HÀ NGỌC QUÝ NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM TÁI SINH TỰ NHIÊN MỘT SỐ TRẠNG THÁI THẢM THỰC VẬT RỪNG TẠI XÃ XUÂN LONG, HUYỆN YÊN BÌNH TỈNH YÊN BÁI LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP Thái Nguyên - 2015...
Trang 1HÀ NGỌC QUÝ
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM TÁI SINH TỰ NHIÊN MỘT SỐ TRẠNG THÁI THẢM THỰC VẬT RỪNG TẠI XÃ XUÂN LONG, HUYỆN YÊN BÌNH
TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Thái Nguyên - 2015
Trang 2HÀ NGỌC QUÝ
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM TÁI SINH TỰ NHIÊN MỘT SỐ TRẠNG THÁI THẢM THỰC VẬT RỪNG TẠI XÃ XUÂN LONG, HUYỆN YÊN BÌNH
TỈNH YÊN BÁI
Ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS Đàm Văn Vinh
Thái Nguyên - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực rõ ràng và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Hà Ngọc Quý
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên,
Ban Chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp và giáo viên hướng dẫn Tôi tiến hành làm luận
văn “Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên một số trạng thái thảm thực vật rừng
tại xã Xuân Long, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái”
Kết quả luận văn là sự nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nhà trường Nhân dịp này tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới các
vị lãnh đạo các xã khu vực xã Xuân Long, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái đã tạo mọi
điều kiện cho tôi thu thập thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu, sự đóng góp ý
kiến của thầy cô, bạn bè về kiến thức và tinh thần đã giúp tôi hoàn thành luận văn
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS Đàm Văn Vinh đã tận tình
hướng dẫn, chỉ bảo giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm đề tài
Do trình độ bản thân còn hạn chế và địa bàn nghiên cứu rộng, giao thông đi lại gặp khó khăn nên luận văn vẫn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 09 năm 2015
Học viên
Hà Ngọc Quý
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Ý nghĩa và điểm mới của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 4
3.3 Điểm mới của đề tài 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Một số khái niệm liên quan 5
1.1.1 Thảm thực vật 5
1.1.2 Tái sinh rừng 5
1.1.3 Phục hồi rừng 6
1.2 Những nghiên cứu về tái sinh rừng 6
1.2.1 Trên thế giới 6
1.2.2 Ở Việt Nam 8
1.2.3 Những nghiên cứu về TTV rừng ở Yên Bái 10
1.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 11
1.3.1 Điều kiện tự nhiên 11
1.3.1 1 Vị trí địa lý 11
1.3.1.2 Địa hình 11
1.3.1.3 Địa chất và thổ nhưỡng 11
Trang 61.3.1.4 Khí hậu 12
1.3.1.5 Thuỷ văn 12
1.3.1.6 Thảm thực vật cây trồng 13
1.3.1.7 Hiện trạng rừng và sử dụng đất 13
1.3.2 Đặc điểm Kinh tế - Xã hội xã Xuân Long, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái 14
1.3.2.1 Dân số, dân tộc 14
1.3.2.2 Lao động 14
1.3.2.3 Văn hoá xã hội 14
1.3.2.4 Cơ sở hạ tầng 14
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 15
2.1.1.Đối tượng 15
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 15
2.2 Nội dung nghiên cứu 15
2.2.1 Nghiên cứu đặc điểm thảm thực vật rừng tại xã Xuân Long, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái 15
2.2.2 Đặc điểm cấu trúc tổ thành và mật độ cây gỗ của hai trạng thái TTV 15
2.2.3 Đặc điểm cấu trúc ngang của các trạng thái TTV nghiên cứu 16
2.2.4 Đặc điểm cấu trúc đứng của các trạng thái TTV nghiên cứu 16
2.2.5 Đặc điểm tái sinh TN của các trạng thái TTV nghiên cứu 16
2.2.6 Đề xuất một số giải pháp để phục vụ cho công tác bảo tồn tài nguyên sinh học và phát triển rừng bền vững 16
2.3 Phương pháp nghiên cứu 16
2.3.1 Phương pháp điều tra quan sát trực tiếp 16
2.3.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 18
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
3.1 Hiện trạng thảm thực vật tự nhiên tại khu vực nghiên cứu 22
3.1.1 Thảm thực vật tự nhiên 22
3.1.2 Đặc trưng của các trạng thái thảm thực vật rừng phục hồi tự nhiên 24
Trang 73.1.2.1 Trạng thái TTV thứ sinh phục hồi TN sau NR 24
3.1.2.2 Trạng thái TTV thứ sinh phục hồi TN sau KTK 27
3.2 Đặc điểm cấu trúc tổ thành và mật độ cây gỗ của các trạng thái TTV 31
3.2.1 Chỉ số IVI và công thức tổ thành sinh thái của các loài cây gỗ 31
3.2.2 Đánh giá sự biến động thành phần loài giữa các nhóm cây 39
3.2.3 Đánh giá chỉ số đa dạng sinh học 40
3.2.4 Dạng sống thực vật 41
3.3 Một số đặc điểm cấu trúc ngang của hai trạng thái TTV 43
3.3.1 Phân bố loài theo các nhóm tần số xuất hiện 43
3.3.2 Sự phân bố loài cây theo cấp đường kính 46
3.3.3 Sự phân bố số cây theo cấp đường kính 48
3.4 Một số đặc điểm cấu trúc đứng của hai trạng thái TTV 50
3.4.1 Phân bố số cây theo cấp chiều cao 50
3.4.2 Phân bố số loài theo cấp chiều cao 52
3.5 Đặc điểm tái sinh tự nhiên trong các trạng thái TTV 54
3.5.1 Đánh giá chỉ số đa dạng sinh học tầng cây tái sinh 54
3.5.2 Đặc điểm cấu trúc tổ thành, mật độ cây tái sinh 55
3.5.3 Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao 58
3.5.4 Nguồn gốc và chất lượng cây tái sinh 59
3.6 Đề xuất định hướng một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh phục hồi và phát triển rừng tại địa bàn nghiên cứu 61
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64
KẾT LUẬN 64
KIẾN NGHỊ 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Hvn Chiều cao vút ngọn
H VN Chiều cao vút ngọn trung bình
G/ha Tiết diện ngang/ha
G% % tiết diện ngang
IVI Chỉ số tổ thành sinh thái tầng cây gỗ
SI Chỉ số tương đồng về thành phần loài cây
Shannon Chỉ số đa dạng sinh học
TTV Thảm thực vật
TN Tự nhiên
NR Nương rẫy
KTK Khai thác kiệt
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Hiện trạng sử dụng đất rừng và đất lâm nghiệp của xã Xuân Long 13
Bảng 3.1 Tổng số loài và loài ưu thế sinh thái ở hai TTV 32
Bảng 3.2 Kết quả các loài cây gỗ có IVI > 5% trong hai TTV 32
Bảng 3.3 Tổ thành, mật độ tầng cây cao TTV sau NR 33
Bảng 3.4 Tổ thành, mật độ tầng cây nhỡ TTV sau NR 34
Bảng 3.6 Tổ thành, mật độ tầng cây nhỡ TTV sau KTK 37
Bảng 3.7 Chỉ số tương đồng về thành phần loài giữa hai TTV 39
Bảng 3.8 Chỉ số tương đồng về thành phần loài trong TTV sau NR 39
Bảng 3.9 Chỉ số tương đồng về thành phần loài trong TTV sau KTK 40
Bảng 3.10 Kết quả chỉ số đa dạng sinh học ở hai TTV 41
Bảng 3.11 Dạng sống của thực vật tại xã Xuân Long 42
Bảng 3.12 Phân bố số loài theo cấp đường kính ở hai TTV 47
Bảng 3.14 Phân bố số cây theo cấp chiều cao ở hai TTV 50
Bảng 3.16 Chỉ số đa dạng sinh học tầng cây tái sinh ở hai TTV 55
Bảng 3.17 Cấu trúc tổ thành, mật độ cây tái sinh ở hai TTV 56
Bảng 3.18 Mật độ cây tái sinh theo cấp chiều cao ở hai TTV 58
Bảng 3.19 Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh ở hai TTV 60
Trang 10
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ ô tiêu chuẩn cấp I với các ô cấp II và cấp III 17
Hình 3.1 Đồ thị đường tổng góp loài trên diện tích của TTV sau NR 25
Hình 3.2 Ảnh TTV sau NR đã phục hồi tự nhiên được 20 năm 26
Hình 3.3 Đồ thị đường tổng góp loài trên diện tích của TTV sau KTK 28
Hình 3.4 Ảnh TTV sau KTK đã phục hồi tự nhiên được 20 năm 29
Hình 3.5 Phổ dạng sống của hai kiểu TTV tại khu vực nghiên cứu 43
Hình 3.6 Phân bố số loài theo nhóm tần số ở TTV sau NR 44
Hình 3.7 Phân bố số loài theo nhóm tần số ở TTV sau KTK 45
Hình 3.8 Đồ thị phân bố số loài theo cấp kính ở hai TTV 47
Hình 3.9 Đồ thị phân bố số cây theo cấp đường kính ở hai TTV 48
Hình 3.10 Đồ thị phân bố số cây theo cấp chiều cao ở hai TTV 51
Hình 3.11 Đồ thị phân bố số loài theo cấp chiều cao ở hai TTV 53
Hình 3.12 Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao ở hai TTV 59
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng phong phú và quý giá, có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội, có tác dụng rất lớn đến môi trường sinh thái, quyết định sự sinh tồn của đất nước
Rừng là nơi cung cấp các sản phẩm và nguyên liệu phục vụ đời sống và sinh hoạt của người dân cũng như các ngành kinh tế mũi nhọn về sản xuất gỗ và lâm sản ngoài gỗ
Rừng là lớp thảm thực vật sống có tác dụng điều tiết dòng chảy, nuôi dưỡng nguồn nước, chống xói mòn, bảo vệ đất, hạn chế lũ lụt, góp phần phòng chống thiên tai, phòng hộ môi trường, đảm bảo sản xuất và đời sống của nhân dân
Rừng đóng một vai trò hết sức quan trọng về môi trường sinh thái, là lá phổi xanh của trái đất bao gồm các quần thể sinh vật rừng, thực vật rừng, động vật rừng đa loài và hết sức phong phú, là kho chứa và dự trữ đa dạng sinh học có tác dụng cung cấp dưỡng khí, hấp thu các khí thải độc hại đặc biệt là CO2, có tác dụng chắn bụi, diệt khuẩn làm sạch không khí, giảm tiếng ồn, tạo dựng cảnh quan môi trường phục
vụ nghỉ dưỡng, giải trí, du lịch sinh thái
Với vai trò to lớn và hết sức quan trọng của rừng Những năm vừa qua, Đảng
và Nhà nước ta đã có những giải pháp, chính sách về bảo vệ và phát triển rừng bảo
đảm phát triển bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng an ninh phù hợp
với chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, chiến lược phát triển lâm nghiệp theo đúng quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của cả nước và của từng địa phương
Xác định việc bảo vệ rừng là trách nhiệm của toàn dân, của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân Hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải đảm bảo quản lý rừng bền vững, kết hợp bảo vệ, phát triển với khai thác hợp lý tài nguyên rừng
Bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước với chủ rừng, giữa lợi ích kinh tế của rừng với lợi ích phòng hộ, bảo vệ môi trường và bảo vệ thiên nhiên, giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, bảo đảm cho người làm nghề rừng sống chủ yếu bằng nghề rừng
Trang 12Nhà nước có chính sách đầu tư cho việc bảo vệ và phát triển rừng gắn liền,
đồng bộ với các chính sách kinh tế, xã hội khác, đầu tư cho các hoạt động bảo vệ và
phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng giống quốc gia và các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp quý hiếm, nghiên cứu, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực cho việc bảo vệ và phát triển rừng, xây dựng hệ thống quản lý rừng hiện đại, thống kê rừng, kiểm kê rừng và theo dõi diễn biến tài nguyên rừng, xây dựng lực lượng chữa cháy rừng chuyên ngành, đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật và trang thiết bị phương tiện phục vụ chữa cháy rừng, phòng trừ sinh vật hại rừng
Nhà nước có chính sách hỗ trợ việc bảo vệ và làm giàu rừng sản xuất là rừng
tự nhiên nghèo, trồng rừng sản xuất gỗ lớn, gỗ quý, cây đặc sản, hỗ trợ xây dựng cơ
sở hạ tầng trong vùng rừng nguyên liệu, chính sách khuyến lâm và hỗ trợ nhân dân ở nơi có nhiều khó khăn trong việc phát triển rừng, tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm
Nhà nước khuyến khích phát triển rừng ở những nơi đất trống, đồi núi trọc, có chính sách miền, giảm thuế đối với người trồng rừng, có chính sách đối với tổ chức tín dụng cho vay vốn trồng rừng, chính sách phát triển thị trường lâm sản, ngành nghề truyền thống chế biến lâm sản và việc bảo hiểm rừng trồng
Nhà nước thống nhất quản lý và định đoạt đối với rừng tự nhiên và rừng được phát triển bằng vốn của Nhà nước, rừng do Nhà nước nhận chuyển quyền sở hữu từ các chủ rừng, động vật hoang dã, vi sinh vật rừng, cảnh quan, môi trường rừng Quyền định đoạt được thực hiện trong việc quyết định mục đích sử dụng rừng, quyết
định quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, quy định về hạn mức giao rừng
và thời hạn sử dụng rừng, quyết định về giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, cho phép chuyển mục đích sử dụng rừng và định giá rừng
Thực tế, trên địa bàn nghiên cứu tại xã Xuân Long, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái có khoảng 150 loài thực vật, 50 loài cây lấy gỗ chủ yếu Rừng tự nhiên có diện tích lớn với các loài cây gỗ lớn chủ yếu như: Lim xanh, Lát, Trám, Muồng, Ngân hoa, Trai lý, Giổi, Đinh, Táu, Gội các loài Nứa, giang xen lẫn cây bản địa
Trang 13Nhìn chung thảm thực vật rừng của xã Xuân Long rất đa dạng về loài nhưng ngày càng nghèo kiệt, do không có đầu tư để quy hoạch cải tạo bền vững, chất lượng rừng ngày càng bị suy giảm, tác dụng của rừng không phát huy được lợi thế về môi trường sinh thái, cung cấp nguồn nước tưới tiêu cho sản xuất nông lâm nghiệp, không hạn chế được xói mòn, thiên tai, lũ lụt thường xuyên xảy ra, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống nhân dân trong vùng trong quá trình sản xuất nông lâm nghiệp
Trước thực tiễn đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc
điểm tái sinh tự nhiên một số trạng thái thảm thực vật rừng tại xã Xuân Long,
huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái” nhằm phát huy tác dụng vốn có của rừng, góp phần
đem lại giá trị từ rừng về môi trường sinh thái, nâng cao độ che phủ của rừng, bảo
tồn được đa dạng loài động thực vật rừng, phát huy tác dụng phòng hộ của rừng, hạn chế thiên tai, lũ lụt, cung ứng nguồn ngước sản xuất nông lâm nghiệp cho nhân dân trong vùng, thúc đẩy phát triển bền rừng vững
2 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu khả năng tái sinh tự nhiên của hai trạng thái thảm thực vật thứ sinh phục hồi tự nhiên sau nương rẫy và sau khai thác kiệt, làm cơ sở đề xuất một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh cho việc phục hồi rừng sau nương rẫy và sau khai thác kiệt tại xã Xuân Long, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái Góp phần nâng cao chất lượng và chức năng phòng hộ môi trường sinh thái trong khu vực
3 Ý nghĩa và điểm mới của đề tài
địa bàn nghiên cứu là xã Xuân Long, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái
- Kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu tiếp theo về tái sinh ở Yên Bái chung
Trang 143.2 Ý nghĩa thực tiễn
Các giải pháp kỹ thuật lâm sinh về xúc tiến tái sinh tự nhiên và làm giàu rừng mà luận văn đề xuất sẽ được ứng dụng vào thực tiễn sản xuất để phục hồi rừng sau nương rẫy và sau khai thác kiệt tại xã Xuân Long, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái Góp phần nâng cao chất lượng và chức năng phòng hộ môi trường sinh thái của rừng trong khu vực
3.3 Điểm mới của đề tài
- Là công trình nghiên cứu tương đối đầy đủ về tái sinh tự nhiên cuả 2 trạng
thái thảm thực vật rừng tự nhiên sau nương rẫy và sau khai thác kiệt tại xã Xuân Long, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số khái niệm liên quan
Tái sinh nhân tạo: nguồn giống do con người tạo ra bằng cách gieo giống trực tiếp
Tái sinh bán nhân tạo nguồn giống được con người tạo ra bằng cách trồng
bổ sung các cây giống, sau đó chính cây giống sẽ là tạo ra nguồn hạt cho quá trình tái sinh
Tái sinh tự nhiên: nguồn hạt (nguồn giống) hoàn toàn tự nhiên
Trang 16Theo Phùng Ngọc Lan (1986), tái sinh được coi là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng Biểu hiện đặc trưng của tái sinh rừng là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở nơi còn hoàn cảnh rừng Theo ông vai trò lịch sử của thế hệ cây con là thay thế thế hệ cây gỗ già cỗi Vì vậy, tái sinh rừng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi lại thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ Ông cũng khằng định tái sinh rừng có thể hiểu theo nghĩa rộng là sự tái sinh của một hệ sinh thái rừng [6]
Bàn về vai trò của lớp cây tái sinh, Trần Xuân Thiệp (1995) cho rằng nếu thành phần loài cây tái sinh giống với thành phần cây đứng thì đó là quá trình thay thế một thế hệ cây này bằng thế hệ cây khác Ngược lại, nếu thành phần loài cây tái sinh khác với thành phần cây đứng thì quá trình diễn thế xảy ra [15]
Như vậy, tái sinh rừng là một khái niệm chỉ khả năng và quá trình thiết lập lớp cây con dưới tán rừng Đặc điểm cơ bản của quá trình này là lớp cây con
đều có nguồn gốc từ hạt và chồi có sẵn, kể cả trong trường hợp tái sinh nhân tạo
thì cây con cũng phải mọc từ nguồn hạt do con người gieo trước đó Nó được phân biệt với các khái niệm khác (như trồng rừng) là sự thiết lập lớp cây con bằng việc trồng cây giống đã được chuẩn bị trong vườn ươm.Vì đặc trưng đó nên tái sinh là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của các hệ sinh thái rừng
1.1.3 Phục hồi rừng
Phục hồi rừng được hiểu là quá trình tái tạo lại rừng trên những diện tích đã
bị mất rừng Theo quan điểm sinh thái học thì phục hồi rừng là một quá trình tái tạo lại một hệ sinh thái mà trong đó cây gỗ là yếu tố cấu thành chủ yếu Đó là một quá trình sinh địa phức tạp gồm nhiều giai đoạn và kết thúc bằng sự xuất hiện một thảm thực vật cây gỗ bắt đầu khép tán (Trần Đình Lý và cs.; 1995) [8]
Để tái tạo lại rừng người ta có thể sử dụng các giải pháp khác nhau tuỳ theo
mức độ tác động của con người là: phục hồi nhân tạo (trồng rừng) phục hồi tự nhiên và phục hồi tự nhiên có tác động của con người (xúc tiến tái sinh)
1.2 Những nghiên cứu về tái sinh rừng
1.2.1 Trên thế giới
Tái sinh rừng là một vấn đề được quan tâm trong nghiên cứu rừng Theo quan
điểm của các nhà nghiên cứu, hiệu quả của tái sinh rừng được xác định bởi mật độ,
tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố
Trang 17Khi đề cập đến vấn đề điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy mẫu ô vuông theo hệ thống của Lowdermilk (1927), với ô đo đếm điều tra tái sinh có diện tích từ 1-4 m2 Do diện tích điều tra nhỏ nên việc đo đếm có nhiều thuận lợi nhưng số lượng ô phải đủ lớn và trải đều trên diện tích khu rừng mới phản ánh trung thực tình hình tái sinh rừng (dẫn theo Lê Đồng Tấn, 1999) [11]
Trong phương thức rừng đều tuổi của Malaysia (Mus, 1945) nhiêm vụ đầu tiên được ghi trong lịch trình là điều tra tái sinh theo ô vuông 1/1000 mẫu Anh (4
m2), để biết xem tái sinh có đủ hay không và sau đó mới tiến hành các biện pháp tiếp theo (dẫn theo Lê Đồng Tấn, 1999) [11]
Richards P.W (1952) đã tổng kết việc nghiên cứu tái sinh trên các ô dạng bản
và phân bố tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới Để giảm sai số trong khi thống kê tái sinh tự nhiên Barnard (1955) đã đề nghị một phương pháp “điều tra chuẩn đoán”
mà theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh Một số tác giả nghiên cứu tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới Châu Á như Bara (1954), Budowski (1956) có nhận định dưới tái sinh rừng nhiệt đới nói chung
có đủ lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, nên việc đề xuất các biện pháp lâm sinh
để bảo vệ lớp cây tái sinh này là cần thiết Nhờ những nghiên cứu này, nhiều biện
pháp tác động vào lớp cây tái sinh đã được xây dựng và đem lại hiệu quả đáng kể [20]
Van Steenis (1956) đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến ở rừng nhiệt
đới đó là tái sinh phân tán liên tục và tái sinh vệt (tái sinh lỗ trống) Hai đặc điểm
này không chỉ thấy ở rừng nguyên sinh mà còn thấy ở rừng thứ sinh, một hiện tượng khá phổ biến ở nhiều nước nhiệt đới [21]
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến tái sinh tự nhiên, nhân tố ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi thảm tươi được đề cập thường xuyên Baur G.N (1952, 1964) cho rằng, trong rừng nhiệt đới nếu thiếu ánh sáng thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của cây con, sự nảy mầm và phát triển của cây nảy mầm thì ảnh hưởng là không rõ ràng Ngoài ra các tác giả nhận định: Thảm cỏ và cây bụi có ảnh hưởng đến sinh trưởng
và phát triển của cây tái sinh Mặc dù ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi
Trang 18kém phát triển nhưng chúng vẫn ảnh hưởng đến cây tái sinh Đối với rừng nhiệt đới
số lượng loài cây trên một đơn vị diện tích và mật độ tái sinh thường khá lớn Số lượng loài cây có giá trị về kinh tế không nhiều và được chú ý hơn, còn các loài cây
có giá trị kinh tế thấp lại ít được quan tâm mặc dù chúng có vai trò sinh thái quan trọng Vì vậy khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên cần phải đề cập một cách đầy đủ tất
cả các loài cây xuất hiện trong lớp cây tái sinh để có những đánh giá chính xác tình hình tái sinh rừng và có biện pháp tác động thích hợp [2], [19]
1.2.2 Ở Việt Nam
Ở nước ta, chưa có nhiều công trình nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống
về tái sinh rừng, đặc biệt là tái sinh tự nhiên Một số kết quả về nghiên cứu tái sinh thường được đề cập trong các công trình nghiên cứu về thảm thực vật trong các báo cáo khoa học
Trong thời gian từ năm 1962 đến 1969, Viện Điều tra Quy hoạch rừng đã
điều tra tình tái sinh tự nhiên theo các “Loại hình thực vật ưu thế” rừng thứ sinh ở
Yên Bái (1965), Hà Tĩnh (1966), Quảng Bình (1969), và Lạng Sơn (1969), đáng chú ý là kết quả điều tra tái sinh tự nhiên ở vùng sông Hiếu (1962-1964), bằng phương pháp đo đếm điển hình Từ kết quả điều tra tái sinh, dựa vào mật độ cây tái sinh, Vũ Đình Huề (1969, 1984), đã phân chia khả năng tái sinh rừng thành 5 cấp: Rất tốt, tốt, trung bình, xấu và rất xấu, với mật độ tái sinh tương ứng là: trên 12.000 cây/ha, 8.000 - 12.000 cây/ha, 4.000 – 8.000 cây/ha, 2.000 – 4.000 cây/ha và dưới 2.000 cây/ha (Dẫn theo Lê Đồng Tấn, 1999) [11]
Nhìn chung nghiên cứu này mới chỉ chú trọng đến số lượng mà chưa đề cập
đến chất lượng cây tái sinh Cũng từ kết quả điều tra trên, Vũ Đình Huề (1975,
1984) đã tổng kết và rút ra nhận xét: Tái sinh tự nhiên rừng miền Bắc Việt Nam mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới Dưới tán rừng nguyên sinh, tổ thành loài cây tái sinh tương tự như tầng cây gỗ dưới tán rừng thứ sinh tồn tại nhiều loài cây gỗ kém giá trị và hiện tượng tái sinh theo đám được thể hiện rõ nét tạo nên
sự phân bố số cây không đồng đều trên mặt đất rừng (Dẫn theo Lê Đồng Tấn, 1999) [11]
Trang 19Khi nghiên cứu về tái sinh rừng không thể không nhắc tới hiện tượng tái sinh lỗ trống Theo Phạm Đình Tam (1987), số lượng cây tái sinh xuất hiện khá nhiều dưới những lỗ trống khác nhau, lỗ trống càng lớn cây tái sinh càng nhiều và hơn những nơi kín tán Đây là một trong những đặc điểm tái sinh phổ biến ở rừng nhiệt đới [10] Trần Ngũ Phương (2000), khi nghiên cứu các quy luật phát triển rừng tự nhiên ở miền Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh quá trình diễn thế thứ sinh của rừng tự nhiên như sau: “Trường hợp rừng tự nhiên có nhiều tầng khi tầng trên già cỗi, tàn lụi rồi tiêu vong thì tầng kế tiếp sẽ thay thế Trường hợp chỉ có 1 tầng trong khi nó già cỗi 1 lớp cây con tái sinh xuất hiện và sẽ thay thế nó sau khi nó tiêu vong, hoặc cũng có thể một thảm thực vật trung gian xuất hiện thay thế, nhưng về sau dưới lớp thảm thực vật trung gian này sẽ xuất hiện một lớp cây con tái sinh lại rừng cũ trong tương lai và sẽ thay thế thảm thực vật trung gian này, lúc bấy giờ rừng cũ sẽ được phục hồi” [9]
Tuy nhiên, sau một thời gian nghiên cứu tìm hiểu quy luật của loại hình rừng tự nhiên, xây dựng bản cân đối giữa một bên là mặt thoái hóa với mặt phục hồi tự nhiên, tác giả này và các cộng tác viên đã kết luận: “Mặt phục hồi tự nhiên không bao giờ cân đối được với mặt thoái hóa về số lượng cũng như chất lượng, nên muốn đảm bảo
độ che phủ thích hợp, chúng ta dựa vào tái sinh nhân tạo
Thực tế cho thấy, với điều kiện nước ta hiện nay nhiều khu vực vẫn phải trồng vào khu vực tái sinh tự nhiên, còn tái sinh nhân tạo mới chỉ được triển khai trên quy mô hẹp Vì vậy những nghiên cứu đầy đủ về tái sinh tự nhiên cho từng đối tượng rừng cụ thể là hết sức cần thiết nếu muốn đề xuất biện pháp kỹ thuật chính xác và đáp ứng mục tiêu kinh doanh rừng hiện nay
* Nhận xét chung:
Những nghiên cứu về cấu trúc rừng còn tương đối ít, mỗi tác giả đều đưa ra những tiêu chuẩn riêng để xây dựng một cấu trúc rừng thích hợp Cấu trúc thích hợp tức là mọi tầng cây đều phát triển tốt Tuỳ từng giai đoạn mà cấu trúc rừng có thể thay đổi, phụ thuộc vào nhiều yếu tố
Trang 201.2.3 Những nghiên cứu về TTV rừng ở Yên Bái
Ở Yên Bái trong thời gian qua có một số công trình của các tác giả về phục
hồi rừng
Lâm Phúc Cố (1994), nghiên cứu phục hồi lại rừng đầu nguồn sông Đà tại
Mù Căng Chải cho rằng ở những nơi đất khó có tái sinh tự nhiên thì trồng rừng là một biện pháp kỹ thuật lâm sinh cần thiết Theo tác giả nên chọn phương thức trồng rừng hỗn giao nhiều loài với các loài cây thích nghi với điều kiện đồi núi trọc [4]
Lâm Phúc Cố (1996), nghiên cứu một số biện pháp xây dựng rừng phòng hộ
đầu nguồn sông Đà tại Lâm trường Púng Luông – Mù Cang Chải – Yên Bái đã
nhận xét: trồng hỗn giao các loài cây bản địa với Thông đuôi ngựa là biện pháp tạo rừng phòng hộ đầu nguồn hiệu quả cao và nhanh nhất, ở những vùng rất xung yếu
có điều kiện lập địa phù hợp với yêu cầu sinh thái nhiều loài cây thì tiến hành trồng hỗn giao theo băng tỷ lệ 1:2 (50% cây bản địa, 50% cây mục đích) [5]
Lâm Phúc Cố (1996), nghiên cứu rừng thứ sinh sau nương rẫy ở Púng Luông,
Mù Căng Chải, tỉnh Yên Bái đã phân chia thành 5 giai đoạn và kết luận diễn thế thứ sinh sau nương rẫy ở Púng Luông theo hướng đi lên tiến tới rừng cao đỉnh Tổ thành loài tăng dần theo các giai đoạnphát triển, từ 4 loài ở giai đoạn I (< 5 năm), tăng lên 5 loài ở giai đoạn V (> 25 năm) Rừng phục hồi có 1 tầng cây gỗ giao tán
ở giai đoạn 10 tuổi và đạt độ tàn che 0,4 [5]
Âu Văn Bẩy (2005), nghiên cứu đặc điểm vùng bán ngập của một số hồ trọng
điểm ở miền bắc Việt Nam, đề xuất giải pháp trồng rừng phòng hộ bán ngập ven hồ
cókết luận: Việc trồng rừng bán ngập tại các hồ vùng đầu nguồn là rất cần thiết, có tác dụng chống sạt lở ven hồ, hạn chế xói mòn rửa trôi đất, hạn chế bồi lắng lòng
hồ, bảo vệ nguồn nước [3]
Như vậy có thể thấy các công trình nghiên cứu về cấu trúc và tái sinh rừng ở tỉnh Yên Bái còn rất ít, chưa đáp ứng được nhiệm vụ phục hồi, bảo vệ và phát triển rừng ở xã Xuân Long, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái Những nghiên cứu của chúng tôi sẽ góp phần nhỏ vào mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá một số đặc điểm tái sinh của hai trạng thái thảm thực vật thứ sinh phục hồi tự nhiên sau nương rẫy và sau khai thác kiệt tại xã Xuân Long, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái
Trang 211.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu
1.3.1 Điều kiện tự nhiên
1.3.1 1 Vị trí địa lý
Yên Bình là huyện vùng thấp của tỉnh Yên Bái, có tổng diện tích tự nhiên là 76.227,44 ha Trung tâm huyện lỵ cách trung tâm Thành phố Yên Bái 8 km về phía
Đông Nam, cách Thủ đô Hà Nội 175 km về phía Tây Bắc Yên Bình nằm trong tọa
độ địa lý từ 104045' đến 10606' kinh độ Đông và từ 21040' đến 22004' vĩ độ Bắc Khu vực nghiên cứu là xã Xuân Long (huyện Yên Bình) có tổng diện tích tự nhiên là 7.780 ha, trong đó rừng tự nhiên có 5.954 ha (có 4.656 ha rừng phòng hộ
đầu nguồn, chiếm 78% diện tích rừng tự nhiên), rừng trồng có 762 ha (có 114 ha
rừng phòng hộ đầu nguồn, chiếm 15% diện tích rừng trồng)
Địa giới hành chính của xã Xuân Long như sau:
-Phía Bắc giáp tỉnh Tuyên Quang
-Phía Nam giáp xã Ngọc Chấn
-Phía Đông giáp xã Tích Cốc
-Phía Tây giáp huyện Lục Yên
- Dãy Con Voi là hệ thống núi cổ nằm phía hữu ngạn sông Chảy, bao gồm những sườn núi thấp, thoải và dưới tầng đất phủ là nền đá phiến thạch kết tinh, có
độ cao từ 400 - 700 m chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, là đường giao thủy
giữa sông Chảy và sông Hồng
1.3.1.3 Địa chất và thổ nhưỡng
Theo số liệu điều tra, huyện Yên Bình có các loại đất chính sau:
Trang 22Nhóm đất đỏ vàng (Feralit) chiếm phần lớn diện tích đất trong huyện (61%),
đây là loại đất hơi chua hàm lượng đạm thấp, bao gồm:
+ Đất đỏ vàng trên đá biến chất và đất sét chiếm 18% Loại đất này có tỷ lệ mùn và đạm trung bình, chua
+ Đất pha (Fp, Fq) chiếm 13%, có thành phần cơ giới nhẹ, chua, nghèo mùn
và các loại đất Feralit trên đá vôi có tầng đất dày trung bình, tỷ lệ mùn và đạm trung bình Nhóm đất dốc tụ phân bố rải rác ở các thung lũng, sông suối, nghèo mùn, đạm trung bình
- Nhóm đất phù sa phân bố dọc sông Chảy và các con suối lớn, nhóm đất này
có địa hình bằng phẳng, giàu chất dinh dưỡng
Như vậy, nhóm đất đỏ vàng là nhóm đất quan trọng nhất, chiếm tỷ lệ cao và thích hợp cho cây rừng, cây công nghiệp và cây ăn quả phát triển
có 40 con suối lớn nhỏ đều bắt nguồn từ núi cao, độ dốc lớn, có tiềm năng thủy
điện Ngoài ra còn có 120 ha diện tích ao đầm nhỏ phục vụ cho công tác thủy lợi và
nuôi trồng thủy sản Với nguồn nước mặt phong phú như vậy, Yên Bình có khả năng phát triển thủy sản, canh tác lúa nước, trồng cây công nghiệp, phát triển hệ thống cung cấp nước sạch sinh hoạt cho nhân dân Nguồn nước mặt hồ lớn cũng là tiềm năng phát triển du lịch du thuyền và các hoạt động thể thao khác
Trang 23Nguồn nước ngầm: huyện Yên Bình nằm trong vùng chứa nước đệ tam, đệ tứ, nhưng lưu lượng nhỏ, thuận lợi cho việc đào giếng lấy nước ăn, dùng sinh hoạt Về chất lượng nước nhìn chung chưa bị ô nhiễm, có điều kiện thực hiện các chương trình nước sạch
1.3.1.6 Thảm thực vật cây trồng
Yên Bình có thảm thực vật khá phong phú, nhiều chủng loại Trong huyện có các thảm thực vật phát triển như: Rừng, cây công nghiệp, cây ăn quả, lúa, màu, v.v
1.3.1.7 Hiện trạng rừng và sử dụng đất
Hiện trạng sử dụng đất xã Xuân Long được tổng hợp tại bảng 1.1
Bảng 1.1 Hiện trạng sử dụng đất rừng và đất lâm nghiệp của xã Xuân Long
III Đất phi nông nghiệp 356,60 4,58
Trang 241.3.2 Đặc điểm Kinh tế - Xã hội xã Xuân Long, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái 1.3.2.1 Dân số, dân tộc
Dân số với tổng số hộ 902 hộ, 3.801 nhân khẩu gồm 5 dân tộc sinh sống (Kinh, Tày, Nùng, Cao Lan, Dao) sinh sống trên địa bàn 11 thôn của xã
1.3.2.2 Lao động
Lực lượng lao động khá dồi dào, song trình độ lao động còn thấp, tập quán canh tác còn lạc hậu, công tác phát triển rừng và bảo vệ rừng hiệu quả đem lại chưa
cao, chưa phát huy được thế mạnh của rừng đem lại
1.3.2.3 Văn hoá xã hội
Văn hóa xã hội trên địa bàn khá đa dạng với nhiều phong tục tập quán của các dân tộc
Trang 25CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
2.1.1.Đối tượng
Đề tài tập trung nghiên cứu thảm thực vật rừng tự nhiên tại xã Xuân Long,
huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái theo khung phân loại thảm thực vật của UNESCO (1973), xây dựng trên quan điểm ngoại mạo cấu trúc
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu hai trạng thái thảm thực vật thứ sinh phục hồi tự
nhiên sau nương rẫy và sau khai thác kiệt tại xã Xuân Long, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái Các thảm cây bụi, cây trồng nông nghiệp, công nghiệp, trang trại, vườn cây ăn quả và rừng trồng đều không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu về một số đặc điểm cấu trúc tổ thành sinh thái (tần số xuất hiện,
độ phong phú, độ ưu thế của các loài cây gỗ) để đánh giá vai trò sinh thái của từng
loài cây gỗ trong quần xã cây gỗ rừng; quy luật phân bố số loài, số cây theo cấp
đường kính và cấp chiều cao; xác định tính đa dạng của quần hợp cây gỗ và đặc điểm tái sinh tự nhiên trong hai trạng thái thảm thực vật rừng
Từ cơ sở đó đề tài đề xuất một số giải pháp tái sinh rừng tại xã Xuân Long, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái
2.2 Nội dung nghiên cứu
Căn cứ vào đặc điểm của đối tượng nghiên cứu, mục tiêu, phạm vi và giới hạn của đề tài, nội dung nghiên cứu được xác định như sau:
2.2.1 Nghiên cứu đặc điểm thảm thực vật rừng tại xã Xuân Long, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái
+ Mô phỏng thảm thực vật theo khung phân loại UNESCO (1973), xây dựng
trên quan điểm ngoại mạo cấu trúc
2.2.2 Đặc điểm cấu trúc tổ thành và mật độ cây gỗ của hai trạng thái TTV
Cấu trúc tổ thành sinh thái, mật độ tầng cây gỗ
Trang 26Đánh giá sự biến động thành phần loài giữa các nhóm cây
Đánh giá chỉ số đa dạng sinh học của hai trạng thái TTV
2.2.3 Đặc điểm cấu trúc ngang của các trạng thái TTV nghiên cứu
Phân bố loài cây theo các nhóm tần số xuất hiện trong quần hợp cây gỗ
Phân bố số cây theo cấp đường kính
2.2.4 Đặc điểm cấu trúc đứng của các trạng thái TTV nghiên cứu
Phân bố số cây theo cấp chiều cao
2.2.5 Đặc điểm tái sinh TN của các trạng thái TTV nghiên cứu
Đánh giá chỉ số đa dạng sinh học lớp cây tái sinh
Cấu trúc tổ thành, mật độ cây tái sinh
Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao
Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh
2.2.6 Đề xuất một số giải pháp để phục vụ cho công tác bảo tồn tài nguyên sinh học và phát triển rừng bền vững
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp điều tra quan sát trực tiếp
- Phương pháp lập tuyến điều tra và ô tiêu chuẩn điển hình
Vận dụng quan điểm sinh thái phát sinh quần thể trong thảm thực vật rừng nhiệt đới của Thái Văn Trừng (1978) Đề tài đã sử dụng phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn đại diện ở hai trạng thái thảm thực vật sau nương rẫy và sau khai thác kiệt ở khu vực nghiên cứu, số liệu đảm bảo tính đại diện, khách quan và chính xác [18]
Để mô tả một quần xã thực vật, số liệu cần phải được thu thập trên một số ô
tiêu chuẩn (OTC) có diện tích đủ lớn Việc áp dụng phương pháp điều tra theo OTC
đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới cũng như trong nước Mỗi tác giả khi tiến
hành điều tra thu thập số liệu ngoài thực địa đều áp dụng những kích thước OTC khác nhau Tuy có khác nhau, nhưng các tác giả đều thống nhất số lượng và kích thuớc OTC phải đủ lớn thì số liệu thu thập được mới đủ độ tin cậy
Để thu thập số liệu, đề tài thực hiện phương pháp điều tra theo tuyến và OTC như sau:
Trang 27Tuyến điều tra đầu tiên được xác định theo hướng vuông góc với đường đồng mức, các tuyến tiếp theo song song với tuyến đầu tiên Cự ly giữa hai tuyến là 50 – 100m tuỳ theo địa hình cho phép Một hệ thống ô tiêu chuẩn đại diện đã được thiết lập bao gồm 15 ô Ô tiêu chuẩn cấp I trong trạng thái thảm thực vật (TTV) thứ sinh phục hồi tự nhiên (TN) sau nương rẫy và 5 ô tiêu chuẩn cấp I trong trạng thái TTV thứ sinh phục hồi TN sau khai thác kiệt để điều tra nhóm cây có đường kính d > 5 cm; mỗi ô tiêu chuẩn cấp I có diện tích 400 m2 (20 m x 20 m); số ô tiêu chuẩn tỷ lệ với diện tích mỗi kiểu rừng tái sinh.[dẫn theo Pham Ngọc Thường(2003)] Trong mỗi ô tiêu chuẩn cấp I, ghi chép các thông tin như: Số hiệu ô, vị trí ô, độ dốc, hướng phơi, độ cao, những tác động chính vào rừng, số cây có d > 5cm Ở giữa mỗi ô tiêu chuẩn cấp I trên lại thiết lập một ô tiêu chuẩn cấp II có diện tích 100 m2 (5 m x 20 m) để điều tra nhóm cây có đường kính d ≤ 5 cm và chiều cao trên 1,3 m Tại 4 góc
ô tiêu chuẩn cấp I thiết lập 4 ô tiêu chuẩn cấp III có diện tích 4 m2 ( 2 m x 2 m) để
điều tra nhóm cây tái sinh có chiều cao 30 - 130 cm (như sơ đồ trong hình 2.1)
Hình 2.1 Sơ đồ ô tiêu chuẩn cấp I với các ô cấp II và cấp III
* Điều tra nhóm cây lớn
Trong ô tiêu chuẩn cấp I đo chu vi thân cây tại độ cao 1,3 m cho những cây có
đường kính lớn hơn 5 cm (tương đương chu vi 16,7 cm) sau đó dùng chương trình
Excel và công thức chuyển đổi để tính đường kính:
Ô cấp III (2x2 m)
Ô cấp II (20x5 m)
Trang 28Trong đó: P là chu vi thân cây tại độ cao 1,3 m
Xác định tên loài và đo chiều cao vút ngọn (HVN) bằng thước sào có chia vạch cho mỗi cây đã đo đường kính
*Điều tra nhóm cây nhỡ
Trong ô tiêu chuẩn cấp II đo chu vi thân cây tại độ cao 1,3 m với những cây
có đường kính nhỏ hơn hoặc bằng 5 cm (chu vi nhỏ hơn 16,7 cm) sau đó dùng chương trình Excel và công thức chuyển đổi để tính đường kính:
Trong đó P là chu vi thân cây tại độ cao 1,3 m
Xác định tên loài và đo chiều cao vút ngọn (HVN) bằng thước sào có chia vạch cho mỗi cây đã đo đường kính
*Điều tra cây tái sinh có chiều cao 30 - 130 cm
Việc điều tra cây tái sinh được thực hiện trong ô tiêu chuẩn cấp III có kích thước 4 m2 (2 m x 2 m) ở 4 góc ô tiêu chuẩn Tất cả cây tái sinh của các loài cây
gỗ có chiều cao 30 - 130 cm được xác định tên cây, nguồn gốc, phẩm chất (tốt, trung bình, xấu) và đo chiều cao
*Điều tra cây bụi, dây leo và thảm tươi
Thành phần loài lớp cây bụi, dây leo và thảm tươi được xác định cho các ô tiêu chuẩn cấp III Độ nhiều (hay độ dầy rậm) thảm tươi được đánh giá cho toàn ô cấp I
2.3.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Nhóm cây gỗ được xác định theo quy định mới của Cục Lâm nghiệp Các chỉ
số thông dụng được tính theo các công thức đã được sử dụng rộng rãi trong thực tiễn thống kê, quy hoạch rừng với việc sử dụng chương trình Excel [13], [14]
Các chỉ số đặc trưng cho cấu trúc quần hợp cây gỗ rừng sẽ được tính toán bằng chương trình chuyên dụng xử lý số liệu ô tiêu chuẩn F-StructureA&S (Nguyễn Văn Sinh, 2004) Chương trình này cho ra các thông tin sau:
Trang 29- Tổng góp số loài trong các ô tiêu chuẩn: Số loài mới xuất hiện trong ô tiêu
chuẩn kế tiếp được cộng thêm vào tổng số loài đã có ở các ô tiêu chuẩn trước, được
vẽ với các điểm có hoành độ là tổng góp diện tích các ô tiêu chuẩn và tung độ là tổng
số loài cây gỗ đã điều tra được trên các diện tích đó Đường này cho biết tối thiểu tổng diện tích các ô tiêu chuẩn phải là bao nhiêu để ta có thể bao quát được cấu trúc loài của quần hợp cây gỗ rừng Vì thường khó có thể bao quát được tất cả các loài cây
gỗ, Cain và Oliveira Castro đã đề xuất coi diện tích đại diện tối thiểu là đã đạt được khi tăng diện tích ô tiêu chuẩn lên 10% mà số loài tăng thêm ít hơn 10%
- Phân bố số loài, số cây theo các nhóm đường kính: Số loài và số cây được
tính cho các nhóm đường kính: 6 - 10 cm; 11 - 15 cm; 16 - 20 cm, kết quả được thể hiện bằng đồ thị
- Phân bố số loài, số cây theo các nhóm chiều cao: Số loài và số cây được
tính cho các nhóm chiều cao: 1 - 5 m; 6 - 10 m; 11 - 15 m, kết quả được thể hiện bằng đồ thị
- Phân bố số loài theo các nhóm tần số xuất hiện: Tần số xuất hiện ở đây là
tần số xuất hiện tuyệt đối của loài, là tỷ lệ phần trăm số ô tiêu chuẩn có đại diện của loài đó trên tổng số ô tiêu chuẩn đã điều tra Số loài được tính cho 5 nhóm tần số: 1
- 20%; 21 - 40%; 41 - 60%; 61 - 80%; 81 - 100%
- Các chỉ số đa dạng cho các quần xã rừng tái sinh tự nhiên
a Chỉ số đa dạng cây tái sinh:
Chúng tôi chọn chỉ số Shannon để đánh giá tính đa dạng cây tái sinh trong hai trạng thái rừng nghiên cứu:
Trong đó:
- s là số loài trong quần hợp,
- ni là số cá thể loài thứ i trong quần hợp,
- N là tổng số cá thể trong quần hợp
Trang 30b Hệ số tổ thành cây tái sinh:
Xác định tỷ lệ tổ thành và hệ số tổ thành của từng loài được tính theo công thức sau:
Trong đó:
- j =1,
- m là số thứ tự loài
Nếu:
-n%j ≥ 5% thì loài j được tham gia vào công thức tổ thành
-n%i < 5% thì loài j không được tham gia vào công thức tổ thành
c Mật độ cây tái sinh:
Là chỉ tiêu biểu thị số lượng cây tái sinh trên một đơn vị diện tích, được xác
định theo công thức sau:
Trong đó:
-S là tổng diện tích các ô dạng bản điều tra tái sinh (m2),
-n là số lượng cây tái sinh điều tra được
d Chất lượng cây tái sinh:
Tính tỷ lệ % cây tái sinh tốt, trung bình, hoặc xấu theo công thức:
Trong đó:
Trang 31-N%: Tỷ lệ phần trăm cây tốt, trung bình, hoặc xấu,
-n: Tổng số cây tốt, trung bình, hoặc xấu,
-N: Tổng số cây tái sinh
Xác định cây chồi dựa vào vết sẹo trên gốc cây
Cây tốt là cây có thân thẳng, không cụt ngọn, sinh trưởng phát triển tốt không sâu bệnh Cây trung bình là cây không cong queo, không sâu bệnh, không gãy cành cụt ngọn nhưng khả năng sinh trưởng kém hơn, có thể còn đang bị chèn ép bởi tầng cây bụi và thảm tươi Cây xấu là cây cong queo, cụt ngọn, sinh trưởng phát triển kém, bị sâu bệnh
e Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao:
Thống kê số lượng cây tái sinh theo 5 cấp chiều cao: h <20 cm; h từ 21 -50 cm; h từ 51 - 100 cm; h từ 101 - 130 cm và h > 130 cm Vẽ biểu đồ biểu diễn số lượng cây tái sinh theo cấp chiều cao
g Phân bố cây tái sinh:
Để nghiên cứu sự phân bố cây tái sinh trên bề mặt đất rừng, chúng tôi sử
dụng công thức của Poisson khi dung lượng mẫu đủ lớn (n ≥ 30) Công thức tính U như sau:
Trong đó:
: là giá trị trung bình khoảng cách của n lần quan sát,
: là mật độ cây tái sinh trên một đơn vị diện tích (cây/m2),
n: số lần quan sát
Nếu:
U ≤ - 1,96 thì tổng thể cây tái sinh có dạng phân bố cụm
U ≤ 1,96 thì tổng thể cây tái sinh có dạng phân bố ngẫu nhiên
U >1,96 thì tổng thể cây tái sinh có dạng phân bố cách đều
Trang 32CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Hiện trạng thảm thực vật tự nhiên tại khu vực nghiên cứu
3.1.1 Thảm thực vật tự nhiên
Từ kết quả điều tra ngoài thực địa cho thấy rừng nguyên sinh trong khu vực nghiên cứu đã bị khai thác cạn kiệt trong một thời gian dài trước đây Thay thế vào
đó là các trạng thái thảm thực vật thứ sinh chiếm diện tích lớn, được phân bố ở
nhiều vị trí khác nhau trong khu vực như: rừng trồng, rừng phục hồi tự nhiên, thảm cây bụi và thảm cỏ
Theo khung phân loại thảm thực vật theo đặc điểm ngoại mạo của UNESCO (1973), tại khu vực xã Xuân Long có các kiểu thảm với những đặc điểm chính như sau: I.A.1.1 Rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở địa hình thấp
+ Cây gỗ lá rộng: Là một dạng thoái hoá do khai thác kiệt Hiện nay được bảo
vệ nghiêm ngặt ít bị tác động, có cấu trúc đặc trưng của rừng nhiệt đới mưa mùa Thành phần loài thực vật rất đa dạng, bao gồm cả các loài cây tiên phong ưa sáng mọc nhanh, cây định vị và cây rừng nguyên sinh Có nhiều loài cây gỗ lớn, chiều
cao từ 8-15m, đường kính dao động từ 10-35cm, như: Trám trắng (Canarium
album), Trám chim (Canarium tonkinense), Máu chó (Knema globularia), Chò nâu (Dipterocarpus tonkinensis), Vàng anh (Saraca dives)…cá biệt có một vài cá thể
Gội (Agalia sp.) thuộc họ Xoan (Meliaceae) cao tới 25m và đường kính 50cm, Nang trứng (Hydrocarpus sp.) cao 20m, đường kính 40cm Các cây gỗ tạo ra độ
tàn che lớn 90% Tầng cây bụi chủ yếu là cây tái sinh tự nhiên còn non, phân bố rải rác Thảm tươi có thành phần loài nghèo nàn gồm các loài thuộc họ Cỏ (Poaceae), Dương xỉ (Polypodiaceae) Hệ thống dây leo ít
+ Rừng nứa xen cây gỗ: Là trạng thái do kết quả của việc khai thác gỗ củi quá mức hình thành nên, phân bố chủ yếu trên độ cao 200-500m Trong kiểu này,
cây gỗ có mật độ thưa với thành phần chính là: Lá nến (Macaranga denticulata),
Bồ đề (Styrax tonkinensis), Ràng ràng (Ormosia balansae), Hu đay (Trema
Trang 33orientalis), Dẻ gai (Castanopsis indica), Ngát (Gironniera subaequalis), Re (Cinnamomumsp), Kháo (Machilussp), Bứa (Garcinia boni), Tai chua (Garcinia cowa), Sau sau (Liquidambar formosana)
II.A.1.1 Rừng thưa thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở địa hình thấp
+ Cây gỗ l á rộng: Là rừng phục hồi sau khai thác kiệt, đất nương rẫy bỏ
hoang Phân bố ở sườn núi trên độ cao từ 200 m trở lên Tổ thành chủ yếu là: Bồ
đề (Styrax tonkinensis), Ràng ràng (Ormosia balansae), Hu đay (Trema
orientalis), Re (Cinnamomumsp.), Sau sau (Liquidambar formosana), Lá nến
(Macaranga denticulata), Sơn rừng (Toxicodendron succcedanea), Trâm (Syzygiumsp), Côm (Elaeocarpussp.), Trôm (Sterculiasp.), Bời lời (Litseasp.)
+ Rừng nứa xen cây gỗ: Rừng nứa (Neohouzeana dullosa) được hình thành
do khai thác quá mức và sau nương rẫy Tương tự như ở rừng thưa cây lá rộng, ở loại hình này thành phần cây gỗ cũng chủ yếu là các loài cây tiên phong ưa sáng
mọc nhanh như: Bồ đề (Styrax tonkinensis), Lá nến (Macaranga denticulata), Hu chanh (Alangium kurzii), Thôi ba (Alangium chinensis), Bời lời (Litseasp.), Sau sau (Liquidambar formosana); các loài có đời sống dài như: Dẻ gai (Castanopsissp.), Trâm (Syzygiumsp.), Côm (Elaeocarpussp.), Re
(Cinnamomumsp.), Trám (Canarium allbum), Bứa (Garcinia boni)
+ Rừng giang, vầu: Thường tạo thành từng khoảnh nhỏ phân bố rải rác
trong vùng gồm các loài cây gỗ thưa thớt với thành phần khá đơn giản Những loài
thường gặp như: Bồ đề (Styrax tonkinensis), Dẻ gai (Castanopsisindica), Vàng anh (Saraca dives), Nhội (Bischofia javanica), các loài thuộc chi Ficus
III A.1.1 Thảm cây bụi thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở địa hình thấp Phân bố ở độ cao dưới 100 m so với mực nước biển Các thảm cây bụi này bao gồm các quần xã có hay không có cây gỗ với nhiều trạng thái khác nhau: Thảm cây bụi thấp sau nương rẫy, thảm cây bụi cao sau nương rẫy, thảm cây bụi cao sau trồng rừng không thành, thảm cây bụi cao sau khai thác kiệt Mỗi một trạng thái có thời gian phục hồi khác nhau, tổ thành thực vật khác nhau chủ yếu thuộc 3 họ: họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Cỏ (Poaceae) và họ Cà phê
Trang 34(Rubiaceae) Cây gỗ chủ yếu là các loài tiên phong, ưa sáng: Ba soi (Macaranga
denticulata), Bời lời vòng (Litsea verticillata), Kháo (Machilus sp.), Hu đen (Commersonia bartramia), Thầu tấu (Aporoza dioica), Bồ cu vẽ (Breynia fruticosa), Hoắc quang (Wendlandia paniculata), Vỏ dụt (Hymenodictyon oriense)
Ngoài ra còn gặp một số họ khác như: Họ Na (Annonaceae), họ Trôm
(Sterculiaceae), họ Nhài (Oleaceae), họ Cam (Rutaceae) Cây bụi chủ yếu là các
loài thuộc họ Mua (Melastomataceae), họ Sim (Myrtaceae)
IV.A.1.1 Thảm cỏ
Gồm thảm cỏ dạng lúa trung bình với các ưu hợp Lách (Saccharum
spontaneum), Cỏ tranh (Imperata cylindrrica), Chít (Thysanolaena maxima) và
trảng cỏ không dạng lúa có ưu hợp Guột (Dicranopteris linearis)
3.1.2 Đặc trưng của các trạng thái thảm thực vật rừng phục hồi tự nhiên
Căn cứ vào điều kiện thực tế, chúng tôi đã chọn 2 kiểu thảm thực vật rừng
đặc trưng cho trạng thái thảm thực vật thứ sinh phục hồi tự nhiên để nghiên cứu
một số đặc điểm cấu trúc, tái sinh, tính đa dạng loài và xu hướng phục hồi của các thảm thực vật trong khu vực nghiên cứu Đó là thảm thực vật thứ sinh phục hồi tự nhiên sau nương rẫy và thảm thực vật thứ sinh phục hồi tự nhiên sau khai thác kiệt
Để thuận tiện cho việc trình bày, chúng tôi sử dụng cách viết ngắn gọn cho
từng trạng thái như sau:
- Thảm thực vật thứ sinh phục hồi tự nhiên sau nương rẫy: TTV thứ sinh phục hồi TN sau NR
- Thảm thực vật thứ sinh phục hồi tự nhiên sau khai thác kiệt: TTV thứ sinh phục hồi TN sau KTK
3.1.2.1 Trạng thái TTV thứ sinh phục hồi TN sau NR
Địa điểm chúng tôi khảo sát và tiến hành nghiên cứu tại khu vực có độ cao từ
100 - 300 m, độ dốc từ 200 - 250, không có hiện tượng xói mòn, đất có mức độ thoái hoá trung bình và không có đá lộ đầu Toàn bộ diện tích này trước kia là rừng nguyên sinh nhưng do bị khai thác chọn, bị chặt trắng làm nương rẫy canh tác nông nghiệp trong thời gian dài rồi được bỏ hoang hoá, thời gian phục hồi được
Trang 35xác định khoảng 10 - 15 năm, thành phần thực vật trong kiểu trạng thái này phong phú và đa dạng được thể hiện ở hình 3.1
Theo quan điểm của Cain và Oliveira đã đề xuất, khi tăng diện tích ô tiêu chuẩn lên 10% mà số loài tăng ít hơn 10% thì có thể dừng lại, diện tích đại diện tối thiểu được coi là đã đạt được và tổng số loài trong tất cả các ô điều tra đã bao quát
được tổ thành loài của quần hợp cây gỗ rừng đại diện cho trạng thái nghiên cứu
Kết quả thể hiện trên hình 3.1 cho thấy điều kiện này đã được thoả mãn trong kết quả thu thập số liệu thực địa của đề tài
Hình 3.1 Đồ thị đường tổng góp loài trên diện tích của TTV sau NR
Thống kê cho thấy, tầng cây cao có 61 loài thuộc 39 chi và 26 họ Ở tầng này
có những loài cây tiên phong ưu sáng mọc nhanh, đời sống ngắn như: Lá nến
(Macaranga denticulata), Ba bét (Mallotus metcalfianus), Thầu tấu (Aporosa dioica), Bồ đề (Styrax tonkinensis), Sòi tía (Sapium discolor), Lành ngạnh nam bộ (Cratoxylum cochinchinense), Ngoài ra, còn bắt gặp một số loài cây ưa sáng đời
sống dài, có giá trị với sức sinh trưởng mạnh đạt kích thước cây gỗ lớn Đây là những loài tiên phong định cư thường có mặt ở tầng cây gỗ như: Máu chó lá nhỏ
(Knema globularia), Dẻ gai (Castanopsis indica), Sau sau (Liquidambar formosana), Trám chim (Canarium parvum), Vàng anh (Saraca dives), Kháo lá
lớn (Machilus macrophylla), Lọ nghẹ (Olea dioica), Re (Cinnamomum sp.), Bời
Trang 36lời nhớt (Litsea glutinosa), Cứt ngựa (Archidendron balansae), Chè vằng
(Jasminum subtriplinerve), Trám trắng (Canarium album), Chẹo trắng (Engelhardtia roxburghiana), Côm tầng (Elaeocarpus griffithii), Sảng (Sterculia
roxburghiana), Ràng ràng mít (Ormosia balansae)…
Hình 3.2 Ảnh TTV sau NR đã phục hồi tự nhiên được 20 năm
Các loài ưu thế ở tầng cây cao bao gồm: Máu chó lá nhỏ + Dẻ gai + Sau Sau + Trám trắng + Thầu tấu + Bồ đề
Tầng cây nhỡ có tổng góp là 68 loài, ngoài những loài có mặt ở tầng cây cao chúng tôi còn bắt gặp một số loài mới chỉ xuất hiện ở tầng này như: Nhọc sần
(Polyalthia consanguinea), Trâm lá chụm ba (Syzygium formosum), Súm lông (Eurya ciliata), Sẻn hôi (Zanthoxylum rhetsa), Bồ hòn (Sapindus saponaria),… Tuy nhiên
số lượng của chúng không nhiều, mọc phân tán trong khu vực nghiên cứu
Trang 37Các loài ưu thế ở tầng cây nhỡ bao gồm: Kháo lá lớn + Trám chim +Re + Sau Sau
Thành phần cây bụi ít về số loài, phân bố rải rác trong khu vực nghiên cứu
Có tới 3 loài Mua (họ Melastomataceae) xuất hiện ở đây: Mua thường (Melastoma
normale), Mua bà (M sanguineum), Mua tép (Osbeckia chinensis) Họ Cà phê (Rubiaceae) có 2 loài Lấu: Lấu balansae (Psychotria balansae), Lấu rừng (Psychotria silvestris) Các họ khác có đại diện ở tầng cây bụi là họ Trôm (Sterculiaceae), họ Na (Annonaceae), họ Sổ (Dilleniaceae), họ Trúc đào
Apocynaceae, họ Trường sơn (Hydrangeaceae), họ Cam quýt (Rutaceae), họ Nhài
(Oleaceae),
Thảm tươi có độ dày rậm Cop3 với thành phần cây thân thảo đa dạng chủ yếu thuộc về các họ sau: họ Hoà thảo (Poaceae), họ Cúc (Asteraceae), họ
Cỏ roi ngựa (Verbenaceae), họ Thài lài (Commelinaceae), họ Rau răm
(Polygonaceae) Những đại diện chiếm ưu thế gồm: Cỏ chè vè (Miscanthus
floridulus), Cỏ róc (Microstegium ciliatum), Cỏ tre (Oplismenus compositus), Cỏ
lào (Eupatorium odoratum), Cỏ nghể (Polygonum hydropiper), Bên cạnh đó
còn phải kể đến các loài dây leo trong họ Khoai lang (Convolvulaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Trinh nữ (Mimosaceae), họ Khúc khắc (Smilacaceae), họ Dây khế
(Connaraceae), họ Lá lốt (Piperaceae), như: Bàm bàm (Merremia hederacea), Dây mật (Derris elliptica), Bàm bàm dây (Entada phaseoloides), Kim cang (Smilax
corbularia), Dây khế (Rourea minor), Lá lốt rừng (Piper lolot)
3.1.2.2 Trạng thái TTV thứ sinh phục hồi TN sau KTK
Đây là trạng thái được phân bố ở độ cao trên 300 m so với mặt nước biển,
độ dốc từ 300 - 350 Khởi nguyên của trạng thái này là rừng nguyên sinh bị khai
thác kiệt, sau đó được phục hồi tự nhiên trong khoảng thời gian 15 năm,độ tàn che của tán rừng từ 90 - 95 %, kết quả được thể hiện ở hình 3.3
Từ hình 3.3 chúng tôi nhận thấy, số loài cây gỗ tăng lên khi tăng số lượng ô tiêu chuẩn, nhưng sự tăng về số loài ở đây không giống như trạng thái TTV thứ sinh phục hồi TN sau nương rẫy
Trang 38Hình 3.3 Đồ thị đường tổng góp loài trên diện tích của TTV sau KTK
Trong tầng cây cao có 58 loài thuộc 36 chi và 27 họ Các loài chiếm phần lớn
về số lượng cây gỗ chủ yếu thuộc các họ: Họ Dẻ (Fagaceae), họ Re (Lauraceae), họ
Đào lộn hột (Anacardiaceae), họ Xoan (Meliaceae), họ Máu chó (Myristicaceae)
Những loài cây ưa sáng mọc nhanh, đời sống ngắn, chất lượng gỗ kém đã không còn tham gia vào cấu trúc tầng cây cao mà thay vào đó là các loài cây có đời sống
dài và tầm vóc lớn như: Chò chỉ (Parashorea chinensis), Chò nâu (Dipterocapus
tonkinensis), Săng lẻ (Lagerstroemia tomentosa), Dẻ (Castanopsis indica), Chẹo (Engelhardtia roxburghiana), Sau sau (Liquidambar formosana), Vàng anh (Saraca dives), Thừng mực lông (Wrightia tomentosa), Máu chó lá nhỏ (Knema globularia),
Trâm lá chụm ba (Syzygium formosum), Lọ nồi (Hydnocarpus kurzii), Thị ba ngòi
(Canariumtonkinense), Đỏm lông (Bridelia monoica), Sụ lưỡi mác (Phoebe lanceolata), Mạy tèo (Streblus macrophyllus), Lát xoan (Choerospondias axillaris),
Sấu (Dracontomelon duperreanum), Cà lồ (Caryodaphnopsis tonkinensis), Đinh
(Mackhamia stipulata), Táu muối (Vatica fleuryana), Ngát (Gironniera subaequalis),…được phân bố vào tầng tán chính của rừng
Trang 39Hình 3.4 Ảnh TTV sau KTK đã phục hồi tự nhiên được 20 năm
Các loài ưu thế ở tầng cây cao bao gồm: Chò nâu + Máu chó + Vàng anh + Thị ba ngòi + Ngát
Tầng cây nhỡ có tổng góp là 45 loài tập chung vào một số loài cây chủ yếu, trong tương lai một số loài trong số chúng sẽ tham gia vào tầng tán chính của rừng Các loài ưu thế ở tầng cây nhỡ bao gồm: Vàng anh + Trâm rừng + Nang
trứng +Táu muối+ Ngát + Dung
Thành phần cây bụi không còn các loài ưa sáng, chủ yếu là: Sừng dê
(Strophanthus divaricatus), Lấu rừng (Psychotria silvestris), Trà (Camellia
sinensis), Đơn nem (Maesa perlarius),
Thảm tươi có độ dày rậm Soc, thành phần chủ yếu là một số loài cỏ như: Cỏ
chỉ (Eriachne chinensis), Cỏ tranh (Imperata cylindrica), Cỏ chè vè
(Miscanthusfloridulus), Cói lông (Cyperus pilosus), Ngọc nữ (Clerodendrum tonkinensis), Thóc lép (Desmodium gangeticum), Guột (Dicranopteris linearis),
mọc thành cụm hoặc rải rác một vài chỗ
Dây leo, bụi trườn chủ yếu gồm các loài: Mâm sôi lá xẻ (Rubus
alcaefolius), Kim cang (Smilax corbularia), Dây mật (Derris elliptica), Dây sống
Trang 40rắn (Acacia harmandiana), Móng bò (Bauhinia cardinalis), Tiết dê (Cissampelos
pareira), Củ nâu (Dioscorea cirrhosa), có số lượng ít
*Nhận xét chung về hai trạng thái TTV thứ sinh phục hồi tự nhiên
Các điểm nghiên cứu trên có thành phần loài phong phú và đa dạng, thông tin về thành phần thực vật trong mỗi kiểu thảm thực vật đã nói lên hiện trạng và giai
đoạn đang phục hồi của nó Điểm chung cho cả 2 trạng thái TTV nghiên cứu hiện
nay là:
+ Trong thành phần loài cây gỗ, ngoài những loài cây ưa sáng mọc nhanh xuất hiện một số loài nửa chịu bóng tuổi thọ cao, nguồn gốc có thể từ nguồn hạt giống tại chỗ hoặc từ nơi khác mang đến Vai trò của các loài ưa sáng định cư là tạo
điều kiện sinh thái cho các loài nửa chịu bóng của rừng nguyên sinh phục hồi trở lại
+ Có thể thấy rằng khi thời gian phục hồi rừng tăng lên, độ tàn che của rừng tăng thì một số loài cây ưa sáng mọc nhanh nếu không vượt khỏi tầng rừng chính sẽ
bị đào thải ra khỏi quần xã để nhường chỗ cho các loài cây chịu bóng hoặc nửa chịu bóng dưới tán rừng tái sinh phát triển, thành phần loài cây có đời sống dài xuất hiện, tạo lập một hoàn cảnh rừng mới tiến đến sự ổn định tương đối
+ Đường kính thân cây (D1.3) và chiều cao vút ngọn (Hvn) trung bình của rừng còn nhỏ, số lượng loài cây có giá trị chiếm tỷ lệ tổ thành không cao, nhưng cá biệt có một số cá thể D1,3 > 35 cm và Hvn > 15 m Như vậy, rừng phục hồi giai
đoạn này vẫn thuộc rừng non, trữ lượng còn thấp, có tác dụng phòng hộ tốt hơn
kinh tế Điều đó cho thấy để vừa phát huy tác dụng phòng hộ, vừa nâng cao được tính đa dạng trong hệ sinh thái thì cần xúc tiến tái sinh tự nhiên và quản lý bảo vệ nghiêm ngặt
Điểm khác biệt: Cùng với thời gian, nếu xét theo xu hướng phục hồi tự nhiên theo hướng diễn thế đi lên của mỗi một trạng thái thì có sự khác biệt rõ ràng giữa TTV thứ sinh phục hồi TN sau NR và TTV thứ sinh phục hồi TN sau KTK
+ Đối với trạng thái TTV thứ sinh phục hồi TN sau NR có đặc điểm đặc trưng của rừng một tầng đều tuổi được hình thành trên đất bị thoái hoá không còn mang tính chất đất rừng, quần hệ này có sự hỗn hợp giữa cây tiên phong ưa sáng mọc nhanh, đời sống ngắn chất lượng gỗ kém cùng với một số loài cây tiên phong
định cư có giá trị đời sống dài, nguồn giống được mang đến nhờ các loài chim thú
hoặc những hạt giống còn sót lại trong đất