1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái

126 255 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 4,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Ký hiệu Chú giải CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa LNCĐ : Lâm nghiệp cộng đồng UBND : Ủy ban nhân dân TTLB : Thông tư liên bộ BTC : Bộ tài chính BNN : Bộ Nông

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐẶNG NGỌC MINH

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC

VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ RỪNG CỘNG ĐỒNG

TẠI HUYỆN VĂN YÊN TỈNH YÊN BÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc./

Tác giả luận văn

Đặng Ngọc Minh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn tốt nghiệp được hoàn thành theo chương trình đào tạo thạc sỹ của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể và cá nhân

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới PGS TS Lê Sỹ Trung người trực tiếp hướng dẫn khoa học và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt qua trình thực hiện

đề tài

Qua đây, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm, Phòng đào tạo, các thầy cô giáo đã bổ sung, cập nhật những kiến thức khoa học bổ ích cho tôi Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo và Tập thể cán bộ viên chức Chi Cục Kiểm Lâm, nơi tôi đang công tác và làm việc, các

đồng chí lãnh đạo UBND xã Lâm Giang, các hộ gia đình thôn 9 xã Lâm Giang

đã cùng làm việc, cung cấp những thông tin, tài liệu quý giá cho quá trình xây

dựng luận văn

Mặc dù đã hết sức cố gắng song do điều kiện thời gian và trình độ có hạn nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp để bản luận văn tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2015

Tác giả

Đặng Ngọc Minh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích 3

3 Mục tiêu 3

4 Ý nghĩa nghiên cứu 3

Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Trên thế giới 4

1.1.1 Đổi mới chính sách của ngành lâm nghiệp phục vụ tiến trình quản lý rừng cộng đồng 4

1.1.2 Các nhân tố kinh tế - xã hội và lợi ích từ rừng cộng đồng 5

1.1.3 Phương pháp điều tra rừng có sự tham gia của người dân 6

1.1.4 Phương pháp thống kê toán học áp dụng trong mô phỏng cấu trúc 7

1.1.5 Lập kế hoạch trong quản lý rừng cộng đồng 9

1.2 Ở Việt Nam 11

1.2.1 Các hoạt động nghiên cứu liên quan đến quản lý rừng cộng đồng 11

1.2.2 Hiệu quả từ mô hình quản lý rừng cộng đồng 13

1.2.3 Quy trình kỹ thuật áp dụng trong quản lý rừng cộng đồng 14

1.2.4 Xây dựng mô hình cấu trúc rừng mong muốn 18

1.2.5 Các nghiên cứu tại khu vực 20

1.3 Bài học kinh nghiệm quản lý rừng cộng đồng 21

1.4 Điều kiện tự nhiên - Kinh tế- Xã hội xã Lâm Giang 23

1.4.1 Vị trí địa lý 24

1.4.2 Điều kiện tự nhiên 24

Trang 6

1.4.3 Điều kiện kinh tế xã hội 25

1.4.4 Hiện trạng sử dụng đất 27

1.4.5 Tình hình quản lý rừng của xã Lâm Giang 27

1.5 Điều kiện tự nhiên, Kinh tế - Xã hội của thôn 9 xã Lâm Giang 30

1.5.1 Vị trí địa lý 30

1.5.2 Điều kiện tự nhiên 30

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

2.1 Cơ sở lý luận 32

2.1.1 Hình thức quản lý rừng cộng đồng, quy trình thiết lập và quản lý rừng cộng đồng 32

2.1.2 Quan điểm nghiên cứu 34

2.2 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 37

2.3 Nội dung nghiên cứu 37

2.4 Phương pháp nghiên cứu 37

2.4.1 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu 37

2.4.2 Phương pháp kế thừa tài liệu, bao gồm: 39

2.4.3 Phương pháp, công cụ thu thập số liệu 39

2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 40

2.4.5 Phương pháp chuyên gia 40

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41

3.1 Các chính sách của nhà nước liên quan đến quản lý bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng tại địa phương 41

3.1.1 Chính sách liên quan đến quyền và trách nhiệm của cộng đồng dân cư thôn tham gia quản lý, phát triển rừng cộng đồng 41

3.1.2 Chính sách hưởng lợi liên quan đến quản lý rừng cộng đồng 44

3.2 Phân tích thực trạng và các hoạt động quản lý rừng cộng đồng tại địa phương 46

3.2.1 Hiện trạng rừng cộng đồng của thôn 46

3.2.2 Kết quả nghiên cứu về một số hoạt động quản lý bảo vệ rừng cộng đồng 50

3.3 Phân tích tác động của quản lý rừng cộng đồng 62

Trang 7

3.3.1 Tác động về kinh tế 62

3.3.2 Tác động về xã hội 64

3.3.3 Tác động môi trường 67

3.4 Phân tích khó khăn và đề xuất các giải pháp trong quản lý rừng cộng đồng tại khu vực nghiên cứu 68

3.4.1 Kết quả phân tích khó khăn trong quá quản lý rừng cộng đồng 68

3.4.2 Một số giải pháp hình thành, quản lý và sử dụng rừng cộng đồng 70

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Ký hiệu Chú giải

CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

LNCĐ : Lâm nghiệp cộng đồng

UBND : Ủy ban nhân dân

TTLB : Thông tư liên bộ

BTC : Bộ tài chính

BNN : Bộ Nông nghiệp

PTNT : Phát triển nông thôn

BV&PTR : Bảo vệ và phát triển rừng

QLR : Quản lý rừng

GCNQSDĐ : Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất LSNG : Lâm sản ngoài gỗ

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: So sánh 2 phương thức quản lý rừng: Truyền thống và LNCĐ 15

Bảng 2.1: So sánh khái quát các hình thức quản lý rừng cộng đồng 32

Bảng 2.2: Tổng hợp dân số theo thành phần dân tộc xã Lâm Giang 38

Bảng 3.1: Khái quát chính sách giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn 43 Bảng 3.2: Tổng hợp diện tích các loại đất, loại rừng thôn 9, xã Lâm Giang 47

Bảng 3.3: Tổng hợp diện tích đất lâm nghiệp giao cho cộng đồng thôn 9 49

Bảng 3.4: Kế hoạch bảo vệ rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên 51

Bảng 3.5: Kế hoạch trồng rừng và chăm sóc rừng phòng hộ 53

Bảng 3.6: Kế hoạch khai thác gỗ hàng năm 55

Bảng 3.7: Kế hoạch khai thác lâm sản ngoài gỗ 57

Bảng 3.8 Nhiệm vụ của các bên liên quan trong quản lý rừng cộng đồng 58

Bảng 3.9: Cơ cấu thu nhập bình quân của một hộ gia đình thôn 9 62

Bảng 3.10: Nhu cầu gỗ bình quân một năm của cộng đồng thôn 9 64

Bảng 3.11: Ảnh hưởng của rừng tới môi trường 67

Bảng 3.12: Tổng hợp những khó khăn trong quản lý rừng cộng đồng 68

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Diện tích đất lâm nghiệp theo chủ quản lý trước năm 2008 28 Hình 1.2: Diện tích đất lâm nghiệp theo chủ quản lý sau năm 2008 29 Hình 2.1: Chu trình quản lý rừng cộng đồng 34

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lâm nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân cũng như an ninh chính trị cho một quốc gia Từ lâu đời nay rừng là nguồn cung cấp gỗ cho làm nhà, chất đốt, thức ăn cho đời sống người dân hàng ngày; Rừng còn là nơi cung cấp

gỗ và lâm sản ngoài gỗ phục vụ cho xuất khẩu mang lại nguồn ngoại tệ đáng kể cho

đất nước, kim ngạch xuất khẩu gỗ và lâm sản của Việt Nam ngày càng tăng, từ 61

triệu USD năm 1996, 1.570 triệu USD (2005), 2 tỷ USD (2006), 3,6 tỷ USD(2012) Trong chiến lược ngành lâm nghiệp phấn đấu kim ngạch xuất khẩu khoảng 7,8 tỷ USD vào năm 2020 [Nguồn: Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn

2006 - 2020]; Rừng còn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và sự phát triển bền vững, tạo công ăn việc làm cho các hộ đang sinh sống dựa vào rừng, cộng đồng dân tộc vùng cao, nơi cuộc sống còn ở mức nghèo đói

Tuy nhiên, việc tổ chức quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng bền vững cho xã hội hiện nay và các thế hệ mai sau là công việc hết sức phức tạp và khó khăn Mặc dù đã có nhiều nỗ lực của các cấp các ngành nhằm ngăn chặn nạn tàn phá tài nguyên rừng, đáng tiếc là các kết quả đạt được còn rất hạn chế; Nhận thức của người dân đối với tài nguyên rừng chưa cao, với quan niệm rừng là tài nguyên thiên nhiên ban tặng, sinh ra đã có do vậy họ tự do chặt phá, phát đốt làm nương rẫy, khai thác gỗ củi phục vụ cho nhu cầu cuộc sống, buôn bán mà không nghĩ rằng

đến một lúc nào đó tài nguyên rừng sẽ cạn kiệt Và kết quả sau hơn 50 năm, diện

tích rừng bị suy giảm đáng kể, độ che phủ từ 43% năm 1945 giảm xuống 28,3% vào những năm cuối của thập kỷ 90 và huỷ hoại tính đa dạng sinh học

Hệ thống quản lý tài nguyên rừng hiện nay ở nước ta đã và đang tỏ ra thiếu hiệu quả Các nguyên nhân cơ bản dẫn đến suy thoái tài nguyên rừng ở Việt Nam có thể xếp theo bốn nhóm nhân tố cơ bản, đó là: (i) Các nguyên nhân dẫn đến mất rừng vượt ra ngoài phạm vi ngành Lâm nghiệp, trong khi đó sự cố gắng giải quyết chỉ

đơn thuần trong ngành; (ii) Các tổ chức Nhà nước quản lý lâm nghiệp không đủ

năng lực để kiểm soát và quản lý tài nguyên rừng; (iii) Việc không thừa nhận hoặc không tôn trọng các hình thức chiếm dụng và quản lý rừng truyền thông đã làm mất

Trang 12

đi những tiềm năng quan trọng trong quản lý rừng bền vững như các hệ thống kiểm

soát xã hội, năng lực quyền hạn của các tổ chức cộng đồng địa phương trong quản

lý rừng Từ các nguyên nhân trên có thể nhận thấy rằng việc quản lý nguồn tài nguyên rừng chưa quan tâm nhiều đến các vấn đề xã hội, hay nói cách khác là chưa nghiên cứu một cách đầy đủ mối quan hệ giữa con người bao gồm các cộng đồng sống tại nơi có rừng và tài nguyên rừng nhằm đề ra các giải pháp tổ chức quản lý, bảo vệ và phát triến tài nguyên rừng hiệu quả, bền vững dựa trên cơ sở sự tham gia tích cực của chính người dân địa phương

Nhằm khôi phục và phát triển vốn rừng, trong những năm có nhiều các dự án trong nước và quốc tế đã và đang nỗ lực tìm kiếm cách tiếp cận và thực hiện các chương trình, hướng tới phát triển kinh tế xã hội gắn với quản lý bền vững tài nguyên rừng

Năm 1994, Dự án phát triển lâm nghiệp xã hội (Hợp tác kỹ thuật CHXHCN Việt Nam - CHLB Đức) đã khởi xướng và thí điểm các phương pháp luận về (i) Quy hoạch sử dụng đất, giao đất giao rừng có sự tham gia; (ii) Lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội có sự tham gia của cộng đồng dân cư; (iii) Quản lý rừng cộng

đồng; (iv) Khuyến nông có sự tham gia tại Yên Bái; Các nghiên cứu này được chính

quyền địa phương áp dụng trong phát triển kinh tế xã hội, xây dựng chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc trong tỉnh

Năm 2004 Luật bảo vệ phát triển rừng sửa đổi đã công nhận cộng đồng là một chủ rừng, đây là cơ sở pháp lý quan trọng để tổ chức quản lý phát triển rừng cộng đồng Tuy nhiên quản lý rừng cộng đồng vẫn đang là bài toán đặt ra cho các nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách cũng như làm thế nào để cộng đồng quản lý tài nguyên rừng được tốt, đáp ứng giữa các nhu cầu trước mắt cũng như lâu dài của người dân Năm 2006 -2009 Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn triển khai dự

án thí điểm LNCĐ ở Việt Nam, được triển khai ở 40 xã, 10 tỉnh, dự án tiếp tục kéo dài (pha II), 2010-2013 về tăng cường Lâm nghiệp cộng đồng Việt Nam Trong đó Yên Bái là một trong 10 tỉnh tham gia dự án

Với mong muốn tìm hiểu, học hỏi góp phần cung cấp các dẫn liệu cho lãnh

đạo địa phương đề xuất các giải pháp cho quá trình tổ chức thực hiện quản lý rừng

Trang 13

cộng đồng, tôi tiến hành thực hiện đề tài: "Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái"

2 Mục đích

Cung cấp các dẫn liệu khoa học về cơ sở pháp lý, tổ chức thực hiện và kết quả quản lý rừng cộng đồng tại khu vực nghiên cứu, làm cơ sở đề xuất các giải pháp hình thành và quản lý có hiệu quả rừng cộng đồng

3 Mục tiêu

- Phân tích đánh giá được cơ sở pháp lý hình thành và quản lý rừng cộng đồng

- Đánh giá được kết quả và tác động của quản lý rừng cộng đồng tới kinh tế,

xã hội, môi trường tại khu vực nghiên cứu

- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường vai trò của cộng đồng trong quản lý rừng, góp phần quản lý tài nguyên rừng bền vững

4 Ý nghĩa nghiên cứu

- Là tài liệu tham khảo trong quản lý rừng cộng đồng cho các khu vực có

điều kiện sinh thái, xã hội tương đồng

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới

1.1.1 Đổi mới chính sách của ngành lâm nghiệp phục vụ tiến trình quản lý rừng cộng đồng

Arnold, JEM và Steward, W.C (1987) [40] Các tác giả đã kết luận rằng mặc

dù có sự suy thoái về rừng cộng đồng và quản lý tài nguyên sở hữu công cộng (CPRM), chúng vẫn còn đóng một vai trò rất quan trọng trong hệ thống lâm nghiệp

và trong đời sống dân nghèo Để tiến hành tới việc quản lý tài nguyên sở hữu công cộng bền vững cần dành ưu tiên cao cho việc sửa đổi chính sách, sự yếu kém và sai sót của luật lệ hiện đang phá huỷ các tổ chức tài nguyên sở hữu công cộng hoặc

đang khuyến khích việc tiếp tục tư nhân hoá

Basu, N.G (1987) [41] Các vấn đề lâm nghiệp được phân tích dựa trên quan

điểm của những cộng đồng sống tại rừng Tác giả đề nghị một chính sách lâm

nghiệp mới để ngăn chặn quá trình phát triển đồi trọc và để lôi cuốn nhân dân tham gia vào quá trình quản lý rừng

Theo Dern (2001) [48]: Mặc dù chính sách lâm nghiệp cộng đồng đã có ở nhiều quốc gia, tuy vậy việc thực hiện chính sách cũng thường gặp các trở ngại

* Thiếu sự cam kết và mất công bằng trong phân bổ ngân sách

* Tiếp cận từ trên xuống và thiếu linh hoạt

* Quyền sử dụng đất và tài nguyên không ổn định

* Hệ thống quản lý, kỹ thuật lâm nghiệp chưa tương thích với kiến thức và năng lực của cộng đồng trong quản lý rừng

* Nhân viên kỹ thuật lâm nghiệp thiếu kỹ năng thúc đẩy để quản lý rừng dựa vào cộng đồng có sự tham gia vào tiến trình ra các quyết định ở địa phương

* Thiếu các khung pháp lý để hỗ trợ lâm nghiệp cộng đồng

* Nhận thức chưa đầy đủ của một bộ phận và nhân viên lâm nghiệp về chính sách lâm nghiệp cộng động hiện hành và tổ chức thực hiện nó

* Thiếu công bằng và rõ ràng trong phân bổ lợi ích từ rừng

Để thực hiện quản lý rừng cộng đồng (CFM) điều đầu tiên cần có là sự đổi

mới về chính sách, thể chế và quan điểm tiếp cận, phát huy dân chủ trong quản lý tài nguyên thiên nhiên

Trang 15

Quản lý rừng cộng đồng cũng đòi hỏi có sự thay đổi trong tiến trình ra quyết

định trong quản lý kinh doanh, trong đó giải pháp tiếp cận có sự tham gia của người

dân được chú trọng và tạo ra cơ sở cho phát huy dân chủ Ngoài ra, việc đào tạo nhân lực đã được nhiều quốc gia quan tâm đưa vào chương trình giảng dạy, chuẩn

bị cho một đội ngũ cán bộ có thái độ và quan điểm dùng trong tiếp cận quản lý tài nguyên rừng cộng đồng

Nhân tố cốt lõi của cải cách thể chế, chính sách để hỗ trợ lâm nghiệp cộng

đồng là nâng cao tính dân chủ, sự tham gia lập kế hoạch, các quyết định giám sát và

phát triển nguồn nhân lực

1.1.2 Các nhân tố kinh tế - xã hội và lợi ích từ rừng cộng đồng

Verman, D.P (1988) [58] Tác giả có một nghiên cứu điểm ở một khu rừng trồng 4 ha được tạo lập năm 1974 trên đất chăn thả của cộng đồng thôn Dhanori bang Gujarat, theo kế hoạch rừng làng của Nhà nước Trong 4 năm liền việc cắt cỏ

để bán ra ngoài bị cấm Cây cối được chặt vào năm 1983 - 1984 và lợi nhuận được

phân bổ theo gia đình hội đồng panchayat thôn, chỉ số lợi nhuận nội bộ của gỗ, củi

và cỏ được tính tới 35% Dân làng được hưởng củi gỗ nhỏ để làm nhà và sửa lại nhà cửa, có thêm công ăn việc làm Thành công đó đã giúp thôn tự tổ chức được một hội trồng cây và tiếp tục trồng thêm vào năm 1984 - 1986 Kết quả của việc trình diễn của khu rừng đã đem lại thêm 200 ha rừng trồng ở khu này

Lam Tom Linson (1994) và Banerjee (1996) [52] cho rằng, nếu chúng ta nhận thức sự mất rừng có liên quan đến các yếu tố kinh tế, xã hội thì việc cần thiết

để có thể đảm bảo được sự thành công trong công tác quản lý rừng chính là mối

quan tâm và sự tham gia của cộng đồng địa phương vào các hoạt động đó, phải chú trọng đến mối quan tâm của người dân trong cộng đồng đó là vấn đề sinh kế

Chokkalingaman Ravindranath (2001) [47] cho rằng rất nhiều chương trình dự

án tham gia quản lý rừng, phục hồi rừng đã thiếu sự chú trọng dài hạn tới cả hai yếu tố sinh thái - kinh tế xã hội Chúng thường khởi đầu với sự nhiệt tình trong việc đầu tư kinh phí cũng như phổ biến kỹ thuật cho cộng đồng địa phương nhưng ở giai đoạn cuối của dự án, sự chú trọng này bị giảm sút hoặc thậm chí mất đi với một nguyên nhân không rõ ràng Chính thực tế này đã làm giảm sự quan tâm của cộng đồng và kết quả của việc quản lý, bảo vệ, phát triển rừng không được như mong đợi

Trang 16

Như vậy, trong quản lý rừng cộng đồng do thiếu nghiên cứu về các vấn đề kinh tế, xã hội một cách đầy đủ, cụ thể, thích hợp mà những biện pháp kỹ thuật thường không được áp dụng hoặc áp dụng một cách hình thức nên không đạt kết quả như mong đợi

Những vấn đề kinh tế, xã hội nhạy cảm với quản lý rừng thường liên quan

đến chính sách về quyền sở hữu, sử dụng rừng, chia sẻ lợi ích từ rừng, hưởng lợi và

nhu cầu của cộng đồng, thuế tài nguyên, sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng Đôi khi các vấn đề về kinh tế, xã hội liên quan đến cả những nhận thức và kiến thức, tôn giáo và tín ngưỡng, phong tục và tập quán Trong một số nghiên cứu

người ta đã coi những giải pháp kinh tế, xã hội là có “trọng lượng hơn” Vì vậy

phần lớn các nghiên cứu đưa ra giải pháp để quản lý rừng cộng đồng thì cùng với việc áp dụng biện pháp kỹ thuật đúng đắn cần xây dựng và thực hiện những giải pháp về mặt kinh tế, xã hội Thậm chí phải đưa chúng vào chương trình hoạt động của mỗi quốc gia

1.1.3 Phương pháp điều tra rừng có sự tham gia của người dân

Tại Nepal, với sự hỗ trợ của dự án lâm nghiệp cộng đồng do chính phủ Thụy

Sỹ tài trợ, phương pháp điều tra rừng đơn giản có sự tham gia đã được phát triển và

được xem là nhân tố cốt lõi do quản lý rừng bền vững Điều này giúp cho người sử

dụng rừng có được các ý tưởng về tiềm năng sản xuất của các khu rừng của họ từ đó lập kế hoạch quản lý rừng

Các tài liệu hướng dẫn về điều tra và phân tích dữ liệu tài nguyên rừng đơn

giản có sự tham gia (bao gồm gỗ và lâm sản ngoài gỗ) ở các nước Nepal, Thái Lan,

Philpipines được thiết lập bao gồm các nội dung hướng dẫn chính như sau: [46, 57]

- Phương pháp thu thập dữ liệu: Bao gồm xác định kích thước và số ô mẫu

điều tra, phương pháp đo đếm

- Phân tích dữ liệu: Chất lượng tái sinh, dự đoán trữ lượng, sản lượng gỗ củi,

cỏ, thu hoạch lâm sản ngoài gỗ

- Lập kế hoạch quản lý rừng, phân loại rừng chức năng theo kiến thức bản địa,

kế hoạch quản lý tái sinh, khai thác gỗ củi, cỏ, lâm sản ngoài gỗ, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ đất, nước và phương pháp giám sát có sự tham gia

Trang 17

Tổ chức nghiên cứu lâm nghiệp Quốc tế (CIFOR, 2002) [50] đã đưa ra tài liệu hướng dẫn bao gồm các phương pháp như xác định vấn đề, chủ đề điều tra rừng, sử dụng ảnh viễn thám, phân tích dữ liệu và đánh giá các kết quả điều tra Trong đó đã phối hợp phương pháp hàn lâm với phương pháp đánh giá nông thôn

có sự tham gia (PRA) và sử dụng công nghệ thông tin đã đưa ra phương pháp mô hình hoá để dự đoán thể tích cây rừng theo 01 và 02 nhân tố đường kính (D) và

chiều cao (H), loài cây: V = f (D,H, Species) từ đây lập biểu đơn giản để hỗ trợ cho

việc dự báo thể tích, trữ lượng tài nguyên rừng

Phương pháp điều tra rừng có sự tham gia được xây dựng trên nguyên lý phương pháp điều tra và quy hoạch rừng phổ biến trên thế giới do đó đảm bảo tính kỹ thuật lâm nghiệp đồng thời các công cụ điều tra và công thức tính toán đơn giản để cộng đồng có thể tiếp cận đặc biệt là tiếp cận với kiến thức sinh thái địa phương trong phân loại để quản lý rừng theo chức năng cộng đồng Tuy nhiên một vài công cụ phương pháp điều tra còn phức tạp và hàn lâm:

- Dự báo trữ lượng rừng dựa vào 2 nhân tố tổng tiết diện ngang xác định bằng công cụ Relaskop và chiều cao lâm phần

- Phân chia các coupe tác nghiệp, phức tạp

Trong khi đó việc xác định sản lượng khai thác, bảo đảm ổn định rừng chưa

được thiết kế rõ ràng, do đó việc tính toán khối lượng gỗ, củi, LSNG thu hoạch

hàng năm theo kế hoạch chỉ là ước đoán, chưa thực sự có cơ sở để đảm bảo sự cân bằng và ổn định sản lượng rừng

Nhìn chung các hướng dẫn điều tra chỉ phù hợp cho cán bộ kỹ thuật lâm nghiệp tổ chức, đánh giá tài nguyên rừng cho từng làng, xã Cộng đồng địa phương chỉ tham gia như người cung cấp thông tin và được hưởng thụ kết quả phân tích tài nguyên rừng

1.1.4 Phương pháp thống kê toán học áp dụng trong mô phỏng cấu trúc

Từ những năm 20 của thế kỷ XX, toán học thống kê được coi là công cụ quan trọng được áp dụng để nghiên cứu các đặc điểm của cấu trúc rừng định lượng hoá các quy luật chung đồng thời là thước đo trong đề xuất các chỉ tiêu kỹ thuật lâm sinh tác động vào rừng Các phương pháp điều tra rút mẫu, ước lượng các nhân tố

Trang 18

điều tra cấu trúc ngày càng được tiêu chuẩn hoá chặt chẽ được Bertram 1972 trình

bày tỷ mỷ

Hiện nay, phần lớn các tác giả đi sâu vào định hướng các quy luật phân bố số cây theo đường kính (N/D), phân bố số cây theo chiều cao vút ngọn thân cây, theo cỡ

đường kính tán, theo tiết diện ngang… Có thể điểm qua một số công trình: “Nghiên

cứu định hướng các mối quan hệ, cấu trúc ở rừng nhiệt đới được Rolle thực hiện công phu, các quan hệ chiều cao, đường kính ngang ngực, đường kính tán, đường kính thân cây dưới các dạng phân bố xác suất"

- Mô hình hoá cấu trúc đường kính được đặc biệt quan tâm, tuỳ theo tác giả và đối tượng nghiên cứu, kiểu cấu trúc này được biểu diễn bằng nhiều dạng phân bố xác suất khác nhau Bally (1973) sử dụng hàm Wei Bull nhiều tác giả khác dùng các hàm Hyperbol, hàm mũ, hàm possion, logarit bằng phương pháp

định lượng nhiều tác giả đã xây dựng mô hình cấu trúc vốn rừng và nêu lên

nguồn gốc sinh thái của nó

- Nghiên cứu động thái cấu trúc rừng; nghiên cứu về sinh trưởng, tăng trưởng lâm phần đã có nhiều nghiên cứu nhưng hầu hết tập trung chủ yếu nghiên cứu cho lâm phần thuần loài, phần lớn các nghiên cứu đều xây dựng thành các mô hình toán học chặt chẽ, có thể điểm qua một số công trình Mafer (1952) Mayer, Stevenson (1943) Schumacher, Coile (1960), FAO (1980)

- Các công trình nghiên cứu định vị bởi các tổ chức quốc tế CIFOR (Tổ chức nghiên cứu lâm nghiệp Quốc tế), ITTO (Tổ chức gỗ nhiệt đới Quốc tế) [50] Tuy nhiên các kết quả này chủ yếu đưa ra các kết quả về năng suất, sản lượng, sinh khối của rừng mưa, chưa có nhiều công trình về cấu trúc cho việc quản lý kinh doanh các trạng thái rừng nhiệt đới đã bị tác động Tổ chức gỗ rừng nhiệt đới Quốc tế chủ yếu

đưa ra các giải pháp quản lý công nghệ khai thác rừng mưa

Nhìn chung, về khoa học mô phỏng cấu trúc hầu như đã được nghiên cứu có chiều sâu, nhiều hàm toán học được phát triển, nhiều giải pháp ứng dụng của mô phỏng cấu trúc đã được đề nghị phục vụ cho điều tra rừng, theo dõi diễn biến, biến đổi cấu trúc rừng , điều chế rừng Tuy nhiên mô hình cấu trúc thích hợp để khai thác, áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh ở các khu rừng đã bị tác động ở các mức độ của rừng

Trang 19

nhiệt đới chưa được nghiên cứu nhiều Các nghiên cứu mới chỉ phục vụ cho khoa học nghiên cứu, chưa áp dụng nhiều trong sản xuất, quản lý rừng nhất là trong quản lý rừng của cộng đồng

1.1.5 Lập kế hoạch trong quản lý rừng cộng đồng

Một loạt các nghiên cứu ở các quốc gia về chủ đề này đã cho thấy sự cần thiết phải lập kế hoạch quản lý rừng đơn giản có sự tham gia dựa vào cộng đồng

Gallertti, HA và Arguelless, A (1987) [49] Các tác giả đã trình bày nhiều tiêu chuẩn khác nhau cho một khuôn khổ khái niệm lập kế hoạch và mô tả sự thực hiện các

tiêu chuẩn đó theo kinh nghiệm của chương trình pilot (thí điểm)

Việc đưa người dân vào quá trình là một nhiệm vụ phức tạp và đòi hỏi phải

có sự biến chuyển trong thái độ công khai, lập kế hoạch và thực hiện Cần phải có sự sinh động và sự hiểu biết về sự phát triển và sử dụng tài nguyên theo cơ chế hoạt động qua đó cả người dân và cán bộ kỹ thuật lâm nghiệp đều phải học tập lẫn nhau Để cho các kế hoạch lập ra thành công cần phải dựa vào sự hỗ trợ của thống đốc bang và các cán bộ cao cấp ở liên bang, các tiêu chuẩn khác cùng quan trọng để thực hiện là thái độ của nhân dân địa phương, quản lý lâm sinh đúng đắn, công nghiệp hoá, marketing sản phẩm và các vấn đề tổ chức

- Các kết quả trong lập kế hoạch được đánh giá sau 3 vụ thu hoạch

- Moench, M và Bandy opadhyah, J (1980) [56] Các tác giả đã chỉ rõ là các nhu cầu về sinh tồn của dân làng đã bị bỏ qua trong việc lập kế hoạch quản lý rừng Công trình nghiên cứu chỉ ra rằng cần phải hướng vào dòng chảy sinh khối của thôn bản, tập trung vào nhiên liệu, thức ăn gia súc, đồng thời nghiên cứu cũng trình bày các mối tương quan giữa mức tiêu thụ sinh khối của thôn bản và sức sản xuất của rừng

- Leuscher, WA và Shaky a.k.M (1988) [53] Các tác giả tuyên bố rằng việc hợp tác giữa cư dân địa phương với cán bộ cấp huyện là rất quan trọng để thành công trong các dự án tài nguyên rừng cộng đồng (CFR) và có thể trở lên dễ dàng bằng cách thu hút các nhóm người dân đó vào lập kế hoạch quản lý rừng Đánh giá các tài nguyên nguồn lực, khả năng của dự án, sự tham gia của người dân là cơ sở cho việc lập kế hoạch quản lý Mặc dù sự thu hút có hiệu quả dân làng tham gia vào việc xây dựng kế hoạch, tạo nên sự phấn chấn đối với họ và đạt được mục tiêu của

Trang 20

dự án nhưng tác giả cho rằng chi phí còn cao và đồng thời có thể tạo nên “cái bẫy”

mong đợi và có thể không phải khi nào cũng dẫn tới việc thực hiện kế hoạch tốt

- Brink, W (1988) [45], nghiên cứu tập trung vào việc quản lý và tiềm năng sử dụng rừng thôn bản được xây dựng theo một dự án toàn quốc về năng lượng không thường lệ của chính phủ Vương quốc Thái Lan Việc xây dựng và kết quả của các khu rừng thôn bản đã được xem xét một cách có phê phán Dân làng đã không tham gia vào việc xây dựng kế hoạch và không có các kế hoạch để quản lý hoặc để phân bố lợi ích

được thoả thuận với dân Trong khi đó các tầng lớp dân nghèo đặc biệt cần phải phụ

thuộc vào việc đến các khu rừng để chăn thả gia súc, thu hái tài nguyên lâm sản như củi

đun, hoa quả tại rừng Trường hợp này là một điển hình minh hoạ sự cần thiết cộng đồng địa phương phải tham gia tích cực vào việc lập kế hoạch và thiết kế các dự án

phát triển, các tổ chức xã hội và các nhóm quyền lợi chung rất cần chúng ta phải quan tâm tới

Tóm lại: Vấn đề quản lý tài nguyên rừng và đất rừng có rất nhiều tác giả,

nhiều chương trình, dự án tham gia nghiên cứu đã chỉ ra được:

- Việc đổi mới, sửa đổi lại chính sách lâm nghiệp đã chú trọng đến các khía cạnh, vị trí, kinh tế, xã hội, môi trường cùng với việc hỗ trợ cộng đồng để duy trì vai trò sản xuất của rừng, khuyến khích tham gia và đóng góp ý kiến có giá trị của người dân địa phương trong lập kế hoạch quản lý rừng là thành công rất to lớn ở các nước này

- Nhiều nước đã tiến hành giao đất, giao rừng, xu hướng chung là quay trở lại với hình thức quản lý truyền thống dựa trên cơ sở gắn đất đai và tài nguyên rừng với người dân sở tại

- Họ đã thử nghiệm khá thành công cách tiếp cận có sự tham gia của người dân, chú ý đến tiến trình phát huy kiến thức bản địa, nâng cao năng lực của các cộng

đồng thiểu số để xây dựng các mô hình quản lý rừng cộng đồng

- Các nghiên cứu đã phản ánh được nhu cầu phát triển phương thức quản lý dựa vào cộng đồng ở các quốc gia và đưa ra được các vấn đề cần quan tâm để phát triển lâm nghiệp cộng đồng trong khu vực:

Trang 21

* Phân cấp và chuyển giao quyền sở hữu trong sử dụng tài nguyên rừng cho cộng đồng

* Xây dựng các mô hình hợp tác giữa các cộng đồng và các bên liên quan để phát triển lâm nghiệp cộng đồng

* Phát triển một hệ thống chính sách đồng bộ hỗ trợ cho phát triển lâm nghiệp cộng đồng ở tất cả các lĩnh vực

* Phát triển các cách tiếp cận đơn giản về kỹ thuật lâm sinh trong quản lý tài nguyên để xây dựng các kế hoạch quản lý bền vững dựa vào cộng đồng Đây là những kinh nghiệm tốt có thể kế thừa và vận dụng một cách sáng tạo phù hợp với

điều kiện của Việt Nam

1.2 Ở Việt Nam

1.2.1 Các hoạt động nghiên cứu liên quan đến quản lý rừng cộng đồng

Các kết quả nghiên cứu, kinh nghiệm quản lý rừng cộng đồng qua các cuộc hội thảo quốc gia về lâm nghiệp cộng đồng Đến nay đã có 3 cuộc hội thảo quốc gia

động dự án và một số nghiên cứu điểm, Hội thảo đã thống nhất một số điểm có hai

hình thức cộng đồng quản lý rừng ở Việt Nam:

* Cộng đồng trực tiếp quản lý rừng và đất rừng thuộc quyền sở hữu chung

của thôn bản (như rừng thiêng, rừng do lâm trường, hợp tác xã giao cho thôn bản,

rừng đầu nguồn ở địa phương, đồng cỏ chăn nuôi, đất trống được quy hoạch để trồng rừng hoặc tái sinh tự nhiên)

Trang 22

* Cộng đồng tham gia vào việc quản lý những diện tích rừng thuộc sở hữu hoặc quản lý của cơ quan nhà nước như bảo vệ rừng phòng hộ, rừng đặc dụng qua các hợp đồng khoán bảo vệ với các cơ quan nhà nước, bảo vệ rừng sản xuất do các lâm trường khoán bảo vệ và bảo vệ rừng và đất rừng đã giao cho các hộ gia đình và các tổ chức khác

Hội thảo về lâm nghiệp cộng đồng (2001) [18] tổ chức lần 2 trong 2 ngày 14, 15/11/2001 tại Hà Nội là bước tiếp theo nhằm làm rõ các yếu tố khuôn khổ pháp lý của rừng cộng đồng, việc thực thi các chính sách hỗ trợ cho quản lý rừng cộng đồng

tại Việt Nam Tại đây, có rất nhiều báo cáo và các vấn đề thảo luận như “Báo cáo về

khuôn khổ pháp lý, chính sách của nhà nước và hiện trạng quản lý rừng cộng đồng

ở Việt Nam" của các tác giả: Phạm Xuân Phương, Hà Công Tuấn, Vũ Văn Mễ,

Nguyễn Hồng Quân Các báo cáo về sự vận dụng các chính sách lâm nghiệp nhà nước ở cấp tỉnh của các tác giả như Sheelagh, Orelly, Vũ Hữu Tuynh, Nguyễn Ngọc Lung, Lê Ngọc Anh, Nguyễn Hải Nam, Cao Vĩnh Hải… Cuối cùng hội thảo đi đến kết luận: Cộng đồng đang quản lý 15% diện tích rừng của nhà nước, đó là một thực

tế mang tính khách quan và ngày càng có một vị quan trọng trong hệ thống quản lý tài nguyên rừng ở Việt Nam

Vẫn còn một số vướng mắc trong khuôn khổ chính sách hưởng lợi từ rừng khi tham gia bảo vệ và phát triển rừng không quy định cộng đồng dân cư thôn bản là đối tượng của chính sách này Sự vận dụng các chính sách của nhà nước

và địa phương đã có tính sáng tạo, cụ thể là một số tỉnh đã mạnh dạn thí điểm giao đất giao rừng và cấp sổ đỏ cho cộng đồng dân cư thôn bản như Sơn La, Thừa Thiên Huế, Đắclắk

Hội thảo quốc gia về Lâm nghiệp cộng đồng (2004) [19] được tổ chức tháng 11/2004 tại Hà Nội với nội dung về khuôn khổ và thể chế quản lý rừng cộng đồng, chính sách hưởng lợi trong quản lý rừng cộng đồng, đánh giá tài nguyên rừng và khai thác rừng cộng đồng Hội thảo kết luận, quản lý rừng cộng đồng hiện đang tồn tại như một xu thế khách quan và ngày càng có vị trí quan trọng trong hệ thống quản lý tài nguyên rừng, nhiều diện tích đất lâm nghiệp có thể giao cho cộng đồng quản lý

(Diện tích rừng xa khu dân cư, có địa hình phức tạp mà các tổ chức nhà nước và hộ

Trang 23

gia đình không có khả năng quản lý mà quản lý không hiệu quả, các khu rừng giữ nguồn nước phục vụ trực tiếp cho cộng đồng, khu rừng giáp ranh giữa các thôn, xã) Bên cạnh đó vấn đề hưởng lợi của cộng đồng quản lý rừng được nhiều nhà

khoa học quan tâm và nghiên cứu đặc biệt là tác giả Nguyễn Bá Ngãi, Nguyễn Ngọc Lung [30] Tác giả Phạm Xuân Phương với khảo sát đánh giá tình hình triển khai chính sách hưởng lợi đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng được giao nhận khoán rừng năm 2003 Bên cạnh đó về kỹ thuật đánh giá thực trạng quản lý rừng cộng

đồng của tác giả Nguyễn Hồng Quân, Vũ Long, Phạm Xuân Phương đã đưa ra

khung định vị đánh giá hiện trạng quản lý rừng cộng đồng gồm 5 tiêu chí Tuy nhiên, tác giả cũng đã nêu rõ việc chọn tiêu chí đánh giá phải phụ thuộc vào từng vùng, từng cộng đồng dân cư Cũng trong tháng 9/2004, Nguyễn Ngọc Lung, VIFA cùng tổ chức các quốc gia về quản lý rừng cộng đồng đã đưa ra hội thảo lần 2 hướng dẫn giao đất về quản lý rừng cộng đồng hướng dẫn giao đất có rừng cho cá nhân, Hộ gia đình, nhóm hộ và cộng đồng

Qua hội thảo, các báo cáo và công trình nghiên cứu của các tác giả cho thấy tuy nhà nước chưa qui định quyền hưởng lợi của cộng đồng với những diện tích rừng cộng đồng hiện đang quản lý song trên thực tế cộng đồng đang tổ chức quản lý

và có quyền hưởng lợi, phân chia lợi ích từ rừng

1.2.2 Hiệu quả từ mô hình quản lý rừng cộng đồng

Bảo Huy (2002) [20] Tác giả đã bước đầu khẳng định hiệu quả quản lý rừng

và đất rừng bởi cộng đồng như sau: Thực tế cho thấy rừng giao cho cộng đồng được quản lý tốt hơn, người dân có niềm vui và ý thức được rừng là tài sản của mình, kết quả này được khẳng định ở hầu hết các địa phương giao rừng Người dân đã quan tâm đầu tư vào các khu rừng của mình, một số khu rừng giao cho cộng đồng đầu tư chăm sóc, làm giàu rừng, áp dụng kiến thức bản địa để kinh doanh Ở tỉnh Đăk Nông, hoạt động sau giao đất giao rừng đã được triển khai ở một số nơi như cộng đồng đã tổ chức phân công bảo vệ rừng đặc biệt là hoạt động kinh doanh rừng với sự tham gia trực tiếp của cộng đồng tạo ra thu nhập từ rừng thông qua công tác lâm sinh như tỉa thưa

Quản lý rừng cộng đồng dựa trên luật tục truyền thống và các quy ước hương

ước được phát triển bởi cộng đồng đã tỏ ra có hiệu lực trong đời sống cộng đồng và

Trang 24

góp phần thu hút lực lượng nhân dân trong bảo vệ rừng, họ không còn đứng ngoài cuộc với tình trạng phá rừng

Nguyễn Bá Ngãi (2003) [27] Tác giả kết luận rằng hiệu quả quản lý rừng cộng đồng thể hiện khá rõ nét ở các cộng đồng vùng cao nơi sản xuất hàng hoá và thị trường chưa phát triển nơi còn đang tồn tại nhiều phương thức sử dụng rừng với mục đích chung Điểm này thể hiện khá rõ mô hình quản lý rừng cộng đồng người Mông ở Điện Biên Trong trường hợp này quản lý rừng mang lại hiệu quả trên các mặt xã hội và hiệu quả về môi trường hơn là hiệu quả kinh tế Trong khi đó, khi sản xuất hàng hoá phát triển việc quản lý rừng cộng đồng chuyển sang một hình thức mới đó là tạo thành xu hướng cộng đồng nhóm hộ trong quản lý rừng Trong trường hợp này hiệu quả quản lý rừng cộng đồng nhấn mạnh đến hiệu quả kinh tế Từ đây

dễ nhận thấy rằng hình thành hai loại hình quản lý rừng cộng đồng như đã tổng kết,

đó là lâm nghiệp cộng đồng đáp ứng nhu cầu sinh kế của địa phương và lâm nghiệp

cộng đồng tiếp cận với sản xuất hàng hoá ở các vùng sản xuất và thị trường

Nguyễn Bá Ngãi (2003, 2005) [27, 29] Tác giả đã nghiên cứu và thống kê thấy rằng thực tế cho thấy người dân chưa quan tâm nhiều đến tỷ lệ hưởng lợi từ sản phẩm khai thác, chính vì thời gian chờ đợi quá dài mà thay vào đó là quan tâm đến diện tích đất có thể sản xuất nông nghiệp và mức đầu tư trồng rừng Kinh phí khoán, bảo vệ rừng 50.000 đ/ha/năm đã là quá thấp, trong khi ở nhiều địa phương người nhận khoán bảo vệ đều thấp hơn kinh phí trên Với quỹ rừng khoán cho mỗi

hộ gia đình quản lý và bảo vệ ít như hiện nay, đa phần dưới 10 ha cho mỗi hộ, chất lượng rừng thấp, nguồn thu từ LSNG ngày càng giảm hoặc rất ít, dịch vụ, môi trường chưa có … thì người dân thực sự chưa thể sống bằng nghề rừng hoặc các nghề có nguồn gốc liên quan đến rừng dẫn đến người dân chưa thực sự cuốn hút vào quản lý bảo vệ phát triển rừng, xã hội đánh giá chưa cao ngành lâm nghiệp

1.2.3 Quy trình kỹ thuật áp dụng trong quản lý rừng cộng đồng

Bảo Huy (2006) [22] Các dự án phổ cập và đào tạo nông lâm nghiệp vùng cao (ETSP) và dự án phát triển nông thôn Dak Lak (RDDL) đã tổ chức thử nghiệm

áp dụng biện pháp kỹ thuật lâm sinh đơn giản trong thực hiện kế hoạch quản lý rừng cộng đồng ở các tỉnh Hoà Bình - Thừa thiên Huế - Đắc Nông - Đăc lăk đã đưa ra một

số so sánh để làm rõ sự khác biệt của 2 phương thức quản lý rừng (bảng 1.1) Xét về

Trang 25

quy mô kỹ thuật lâm sinh truyền thống thường áp dụng đối với các lâm trường quốc doanh, các công ty lâm nghiệp trong khi kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho quản lý rừng cộng đồng thường áp dụng trên qui mô nhỏ ở trong phạm vi cộng đồng

Việc áp dụng kỹ thuật lâm sinh vào rừng hiện nay chủ yếu tuân theo quy phạm các giải pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng sản xuất gỗ và tre nứa do

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành 1993 [1] Quy phạm này xây dựng phục vụ cho các đơn vị kinh doanh rừng có quy mô diện tích lớn, nay ứng dụng vào điều kiện quản lý rừng cộng đồng sẽ không phù hợp với nguồn lực địa phương và giải pháp những trở ngại

Bảng 1.1: So sánh 2 phương thức quản lý rừng: Truyền thống và LNCĐ Các chỉ tiêu

so sánh

Lâm nghiệp truyền thống

- Khối lượng lớn (Dựa vào

hiệu quả kinh tế của khai thác)

- Khối lượng nhỏ (chủ yếu

cho nhu cầu hộ gia đình và một ít cho thương mại)

- Giải pháp lâm

sinh áp dụng

- Khai thác chọn với cường độ

lớn trong một lân (khai thác

hết lượng tăng trưởng trên 20 năm của rừng)

- Chặt chọn từng cây theo cỡ kích

loài, cường độ nhỏ (Dựa vào mô

hình ổn định trong 5 năm, tiêu chuẩn lựa chọn cây chặt, cây chừa)

- Sử dụng dụng cụ đơn giản của địa phương, chủ yếu vận xuất bằng thủ công, gia súc

- Tác động đến

môi trường

- Tác động lớn đến đất, cây tái sinh và cây rừng khác do sử dụng máy móc và cường độ chặt lớn

- Tác động của khai thác đến

đất tái sinh, cây rừng khác là

thấp do sử dụng dụng cụ đơn giản, cường độ chặt thấp

- Nhu cầu nuôi

dưỡng rừng sau

khai thác

- Rất cao (vì tác động lớn đến

tài nguyên rừng)

- Thấp (Nhưng phụ thuộc vào kỹ

thuật lựa chọn cây và chặt hạ)

Trang 26

Cường độ khai thác lớn ứng với luân kỳ kinh doanh dài trên 20 - 30 năm

Điều này không thích hợp vì diện tích rừng giao cho cộng đồng không đủ lớn để tổ

chức không gian và thời gian trong luân kỳ quá dài, cường độ khai thác lớn sẽ không thực tế với điều kiện đầu tư của cộng đồng

Các quy định về đường kính khai thác chỉ phù hợp với kinh doanh gỗ chưa

đề cập đến việc ứng dụng các nhu cầu đa dạng sản phẩm từ rừng ở cộng đồng

Hướng dẫn nặng về kỹ thuật nhưng lại thiếu cụ thể hoá có thể ứng dụng Chưa đề cập đến kiến thức bản địa và điều kiện cộng đồng để lựa chọn giải pháp kỹ thuật thích hợp

Tiêu chuẩn xác định đối tượng khai thác rừng cao trong khi đó rừng giao cho cộng đồng lại nghèo hoặc quá nghèo nên không tạo ra thu nhập trong một thời gian quá dài cho người nhận rừng

Các phương pháp xác định trạng thái rừng, đánh giá tài nguyên rừng tính trữ lượng rừng phức tạp, nhiều công thức khó có thể áp dụng vì không phù hợp với trình độ người dân ở các vùng miền núi

Trên thực tế giao đất, giao rừng các cán bộ kỹ thuật thường tự điều tra đánh giá tài nguyên rừng, ấn định những kết quả này cho cộng đồng dẫn đến cộng đồng

sẽ không hiểu họ sẽ quản lý các số liệu tài nguyên đó như thế nào hoặc sẽ nghi ngờ

vì họ không tin vào phương pháp Quản lý rừng cộng đồng bên cạnh các vấn đề về chính sách, kinh tế xã hội cũng cần quan tâm đến vấn đề kỹ thuật đảm bảo nguyên tắc cộng đồng có thể hiểu và áp dụng được cho nên đòi hỏi phải xây dựng phương pháp điều tra, lập kế hoạch kinh doanh rừng, cũng cần đơn giản hoá, thích ứng và

có sự tham gia của người dân Vì vậy trong phương hướng phát triển quản lý rừng cộng đồng đã nêu lên các tiêu chí để xây dựng phương pháp điều tra, lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng là đơn giản, thực tế, chi phí thấp, dễ theo dõi giám sát, rủi

ro thấp về sử dụng tài nguyên quá mức

Dự án phổ cập và đào tạo nông lâm nghiệp vùng cao và dự án phát triển nông thôn của tỉnh ĐakLac/Đak Nông và dự án ADB ở tỉnh Gia lai bắt đầu khởi xướng cho vấn đề này dựa vào việc kế thừa kinh nghiệm của Dự án phát triển lâm nghiệp

xã hội Sông Đà (SFDP), những vấn đề về lập kế hoạch quản lý dựa vào cộng đồng

Trang 27

bước đầu được thử nghiệm, khảo sát đánh giá ở cấp thôn xã bao gồm: Đánh giá tài nguyên rừng có sự tham gia lập kế hoạch sử dụng và phát triển Hệ thống giám sát

đánh giá Quy trình quản lý hành chính Đến năm 2005, 2006 các dự án trên đã hình

thành các hướng dẫn kỹ thuật, cách tiếp cận trong lập kế hoạch quản lý rừng cộng

đồng và thử nghiệm áp dụng các giải pháp lâm sinh trên các vùng dự án Trong đó

đã đề xuất một số công cụ điều tra rừng đơn giản cách xác định lượng chặt thông

qua cấu trúc mẫu N/D định trước và đề xuất phương hướng các hệ thống giám sát

và quản lý hành chính hỗ trợ cho tiến trình quản lý rừng cộng đồng

Đinh Đức Thuận (2005) [38] Tác giả đã dựa vào sự tham gia của người dân được coi là một yếu tố quan trọng nhất để xây dựng tiến trình quản lý rừng cộng đồng Gồm có các nội dung:

- Xác định ranh giới sử dụng đất và rừng tại cộng đồng gồm 4 bước tiến hành:

B1: Hướng dẫn sử dụng bản đồ địa hình như hướng bản, xác định đường giông, đường kẻ, các ký hiệu bản đồ

B2: Xác định hướng trên bản đồ bằng địa bàn cầm tay

B3: Xác định ranh giới ngoài thực địa, khoanh trên bản đồ

B4: Tính toán diện tích các loại đất rừng dựa vào phương pháp đếm ô vuông

So sánh với số liệu thống kê của địa phương

- Phân loại rừng được tiến hành 3 bước:

B1: Vẽ sơ đồ thôn bản

B2: Xây dựng tiêu chí phân loại rừng

B3: Mô tả từng loại rừng và tiến hành phân loại

+ Phúc tra rừng: Phúc tra để biết trữ lượng, lâm sản ngoài gỗ, mật độ các loại cây tái sinh

+ Lựa chọn các giải pháp kỹ thuật đối với từng loại

+ Xây dựng quy ước bảo vệ rừng thôn bản

+ Xác định cơ chế hưởng lợi từ rừng

+ Phát triển và chuyển giao kỹ thuật lâm nghiệp

+ Lập kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng dựa vào cộng đồng

+ Lựa chọn hình thức tổ chức quản lý dựa trên cộng đồng

Trang 28

+ Giám sát và đánh giá các hoạt động

Năm 2006, Bảo Huy [22, 23, 24] Tác giả cùng các cộng sự đã xây dựng phục

vụ cho công tác quản lý rừng cộng đồng một bộ tài liệu gồm 3 tập Đây là bộ tài liệu hữu ích dùng để tham khảo

Tập 1 Lập kế hoạch quản lý rừng, các bước hướng dẫn trong tiến trình tỷ

mỷ, rõ ràng dể hiểu

Tập 2 Hướng dẫn kỹ thuật lâm sinh cơ bản quản lý rừng cộng đồng

Tập 3 Một số thuật ngữ trong quản lý rừng cộng đồng

1.2.4 Xây dựng mô hình cấu trúc rừng mong muốn

Ở nước ta, nghiên cứu xây dựng mô hình cấu trúc rừng mong muốn để quản

lý rừng bền vững cũng đã được quan tâm

Nguyễn Văn Trương (1973, 1986) đã đề xuất mô hình cấu trúc mẫu định

lượng bằng toán học phục vụ công tác khai thác, nuôi dưỡng rừng Theo tác giả, mô

hình cấu trúc mẫu là những mô hình hoàn thiện nhất đã có trong thiên nhiên và trên

cơ sở khắc phục những tồn tại lớn mà sự ngẫu nhiên của thiên nhiên mang lại

Nguyễn Hồng Quân (1983) đã xây dựng mô hình cấu trúc cho các kiểu rừng trên cơ sở sử dụng hàm mũ theo dạng Meyer để phân cấp các lâm phần chặt chọn bằng cách thay đổi hệ số góc của phương trình khi điều kiện hoàn cảnh thay đổi Lê

Minh Trung (1991) đã vận dụng phương pháp này để xây dựng cấu trúc mẫu trên 3

cấp năng suất cho rừng tự nhiên hỗn loài ở ĐăkNông, làm cơ sở đề xuất hướng khai thác và nuôi dưỡng rừng

Vũ Biệt Linh (1985) đưa ra Kết cấu chuẩn và coi đó là kết cấu được lấy làm

mức cần phải đạt được trong mục tiêu tạo rừng cho mỗi loại rừng mục đích, ở các giai đoạn phát triển khác nhau của mỗi loại rừng đó và đặc biệt là ở giai đoạn đưa vào

sử dụng

Nguyễn Ngọc Lung (1985) đã cho rằng, trong thực tiễn sản xuất, sau khi phân chia rừng ra các loại, mỗi loại thuần nhất về một số mặt nào đó như tổ thành, tầng thứ, phân bố số cây theo kích cỡ có thể chọn được một loại trong lô tốt nhất, có trữ lượng cao, năng suất cao, sinh trưởng tốt, tổ thành hợp lý nhất, có đủ thế hệ cây

gỗ và cho sản lượng ổn định, ta coi là mẫu chuẩn tự nhiên và đây cũng chính là cái

Trang 29

mà con người cần hướng tới trong quá trình kinh doanh rừng Xuất phát từ lý thuyết mẫu chuẩn tự nhiên của Nguyễn Ngọc Lung, Bảo Huy (1993) đã lựa chọn và xác lập các mô hình N-D mẫu cho từng đơn vị phân loại của rừng Bằng lăng ở Tây Nguyên Từ đó tác giả đã đề xuất điều chỉnh cấu trúc N-D theo cấu trúc mẫu hoặc

đồng dạng trong phạm vi bé hơn đường kính giới hạn khai thác

Phùng Ngọc Lan (1986) đã quan niệm mô hình cấu trúc mẫu là mô hình có

khả năng tận dụng tối đa tiềm năng của điều kiện lập địa, có sự phối hợp hài hoà giữa các nhân tố cấu trúc để tạo ra một quần thể rừng có sản lượng, tính ổn định và chức năng phòng hộ cao nhất, nhằm đáp ứng mục tiêu kinh doanh nhất định Vũ

Đình Phương (1987) cũng đồng quan điểm trong việc xây dựng mô hình cấu trúc

rừng và vốn rừng, cho rằng cần phải tìm trong tự nhiên những cấu trúc mẫu có năng

suất cao đáp ứng mục tiêu kinh tế trong từng khu vực Quan điểm này cũng được

tác giả Nguyễn Hồng Quân đồng thuận khi cho rằng Cấu trúc rừng lý tưởng là cấu

trúc mà ở trạng thái đó rừng đạt năng suất gỗ cao nhất hay nói cách khác là tăng

trưởng rừng về thể tích đạt cao nhất (Báo cáo tư vấn cho SFDP Sông Đà, 8/2004)

Gần đây, năm 2006, Phạm Văn Điển [14] đã quan niệm mô hình cấu trúc

rừng chuẩn là mô hình: (a) - phân bố tiết diện ngang thân cây trên bề mặt đất tương

đối đồng đều, chênh lệch không quá hai lần giữa các ô thứ cấp; (b) - phân bố số cây

theo cỡ đường kính tuân theo luật giảm hàm Meyer (N = α.e−βD); và đảm bảo tổng tiết diện ngang, trữ lượng rừng đạt tới một trị số nhất định sao cho rừng không bị suy thoái Tác giả đã chứng minh được sự đảm bảo của hai điều kiện (a) và (b), từ

đó đề xuất mô hình cấu trúc rừng chuẩn cho rừng sản xuất gỗ tại xã Quyết Chiến,

huyện Tân Lạc, tỉnh Hoà Bình Dựa trên các mô hình lý thuyết này, Helvetas và cộng đồng địa phương đã tổ chức điều tra và lập kế hoạch khai thác rừng, đã có hơn

50 ha rừng được cộng đồng khai thác nhằm phục vụ những nhu cầu thiết yếu trong đời sống và một ít cho thương mại

Mới đây nhất, vào năm 2007, Bảo Huy [25] đã nghiên cứu thiết lập mô hình

rừng ổn định nhằm phục vụ cho việc quản lý rừng cộng đồng Mô hình này dựa vào

cấu trúc N-D có dạng phân bố giảm Tác giả đã đề xuất mô hình rừng ổn định có dạng

đồng dạng chuẩn trên cơ sở vốn rừng tối thiểu được tính bằng tổng tiết diện ngang

Trang 30

Thực hiện Chương trình thí điểm lâm nghiệp cộng đồng 2006 - 2007, do Quỹ

ủy thác Ngành Lâm nghiệp (TFF) tài trợ cũng đã tiến hành xây dựng mô hình phân

bố số cây theo cỡ kính mong muốn tại 10 tỉnh tham gia dự án Mô hình dựa vào cấu trúc N-D có phân bố dạng giảm để mô phỏng Với mỗi kiểu rừng, nhóm trạng thái rừng lựa chọn những lô rừng tốt nhất để xây dựng cấu trúc rừng mong muốn, điều chỉnh cấu trúc sao cho mỗi xã/tỉnh đều có một mô hình cấu trúc rừng mong muốn,

đảm bảo rừng của cộng đồng có thể được đưa vào khai thác [8, 11] Đề tài sẽ kế

thừa kết quả xây dựng cấu trúc rừng mong muốn tại thôn 9 xã Lâm Giang thuộc Chương trình thí điểm lâm nghiệp cộng đồng tỉnh Yên Bái

1.2.5 Các nghiên cứu tại khu vực

Giai đoạn 2006 -2013 Tỉnh Yên Bái tham ra dự án thí điểm quản lý rừng cộng đồng triển khai tại 2 huyện Văn Yên và Lục Yên các hoạt động đã thực hiện là:

- Quy hoạch sử dụng đất, giao đất giao rừng có sự tham gia của cộng đồng dân cư Nội dung hoạt động này đã được UBND tỉnh Yên Bái đánh giá cao và được tỉnh áp dụng thực hiện trên phạm vi toàn tỉnh về việc ban hành bản hướng dẫn quy hoạch sử dụng đất và giao đất giao rừng áp dụng trên địa bàn tỉnh Yên Bái

- Lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội có sự tham gia của cộng đồng dân

cư Quá trình thực hiện, ban đầu chỉ thí điểm ở 1 số thôn bản của xã Lâm Giang, huyện Văn Yên; Trong quá trình thực hiện có sự tham gia của các đơn vị chức năng của huyện, tỉnh về kết quả lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội có sự tham gia của cộng đồng dân cư đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh chấp nhận, thực hiện ban hành Hướng dẫn lập kế hoạch phát triển kinh tế xã hội có sự tham gia của cộng đồng dân

cư áp dụng trên địa bàn tỉnh Yên Bái; Trong những năm qua, tỉnh đã chỉ đạo công tác lập kế hoạch hàng năm theo hướng tăng cường vai trò tham gia của cộng đồng,

thực hiện dân chủ ở cơ sở "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra"

- Quản lý rừng cộng đồng (xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng thôn bản, kế hoạch quản lý rừng cộng đồng) được thí điểm nghiên cứu cho các cộng đồng ở

xã Lâm Giang Với mục tiêu nhằm tăng cường vai trò của cộng đồng trong quản lý nguồn tài nguyên rừng, phát huy kinh nghiệm và kiến thức bản địa của người dân trong quản lý, gắn quản lý với sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên sẵn có của địa phương Quá

Trang 31

trình nghiên cứu đã được các cơ quan chuyên môn tham gia và bước đầu đã thu được những kết quả nhất định; UBND tỉnh đã có quyết định ban hành bản Hướng dẫn xây dựng Quy ước quản lý bảo vệ và phát triển rừng thôn bản áp dụng trên địa bàn tỉnh Yên Bái

1.3 Bài học kinh nghiệm quản lý rừng cộng đồng

Yếu tố quyết định sự thành công của hệ thống quản lý rừng cộng đồng là Nhà nước cần thừa nhận quyền sử dụng đất lâu dài của cộng đồng; cộng đồng cần

có các hình thức tổ chức quản lý rừng thích hợp với điều kiện đặc thù; cộng đồng

được tổ chức chặt chẽ và có cơ chế phân chia quyền lợi về các sản phẩm thu được

từ rừng trên cơ sở bình đẳng giữa các thành viên trong cộng đồng

Điều kiện để có thể tiến hành giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn

bản quản lý, sử dụng lâu dài là:

- Cộng đồng có truyền thống luật tục quản lý rừng và sự tham gia tích cực của các thành viên

- Cuộc sống của các thành viên trong cộng đồng trực tiếp gắn bó với rừng và sản phẩm rừng

- Cộng đồng có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, các quy định của cộng đồng được mọi người tôn trọng

- Trưởng thôn (bản) có tinh thần trách nhiệm cao, cộng đồng được chính quyền địa phương quan tâm giúp đỡ

Phải thực hiện xây dựng quy ước quản lý, bảo vệ rừng có sự tham gia của người dân thôn (bản) và sự nhất trí, ủng hộ của chính quyền địa phương Hình thức quản lý rừng cộng đồng đa dạng như hình thức quản lý rừng theo cộng đông thôn (bản), theo dòng họ, theo nhóm hộ vv và trong thời gian gần đây, hình thức quản

lý rừng dựa vào các tổ chức đoàn thể cấp làng, xã đang phát triển, như: Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn thanh niên Tuy nhiên, hình thức quản lý rừng theo thôn (bản), nhóm hộ là hình thức quản lý rừng đang được các tỉnh quan tâm nhất

- Có thể xây dựng các hình thức phối hợp quản lý rừng giữa các cộng đồng

địa phương, các tổ chức Nhà nước và cấp chính quyền xã trong bảo vệ và xây dựng

Trang 32

rừng Điều đó sẽ chuyển dần một số trách nhiệm và quyền hạn trong quản lý rừng cho các nhóm cộng đồng, chính sách của Nhà nước được thực thi, các nhu cầu cho

sự phát triển cộng đồng được đáp ứng, dẫn đến tài nguyên rừng được bảo vệ và phát triến tốt

Quản lý rừng bởi các cộng đồng với các đặc trưng chủ yếu là không có tính chất tập trung, cộng đồng là người ra quyết định và các quy định đưa ra có sự tham gia của người dân, hoạt động của các thành viên chủ yếu dựa trên cam kết với các hình thức tự nguyện, hình thức quản lý đa dạng và chi phí quản lý thấp

Quản lý rừng cộng đồng, hiện đang áp dụng ở một vài địa phương có nguồn gốc từ các tập quán truyền thống và nhu cầu khách quan của các dân tộc miền núi, phù hợp với hệ thống sản xuất và kiến thức văn hoá xã hội của họ Hàng nghìn cộng

đồng thôn đã, đang trực tiếp quản lý và sử dụng rừng đáng kể ở các vùng miền núi

Việc quản lý các diện tích rừng nói trên của cộng đồng đã có những tác động tích cực tới quản lý rừng nói chung

Các cộng đồng có thể bảo vệ rừng hiệu quả hơn và tiết kiệm chi tiêu của Nhà nước trong việc bảo vệ rừng Rừng cộng đồng đáp ứng một phần nhu cầu gỗ sử dụng cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng công cộng cũng như cung cấp lâm sản ngoài

gỗ, góp phần nâng cao đời sống người dân

Từ kinh nghiệm thực tế ở các địa phương đã chỉ ra rằng, những diện tích rừng

và đất rừng sau đây có thể giao cho cộng đồng quản lý, sử dụng ổn định, lâu dài:

Diện tích rừng phân bố xa khu dân cư, vùng sâu, vùng xa, điều kiện địa hình phức tạp mà các tổ chức Nhà nước hay hộ gia đình không có khả năng quản lý hoặc quản lý không có hiệu quả

Các khu rừng có tác dụng giữ nguồn nước phục vụ trực tiếp cho cộng đồng; rừng phòng hộ đầu nguồn diện tích nhỏ, phân tán chỉ có ý nghĩa trong phạm vi làng, xã; rừng thiêng, rừng ma, rừng cung cấp lâm sản truyền thống cho cộng đồng (săn bắt, lấy măng ), rừng núi đá

Các khu rừng nằm giáp ranh giữa các thôn, xã, huyện; các khu rừng giàu nhưng diện tích ít không thể chia riêng cho các hộ mà cần sử dụng chung cho cộng đồng

Trang 33

là những vấn đề mấu chốt để xác định được chỉ số khai thác, hưởng lợi từ rừng Khó giám sát khi thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của cộng đồng, thậm trí nhiều nơi chưa thực hiện được, đây chính là những hạn chế trong sự phối hợp giữa các cấp, các cơ quan quản lý chuyên ngành về lâm nghiệp từ Trung ương đến địa phương thậm chí

đến tận thôn bản Những hạn chế này đã ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình quản lý

bảo vệ và phát triển rừng Như vậy, một vấn đề được đặt ra là sau khi giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn bản thì rừng sẽ được quản lý như thế nào? Đây chính là vấn

đề cần phải tiếp tục nghiên cứu và là lý do nghiên cứu chính của đề tài

1.4 Điều kiện tự nhiên - Kinh tế- Xã hội xã Lâm Giang

Trang 34

+ Phía Đông giáp xã Khánh hoà - Huyện Lục Yên - tỉnh Yên Bái;

+ Phía Tây giáp xã Châu Quế hạ, xã Châu Quế Thượng - Huyện Văn Yên - tỉnh Yên Bái

+ Phía Nam giáp xã An Bình và xã Châu Quế Hạ - Huyện Văn Yên - tỉnh Yên Bái

1.4.2 Điều kiện tự nhiên

1.4.2.1 Địa hình

Địa hình xã Lâm Giang gồm nhiều dãy núi phụ của dãy núi Voi chạy theo

hướng Tây bắc - Đông nam, Đông bắc - Tây nam, tổng thể địa hình của xã là một vùng đồi núi, thấp dần từ dãy núi Voi, ranh giới với tỉnh Lào Cai về phía Sông Hồng chạy dọc địa bàn xã Địa hình chia cắt mạnh tạo ra nhiều vách đứng, cao và hợp thuỷ sâu hẹp, có độ dốc trung bình khoảng 250 - 300, cục bộ có nơi độ dốc lên tới 450- 600 các dạng địa hình chính gồm có:

- Dạng địa hình đồi có độ cao tuyệt đối từ 100m - 300m

- Dạng địa hình núi thấp có độ cao tuyệt đối từ 300m - 700m

- Dạng địa hình núi trung bình có độ cao tuyệt đối từ 700m - 1700m

1.4.2.2 Khí hậu thời tiết

Xã Lâm Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa chia làm 2 mùa rõ rệt đó là mùa mưa nóng và mùa khô lạnh Mùa mưa bắt đầu vào tháng 5 và kết thúc vào tháng 10 trong năm, mùa khô bắt đầu vào tháng 11 trong năm và kết thúc vào hết tháng 4 năm sau Theo tài liệu của trạm quan trắc khí tượng thuỷ văn vùng Văn Yên cho thấy một số chỉ tiêu khí tượng như sau:

Trang 35

+ Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình cả năm 23,50C, nhiệt độ bình quân tháng cao nhất là 29,50C vào tháng 7, nhiệt độ bình quân tháng thấp nhất 14,50C vào tháng 1, tháng 2

+ Độ ẩm: Độ ẩm bình quân cả năm là 85%, độ ẩm cao nhất vào tháng 7 là 90%, độ ẩm thấp nhất vào tháng 3 là 40 %

+ Lượng mưa: Lượng mưa cả năm 1.800 mm, trong đó lượng mưa tháng cao nhất là 250 mm (vào tháng 7), lượng mưa tháng thấp nhất 38,1 mm (vào tháng 1, tháng 2)

Do địa hình tương đối phức tạp, độ chia cắt mạnh trải rộng trên một diện tích

đất đai khá lớn, đã tạo ra một hệ thống khe suối, ngòi đa dạng, tất cả các khe suối đều năm trong lưu vực đổ trực tiếp ra Sông Hồng Hệ thống khe suối ở đây có đặc điểm độ dốc lớn, lòng sâu hẹp, quanh co nhiều đá, lượng nước tương đối ổn định

theo mùa, bình quân có từ 1,0 km - 1,2 km khe suối /km2 diện tích tự nhiên

Nhìn chung những con suối này có chiều dài từ 5 km - 10 km, rộng từ 10 m -

40 m, mực nước trung bình khoảng từ 0,5 m - 2 m khả năng giao thông thuỷ là rất hạn chế

1.4.3 Điều kiện kinh tế xã hội

1.4.3.1 Về dân số lao động

Xã Lâm Giang có 1.706 hộ gia đình với 7.773 nhân khẩu, bình quân khoảng 4,6 khẩu/hộ Thành phần dân tộc gồm: Dân tộc Kinh 5.449 người, chiếm 70,1% tổng số nhân khẩu của xã; Dân tộc Dao: 2.269 người, chiếm 29,2 % tổng số nhân khẩu của xã; Dân tộc Tày: 55 người, chiếm 0,7 % tổng số nhân khẩu của xã

Trang 36

Toàn xã có 3.400 lao động trong độ tuổi, chiếm 43,7 % tổng dân số, trong đó lao động nông lâm nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi) chiếm phần lớn Sản xuất nông nghiệp mang tính mùa vụ, chính vì vậy thời gian sử dụng lao động là không cao, bên cạnh đó trình độ mọi mặt của người lao động còn ở mức thấp, khả năng tiếp thu

và ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật còn nhiều hạn chế, lao động thủ công

là chính nên năng xuất và hiệu quả lao động còn thấp

Tỷ lệ hộ đói nghèo chiếm tới 12,9 % tổng số hộ trong toàn xã Thu nhập bình quân 27,8 triệu đồng/hộ/năm

1.4.3.2 Về cơ sở hạ tầng

Hệ thống cơ sở hạ tầng trong những năm qua được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các cấp ban ngành từ Trung ương đến địa phương thông qua các chương trình, dự án đã phần nào đáp ứng được nhu cầu đời sống lao động sản xuất cho nhân dân Toàn xã có 46,5 km đường giao thông, trong đó:

- Đường giao thông tỉnh lộ liên xã, huyện 13 km

- Đường sắt chạy qua địa phương có chiều dài 13 km

- Đường giao thông liên thôn bản 20,5 km

Tuy nhiên do điều kiện địa hình phức tạp, khí hậu thời tiết, đặc điểm phân

bố dân cư lên việc đầu tư mở mới một số tuyến đường liên thôn bản gặp nhiều khó khăn, bên cạnh đó nguồn vốn đầu tư sửa chữa, nâng cấp còn nhiều hạn chế nên một

số tuyến đường bị xuống cấp, mặt đường hẹp, hư hỏng nặng giao thông đi lại khó khăn, nhất là vào mùa mưa bão

Toàn xã có 5 công trình thuỷ lợi, trong đó có 3 công trình do nhà nước đầu tư xây dựng phục vụ tưới tiêu cho khoảng trên dưới 100 ha đất nông nghiệp, đáp ứng

được khoảng 70% diện tích cần tưới tiêu (chủ yếu là ruộng lúa nước)

Hiện tại xã Lâm Giang vẫn còn 5/18 thôn chưa có điện lưới quốc gia, phần nào

ảnh hướng tới đời sống sinh hoạt và tinh thần của người dân địa phương

1.4.3.3 Về Y tế, giáo dục

Xã có 1 trạm y tế nhà xây cấp 4 đã xuống cấp gồm 4 phòng, có 5 y sỹ, y tá,

hộ lý và 18 cán bộ y tế thôn bản, đáp ứng việc khám chữa bệnh thông thường cho nhân dân

Trang 37

Xã có 1 trường trung học cơ sở nhà xây cấp 3 với 10 phòng học đặt tại khu vực thôn 18; 2 trường tiểu học nhà xây cấp 4 với 16 phòng học đặt tại khu vực thôn 1, thôn 6; 1 trường mầm non nhà xây cấp 4 với 2 phòng học đặt tại khu vực thôn 6 Ngoài ra còn có các cơ sở lẻ hình thành các cụm trường phục vụ cho việc học tập của các em học sinh của các thôn bản nằm ở xã khu trung tâm với tổng số 11 phòng học nhà xây cấp 4

1.4.3.4 Về văn hoá, xã hội

Mạng lưới bưu chính viễn thông của xã ngày một phát triển, xã có 1 điểm bưu điện văn hoá nằm ngay khu trung tâm xã, đáp ứng tốt nhu cầu thông tin liên lạc, sách báo tài liệu của nhân dân địa phương, toàn xã hiện có trên 250 máy điện thoại

cố định, hai trạm tiếp sóng điện thoại di động, 1 trạm tiếp sóng truyền hình đóng trên địa bàn xã

100% số thôn có nhà văn hoá, đáp ứng được việc sinh hoạt, hội họp và học tập của nhân dân

Xã có 2 chợ, song chỉ có một số hộ kinh doanh hàng tạp hoá, dịch vụ ăn uống nhỏ lẻ nhưng cũng đã phần nào đáp ứng được nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hoá của nhân dân trong và ngoài xã

1.4.4 Hiện trạng sử dụng đất

Tổng diện tích tự nhiên 10.374,0 ha; trong đó:

- Tổng diện tích đất nông nghiệp: 10.021,4 ha; chiếm 96,6%, gồm:

+ Đất sản xuất nông nghiệp: 2.265,6 ha

+ Đất lâm nghiệp: 7.755,8 ha Trong đó: Rừng sản xuất: 5.543,6 ha (đất có rừng 4.910,7 ha; đất chưa có rừng 632,9 ha); Rừng phòng hộ: 2.212,2 ha (đất có rừng 2.094,3 ha; đất chưa có rừng 117,9 ha);

- Đất phi nông nghiệp: 337,9 ha, chiếm 3,26 %

- Đất khác: 14,7 ha, chiếm 0,14%

1.4.5 Tình hình quản lý rừng của xã Lâm Giang

Trước năm 2008, khi chưa thực hiện Chương trình thí điểm lâm nghiệp cộng

đồng và rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng, xã Lâm Giang quản lý rừng và đất lâm

nghiệp theo các hình thức:

Trang 38

Thứ nhất: Giao, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có rừng trồng sản

xuất cho hộ gia đình quản lý, sử dụng ổn định lâu dài, đây là một hình thức hợp thức hoá những diện tích đã được người dân sử dụng từ trước để trồng rừng sản xuất

Thứ hai: Giao cho Lâm trường Văn Yên quản lý và giao khoán những diện

tích rừng tự nhiên, rừng trồng phòng hộ theo Chương trình dự án 661 Những diện tích này không giao mà chỉ tổ chức giao khoán cho nhóm hộ gia đình bảo vệ theo kế hoạch hàng năm của tỉnh về thực hiện dự án 661

Thứ ba: Kiểm lâm huyện quản lý toàn bộ những diện tích rừng tự nhiên sản

xuất và giao khoán bảo vệ rừng tự nhiên cho các nhóm hộ gia đình quản lý

Thứ tư: UBND xã quản lý toàn bộ những diện tích đất chưa có rừng, bao

gồm cả đất quy hoạch cho phòng hộ và sản xuất

Diện tích rừng và đất lâm nghiệp phân theo chủ quản lý như sau:

- Hộ gia đình, cá nhân quản lý 1.254 ha

- Lâm trường Văn Yên quản lý 3.325,5 ha

- Hạt kiểm lâm quản lý 2.375,7 ha

- UBND xã quản lý 750,8 ha

UBND x- qu¶n lý

Hình 1.1: Diện tích đất lâm nghiệp theo chủ quản lý trước năm 2008

Sau năm 2008, thực hiện Chương trình thí điểm lâm nghiệp cộng đồng và kết quả rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng, xã Lâm Giang quản lý rừng và đất lâm nghiệp theo các hình thức:

Trang 39

Thứ nhất: Hộ gia đình, cá nhân quản lý diện tích rừng trồng sản xuất, diện

tích quản lý 1.254 ha

Thứ hai: Ban quản lý dự án 661 cấp huyện (cơ quan thường trực là Hạt kiểm

lâm huyện) quản lý toàn bộ diện tích rừng và đất lâm nghiệp kể cả rừng sản xuất là rừng tự nhiên và rừng phòng hộ Lâm trường bàn giao sang do thực hiện Nghị định 200/NĐ-CP về sắp xếp đổi mới Lâm trường quốc doanh, diện tích quản lý 5.831,1

ha, trong đó đất có rừng 5.103,2 ha; đất chưa có rừng 727,9 ha

Thứ ba: Cộng đồng quản lý theo Chương trình thí điểm lâm nghiệp cộng đồng

tỉnh Yên Bái, diện tích 670,7 ha Diện tích này thuộc đối tượng quy hoạch là rừng phòng hộ, trong đó có 647,8 ha là rừng tự nhiên và 22,9 ha là đất chưa có rừng

Hình 1.2: Diện tích đất lâm nghiệp theo chủ quản lý sau năm 2008

Như vậy, có thể thấy rằng quản lý rừng cộng đồng tại xã Lâm Giang cũng đã

được hình thành thông qua hình thức nhận khoán của các nhóm hộ gia đình để thực

hiện công tác bảo vệ rừng từ trước, chủ thể đại diện cho nhóm hộ ký hợp đồng và chịu trách nhiệm về mặt pháp lý được cộng đồng bầu ra Tuy nhiên, nhóm hộ chỉ là

đại diện cho một bộ phận trong cả cộng đồng thôn cho nên những hình thức quản lý

và phân chia lợi ích từ tiền công bảo vệ rừng lại chưa mang tính cộng đồng cao Diện tích đất lâm nghiệp được giao, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn xã Lâm Giang còn hạn chế, mới chỉ đạt 25% tổng diện tích đất

tự nhiên, trong đó 9% do cộng đồng thôn bản quản lý, đây là một bước đột phá, có tính chất thí điểm trong chính sách giao đất lâm nghiệp tại địa phương cho cộng

đồng dân cư thôn bản quản lý

Trang 40

1.5 Điều kiện tự nhiên, Kinh tế - Xã hội của thôn 9 xã Lâm Giang

1.5.1 Vị trí địa lý

Thôn 9 xã Lâm Giang nằm ở khu vực phía Đông Bắc của xã, sát chân núi Voi, ven Ngòi Trục, đây là một trong những thôn vùng sâu của xã, có tọa độ địa lý

từ 22004’14’’ đến 22006’41’’ độ vĩ bắc; từ 104030’42’’ đến 104033’41’’ độ kinh

đông, cách trung tâm xã khoảng 8 km về phía tây nam

+ Phía Bắc giáp xã Long Khánh - huyện Bảo Yên - tỉnh Lào Cai và thôn 17

xã Lâm Giang

+ Phía Đông giáp thôn 16 xã Lâm Giang

+ Phía Tây giáp thôn 7 và thôn 17 xã Lâm Giang

+ Phía Nam giáp thôn 8 xã Lâm Giang

1.5.2 Điều kiện tự nhiên

Địa hình của thôn khá phức tạp gồm đa số là dạng địa hình đồi núi cao có độ

chia cắt mạnh, độ dốc lớn, thấp dần về phía Sông Hồng Và Ngòi Trục, đất đai của thôn chủ yếu là đất Feralít vàng đỏ, tầng đất dày, thành phần cơ giới thịt trung bình… phù hợp với nhiều loài cây trồng

Tổng diện tích tự nhiên của thôn 9 là 1.375,1 ha Trong đó:

*Đất nông nghiệp: 1.370,73 ha, gồm:

- Đất sản xuất nông nghiệp: 111,6 ha

- Đất lâm nghiệp: 1.259,1 ha, Trong đó:

+ Rừng tự nhiên: 1.146,5 ha, chiếm 91,06 % tổng diện tích đất lâm nghiệp, gồm: Rừng gỗ trung bình (IIIa2) 398,1 ha; Rừng gỗ nghèo (IIIa1) 185,2 ha; Rừng gỗ phục hồi (IIa và IIb) 142,2 ha; Rừng hỗn giao (Gỗ - Tre, nứa, vầu) + giang: 421,0 ha

+ Rừng trồng: 89,9 ha, chiếm 7,14% tổng diện tích đất lâm nghiệp

*Đất phi nông nghiệp: 4,3 ha, bao gồm:

- Đất ở: 2,3 ha

- Đất chuyên dùng: 2,0 ha

* Tổng diện tích đất lâm nghiệp phân theo chức năng như sau:

- Phòng hộ: 763,4 ha, gồm:

Ngày đăng: 17/03/2016, 09:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: So sánh 2 phương thức quản lý rừng: Truyền thống và LNCĐ  Các chỉ tiêu - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
Bảng 1.1 So sánh 2 phương thức quản lý rừng: Truyền thống và LNCĐ Các chỉ tiêu (Trang 25)
Hình 1.2: Diện tích đất lâm nghiệp theo chủ quản lý sau năm 2008 - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
Hình 1.2 Diện tích đất lâm nghiệp theo chủ quản lý sau năm 2008 (Trang 39)
Hình 2.1: Chu trình quản lý rừng cộng đồng - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
Hình 2.1 Chu trình quản lý rừng cộng đồng (Trang 44)
Bảng 2.2: Tổng hợp dân số theo thành phần dân tộc xã Lâm Giang - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
Bảng 2.2 Tổng hợp dân số theo thành phần dân tộc xã Lâm Giang (Trang 48)
Bảng 3.1: Khái quát chính sách giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
Bảng 3.1 Khái quát chính sách giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn (Trang 53)
Bảng 3.2: Tổng hợp diện tích các loại đất, loại rừng thôn 9, xã Lâm Giang - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
Bảng 3.2 Tổng hợp diện tích các loại đất, loại rừng thôn 9, xã Lâm Giang (Trang 57)
Bảng 3.3: Tổng hợp diện tích đất lâm nghiệp giao cho cộng đồng thôn 9 - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
Bảng 3.3 Tổng hợp diện tích đất lâm nghiệp giao cho cộng đồng thôn 9 (Trang 59)
Bảng 3.7: Kế hoạch khai thác lâm sản ngoài gỗ  Loại - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
Bảng 3.7 Kế hoạch khai thác lâm sản ngoài gỗ Loại (Trang 67)
Bảng 3.8 Nhiệm vụ của các bên liên quan trong quản lý rừng cộng đồng  Hoạt động - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
Bảng 3.8 Nhiệm vụ của các bên liên quan trong quản lý rừng cộng đồng Hoạt động (Trang 68)
Bảng 3.9: Cơ cấu thu nhập bình quân của một hộ gia đình thôn 9 - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
Bảng 3.9 Cơ cấu thu nhập bình quân của một hộ gia đình thôn 9 (Trang 72)
Bảng 3.10: Nhu cầu gỗ bình quân một năm của cộng đồng thôn 9 - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
Bảng 3.10 Nhu cầu gỗ bình quân một năm của cộng đồng thôn 9 (Trang 74)
Bảng 3.11: Ảnh hưởng của rừng tới môi trường - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của rừng tới môi trường (Trang 77)
Bảng 3.12: Tổng hợp những khó khăn trong quản lý rừng cộng đồng - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
Bảng 3.12 Tổng hợp những khó khăn trong quản lý rừng cộng đồng (Trang 78)
Bảng  01: Điều tra nhà to nhất trong thôn - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
ng 01: Điều tra nhà to nhất trong thôn (Trang 112)
Bảng 03: Điều tra nhà bé nhất trong thôn - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
Bảng 03 Điều tra nhà bé nhất trong thôn (Trang 114)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w