ đáng kể vào những tài sản có tính thanh khoản cao để đảm bảo chi trả Tài sản đầu tư có đặc điểm:

+ Không bị biến động về giá trong thời gian ngắn, từ đó làm giảm rủi ro đầu tư

- Nghĩa vụ tài chính với người tham gia bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ có thời hạn dài hơn, giới hạn thời gian cho việc đầu tư các quỹ của người tham gia bảo hiểm nhân thọ dài hơn nhiều so với quỹ của người tham gia bảo hiểm phi nhân thọ Luồng tiền thu vào từ phí bảo hiểm cũng tương đối

ổn định do phí đã được tính trước và thường được thu định kỳ Việc trả tiền bảo hiểm và khoản chi khác cũng có thể được tính toán khá chính xác, tạo điều kiện cho các DNBH nhân thọ yên tâm, không phải lo lắng

Trang 4

+ Tồn tại một thị trường để

có thể chuyển đổi tài sản đó thành tiền mặt nhanh chóng khi phải bán gấp

quá nhiều về tính thanh khoản của các tài sản trong danh mục đầu tư của họ

2.Nghĩa vụ tài

chính đối với cổ

đông

- Vốn chủ sở hữu thuộc sở hữu của các cổ đông nên việc đầu tư từ nguồn vốn này ít bị hạn chế hơn so với đầu tư quỹ của người được bảo hiểm Ở mức độ nào đó các DNBH cũng quan tâm đến rủi ro thanh khoản của các tài sản đầu tư mà doanh nghiệp nắm giữ nhưng ít lo ngại có rủi ro hơn Vốn chủ sở hữu được dùng để phục vụ mục tiêu tài trợ cho việc phát triển kinh doanh lâu dài Vì vậy nguồn vốn đó được ưu tiên sử dụng

để đầu tư vào các tìa sản có khả năng thu lợi nhuận cao, đặc biệt giá trị của vốn chủ sở hữu tăng lên theo thời gian, hay ít nhất cũng theo kịp với tốc độ tăng trưởng kinh doanh

- Vốn chủ sở hữu của DNBH nhân thọ thuộc sở hữu của các cổ đông và những người tham gia bảo hiểm được quyền chia lãi Trong một doanh nghiệp bảo hiểm tương hỗ, số vốn này hoàn toàn thuộc quyền

sở hữu của những người tham gia bảo hiểm được quyền chia lãi →Tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu và quỹ của người được bảo hiểm tương đối nhỏ, do đó những người quản lý quỹ rất lo ngại có rủi ro.Vì vậy họ sẽ thận trọng hơn trong chính sách đầu tư của mình

3 Đặc điểm của

hoạt động đầu tư

- Quy mô quỹ nhỏ hơn, thời gian bồi thường không dự đoán chắc chắn được →Việc lựa chọn đầu tư rất hạn chế, thường đầu tư vào các loại chứng khoán ngắn hạn

- Quỹ bảo hiểm được hình thành từ phí bảo hiểm không mang tính chất tiết kiệm nên

ít chịu sự kiểm soát đầu tư ra nước ngoài hơn →Các

- Do tính chất dài hạn của các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và nhu cầu chi trả

có thể dự đoán khá chính xác, nguồn quỹ tiền mặt lớn nên quỹ bảo hiểm nhân thọ thường được đầu tư vào các loại chứng khoán dài hạn, ít nhu cầu về đầu tư chứng khoán ngắn hạn

- Quỹ bảo hiểm được hình thành từ phí bảo hiểm mang tính chất tiết kiệm, chiu sự kiểm soát đầu tư ra nước ngoài →Khó khăn

Trang 5

DNBH phi nhân thọ có xu hướng đầu tư ra nước ngoài

để tìm kiếm lợi nhuận cao

- Các khoản chi của quỹ bảo hiểm khó dự đoán được chắc chắn, có thể là rất lớn nếu rủi

ro xảy ra mang tính chất thảm họa → Đầu tư ngắn hạn có tính thanh khoản cao

trong việc tìm cách đầu tư

ra nước ngoài

- Các khoản chi có thể được dự đoán chính xác → Quỹ được đầu tư vào các khoản đầu tư dài hạn

4.Chính sách

phân phối lợi

nhuận ảnh hưởng

đến hoạt động

đầu tư của

DNBH

- Nhân tố này không ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của DNBH phi nhân thọ

- Khi ký kết các hợp đồng bảo hiểm có cam kết chia lãi, phân phối lợi nhuận cho người tham gia bảo hiểm dưới hình thức chia lãi hàng năm bằng tiền mặt

→NBH nhân thọ sẽ chú trọng hơn vào mức thu nhập ngắn hạn từ việc đầu

tư Còn ngược lại, DNBH nhân thọ sẽ tập trung đầu tư vào các khoản đầu tư dài hạn

5.Giới hạn đầu tư - Mua cổ phiếu, trái phiếu

doanh nghiệp không có bảo lãnh, góp vốn vào doanh nghiệp khác tối đa là 35%

vốn nhàn rỗi tự dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm

- Kinh doanh bất động sản, cho vay, ủy thác đầu tư qua các tổ chức tài chính tín dụng tối đa 20% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm

- Mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp không có bảo lãnh, góp vốn vào doanh nghiệp khác tối đa là 50% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm

- Kinh doanh bất động sản, cho vay, ủy thác đầu tư qua các tổ chức tài chính tín dụng tối đa 40% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm

6.Danh mục đầu

- Danh mục các khoản đầu tư dài hạn rất hạn chế

- Đầu tư vào danh mục có thời hạn ngắn và tính thanh

- Dạnh mục đầu tư dài hạn của các công ty bảo hiểm nhân thọ lớn hơn nhiều so với các DNBH phi nhân thọ

- Đầu tư vào các danh mục

có thời hạn dài, tính thanh

Trang 6

khoản cao như trái phiếu, gửi tiến ngân hàng, cho vay

khoản thấp như bất động sản, cho vay thế chấp, cổ phiếu

7.Đánh giá hiệu

quả đầu tư

- Việc đánh giá hiệu quả đầu

tư đơn giản hơn

- Phương pháp đánh giá hiệu quả đầu tư là phương pháp giá trị hiện tại dòng Giá trị hiện tại dòng:

=

=

− +

n

i n

i

i

r

C

T

0 (1 ) ( 1 )

• Nếu NPV≥0: Danh mục

đầu tư lãi→DNBH có thể xem xét danh mục đầu tư nào

có NPV lớn hơn có thể ưu tiên để xem xét tiếp tục đầu tư

• Nếu NPV<0: Danh mục đầu tư lỗ, cần phải được xem xét lại

- Việc đánh giá hiệu quả đầu tư là phức tạp và khắt khe hơn nhiều so với BH phi nhân thọ

- Đánh giá hiệu quả đầu tư phải đưa chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận lên hàng đầu, không chỉ đơn giản là đầu tư có lời mà còn phải đảm bảo tỷ suất lợi nhuận đầu tư thu được phải lớn hơn lãi suất

kỹ thuật dùng để tính phí

Câu 2: Tìm hiểu hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm trên thị trường Việt Nam.

Trong nền kinh tế, các trung gian tài chính bảo hiểm là một kênh huy động vốn đầu tư không thể thiếu và đầy tiềm năng Bảo hiểm dài hạn vừa là nguồn bổ sung vốn đầu tư phát triển, vừa là biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia, đảm bảo và ổn định đời sống kinh tế - xã hội ở mỗi nước Thị trường bảo hiểm bùng nổ, vấn đề đầu tư tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm đã và đang trở thành vấn đề sống còn

Trang 7

Cách đây khoảng 5 năm, các DN bảo hiểm Việt Nam thường bị Vụ Quản

lý bảo hiểm (nay là Cục Quản lý và giám sát bảo hiểm) nhận xét là không quan tâm đến công tác đầu tư vốn, mà chủ yếu chỉ gửi ngân hàng lấy lãi Sở dĩ có hiện tượng này vì khi đó số lượng các DN bảo hiểm còn ít, sự cạnh tranh trên thị trường chưa khốc liệt, việc làm ăn của các DN này tương đối "dễ thở" nên họ chưa chú ý nhiều đến đầu tư Mặt khác, do chưa có nhiều kinh nghiệm đầu tư và

để đảm bảo an toàn vốn nên danh mục đầu tư của các DN bảo hiểm chủ yếu là gửi tiết kiệm và mua trái phiếu chính phủ Việc cho vay, nếu có, thì chủ yếu dành cho các khách hàng lớn của DN

Theo số liệu từ Hiệp hội Kinh doanh bảo hiểm Việt Nam, năm 2008 có đến 17/26 DN bảo hiểm phi nhân thọ có kết quả kinh doanh lỗ, dù lĩnh vực này đạt doanh thu 10.879 tỷ đồng, tăng 30,13% - cao nhất trong 6 năm qua, vượt chỉ tiêu chiến lược phát triển đề ra đến năm 2010 là 20,8% Nguyên nhân có thể kể đến như: đội ngũ cán bộ còn thiếu chuyên nghiệp; công nghệ quản lý chưa đáp ứng được nhu cầu tăng trưởng về doanh thu, số lượng hợp đồng bảo hiểm; khai thác bảo hiểm chưa quan tâm tới đánh giá rủi ro để định phí bảo hiểm, tạo ra sự cạnh tranh gay gắt bằng cách hạ phí bảo hiểm, mở rộng điều khoản bảo hiểm một cách phi kỹ thuật… Tuy nhiên, các DN vẫn hạch toán có lãi, phần lớn được

bù đắp bởi hoạt động tài chính Năm 2008, TTCK sụt giảm nên doanh thu từ hoạt động tài chính của các DN bảo hiểm chủ yếu vẫn là tiền gửi tiết kiệm

Dưới áp lực cạnh tranh ngày càng cao, phí bảo hiểm giảm, trong khi chi phí bồi thường có xu hướng tăng, rất ít doanh nghiệp có lời từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm Đầu tư tài chính hiệu quả giúp doanh nghiệp bảo hiểm bảo toàn quỹ tài chính bảo hiểm, góp phần nâng cao tiềm lực tài chính và đứng vững trong cạnh tranh Thêm nữa, thu nhập từ đầu tư tài chính còn là nguồn để doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện các cam kết với khách hàng, nâng cao tính hấp dẫn của các sản phẩm bảo hiểm Hoạt động đầu tư trở thành nguồn thu chính cho hầu

Trang 8

hết doanh nghiệp bảo hiểm Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia ngành tài chính, danh mục đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm hiện nay còn hạn chế, chỉ tập trung vào một vài sản phẩm tài chính nhất định Trên thế giới, các công ty bảo hiểm lớn coi đầu tư tài chính là hoạt động mang lại thu nhập chính và luôn được coi trọng

Thống kê sơ bộ cho thấy, hiện tại, khoảng 60% tổng giá trị danh mục được các doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư vào trái phiếu, 22% dưới dạng tiền gửi, phần còn lại đầu tư vào thị trường vốn, bất động sản và một số lĩnh vực khác

Thống kê của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam cho thấy, tính đến hết quý III/2009, trong số 11 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ chỉ có Bảo Việt và Manulife Việt Nam, ngoài việc đầu tư vào trái phiếu hay gửi tiền tại ngân hàng như những doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ khác, là có hoạt động đầu tư góp vốn vào doanh nghiệp khác hoặc kinh doanh bất động sản

Trong đó tập đoàn Bảo Việt đạt doanh thu hợp nhất 4.055 tỷ đồng, bằng 41,7% kế hoạch năm, nhưng lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 842 tỷ đồng, bằng 108,6% kế hoạch năm Lợi nhuận đạt cao, bên cạnh kết quả tăng trưởng nhanh doanh thu và tiết kiệm chi phí trong những tháng đầu năm, phải kể đến việc hoàn nhập dự phòng giảm giá chứng khoán khi TTCK hồi phục mạnh so với đầu năm

Thực tế, quá trình mở cửa thị trường bảo hiểm đã kích thích các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước mở rộng kinh doanh để nâng cao năng lực cạnh tranh, từ đó đầu tư trở lại cho nền kinh tế nhiều hơn Theo số liệu thống kê của

Bộ Tài chính, đến cuối năm 2008, ngành bảo hiểm đã đầu tư trở lại nền kinh tế khoảng 57.000 tỷ đồng, tăng hơn 10.000 tỷ đồng so với năm 2007 Năm 2009, thị trường bảo hiểm tiếp tục có mức tăng trưởng ổn định và dự tính đóng góp vào tăng trưởng chung của nền kinh tế với tỷ trọng doanh thu/GDP khoảng 2,3% Ngành bảo hiểm cũng đã huy động đầu tư trở lại nền kinh tế khoảng 69.000 tỷ đồng, tăng xấp xỉ 12.000 tỷ đồng so với năm 2008 Nguồn vốn đầu tư này không

Trang 9

chỉ góp phần phát triển kinh tế - xã hội, mà còn giúp nguồn bảo tức của khách hàng mua bảo hiểm được cao hơn Tuy nhiên, doanh thu từ hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm dù tăng nhưng vẫn còn khá khiêm tốn so với tiềm năng Năm 2009, doanh thu hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm ước đạt 6.016 tỷ đồng, tăng 17% so với năm 2008; trong đó, doanh thu của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ là 1.350 tỷ đồng, của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ là 4.666 tỷ đồng

Năm 2010, tổng doanh thu phí bảo hiểm 6 tháng đầu năm 2010 đạt 14.042

tỷ đồng (tăng 17,8% so với cùng kỳ năm 2009) Tong đó doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ đạt 7.996 tỷ đồng (tăng gần 26%), doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ đạt khoảng 6.046 tỷ đồng (tăng 10%) Tổng doanh thu hoạt động đầu tư của các DNBH trong nửa đầu năm 2010 đạt 3.321 tỷ đồng Tổng số tiền bồi thường và trả tiền bảo hiểm của toàn thị trường trong 6 tháng đầu năm 2010 là 3.979 tỷ đồng

Ông Đỗ Minh Hoàng, quyền Tổng giám đốc CTCP Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp (ABIC) cho biết, hiện ABIC đang tập trung vào hai lĩnh vực chính

là kinh doanh bảo hiểm và đầu tư tài chính Trong tương lai, ABIC sẽ mở rộng đầu tư sang một số lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật Hiện tại, đầu tư tại ABIC đảm bảo tỷ lệ an toàn, cổ phiếu chiếm tỷ trọng khoảng 5% tổng nguồn vốn đầu tư, trái phiếu khoảng 12%, còn lại là gửi tiết kiệm và đầu tư bất động sản

Theo quy định tại Luật Kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ được phép đầu tư vốn vào các lĩnh vực: mua trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh, tiền gửi tại các tổ chức tín dụng không hạn chế; mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp không có bảo lãnh, góp vốn vào doanh nghiệp khác tối đa là 50% vốn nhàn rỗi tự dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm; kinh doanh bất động sản, cho vay, ủy thác đầu tư qua các tổ chức tài chính tín dụng tối đa 40% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm Còn đối với doanh

Trang 10

nghiệp BHPNT: Mua trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh, gửi tiền tại các tổ chức tín dụng không hạn chế; mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp không có bảo lãnh, góp vốn vào doanh nghiệp khác tối đa là 35% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm; kinh doanh bất động sản, cho vay, uỷ thác đầu tư qua các tổ chức tài chính tín dụng tối đa 20% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm Việc đầu tư vốn của doanh nghiệp bảo hiểm phải bảo đảm an toàn, hiệu quả và đáp ứng được yêu cầu chi trả thường xuyên cho các cam kết theo hợp đồng bảo hiểm Thống kê sơ bộ cho thấy, hiện tại, khoảng 60% tổng giá trị danh mục được các doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư vào trái phiếu, 22% dưới dạng tiền gửi, phần còn lại đầu tư vào thị trường vốn, bất động sản và một số lĩnh vực khác

Các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước có lợi nhuận từ hoạt động tài chính cao và tăng so với năm 2008 như: Bảo Việt (240 tỷ đồng, tăng 46% so với năm 2008), PVI (200,1 tỷ đồng, tăng 20,2% so với năm 2008), Bảo Minh (206 tỷ đồng, tương đương mức của năm 2008), AAA (78,6 tỷ đồng, gấp 5 lần so với 2008), BIC đạt 89,6 tỷ đồng, Bảo hiểm hàng không dù mới đi vào hoạt động nhưng lợi nhuận từ hoạt động tài chính đạt khá cao 66,2 tỷ đồng, Bảo hiểm Than

- Khoáng sản đạt 32,4 tỷ đồng, MSIG đạt 21,7 tỷ đồng, Furbon đạt 19,1 tỷ đồng

Riêng các doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh và 100% vốn nước ngoài, mức lợi nhuận từ hoạt động tài chính có phần kém hơn, giảm 12% so với năm

2008, đạt 153,4 tỷ đồng

Theo nhận xét của Cục Quản lý giám sát bảo hiểm, sở dĩ các doanh nghiệp trong nước đạt được hiệu quả đầu tư cao hơn bởi hình thức đầu tư đa dạng hơn, trong khi các doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu đầu tư dưới hình thức gửi tiền tại các tổ chức tín dụng (chiếm gần 90%)

Ngoài hình thức gửi tiền, các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước còn đầu

tư dưới nhiều hình thức như: cho vay và ủy thác đầu tư (chiếm 13,95%, có xu

Ngày đăng: 17/03/2016, 13:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w