Để có được kết quả đó bên cạnh sự vào cuộc của các cấp, các ngành, sự tham gia tích cực của người dân và các doanh nghiệp thì công tác khuyến lâm có vai trò hết sức quan trọng nó đóng va
Trang 1LƯƠNG VĂN HIỆP
“ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MỘT SỐ MÔ HÌNH
KHUYẾN LÂM TẠI TỈNH YÊN BÁI
GIAI ĐOẠN 2010-2014”
LUẬN VĂN THẠC SỸ LÂM NGHIỆP
Thái Nguyên - 2015
Trang 2LƯƠNG VĂN HIỆP
“ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MỘT SỐ MÔ HÌNH
KHUYẾN LÂM TẠI TỈNH YÊN BÁI
GIAI ĐOẠN 2010-2014”
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số ngành: 60.62.02.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ LÂM NGHIỆP
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS TS Lê Sỹ Trung
Thái Nguyên - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của Thầy giáo hướng dẫn, khoa chuyên môn, Ban giấm hiệu
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi đã thực hiện đề tài “Đánh giá hiệu
quả một số mô hình khuyến lâm tại tỉnh Yên Bái giai đoạn 2010-2014” Để hoàn
thành được luận văn này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình và những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, cô giáo, bạn bè
đồng nghiệp Nhân dịp này cho tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng
dẫn khoa học PGS.TS Lê Sỹ Trung đã tận tình giúp đỡ tôi trong cả quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, xin cảm ơn các thầy cô giáo và Ban giám hiệu Trường
Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá
trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo trung tâm khuyến nông lâm tỉnh Yên Bái, Trạm khuyến nông lâm huyện Văn Chấn, huyện Yên Bình, cán bộ và người dân các xã thuộc huyện Văn Chấn, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc điều tra, nghiên cứu, thu thập số liệu tại hiện trường và thừa kế các số liệu sẵn có để hoàn thành tốt luận văn
Vì điều kiện thời gian, nhân lực và những khó khăn khách quan nên bản luận văn này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo, bạn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân thành cảm ơn!
Thái nguyên tháng năm 2015
Tác giả
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 3
2.1.Mục tiêu tổng quát 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Ý nghĩa của đề tài 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở khoa học 4
1.2 Cơ sở pháp lý 4
1.3 Lịch sử nghiên cứu khuyến nông 5
1.3.1 Trên thế giới 5
1.3.2 Trong nước 10
1.4 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 20
1.4.1 Điều kiện địa lý tự nhiên 20
1.3.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 25
1.4.3 Đánh giá chung về điều kiện kinh tế xã hội của tỉnh 30
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đối tượng nghiên cứu 31
2.2 Giới hạn nghiên cứu 31
2.3 Nội dung nghiên cứu 31
2.3.1 Đánh giá kết quả xây dựng các mô hình khuyến lâm 31
2.3.2 Đánh giá về công tác tổ chức thực hiện xây dựng mô hình: tỉnh, huyện, xã 31
Trang 62.3.3 Đánh giá các mô hình khuyến lâm: Dự tính hiệu quả kinh tế, xã hội (nhận thức
của người dân; khả năng nhân rộng mô hình) 31
2.3.4 Phân tích thuận lợi khó khăn, cơ hội và thách thức trong xây dựng mô hình 31
2.3.5 Đề xuất các giải pháp phát triển các mô hình khuyến lâm cho khu vực nghiên cứu 32
2.4 Phương pháp nghiên cứu 32
2.4.1 Quan điểm và cách tiếp cận của đề tài 32
2.4.2 Phương hướng giải quyết vấn đề của đề tài 32
2.4.3 Phương pháp nghiên cứu chung 34
2.4.4.Công tác nội nghiệp 36
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 38
3.1 Kết quả đánh giá các mô hình khuyến lâm tại tỉnh Yên Bái đã được triển khai 38
3.2 Kết quả đánh giá về công tác tổ chức, thực hiện xây dựng mô hình và các biện pháp kỹ thuật áp dụng 42
3.2.1 Tổ chức triển khai xây dựng và quản lý mô hình khuyến lâm 42
3.2.2 Đánh giá kết quả chuyển giao 54
3.3 Đánh giá tác động của mô hình 57
3.3.1 Tác động về kinh tế 57
3.3.2 Tác động về xã hội 60
3.3.3 Đánh giá tác động của mô hình khuyến lâm đến phát triển kinh tế - xã hội 64
3.4 Phân tích thuận lợi, khó khăn trong xây dựng các mô hình khuyến lâm 65
3.4.1 Thuận lợi 65
3.4.2 Khó khăn 67
3.5 Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác xây dựngmô hình khuyến lâm và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong lâm nghiệp, làm cơ sở nhân rộng 70
3.5.1 Giải pháp về tổ chức thực hiện xây dựng mô hình khuyến lâm 71
3.5.2 Giải pháp về hoàn thiện tổ chức bộ máy khuyến nông 75
3.5.3 Giải pháp về phát triển nguồn lực 76
Trang 73.5.4 Giải pháp về kỹ thuật 77
3.5.5 Giải pháp về chính sách 77
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 830
1 Kết luận 79
2 Kiến nghị 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Tiếng Việt 83
Tiếng Anh 85
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Thông tin về đối tượng điều tra đánh giá 41
Bảng 3.2 Định mức triển khai xây dựng mô hình 44
Bảng 3.3: Một số yêu cầu kỹ thuật đối với cây trong mô hình khuyến lâm 51
Bảng 3.4: Kết quả xây dựng mô hình 54
Bảng 3.5 Kết quả điều tra các chỉ tiêu sinh trưởng 55
Bảng 3.6 Tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của
ha rừng trồng trong một chu kỳ kinh doanh 7 năm 58
Bảng 3.7: Nhận thức của người dân khi có mô hình khuyến lâm 60
Bảng 3.8 Kết quả về triển khai, nhân rộng mô hình khuyến lâm 62
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Sơ đồ phương hướng giải quyết vấn đề của đề tài 33
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Yên Bái là một tỉnh miền núi, phía Tây Bắc của tổ quốc với tổng diện tích tự nhiên là 688.627,64 ha, bằng 2% diện tích tự nhiên của cả nước và băng 10,4% diện tích vùng Đông Bắc, xếp thứ 8 so với 11 tỉnh thược vùng núi phía bắc.; trong
đó diện tích rừng và đất rừng chiếm tới 60,2% (414.565,1 ha) Do đó rừng Yên Bái
chiếm một vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế của tỉnh, ngoài chức năng phòng hộ đầu nguồn tạo nguồn sinh thủy cung cấp nước cho sản xuất và đời sống, bảo tồn đa dạng sinh học, phòng hộ môi trường, giữ đất, giữ nước điều hòa khí hậu hạn chế thiên tai, làm đẹp cảnh quan mà rừng còn cung cấp một lượng gỗ lớn cho ngành lâm sản, nguyên liệu giấy, công nghệ ván dăm và nhiều lâm đặc sản
có giá trị kinh tế khác và là một nhân tố không thể thiếu trong việc phát triển kinh tế
xã hội của tỉnh Đựơc sự quan tâm chỉ đạo của chính phủ, các Bộ , ngành Trung
Ương cũng như sự quan tâm của tỉnh ủy, UBND tỉnh, sự cố gắng của các cấp chính
quyền địa phương, sự tham gia tích cực của các Doanh nghiệp và người dân sống trên địa bàn, tranh thủ mọi nguồn lực để xây dựng và phát triển rừng Từ năm 2009-
2013 bằng nhiều nguồn vốn khác nhau từ các chương trình mục tiêu Quốc gia, từ nguồn ngân sách địa phương; Vốn tự có, vốn ODA, vốn hỗ trợ phát triển sản xuất của tỉnh, hỗ trợ từ nguồn Dự án 661, vốn hỗ trợ xây dựng các mô hình khuyến lâm
và hiện nay là QĐ số 57/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về kế hoạch bảo vệ phát triển rừng 2011 -2020… Yên Bái đã trồng mới được 177.727,6 ha rừng góp phần nâng độ che phủ của rừng trong toàn tỉnh từ 32,3% năm 1992 lên 52,% năm
2010 và 56,2 % năm 2013
Để có được kết quả đó bên cạnh sự vào cuộc của các cấp, các ngành, sự tham
gia tích cực của người dân và các doanh nghiệp thì công tác khuyến lâm có vai trò hết sức quan trọng nó đóng vai trò là cầu nối giữa 4 nhà; nhà nông, nhà nước, nhà khoa học và nhà sản xuất đồng thời thông qua các mô hình khuyến lâm người dân
có điều kiện giao lưu học hỏi những cách làm hay, những mô hình sản xuất tiêu
Trang 12biểu, nắm bắt những kiến thức khoa học kỹ thuật mới, giống mới áp dụng vào thực
tế sản xuất
Mục tiêu của các mô hình khuyến lâm là “Tạo điều kiện cho nông dân trong
tỉnh học tập và làm theo những mô hình sản xuất tiêu biểu, tiếp cận được những kiến thức khoa học mới, các giống cây trồng sinh trường phát triển nhanh, kháng bệnh để quản lý bền vững nguồn tài nguyên rừng để bảo vệ nguồn nước và đất cũng như cải thiện được nguồn thu nhập cho hộ gia đình” Trong 5 năm qua các chương
trình khuyến lâm đã có những hoạt động khá phong phú, phù hợp với mục tiêu đề ra
và bước đầu đã giúp cho bà con nông dân trong tỉnh nâng cao được hiểu biết về môi trường, kỹ thuật canh tác, ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật và nâng cao được thu nhập thông qua việc trực tiếp tham gia xây dựng và phát triển rừng
Hoạt động của các mô hình khuyến lâm đã tập trung giải quyết những vấn
đề cơ bản và mấu chốt nhất của ngành Lâm nghiệp hiện nay, của vùng nông thôn
miền núi phía Tây Bắc nước ta nói chung và tỉnh Yên Bái nói riêng, đó là bảo vệ, nâng cao chất lượng của rừng tự nhiên, trồng rừng mới để phủ xanh đất trống đồi núi trọc và xây dựng các mô hình nông lâm kết hợp Đặc biệt là các mô hình khuyến lâm đã thiết lập được hệ thống các mô hình lâm sinh ở nhiều thôn bản nhằm trình diễn kỹ thuật để người dân học tập, làm theo và hàng loạt các thử nghiệm về trồng cây nguyên liệu, cây đặc sản, cây bản địa có giá trị kinh tế cao với nhiều phương thức kỹ thuật khác nhau để từ đó lựa chọn các loài cây trồng, phương thức
kỹ thuật phù hợp cho các tiểu vùng sinh thái Bước đầu các hoạt động này cũng đã mang lại những kết quả rõ nét, đáp ứng được phần nào nguyện vọng của người dân trong tỉnh Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn nhiều vấn đề tồn tại cần được bổ sung, rút kinh nghiệm như lựa chọn lập địa trồng rừng, kỹ thuật lâm sinh áp dụng, quy mô các mô hình,…
Để có những nhận xét, đánh giá đầy đủ về các kết quả xây dựng các mô hình
khuyến lâm trong 5 năm qua 2010-2014, nhằm rút ra được những bài học kinh nghiệm lựa chọn các mô hình có triển vọng ứng dụng cho phát triển lâm nghiệp nói chung và các mô hình khuyến lâm nói riêng trong thời gian tới trên địa bàn toàn
Trang 13tỉnh, cần thiết phải đánh giá lại các mô hình khuyến lâm một cách toàn diện và có
hệ thống Xuất phát từ yêu cầu đó, đề tài: “Đánh giá hiệu quả một số mô hình
khuyến lâm tại tỉnh Yên Bái giai đoạn 2010- 2014” là hết sức cần thiết
2 Mục tiêu của đề tài
2.1.Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở phân tích, đánh giá các mô hình khuyến lâm ở các địa phương, góp phần lựa chọn các mô hình hiệu quả, phương pháp chuyển giao tốt để nhân rộng cho người dân và giúp cho các nhà quản lý hoạch định chính sách phù hợp cho chương trình xây dựng mô hình khuyến lâm
2.2 Mục tiêu cụ thể
Đánh giá được các mô hình khuyến lâm tại tỉnh Yên Bái giai đoạn
2009-2013 về các mặt khối lượng công việc thực hiện, kỹ thuật áp dụng, tình hình sinh trưởng cây trồng và hiệu quả kinh tế, xã hội
3 Ý nghĩa của đề tài
- Lựa chọn và đề xuất được các mô hình, loài cây và kỹ thuật có triển vọng cho việc phát triển mở rộng tại khu vực nghiên cứu
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học
Khuyến lâm là công tác chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ
ra thực tế, do vậy công tác khuyến lâm thường gắn liền với công tác nghiên cứu khoa học và đào tạo, khoa học kỹ thuật lâm nghiệp cùng với các ngành khoa học khác đang được phát triển mạnh mẽ trong và ngoài nước như: công nghệ sinh học trong công tác giống, phương thức phối kết hợp, trồng rừng thâm canh, trồng rừng lâm sản ngoài gỗ… hiệu quả kinh tế, môi trường được nghiên cứu thử nghiệm
Đánh giá một cách đầy đủ ở các vùng sinh thái khác nhau, vấn đề đặt ra là làm thế
nào để có sự phối kết hợp hài hoà phát huy hiệu quả, kiến thức khoa học kỹ thuật lâm nghiệp tiên tiến với kiến thức bản địa của người dân
Kinh doanh lâm nghiệp từ đời này qua đời khác đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý giá trong việc lựa chọn cây trồng, phương thức trồng và kỹ thuật trồng những kinh nghiệm đó cần được tổng kết, đánh giá, hoàn thiện và phát triển
1.2 Cơ sở pháp lý
Chiến lược phát triển lâm nghiệp việt nam giai đoạn 2006-2020 đã được thủ tướng chính phủ phê duyệt ngày 5/2/2007, chương trình nghiên cứu, giáo dục, đào tạo và khuyến lâm là một trong 5 chương trình để hoàn thành mục tiêu và nhiệm vụ
đến năm 2020
Đề án phát triển khuyến lâm giai đoạn 2008-2010 và định hướng đến năm
2020 đã được bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn phê duyệt tại quyết định số 832/QĐ-BNN-KHCN ngày 17/3/2008
Quyết định số 100/2007/ QĐ - TTg ngày 6/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ
về sửa đổi bổ sung một số điều của quyết định 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 của thủ tướng chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng
Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg ngày 10/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển rừng sản xuất, đều đề cập đến phát triển khuyến lâm Ngày
Trang 1526 tháng 4 năm 2005 thủ tướng chính phủ ban hành nghị định số 56/2005/NĐ - CP nghị định của chính phủ về khuyến nông, khuyến ngư
Ngày 10/10/2005 ban hành thông tư số 60/ TT- BNN về việc hướng dẫn thực hiện một số nội dung của nghị định số 56/2005/ NĐ-CP
Ngày 6/4/2006 ban hành thông tư liên tịch số 30/2006/ TTLT - BTC - BNN
&PTNT - BTS, ngày 21/5/2007 ban hành thông tư 50/TTLT về việc hướng dẫn sử dụng kinh phí sự nghiệp đối với hoạt động khuyến nông, khuyến ngư
1.3 Lịch sử nghiên cứu khuyến nông
1.3.1 Trên thế giới
* Mỹ (1914)
- Một trong những điều kiện hoạt động khuyến nông là cần có nguồn kinh phí tài trợ giúp đỡ nông dân Mỹ là một trong những nước hoạt động khuyến nông của Nhà nước khá sớm
- Năm 1843, Sớm nhất ở NewYork nhà nước cấp nguồn kinh phí khá lớn cho phép UBNN bang thuê tuyển những nhà khoa học nông nghiệp có năng lực thực hành tốt làm giảng viên khuyến nông xuống các thôn xã đào tạo những kiến thức về khoa học và thực hành nông nghiệp cho nông dân
- Năm 1853, Edward Hitchcoch, là chủ tịch trường đại học Amherst và là thành viên của UBNN bang Massachuisetts đã có nhiều công lao đào tạo khuyến nông cho nông dân và học sinh, sinh viên Ông cũng là người sáng lập ra Hội nông dân và Học viện nông dân
- Từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước Nhà nước đã quan tâm đến công tác đào tạo khuyến nông trong trường đại học Năm 1891 bang NewYork đã hỗ trợ 10.000 USD cho công tác đào tạo khuyến nông đại học Những năm sau đó nhiều nhiều trường đại học như Đại học Chicago, Đại học Wicosin …cũng đưa khuyến nông vào chương trình đào tạo Bộ thương mại cũng như ngân hàng và nhiều công
ty công, nông, thương nghiệp tài trợ cho các hoạt động khuyến nông Đến năm 1907
ở Mỹ đã có 42 trường / 39 bang có đào tạo khuyến nông Năm 1910 có 35 trường có
bộ môn khuyến nông
Trang 16-Năm 1914, Mỹ ban hành đạo luật khuyến nông và thành lập Hệ thống khuyến nông quốc gia Giai đạn này đã có 8861 Hội nông dân, với khoảng 3.050.150 hội viên
- Mỹ là quốc gia có 6% dân sống bằng nghề nông nghiệp nhưng nền nông nghiệp Mỹ được xếp vào nhóm những nước nông nghiệp phát triển Nhiều sản phẩm nông nghiệp của Mỹ chiếm lĩnh thị trường thế giới như ngô, đậu tương
…(Sản lượng đậu tương năm1985 đạt 55 triệu tấn, năm 2001 đạt 70 triệu tấn, tăng 15 triệu tấn /6 năm, xuất khẩu lớn nhất TG: 16,9 triệu tấn/năm, đạt khoảng 54
% lượng đậu tương xuất khẩu của thế giới Ngô 2000-2001 đạt 335 triệu tấn, xuất khẩu 70 triệu tấn = 69 % TG )
* Ấn Độ (1960)
-Hệ thống khuyến nông Ấn Độ được thành lập tương đối sớm vào năm
1960 Vào thời điểm này tình hình sản xuất nông nghiệp nói chung, lương thực nói riêng của Ấn Độ đang là vấn đề rất bức xúc Ấn Độ là quốc gia đông dân thứ
2 trên thế giới, sau Trung quốc, (vào thời điểm này dân số Ấn Độ có khoảng 400 triệu, Trung Quốc có khoảng 600 triệu) Nền nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, lương thực thiếu thốn, dân thiếu ăn và thường xuyên có những người dân chết do
đói ăn.Trước thực trạng này Chính phủ Ấn Độ có chủ trương quyết tâm giải quyết
vấn đề lương thực Sự ra đời của hệ thống khuyến nông Ấn Độ lúc này là cần thiết
và tất yếu
- Sự thành công của nông nghiệp Ấn Độ những năm sau đó có vai trò
đóng góp đáng kể của khuyến nông Đã nói đến nông nghiệp Ấn Độ phải nói tới
thành tựu 3 cuộc cách mạng:
- Cách mạng xanh: Đây là cuộc cách mạng tiêu biểu nhất Đã nói đến nông nghiệp Ấn Độ phải nói đến cuộc cách mạng xanh; đã nói đến cách mạng xanh phải nói đến nông nghiệp Ấn Độ Thực chất của cuộc cách mạng xanh là cuộc cách mạng về giống cây trồng nói chung, và đặc biệt là cách mạng về giống cây lương thực: lúa nước, lúa cạn, lúa mỳ, ngô khoai … Hàng loạt các giống lúa thấp cây, năng suất cao ra đời … đã làm tăng vọt năng suất và sản lương lương thực của quốc
Trang 17gia này
- Cách mạng trắng: Là cuộc cách mạng sản xuất sữa bò, sữa trâu …Nơi nơi trên đất Ấn Độ đều có nhà máy sữa Khuyến nông có vai trò cực kỳ quan trọng như vấn đề giải quyết đầu vào: vốn sản xuất, giống trâu, bò, kỹ thuật chăn nuôi và giải quyết đầu ra: thu gom tiêu thụ sản phẩm, chế biến sản phẩm sữa
- Cách mạng nâu: Sau cuộc cách mạng trắng tiếp đến cuộc cách mạng nâu
Đó là cuộc cách mạng sản xuất thịt xuất khẩu
* Thái Lan (1967)
Thái Lan là quốc gia nông nghiệp với trên 60% dân số sống bằng nghề nông nghiệp Điều kiện đất đai, khí hậu nóng ẩm gần tương đồng Việt nam Thái Lan là quốc gia hoạt động khuyến nông cũng khá tiêu biểu Hệ thống khuyến nông nhà nước được thành lập năm 1967 Về mặt thành tựu của khuyến nông Thái Lan thể hiện ở mấy điểm sau:
- Hàng năm nguồn vốn cho khuyến nông khá lớn khoảng 120-150-và thậm chí 200 triệu USD Lượng kinh phí này gấp hơn 20 lần kinh phí khuyến nông hàng năm của nước ta
- Nhiều năm nay Thái Lan là quốc gia đứng hàng thứ nhất xuất khẩu lương thực trên thế giới(xuất khẩu khoảng 7 triệu tấn gạo/năm)
- Hiện nay Thái Lan rất coi trọng chất lượng giống cây trồng, sản xuất rau quả an toàn, phát triển nuôi trồng thủy sản v.v
Trang 18nông nghiệp, gia tăng năng suất, cải thiện tổ chức nông thôn và sinh hoạt nông dân, phổ biến tri thức về khoa học nông nghiệp, thành lập các HTX nông dân sản xuất và tiêu thụ”
- Năm1933, Trường đại học Kim Lăng (Nay là trường Đại học tổng hợp Nam Kinh) có khoa khuyến nông
- Trung Quốc tổ chức HTX và Công xã nhân dân từ 1951 - 1978 nên giai
đoạn này công tác khuyến nông chỉ triển khai đến HTX Nội dung khuyến nông
giai đoạn này coi trọng phổ biến đường lối chủ trương nông nghiệp của Đảng và Chính phủ cũng như chuyển giao TBKT nông nghiệp, xây dưng các mô hình điểm trình diễn đến thăm quan học tập và áp dụng
- Sau 1978 tổ chức sản xuất nông nghiệp Trung Quốc có thay đổi theo hướng phát triển kinh tế nông hộ song song với kinh tế tập thể quốc doanh
- Năm 1991, thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông thôn, NQ của BCH TW Đảng khóa VIII rất coi trọng khoa học công nghệ nông nghiệp và giáo dục khuyến nông; xây dựng khu sản xuất trình diễn; đưa cán bộ nông nghiệp xuống nông thôn, thực hiện thực tế sản xuất nông nghiệp…
Có thể nói những năm gần đây nông nghiệp Trung Quốc khá phát triển Hiện nay Trung Quốc có 3 mũi nhọn về nông nghiệp được thế giới thừa nhận là:
+ Lúa lai
Trung Quốc nghiên cứu lúa lai từ năm 1964 và thành công năm 1985 Đây
là một thành công rực rỡ Người ta nói sứ mạng lịch sử của cuộc “Cách mạng xanh” đến nay đã đạt tột đỉnh Khi mà sản xuất nông nghiệp cây lúa đạt năng suất thấp dưới 5 tấn thóc/ha thì thành công của “Cách mạng xanh” đã giúp các nước tăng năng suất sản lượng lúa bằng các giống lúa thấp cây, chống đổ, chụi thâm canh tăng năng suất và sản lượng
Khi mà năng suất lúa nhiều nước đạt 5-8 tấn/ha, để tăng năng suất cao hơn nữa trên 8 tấn/ha thì hiệu qủa áp dụng những giống lúa tiến bộ thông thường không thể có
được Công nghệ sản xuất lúa lai cho phép chúng ta có thể năng cao năng suất lúa nước đạt trên 8 tấn/ha không phải là vấn đề khó khăn
Trang 19+ Nuôi trồng thủy sản:
Nuôi trồng thủy sản cũng là thế mạnh của Trung quốc Nuôi trai lấy ngọc, nuôi các loài thủy sản quí hiếm như ba ba, lươn, ếch… Nhiều loài thủy sản Trung quốc độc quyền sản xuất giống như công nghệ nuôi trai lấy ngọc, sản xuất cá giò,
cá song v.v
Muốn duy trì được tính ổn định, bền vững của các mô hình rừng thì các mô hình phải đạt được hiệu quả kinh tế, sản phẩm rừng trồng phải có thị trường tiêu thụ, các loại sản phẩm lâm sản ngoài gỗ phải phục vụ được mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài của người dân, phương thức canh tác phải gần với kiến thức bản địa và
được người dân áp dụng Về vấn đề này nghiên cứu của Ianuskơ K (1996) cho biết
cần phải giải quyết vấn đề thị trường tiêu thụ sản phẩm cho các khu rừng trồng kinh
tế, trong đó cần có kế hoạch xây dựng và phát triển các nhà máy chế biến lâm sản với các quy mô khác nhau trên cơ sở áp dụng các công cụ chính sách đòn bẩy để thu hút các thành phần kinh tế tham gia vào phát triển rừng Theo Thom R Waggener (2000) để phát triển các mô hình trồng rừng theo hướng sản xuất hàng hoá với hiệu quả kinh tế cao không chỉ đòi hỏi phải có sự đầu tư tập trung về kinh tế và kỹ thuật
mà còn phải nghiên cứu làm sáng tỏ hàng loạt vấn đề có liên quan đến chính sách
và thị trường Chính vì vậy ở các nước phát triển như Mỹ, Nhật, Canada, nghiên cứu về kinh tế lâm nghiệp ở cấp quốc gia hiện nay được tập trung vào 2 vấn đề lớn
và đóng vai trò quyết định đối với quá trình sản xuất là thị trường và khả năng cạnh tranh của sản phẩm Theo quan điểm thị trường các nhà kinh tế Lâm nghiệp cho rằng thị trường sẽ là chìa khoá của quá trình sản xuất, thị trường sẽ trả lời câu hỏi
Trang 20sản xuất cái gì? cho ai? Khi thị trường có nhu cầu và lợi ích của người sản xuất
được đảm bảo thì động cơ lợi nhuận và thu nhập sẽ thúc đẩy họ tăng cường đầu tư
vào sản xuất, thâm canh tạo ra sản phẩm hàng hoá cho xã hội
Liu Jinlong (2004) [19] dựa trên việc phân tích và đánh giá tình hình thực tế trong những năm qua đã đưa ra một số công cụ chủ đạo khuyến khích tư nhân phát triển trồng rừng ở Trung Quốc là:
i) Rừng và đất rừng cần được tư nhân hoá;
ii) Ký hợp đồng hoặc cho tư nhân thuê đất lâm nghiệp của Nhà nước;
iii) Giảm thuế đánh vào các lâm sản;
iv) Đầu tư tài chính cho tư nhân trồng rừng
v) Phát triển quan hệ hợp tác giữa các công ty với người dân để phát triển trồng rừng
Những công cụ mà tác giả đề xuất tương đối toàn diện từ quan điểm chung
về quản lý lâm nghiệp, vấn đề đất đai, thuế,… cho tới mối quan hệ giữa các công ty
và người dân Đây có thể nói là những đòn bẩy thúc đẩy tư nhân tham gia xây dựng các mô hình trồng rừng ở Trung Quốc nói riêng trong những năm qua và là những
định hướng quan trọng cho các nước đang phát triển nói chung, trong đó có Việt
Nam
Các hình thức khuyến khích trồng rừng cũng được nhiều tác giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu như Ashadi and Nina Mindawati (2004) ở Indonesia [18]; Narong Mahannop (2004) [20] ở Thái Lan, , Các tác giả cho biết hiện nay ở các nước Đông Nam á, 3 vấn đề được xem là quan trọng, khuyến khích người dân tham gia trồng rừng là:
- Quy định rõ ràng về quyền sử dụng đất
- Quy định rõ đối tượng hưởng lợi rừng trồng
- Nâng cao hiểu biết và nắm bắt kỹ thuật của người dân
Đây cũng là những vấn đề mà các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam đã
và đang giải quyết để thu hút nguồn vốn tư nhân đầu tư vào trồng rừng
1.3.2 Trong nước
Trang 21•Trước 1993
-Tháng 4/1945, Hồ Chủ Tịch trong lễ bế giảng khóa chỉnh huấn cán bộ tại Việt Bắc, Người đã căn dặn các cán bộ ta trước khi ra về: “Các chú ra về phải làm tốt công tác khuyến nông, ra sức phát triển nông nghiệp, chống giặc đói, diệt giặc dốt”, người người thực hiện “Hũ gạo tiết kiệm”
-Năm 1950-1957, chủ yếu năm 1955-1956 chúng ta thực hiện cải cách ruộng đất (CCRĐ), thực hiện khẩu hiệu “Người cày có ruộng” Đây là cuộc cách mạng lớn chưa từng có trong lịch sử nông nghiệp nước ta Chúng ta đã tịch thu hơn 81 vạn ha ruộng đất của địa chủ …, 106.448 trâu bò cùng với 1.846.000 nông cụ chia cho 2.104.158 hộ nông dân và nhân dân lao động (72,8% hộ nông thôn miền Bắc) Kết quả này đã tạo điều kiện và khích lệ nông dân ra sức tăng gia sản xuất
- Năm1956-1958, kế tiếp ngay sau CCRĐ nông dân dưới sự lãnh đạo của
Đảng, Chính phủ thực hiện “đổi công, vần công”, nông dân tương thân tương ái
giúp nhau trong sản xuất nông nghiệp
-Năm 1960 ở miền Bắc thành lập các Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp (HTX) bậc thấp-1968 HTX bậc cao-1974 HTX toàn xã Tổ chức HTX sản xuất nông nghiệp vào giai đoạn này có một ý nghĩa lịch sử lớn lao Tổ chức HTX sản xuất nông nghiệp nông dân “Cùng làm cùng hưởng” đã tạo điều kiện cực kỳ quan trọng giúp cho đảng và Nhà nước huy động được mức độ tối đa sức người, sức của phục vụ cho tiền tuyến, phục vụ cho công cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước giải phóng miền Nam, thống nhất Đ ấ t nước
Công tác khuyến nông giai đoạn này chủ yếu triển khai đến HTX Phương pháp khuyến nông chủ yếu đưa TBKT nào sản xuất, xây dựng các mô hình HTX sản xuất tiến bộ như: HTX Tân Phong, HTX Vũ Thắng Thái Bình …
- Năm1961 sinh viên các trường Đại học nông nghiệp tham gia đi thực tế sản xuất nông nghiệp tại các HTX, nông trường quốc doanh là một trong những nội dung
đào tạo quan trọng của Nhà trường nhằm thực hiện phương châm đào tạo “Học kết
hợp với hành”; thực hiện thực tiễn hóa tay nghề của các sinh viên nông nghiệp
Trang 22-Năm 1963-1973, Bộ Nông nghiệp tổ chức các “Đoàn chỉ đạo sản xuất nông nghiệp giúp …”các tỉnh Các Đoàn chỉ đạo sản xuất nông nghiệp là tổ chức nông nghiệp của Chính phủ do Bộ Nông nghiệp tổ chức và quản lý nhưng hoạt
động giúp các địa phương Hoạt động của Đoàn chỉ đạo sản xuất nông nghiệp
thực chất làm các công việc khuyến nông như giúp các địa phương thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, đưa các tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp vào sản xuất Phấn đấu thực hiện mục tiêu 5 tấn thóc/ha…
- Năm 1966 Thái Bình là tỉnh đầu tiên ở miền Bắc đạt 5 tấn thóc/ha Năm
1974 toàn miền Bắc đạt 5 tấn thóc/ha Năm 1988 huyện Hưng Hà (Thái Bình) đạt
10 tấn thóc/ha…
-Năm1964-1980 nhìn chung nông nghiệp trì trệ kém phát triển, đời sống nông dân gặp nhiều khó khăn Nguyên nhân có nhiều nhưng chủ yếu do chiến tranh Chúng ta phải tập trung mọi nỗ lực cho công cuộc đấu tranh giải phóng miềm Nam, giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước
Mặt khác sau giải phóng miền Nam năm 1975 đến 1980 miền Bắc vẫn còn duy trì HTX sản xuất nông nghiệp là một thực tế bất cập mất cân đối giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản suất…
- Trước thực trạng sản xuất nông nghiệp trì trệ và đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, tháng 1 năm 1981, Chỉ thị 100 của Ban CHTW Đảng: “Khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động”, còn gọi là “Khoán 100” được
ra đời HTX nông nghiệp chỉ quản lý 5 khâu: Đất- nước- giống- phân bón và bảo
vệ thực vật còn toàn bộ các khâu khác khoán cho nhóm và người lao động
“Khoán 100” đã có tác dụng to lớn khích lệ nông dân sản xuất Ngoài sản lượng nông sản phải nộp HTX còn lại người nông dân được tự do sử dụng
- Sau 7 năm thực hiện “Khoán 100” Đảng ta xem xét rút kinh nghiệm:
“Khoán 100” có nhiều ưu điểm thúc đẩy nông nghiệp phát triển nhưng vẫn còn nhiều hạn chế: Nông dân chưa thực sự chủ động sản xuất kinh doanh có hiệu quả
Trên đồng ruộng, ao hồ, chuồng trại chăn nuôi người nông dân chưa có thể chủ động sản xuất kinh doanh vì những khâu then chốt như giống, phân bón nông
Trang 23dân vẫn phải phụ thuộc vào sự quản lý của HTX
Mảnh đất họ trồng trọt vụ này vụ sau có thể thay đổi nên không ai nghĩ
đến thâm canh bảo vệ và duy trì độ phì của đất để vụ sau năng suất cao hơn vụ
trước …Thứ nữa nông dân còn phải đóng góp nhiều khoản như nộp sản của 5 khâu HTX quản lý và đóng góp quỹ phúc lợi …Những hộ nông dân có vốn, có lao động, có trình độ dân trí cao sản xuất có hiệu quả
Có nhiều hộ nông dân cuộc sống vẫn không khỏi đói nghèo do bởi nguồn lực sản xuất thiếu lao động, thiếu vốn; do gặp rủi ro trong cuộc sống; do trình
độ dân trí thấp sản xuất không có hiệu quả đã dẫn đến nợ sản nhiều vụ, nhiều
năm …
Chính vì vậy ngày 5/4/1988, Bộ chính trị BCH TW Đảng khóa V ra NQ 10: “Cải tiến quản lý kinh tế trong nông nghiệp”, còn gọi là “Khoán 10” NQ 10
được thực hiện và hoàn thiện vài năm sau đó đã chuyển đổi hẳn cơ chế quản lý
kinh tế trong nông nghiệp Ruộng đất giao cho nông dân quản lý lâu dài 20 năm
đối với đất nông nghiệp, 50 năm đối với đất lâm nghiệp
Chuyển đổi từ cơ chế sản xuất tập thể tự cung tự cấp, sản xuất theo kế hoạch hóa Nhà nước sang sản xuất kinh tế hộ gia đình và trang trại Người nông dân chủ động sản xuất kinh doanh trên mảnh đất, ao hồ, chuồng trại của mình theo hướng nông nghiệp hàng hóa có sự điều tiết của Nhà nước Nông nghiệp của đất nước có cơ hội ngày càng phát triển mạnh
- Ngay năm 1988, An Giang khá sáng tạo đã vận dụng cơ chế sản xuất mới trong điều kiện cụ thể của địa phương, học tập kinh nghiệm của các nước thành lập Trung tâm Khuyến nông nhằm đáp ứng cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp của nông dân trong tỉnh
- Năm 1992, Để điều phối và lãnh đạo công tác khuyến nông của đất nước,
Bộ Nông nghiệp thành lập “Ban điều phối Khuyến nông”
- Do nhu cầu bức súc của sản xuất, ngày 2/3/1993, Thủ tướng Chính phủ
ra Ngh 13/CP về việc thành lập hệ thống Khuyến nông, Khuyến lâm, Khuyến ngư của đất nước
Trang 24•Sau cuối năm 1993
- Ngày 2/3/1993, NĐ 13/CP của Chính phủ về việc thành lập hệ thống Khuyến nông, Khuyến lâm, Khuyến ngư
- Ngày 2/8/1993 Thông tư 02/LB-TT cụ thể hóa việc thực hiện NĐ 13/CP Như vậy cuối năm 1993 nước ta chính thức có Hệ thống Khuyến nông Quốc gia
- Thực hiện NĐ số 86/2003/NĐ-CP ngày 18/7/2003, QĐ số 118/2003/QĐ-BNN ngày 3/11/2003 về thay đổi cơ cấu tổ chức Cục KN-KL, thành lập Trung tâm khuyến nông Quốc gia Tiếp sau năm 2005 thực hiện NĐ số 56/2005/NĐ-CP và TT số 60/2005/TT-BNN cụ thể hoá công tác khuyến nông, khuyến ngư trong giai đoạn hiện nay
-Từ 1989 đến nay dưới sự lãnh đạo sát sao của Đảng, Chính phủ, sự tăng cường hoạt động của Khuyến nông đã thúc đẩy nền nông nghiệp của đất nước ngày càng phát triển Bình quân hàng năm tăng 1 triệu tấn lương thực và vươn lên từ nước thiếu lương thực đến đủ và thừa lương thực
Nếu như những năm trước 1980 chúng ta còn thiếu lương thực thì từ năm
1989 chẳng những chúng ta tự tức đủ lương thực mà còn dư thừa bắt đầu xuất khẩu lương thực từ hơn 1 triệu đến gần 2 triệu tấn lương thực/năm Nhiều năm gần đây chúng ta đã là nước đứng vị trí thứ 2 xuất khẩu lương thực vào thị trường TG: Hàng năm xuất khẩu vào thị trường lương thực thế giới trên dưới 4 triệu tấn/năm, năm 2005 xuất khẩu 5,2 triệu tấn gạo đạt kim ngạch xuất khẩu 1,4
tỷ USD
* Chức năng nhiệm vụ của khuyến Nông lâm
- Phổ biến những tiến bộ trồng trọt, chăn nuôi, công nghệ chế biến nông lâm thủy sản và những kinh nghiệm điển hình tiền tiến cho nông dân
- Bồi dưỡng và phát triển kiến thức quản lý kinh tế cho nông dân để sản xuất kinh doanh có hiệu quả
- Phối hợp với các cơ quan cung cấp cho nông dân những thông tin về thị trường giá cả nông sản để nông dân bố trí sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao
• Để phù hợp với thực tế sản xuất mới hiện nay, NĐ số 56/2005/NĐ-CP
Trang 25ngày 24/6/2005 và TT số 60/2005/TT/BNN đã qui định mục tiêu khuyến khuyến ngư:
nông Nâng cao nhận thức về chủ trương, chính sách, pháp luật, kiến thức, kỹ năng về khoa học kỹ thuật, quản lý, kinh doanh cho người sản xuất
- Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, phát triển sản xuất theo hướng bền vững, tạo việc làm, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
- Huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia khuyến nông, khuyến ngư
- Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về khuyến lâm
Trong giai đoạn 1993-1996, hệ thống khuyến lâm đã huy động được 27.304
hộ tham gia xây dựng mô hình trình diễn, với diện tích là 26.640 ha rừng Đào tạo, huấn luyện được 30.869 lượt người, xuất bản được 17 đầu sách với 35000 cuốn; xây dựng được 14 loại băng hình, hàng nghìn tờ rơi, tranh cổ động các loại
Từ nguồn ngân sách địa phương, đã huy động được 4.361 hộ tham gia xây dựng mô hình, trồng được 4977 ha rừng trình diễn, tập huấn 5395 hộ nông dân Công tác khuyến lâm được nhiều tổ chức quốc tế và phi Chính phủ quan tâm trong các
dự án phát triển lâm nghiệp Nhiều cách tiếp cận và phương pháp khuyến lâm mới đã
được áp dụng và bước đầu được thể chế hoá ở một số địa phương
Nguyễn Xuân Quát (1985-1990) [11] đã đánh giá ảnh hưởng của cây phù trợ Đậu tràm tới cây trồng rừng chính là Tếch và Muồng đen ở Tây Nguyên và cho nhận xét “bước đầu cho thấy chưa rõ hiệu quả sinh trưởng của Tếch tốt hoặc xấu hơn nhưng đã tạo được cấu trúc rừng kết hợp giữa cây rụng lá mùa khô, cây phù trợ là Đậu tràm và cây bạn Muồng đen thường xanh” Phạm Đình Tam (1995 –1999) đã tiến hành thí nghiệm và đánh giá rừng trồng hỗn loài giữa Trám trắng, Lim xẹt và Keo lai đã kết luận chưa thấy ảnh hưởng rõ rệt sinh trưởng của Trám trắng ở các phuơng thức trồng hỗn giao khác nhau Sau 4 năm mô hình hỗn loài Trám + Keo + Lim xẹt đã thấy Keo lai bắt đầu che bóng Lim xẹt [14] Tuy nhiên
Trang 26các thí nghiệm này không được theo dõi và điều chỉnh tàn che thích hợp cho cây trồng chính sinh trưởng Đây cũng là tồn tại chung của các công trình nghiên cứu
về trồng rừng hỗn loài có sử dụng cây phù trợ ban đầu ở nước ta trong những năm qua [16]
Để tổng kết và đánh giá các mô hình sử dụng đất vùng xung yếu ven hồ sông Đà, Đặng Thịnh Triều (2005) [17] đã áp dụng cách tiếp cận có sự tham gia theo 3 bước:
-Bước 1: Điều tra khảo sát tổng thể tình hình sử dụng đất vùng ven hồ sông
Đà để nắm được đặc điểm chung của các mô hình làm cơ sở cho các điều tra, đánh
giá chi tiết tiếp theo
- Bước 2: Trên cơ sở kết quả điều tra bước 1 tiến hành phân loại và lựa chọn
đối tượng đánh giá
- Bước 3: Tiến hành điều tra, đánh giá các mô hình cụ thể
Từ cách tiếp cận này tác giả đã tiến hành đánh giá các mô hình sử dụng đất tổng hợp vùng xung yếu ven hồ sông Đà, đo vẽ các lát cắt các mô hình đại diện cho từng tiểu vùng sinh thái Quan điểm và cách tiếp cận này có nhiều tiến bộ vì đã kết hợp được nghiên cứu trên diện rộng với nghiên cứu chi tiết trên diện hẹp, đặc biệt có ý nghĩa đối với những vấn đề có liên quan nhiều đến môi trường và xã hội [3]
Nguyễn Trọng Bằng (2003) [1] đã sử dụng các chỉ tiêu Net Present Value (NPV) và tỷ suất thu nhập và chi phí (BCR – Benefits to cost Ratio), tỷ lệ thu hồi vốn nội bộ (IRR – Internal Rate of Return) để đánh giá hiệu quả kinh tế các mô hình lâm nghiệp xã hội ở huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây Kết quả cho thấy mô hình Rừng – Vườn cho giá trị NPV cao nhất: 27.355.721 đồng, thu nhập bình quân hàng năm đạt trên 3.900.000đ; tiếp đến là mô hình cải tạo vườn tạp và trồng cây phân tán: 14.291.203 đồng, thu nhập bình quân hàng năm đạt trên 2.000.000 đồng Xem xét hiệu quả của các mô hình theo chỉ số IRR thì mô hình có hiệu quả nhất là mô hình cải tạo vườn tạp và trồng cây phân tán (IRR=100,44%), đây là mô hình có thu nhập từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó thu nhập từ nuôi Ong, Cá, và cây rừng
Trang 27phân tán, ăn chia sản phẩm bảo vệ rừng là thu nhập chính Tiếp đến là mô hình Vườn nhà (IRR = 43,78%) Các mô hình khác có IRR = 9,58% - 22,24%
Năm 1996, Đoàn Hoài Nam [7] đã đánh giá hiệu quả kinh tế - sinh thái của một số mô hình rừng trồng tại Yên Hương – Hàm Yên – Tuyên Quang, trong đó tác giả đã đặc biệt chú ý đến hiệu quả tổng hợp của một số mô hình rừng trồng chủ yếu Tiếp đó năm 1997 Đoàn Thị Mai (1997) [4] đã đánh giá hiệu quả kinh tế - môi trường về mục tiêu phát triển bền vững cho một số phương án sử dụng đất trong canh tác nông lâm nghiệp vùng nguyên liệu giấy Đây có thể nói là những công trình bước đầu đánh giá về hiệu quả kinh tế – sinh thái, kinh tế – môi trường
ở nước ta làm cơ sở cho những công trình tiếp theo
Năm 1998, Cao Danh Thịnh [16] đã tiến hành đề tài “Thử nghiệm ứng dụng một số phương pháp định lượng có trọng số để so sánh hiệu quả kinh tế và môi trường của một số dự án lâm nghiệp tại khu vực phòng hộ đầu nguồn sông Đà” đã
đề cập đến hiệu quả tổng hợp kinh tế – môi trường, trong đó tác giả đã sử dụng
phương pháp định lượng có trọng số các chỉ tiêu bằng tương quan để đánh giá và cho biết phương pháp này đạt độ chính xác cao Phạm Xuân Nam (2004) [8,9] cũng đã áp dụng phương pháp này và cho kết quả tương tự
Nguyễn Hữu Thiện (2004) [15] đã đánh giá hiệu quả xã hội các mô hình lâm nghiệp xã hội xây dựng ở xã Bình Thanh, huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình và cho biết thông qua việc xây dựng các mô hình đã giúp cho người dân địa phương hiểu biết hơn về các kỹ thuật gây trồng các loài cây, đặc biệt là có cơ hội tiếp cận
được với các tiến bộ kỹ thuật như giống mới có năng suất và chất lượng cao, kỹ
thuật trồng thâm canh, hiểu biết thêm các chủ trương, chính sách của đảng và Nhà nước ta về đổi mới cơ chế quản lý lâm nghiệp, đặc biệt là giao đất giao rừng tới tập thể và cá nhân Tác giả cũng cho biết để tiến đến xã hội hoá nghề rừng thì bên cạnh việc hỗ trợ vốn, kỹ thuật gây trồng, công tác tuyên truyền, tập huấn và đào tạo giữ một vai trò rất quan trọng Qua đây chúng ta có thể thấy rằng mô hình đạt
được thành công khi chúng ta biết kết hợp hài hoà giữa yếu tố kinh tế và xã hội
Trang 28Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế (2005) [13] đã tiến hành đánh giá tiềm năng
sản xuất đất lâm nghiệp cho mỗi vùng, trong đó đã xác định 3 nội dung cơ bản có mối quan hệ chặt chẽ với nhau là: i) xác định đơn vị sản xuất đất đai; ii) đánh giá tiềm năng sản xuất đất đai; iii) xác định độ thích hợp cây trồng Các tác giả đã dùng 5 yếu tố chủ đạo để xác định các đơn vị sử dụng đất đai cho mỗi vùng sinh thái là: Độ cao so với mặt biển, nhóm đất hay loại đất chính, độ dốc, độ dày tầng
đất và lượng mưa Trên cơ sở này tiến hành phân cấp các yếu tố và đánh giá tiềm
năng sản xuất đất lâm nghiệp Đây là một trong những công trình nghiên cứu khá toàn diện về đánh giá đất đai, làm cơ sở cho việc lựa chọn và đánh giá sự phù hợp của cây trồng rừng, trong đó có các mô hình nông lâm nghiệp Các tác giả cho biết
đối với việc đánh giá thì phương pháp giữ một vai trò chủ đạo, trong đó lựa chọn
các tiêu chí là quan trọng nhất
Đánh giá về mặt hiệu quả môi trường của các mô hình lâm sinh ở nước ta
chưa nhiều, chủ yếu là dừng lại ở việc mô tả độ tàn che của rừng, độ che phủ của thảm tươi,… hoặc một số ít công trình dùng phương pháp đóng cọc để nghiên cứu xói mòn đất (Nguyễn Quang Mỹ và cs, 1983, 1988) [5], [6 ] Nổi bật nhất có công trình nghiên cứu của Bùi Ngạnh và Nguyễn Danh Mô (1977) [10] về đánh giá khả năng điều tiết nước và chống xói mòn của thảm thực vật rừng Những nghiên cứu này bước đầu đã làm rõ vai trò thuỷ văn của rừng, đặc biệt là các nhân tố cấu trúc rừng như tầng thứ, độ tàn che, loài cây, tầng thảm tươi và thảm mục,… làm cơ sở cho việc đánh giá hiệu quả môi trường của rừng Đặc biệt, mới đây Ngô Đình Quế
và các cộng sự (2005) [12] đã tiến hành điều tra đánh giá tác động của rừng ở khu vực miền Trung và Tây Nguyên đến một số yếu tố môi trường nhằm đề xuất cơ sở
để xây dựng tiêu chuẩn môi trường lâm nghiệp Đây là công trình nghiên cứu khá
tổng hợp về đánh giá môi trường lâm nghiệp, nghiên cứu đã kết hợp bố trí những ô tiêu chuẩn định vị quy mô nhỏ với việc nghiên cứu quy mô lớn trên lưu vực sông
và sử dụng các phần mềm chuyên dụng để xử lý số liệu, đánh giá kết quả Công trình đã đưa ra được các tiểu chuẩn đánh giá môi trường cho một số dạng rừng trồng và rừng tự nhiên
Trang 29Trong báo cáo tổng kết đề án “nghiên cứu đề xuất một số giải pháp kinh tế
xã hội nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở lòng hồ huyện Mộc Châu tỉnh Sơn
La Đỗ Đức Bảo cùng các cộng sự đã sử dụng phương pháp ma trận môi trường để
đánh giá tác động của các loại hình canh tác và phương án canh tác lâm nghiệp [2]
Các loại hình canh tác được đánh giá ở đây là vườn tạp, nông lâm kết hợp, rừng tự nhiên,… Trong phương pháp ma trận môi trường, việc phân tích số liệu được thể hiện thông qua các hàng và cột Bằng phương pháp này có thể đưa ra hàng loạt các chỉ tiêu khác nhau thuộc các lĩnh vực chịu tác động như kinh tế, xã hội và môi trường, phương án được đánh giá qua tổng điểm Tuy nhiên, sử dụng phương pháp này chỉ mang tính tương đối vì phương pháp cho điểm phụ thuộc vào nhiều yế tố chủ quan, kinh nghiệm và trình độ người cho điểm nên khả năng chính xác không cao
Đánh giá chung: Điểm qua các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước
liên quan tới đề tài nghiên cứu cho thấy, trên thế giới các công trình nghiên cứu
đánh giá các mô hình lâm sinh, rừng trồng,… được triển khai tương đối toàn diện ở
hầu hết các nước, nội dung đánh giá cũng khá phong phú từ mặt kỹ thuật cho tới các vấn đề kinh tế, xã hội, và môi trường,… Đặc biệt cách tiếp cận và các phương pháp
đánh giá đã được được chuẩn hoá nên độ chính xác của kết quả cao
Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về đánh giá các mô hình lâm sinh,
trồng rừng hoặc đánh giá tác động môi trường, dự án,… được đặc biệt quan tâm chú
ý trong những năm gần đây khi quan điểm phát triển bền vững được đưa vào các đề tài, dự án nghiên cứu như một điều bắt buộc Nội dung đánh giá các mô hình liên quan đến đề tài hoặc là được đánh giá lồng ghép trong các chương trình, đề tài/dự
án hoặc được tiến hành một cách riêng rẽ 3 vấn đề trong đánh giá được các tác giả nghiên cứu quan tâm là: i) Hiệu quả về kinh tế, ii) hiệu quả về môi trường và iii) hiệu quả về xã hội Phương pháp đánh giá cũng dần được hoàn thiện và tiếp cận
được với khu vực và thế giới Tuy nhiên, việc đánh giá các mô hình ở nước ta
thường mới chỉ dừng lại ở bước đầu vì khi tiến hành đánh giá cây trồng trong các
mô hình thường còn nhỏ, chưa mang lại đầy đủ hiệu quả kinh tế, xã hội và môi
Trang 30trường; khi các dự án/đề tài kết thúc công việc chăm sóc theo dõi và đánh giá các
mô hình sau này gần như không được quan tâm Đây là một trong những tồn tại lớn nhất hiện nay ở nước ta cần được khắc phục trong thời gian tới
Những kết quả nghiên cứu, đánh giá mô hình, các phương pháp áp dụng trên thế giới và trong nước có liên quan là những tài liệu thảm khảo có giá trị của đề tài trong việc đánh giá các mô hình khuyến lâm tại tỉnh Yên Bái giai đoạn 2009-2013
1.4 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
1.4.1 Điều kiện địa lý tự nhiên
1.4.1.1 Vị trí địa lý
Yên Bái là tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa, là 1 trong 13 tỉnh vùng núi phía Bắc, nằm giữa 2 vùng Đông Bắc và Tây Bắc Phía Bắc giáp tỉnh Lào Cai, phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp 2 tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang và phía Tây giáp tỉnh Sơn La Yên Bái có 9 đơn vị hành chính (1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện) với tổng số 180 xã, phường, thị trấn (159 xã và 21 phường, thị trấn); trong đó có 70
xã vùng cao và 62 xã đặc biệt khó khăn được đầu tư theo các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, có 2 huyện vùng cao Trạm Tấu, Mù Cang Chải (đồng bào Mông chiếm trên 80%) nằm trong 61 huyện nghèo, đặc biệt khó khăn của
cả nước Yên Bái là đầu mối và trung độ của các tuyến giao thông đường bộ,
đường sắt, đường thuỷ từ Hải Phòng, Hà Nội lên cửa khẩu Lào Cai, là một lợi thế
trong việc giao lưu với các tỉnh bạn, với các thị trường lớn trong và ngoài nước
1.4.1.2 Đặc điểm địa hình
Yên Bái nằm ở vùng núi phía Bắc, có đặc điểm địa hình cao dần từ Đông Nam lên Tây Bắc và được kiến tạo bởi 3 dãy núi lớn đều có hướng chạy Tây Bắc –
Đông Nam: phía Tây có dãy Hoàng Liên Sơn – Pú Luông nằm kẹp giữa sông Hồng
và sông Đà, tiếp đến là dãy núi cổ Con Voi nằm kẹp giữa sông Hồng và sông Chảy, phía Đông có dãy núi đá vôi nằm kẹp giữa sông Chảy và sông Lô Địa hình khá phức tạp nhưng có thể chia thành 2 vùng lớn: vùng cao và vùng thấp Vùng cao có
độ cao trung bình 600 m trở lên, chiếm 67,56% diện tích toàn tỉnh Vùng này dân cư
thưa thớt, có tiềm năng về đất đai, lâm sản, khoáng sản, có khả năng huy động vào
Trang 31phát triển kinh tế - xã hội Vùng thấp có độ cao dưới 600 m, chủ yếu là địa hình đồi núi thấp, thung lũng bồn địa, chiếm 32,44 % diện tích tự nhiên toàn tỉnh
1.4.1.3 Khí hậu
Yên Bái nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình là 22 -230C; lượng mưa trung bình 1.500 - 2.200 mm/năm; độ ẩm trung bình 83 - 87%, thuận lợi cho việc phát triển nông - lâm nghiệp Dựa trên yếu tố địa hình khí hậu, có thể chia Yên Bái thành 5 tiểu vùng khí hậu Tiểu vùng Mù Cang Chải với độ cao trung bình 900 m, nhiệt độ trung bình 18 - 200C, có khi xuống dưới 00C về mùa
đông, thích hợp phát triển các loại động, thực vật vùng ôn đới Tiểu vùng Văn Chấn
- nam Văn Chấn, độ cao trung bình 800 m, nhiệt độ trung bình 18 - 200C, phía Bắc
là tiểu vùng mưa nhiều, phía Nam là vùng mưa ít nhất tỉnh, thích hợp phát triển các loại động, thực vật á nhiệt đới, ôn đới Tiểu vùng Văn Chấn - Tú Lệ, độ cao trung bình 200 - 400 m, nhiệt độ trung bình 21- 320C, thích hợp phát triển các loại cây lương thực, thực phẩm, chè vùng thấp, vùng cao, cây ăn quả và cây lâm nghiệp Tiểu vùng nam Trấn Yên, Văn Yên, thành phố Yên Bái, Ba Khe, độ cao trung bình
70 m, nhiệt độ trung bình 23 - 240C, là vùng mưa phùn nhiều nhất tỉnh, có điều kiện phát triển cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp, lâm nghiệp, cây ăn quả Tiểu vùng Lục Yên - Yên Bình độ cao trung bình dưới 300 m, nhiệt độ trung bình
20 - 230C, là vùng có mặt nước nhiều nhất tỉnh, có hồ Thác Bà rộng 19.050 ha, có
điều kiện phát triển cây lương thực, thực phẩm, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản,
có tiềm năng du lịch
Chế độ mưa: Yên Bái thuộc vùng có lượng mưa trung bình, theo số liệu của
khí tượng thủy văn tỉnh, lượng mưa bình quân ở trạm Yên Bái là: 1.740,6 mm/năm; Văn Chấn 1.368,7 mm/năm; Mù Cang Chải 1.834,5 mm/năm Phân bố lượng mưa theo xu hướng tăng dần từ vùng thấp đến vùng cao và lượng mưa phân bố không
đồng đều các tháng trong năm, tháng mưa nhiều nhất là tháng 5 đến tháng 9 (từ
114,8 đến 429,4 mm ); các tháng mưa ít nhất là tháng 12 đến tháng 3 (từ 1,1 đến 80,3 mm )
Trang 32Do lượng mưa không đều giữa các tháng (10,11,12) là mùa khô, lượng mưa trung bình chỉ đạt 16,7 mm/tháng nên gây ra hạn hán, thiếu nước cho sản xuất và
đời sống của nhân dân
Vào mùa mưa, ở một số nơi lượng mưa quá lớn như Mù Cang Chải, Trạm Tấu và vùng trong huyện Văn Chấn gây lũ lụt, thiệt hại mùa màng, làm hỏng các công trình giao thông, thủy lợi
Chế độ ẩm: Theo số liệu khí tượng thì độ ẩm tương đối, trung bình năm tại các
trạm: Yên Bái là 86%; Văn Chấn 83%, Mù Cang Chải 81% Sự chênh lệch về độ ẩm giữa các tháng trong năm của các vùng trong tỉnh lệch nhau không lớn, từ 3- 50C càng lên cao độ ẩm tương đối giảm xuống Độ ẩm giữa các tháng có sự chênh lệch,
do độ ẩm phụ thuộc vào lượng mưa và chế độ bốc hơi (chế độ nhiệt và chế độ gió), tháng có độ ẩm lớn nhất là tháng 2,3,4,5,6,7 từ 80%- 89%, những tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng 11,12,1 có độ ẩm từ 77% 85%
Yên Bái có lượng mưa hàng năm lớn, độ ẩm tương đối cao nên thảm thực vật xannh tốt quanh năm, thể hiện rất rõ tính chất gió mùa
Các hiện tượng thời tiết khác: Sương muối: Xuất hiện chủ yếu ở độ cao trên
600m, càng lên sao số ngày có sương muối càng nhiều Vùng thấp thuộc thung lũng sông Hồng, sông Chảy ít xuất hiện
Mưa đá: Xuất hiện rải rác ở một số vùng, càng lên cao càng có nhiều mưa
đá, thường xuất hiện vào cuối mùa xuân đầu mùa hạ và thường đi kèm với hiện
tượng đông và gió xoáy cục bộ
Ngoài ra ở các vùng cao trên 1000m thỉnh thoảng còn có băng tuyết vào cuối tháng mùa đông
Vùng phía Tây
Phần lớn vùng này có độ cao trung bình trên 700m, địa hình chia cắt mạnh, mang tính chất khí hậu á nhiệt đới và ôn đới, ít chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Có gió Tây Nam nóng, khô nên khí hậu vùng này có nét đặc trưng là nắng nhiều, ít mưa so với vùng phía Đông Xuất phát từ các yếu tố địa hình, khí hậu, đặc thù có thể chia vùng này thành 3 tiểu vùng sau:
Trang 33Tiểu vùng Mù Cang Chải: Vùng này có độ cao trung bình từ 900m, có nhiều nắng nhất tỉnh và chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam Do độ cao địa hình lớn nên nhiệt độ thấp, trung bình 18-200C, về mùa đông lạnh có khi xuống tới 00C.Tổng nhiệt độ năm 6.500-7.0000C, lượng mưa: 1.800- 2.000 mm/năm; độ ẩm 80% thích hợp phát triển cây trồng, vật nuôi vùng ôn đới
Tiểu vùng Tây Nam Văn Chấn: Vùng này có độ cao trung bình 800m, phía Bắc nhiều mưa, phía Nam là vùng ít mưa nhất tỉnh Nhiệt độ trung bình là 18-200C, mùa đông nhiệt độ xuống tới 10C, lượng mưa 1.800mm/năm, độ ẩm 84% Thích hợp trồng cây và vật nuôi vùng á nhiệt đới và ôn đới
Tiểu vùng Văn Chấn - Tú Lệ: Độ cao trung bình vùng này 250-300m, có thung lũng Mường Lò với diện tích trên 2.200 ha, nhiệt độ trung bình 22-230C, tổng nhiệt độ cả năm 8.0000C, độ ẩm 83% thích hợp phát triển cây lương thực, cây công nghiệp chè, đặc biệt chè tuyết vùng cao, quế, cây ăn quả và cây lâm nghiệp
Vùng phía Đông
Khí hậu này chịu ảnh hưởng nhiều của gió mùa Đông Bắc, mưa nhiều về cả
số ngày và lượng mưa Mưa phùn kéo dài ở thành phố Yên Bái và huyện Trấn Yên Nhiệt độ trung bình 21-220C, lượng mưa bình quân 1.800-2000mm/năm, thích hợp phát triển cây nông nghiệp; lương thực, thực phẩm; cây công nghiệp, cây ăn quả, chè, cà phê; phát triển thuỷ sản có hai tiểu vùng sau:
Tiểu vùng Nam Trấn Yên - Văn Yên - Thành phố Yên Bái - Ba Khe; thuộc thung lũng sông Hồng, dưới chân hệ thống núi Hoàng Liên Sơn - Pú Luông, nhiệt độ trung bình 23-240C, tổng nhiệt độ 8.0000C, lượng mưa bình quân 1.800-2.200 mm/năm
và vùng có mưa phùn kéo dài trong thời kỳ đầu năm
Tiểu vùng Lục Yên- Yên Bình: Thuộc thung lũng sông chảy- hồ Thác Bà, là vùng có diện tích mặt nước nhiều nhất tỉnh (hồ Thác Bà diện tích 19.050 ha), có khí hậu ôn hòa, có điều kiện thuận lợi phát triển nông- lâm nghiệp, thủy sản và du lịch
1.4.1.4 Tài nguyên thiên nhiên
• Tài nguyên đất
Trang 34Theo số liệu thống kê năm 2010, Tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh là 688.627,64 ha Trong đó diện tích nhóm đất nông nghiệp là 583.717,47 ha, chiếm 84,76% diện tích đất tự nhiên; diện tích nhóm đất phi nông nghiệp là 51.713,13 ha chiếm 7,51%; diện tích đất chưa sử dụng là 53.197,04 ha chiếm 7,73%
Trong tổng diện tích đất nông nghiệp thì đất sản xuất nông nghiệp là 107.317,69 ha; đất lâm nghiệp 474.768,01 ha; đất nuôi trồng thủy sản 1.574,35 ha, còn lại là đất nông nghiệp khác Trong tổng diện tích đất phi nông nghiệp thì đất ở 4.826,62 ha; đất chuyên dùng 13.837,31 ha, còn lại là đất sử dụng vào mục đích khác Trong tổng diện tích đất chưa sử dụng thì đất bằng chưa sử dụng là 666,02 ha;
đất đồi núi chưa sử dụng là 48.654,14 ha, còn lại là núi đá không có rừng cây
Đất Yên Bái chủ yếu là đất xám (chiếm 82,37%), còn lại là đất mùn alít, đất
phù sa, đất glây, đất đỏ…
• Tài nguyên rừng
Năm 2010, diện tích đất có rừng toàn tỉnh Yên Bái đạt 406.230,8 ha, trong
đó: đất rừng tự nhiên 231.563,7ha, đất rừng trồng 174.667,1 ha; đạt độ che phủ trên
58,4%
Yên Bái có nhiều loại rừng khác nhau như: rừng nhiệt đới, á nhiệt đới, và núi cao Trong khu vực rừng á nhiệt đới của tỉnh có nhiều loại cây lá kim (như: pơmu, thông nàng, thông tre lá lớn, sa mộc, sam mộc) xen lẫn cây lá rộng thuộc họ sồi dẻ,
đỗ quyên
Ở độ cao trên 2000m, rừng hỗn giao giảm dần, pơmu mọc thành rừng kín cao tới 40-50m, đường kính thân có cây tới 1,5m Cao hơn nữa là những cánh rừng thông xen kẽ các tầng cây bụi nhỏ rồi đến trúc lùn, cậy họ cói, cậy họ hoa hồng, cây
họ thạch nam, cây họ cúc, cây họ hoàng liên xen kẽ Lùi dần về phía đông nam, độ cao hạ dần, khí hậu ấm áp hơn làm cho lớp phủ thực vật rừng có điều kiện phát triển Bên cạnh các loại gỗ quý (nghiến, trúc, lát hoa, chò chỉ, pơmu, cây thuốc quý (đẳng sâm, sơn tra, hò thủ ô, hoài sơn, sa nhân), động vật hiếm (hổ, báo, cầy hương, lợn rừng, chó sói, sơn dương, gấu, hươu, vượn, khỉ, trăn, tê tê, đàng đẵng, ếch dát,
Trang 35gà lôi, nộc cốc, phượng hoàng đất) cùng nhiều khu rừng cho lâm, đặc sản (cọ, măng, song, móc, nấm hương, mộc nhĩ, trẩu, quế, chè)
1.3.2 Điều kiện kinh tế, xã hội
1.4.2.1 Dân cư
Năm 2010, tổng dân số toàn tỉnh là 746,4 nghìn người Mật độ dân số bình là
108 người/km2, tập trung ở một số khu đô thị như thành phố Yên Bái, thị xã Nghĩa
Lộ và các thị trấn huyện lỵ
Theo số liệu điều tra, trên địa bàn tỉnh Yên Bái có tới 30 dân tộc sinh sống, trong đó có 7 dân tộc có dân số trên 10.000 người 2 dân tộc có từ 2.000 - 5.000 người, 3 dân tộc có từ 500 -2.000 người Trong đó người Kinh chiếm 49,6%, người Tày chiếm 18,58%, người Dao chiếm 10,31%, người HMông chiếm 8,9% người Thái chiếm 6,7%, người Cao Lan chiếm 1%, còn lại là các dân tộc khác
Sự phân bố các cộng đồng dân tộc trên địa bàn tỉnh có những đặc trưng sau:
+ Vùng thung lũng sông Hồng chiếm 41% dân số toàn tỉnh, trong đó: người Kinh 43%, người Tày chiếm 33%, người Dao chiếm 10%, người Hmông chiếm 1,3% so với dân số toàn vùng
+ Vùng thung lũng sông Chảy chiếm 28% dân số toàn tỉnh Trong đó người Kinh chiếm 43%, người Tày chiếm 11%, người Dao chiếm 13%, người Nùng chiếm 7% so với dân số toàn vùng
+ Vùng ba huyện phía Tây (Trạm Tấu, Mù Cang Chải, Văn Chấn) chiếm 31% dân số toàn tỉnh.Trong đó: người Kinh là 33%; người Thái 19,2%, Tày 11,8%, Hmông 24,1%; người Mường 5,2% và người Dao 5,1% so với dân số toàn vùng
Cộng đồng và các dân tộc trong tỉnh với những truyền thống và bản sắc riêng
đã hình thành nên một nền văn hóa rất đa dạng và phong phú, có nhiều nét độc đáo,
sâu sắc nhân văn và những truyền thống tập quán trong lao động sản xuất có nhiều bản sắc dân tộc
- Nguồn lao động
Năm 2010, số lao động trong độ tuổi là 400.643 người (trong đó thành thị
là 68.754 người, nông thôn là 331.889 người) chiếm 53.21% dân số
Trang 36Trình độ lao động: 20.085 người có trình độ đại học, cao đẳng, 207 người trình độ thạc sỹ, có 9 tiến sỹ
1.4.2.2 Cơ sở hạ tầng
a) Hạ tầng giao thông
Đường bộ: Mạng lưới giao thông đường bộ được hình thành và phân bố tương đối hợp lý so với địa hình, song chưa được hoàn chỉnh, chưa có đường tiêu chuẩn kỹ thuật cao, phần lớn là đường cấp IV, V, VI, nhiều tuyến chưa vào cấp, hệ thống giao thông nông thôn chưa thông xe được 4 mùa, mùa mưa lũ nhiều đoạn
đường bị ngập hoặc sạt lở nghiêm trọng, còn thiếu một số tuyến ngang
- Quốc lộ: Gồm 4 tuyến với tổng chiều dài 375,5 km Các công trình cầu, cống đã được đầu tư xây dựng đồng bộ, đảm bảo giao thông thông suốt, không còn ách tắc giao thông trong mùa lũ
+ Quốc lộ 37 dài 97,5 km (3,4 km đường cấp II, 12,3km đường cấp II, 81,8 km
đường cấp IV)
+ Quốc lộ 70 dài 84 km (6 km đường cấp III, 78 km đường cấp IV)
+ Quốc lộ 32 dài 175 km (21km đường cấp III, 154 km đường cấp IV) + Quốc lộ 32C dài 17,5 km (1 km đường cấp III, 16,5 km đường cấp IV)
- Đường tỉnh: Tổng chiều dài 441 km, gồm 15 tuyến đi qua 66/180 xã phường Các tuyến đường tỉnh gồm: Yên Bái - Khe Sang (78,5 km); Khánh Hòa - Minh Xuân (27 km); Văn Chấn - Trạm Tấu (30 km); Cảng Hương Lý - Văn Phú (12 km); Hợp Minh - Mỵ (36 km); Đại Lịch - Minh An (26km); Yên Thế - Vĩnh Kiên (83 km); An Bình - Lâm Giang (22km); Yên Bái - Văn Tiến (7 km); Cẩm Vân - Mông Sơn (10 km); Mậu A - Tân Nguyên (18 km); 2 đầu cầu Mậu A (1,4 km); Âu Lâu - Quy Mông - Đông An (52 km); An Thịnh - An Lương (38 km); Đường vào nhà máy xi măng Yên Bình (1 km);
- Đường đô thị: Tổng chiều dài 165,6 km, gồm: Thành phố Yên Bái 118,1
km, thị xã Nghĩa Lộ 15 km, Lục Yên 4,3 km, Mù Cang Chải 2,8 km, Trạm Tấu 1,6
km, Yên Bình 4,3km, Văn Chấn 6,5km, Văn Yên 5km, Trấn Yên 8km Trong đó có
Trang 37125,6 km đạt tiêu chuẩn đô thị, còn lại chưa vào cấp Chất lượng đường tốt chiếm 33%, đường trung bình 50%, đường xấu và rất xấu 17%
- Đường chuyên dùng: Tổng chiều dài 228,3 km, gồm các đường nông trường, lâm trường, quốc phòng, chủ yếu phục vụ vận chuyển nội bộ theo mùa vụ Trong đó có 137 km đạt tiêu chuẩn đường cấp A, B nông thôn, hệ thống cống thoát nước chưa đầy đủ
- Đường giao thông nông thôn: Tổng chiều dài 5.743 km Hầu hết các tuyến
được xây dựng theo tiêu chuẩn cấp VI, cấp A, B nông thôn, nhiều tuyến mới khai
thông, việc đi lại phải phụ thuộc vào thời tiết
* Đường thủy: Gồm 2 tuyến chủ yếu:
- Tuyến sông Hồng dài 115 km, trong đó có 10 km đoạn Văn Phú - Yên Bái
do Trung ương quản lý, còn lại 105 km chưa được khai thông luồng lạch và xây dựng bến cảng, kho bãi
- Tuyến hồ Thác Bà dài 83 km, trong đó có 50 km đoạn cảng Hương Lý - Thác Bà – Cảm Nhân Hiện đã có hệ thống báo hiệu đường thủy trên một số tuyến chính, các phương tiện đi lại dễ dàng quanh năm và có bến tàu khách đảm bảo vận chuyển hành khách đi lại và tham quan du lịch
* Đường sắt trên tuyến Hà Nội- Lào Cai- Trung Quốc chạy qua Yên Bái
dài 83 km, gồm 10 ga (1 nhà ga hạng 2; 9 nhà ga hạng 4) chạy qua địa phận 20 xã, phường, thị trấn Các yếu tố địa hình, địa chất thủy văn, hệ thống thông tin tín hiệu lạc hậu, hệ thống cảnh báo đường ngang không an toàn, khổ đường hẹp (1,1 mét), lạc hậu so với các khu vực Vận tốc tàu chạy thấp, hệ thống nhà ga, kho bãi, các dịch vụ còn ở mức thấp
b) Hạ tầng thuỷ lợi:
Theo kết quả điều tra đối với các công trình có diện tích tưới trên 1 ha: Toàn tỉnh có 2626 công trình tưới bao gồm 2450 đập dâng, 160 hồ chứa, 16 trạm bơm Trong đó có 807 công trình kiên cố, 1819 công trình tạm
Về các công trình đầu mối và các công trình trên kênh:
Trang 38- Công trình đầu mối: 2607 công trình đập, 138 tràn xả lũ, 834 kênh lấy nước tưới tiêu
- Kênh dẫn: 1367km kênh dẫn, 2206 km kênh đất
- Công trình trên kênh: 1210 cống qua đường, 418 cống tràn nước thừa, 298 cầu máng, 79 xi phông Ngoài ra còn rất nhiều công trình nhỏ, kênh ống dẫn nước phục vụ tưới
Theo thiết kế, các công trình tưới trên địa bàn tỉnh tưới được cho 28.422 ha, tuy nhiên thực tế chỉ tưới được 19.977 ha, đạt 70%
c) Điện, nước:
* Hệ thống điện:
Tỉnh có 269,1km đường dây 110 KV gồm 7 lộ và 2 nhánh rẽ trong đó có 70
km đường dây 110 KV 2 mạch
Đường dây trung áp và hạ áp do điện lực quản lý: 1367,2 km đường dây 35
KV, 3,3 km đường dây 22KV, 179,3 km đường dây 10 KV và 1774,2 km đường dây 0,4 KV Đường trục 0,4 là 1435 km, nhánh 1 pha là 240 km, nhánh 3 pha là 259,2 km,
Với hệ thống mạng lưới điện như hiện nay, 90% số dân được dùng điện lưới quốc gia, riêng khu vực nông thôn có hơn 111 nghìn hộ được dùng điện
* Nước sinh hoạt:
- Nước sinh hoạt đô thị: Hiện nay thành phố Yên Bái, thị trấn Yên Bình đã
có hệ thống nước máy cung cấp bởi Nhà máy nước Yên Bái - Yên Bình công suất 12.000 m3/ ngày và Nhà máy nước thị xã Nghĩa Lộ công suất 3.500 m3/ ngày cung cấp nước cho thị xã Nghĩa Lộ Một số huyện lỵ cũng được cung cấp nước máy: Cổ Phúc, Yên Thế, Sơn Thịnh Tuy nhiên, thực tế còn nhiều hộ gia đình sử dụng nước giếng tự đào
- Nước sinh hoạt nông thôn: Toàn tỉnh hiện có 70.254 công trình cấp nước hợp vệ sinh Trong đó: 70.012 Công trình cấp nước nhỏ lẻ gồm: (giếng đào, giếng khoan, bể lu chứa nước mưa, nước sông, suối đã qua xử lý…), 242 công trình cấp nước tập trung (Trong số 242 công trình cấp nước tập trung chỉ có 71 công trình
Trang 39hoạt động bền vững) Tính đến hết năm 2010 dân số nông thôn trên địa bàn tỉnh có nước sinh hoạt HVS đạt 70%
Người dân nông thôn hiện còn sử dụng các nguồn nước tự nhiên từ sông, ngòi, suối, nước lẫn từ các khe núi
d) Hạ tầng thông tin liên lạc:
Hệ thống cơ sở vật chất ngành bưu chính viễn thông liên tục được đầu tư nâng cấp, đáp ứng kịp thời nhu cầu thông tin liên lạc của mọi tổ chức, cá nhân có nhu cầu, đồng thời phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Mạng lưới thông tin nội bộ 100% đã được số hóa, 9/9 huyện, thị, thành phố có tuyến viba và tổng đài điện tử tự động
Số phòng học đã đủ đảm bảo thực hiện học 2 ca, chất lượng thiết bị giáo dục cũng như chất lượng đội ngũ giáo viên từng bước được nâng lên nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục
Về đội đội ngũ cán bộ: Toàn ngành hiện có 14.700 lao động Về cơ bản đội ngũ trong toàn ngành đảm bảo đủ số lượng để thực hiện công tác quản lý, giảng dạy tại các cơ sở trường học
Trang 40Hiện nay toàn ngành có 41% trường mầm non, 87% trường tiểu học, 90% trường THCS, 100% trường THPT, 100% TTGDTX - HNDN có máy tính phục vụ công tác quản lý giáo dục
Tất cả phòng Giáo dục và Đào tạo, trường THPT, trung tâm GDTX - HNDN, 52% trường THCS, 38% trường tiểu học, 17% trường mầm non đã kết nối Internet ADSL phục vụ công tác quản lý và giảng dạy
Nhìn chung, cơ sở vật chất các trường học tại các trung tâm đô thị đã được đáp
ứng được điều kiện đảm bảo dạy và học, tuy nhiên một số trường học trú cơ sở vật chất
vẫn chưa đảm bảo các điều kiện học, ăn, ngủ cho học sinh theo quy định chung
f) Y tế
Theo số liệu thống kê năm 2010, toàn tỉnh hiện có 45 cơ sở y tế có giường bệnh với 1744 giường bệnh Trong đó tuyến tỉnh có 9 cơ sở với 779 giường bệnh, tuyến huyện có 27 cơ sở (8 bệnh viên đa khoa huyện và 19 phòng khám đa khoa khu vực) với 735 giường bệnh, y tế các ngành quản lý có 8 cơ sở với 200 giường bệnh, y tế tư nhân có 1 cơ sở với 30 giường bệnh Bên cạnh đó 180 xã phường có trạm y tế với 993 giường bệnh
Tỷ lệ giường bệnh/10.000 dân là 33,35/10.000 dân
Tổng số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế là 141 xã, đạt tỷ lệ 83,33%
Tổng số cán bộ y tế là 3.113 người Tỷ lệ bác sỹ: 6,8 bác sỹ/10.000 người dân 1.4.3 Đánh giá chung về điều kiện kinh tế xã hội của tỉnh
- Yên Bái nằm trong vùng kinh tế đông bắc của Việt Nam, có hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, rất thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế với vùng đồng bằng Bắc Bộ
- Có diện đất lâm nghiệp cao (trên 70%), đất còn tính chất đất rừng, tài nguyên thực vật phong phú, có điều kiện thuận lợi phát triển Lâm nghiệp
- Phần lớn dân cư gắn bó với rừng và đất lâm nghiệp, có nguồn lao động dồi dào, có kinh nghiệm trong trồng rừng, bảo vệ rừng, xây dựng trại rừng, vườn rừng
- Những năm gần đây được sự quan tâm của nhà nước, của tỉnh, các ngành
có liên quan, sự chuyển đổi nhận thức của nhân dân nên công tác trồng rừng rất phát triển, đặc biệt là trồng rừng sản xuất, trồng cây đặc sản và phát triển kinh tế trang trại, đã thu được những hiệu quả kinh tế đáng khích lệ