Câu 1. Quá trình ra đi tìm đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (19111920) Ngày 191958, thực dân Pháp nổ súng vào ĐN mở đầu cho quá trình xâm lược Việt Nam, bắt đầu thiết lập bộ máy thống trị ở VN. Chúng áp đặt chính sách cai trị thực dân, chia rẽ nước ta thành 3 xứ, tiến hành bóc lột nặng nề về kinh tế, kìm hãm và nô dịch nền văn hóa. Dưới chính sách thống trị của thực dân Pháp, đã tác động mạnh mẽ đến xã hội Việt Nam trên các lĩnh vực chĩnh trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Xã hội Việt Nam xuất hiện thêm 2 giai cấp mới là công nhân và tư sản Việt Nam và tồn tại 2 mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và mâu thuẫn giữa nhân dân VN với giai cấp địa chủ phong kiến. Biến xã hội VN thành một xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Thực tiễn lịch sử Vn đặt ra 2 nhiệm vụ cách mạng: một là, phải đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nd; hai là, xóa bỏ chế độ phong kiến, giành quyền dân chủ cho nhân dân, ruộng đất cho nông dân. Trước tình hình đó, nhiều phong trào yêu nước nổ ra, theo nhiều khuynh hướng (khuynh hướng phong kiến và tư sản) cuối thế kỷ 19, đầu 20 ra đời như: phong trào Cần Vương, khởi nghĩa yên Thế, phong trào yêu nước theo tư tưởng dân chủ tư sản của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh. Nhưng tất cả đều đi đến thất bại. Trước hoàn cảnh lịch sử của đất nước như vậy, xuất phát từ lòng yêu nước nồng nàn, trên cơ sở rút kinh nghiệm từ cuộc đấu tranh của các bậc tiền bối đi trước, 56 1911, Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước. ... Câu 2.... Câu 3... ... Câu 14. Quá trình hình thành đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kì đổi mới. Chủ trương, chính sách lớn về mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế. ....
Trang 1Trọng tâm ôn tập đường lối
LÊ THIÊN KIM
1 Quá trình ra đi tìm đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc 1920)
(1911- Ngày 1/9/1958, thực dân Pháp nổ súng vào ĐN mở đầu cho quá trình xâm lược Việt Nam, bắt đầu thiết lập bộ máy thống trị ở VN Chúng áp đặt chính sách cai trị thực dân, chia rẽ nước ta thành 3 xứ, tiến hành bóc lột nặng nề về kinh tế, kìm hãm và nô dịch nền văn hóa Dưới chính sách thống trị của thực dân Pháp, đã tác động mạnh mẽ đến xã hội Việt Nam trên các lĩnh vực chĩnh trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Xã hội Việt Nam xuất hiện thêm 2 giai cấp mới
là công nhân và tư sản Việt Nam và tồn tại 2 mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và mâu thuẫn giữa nhân dân VN với giai cấp địa chủ phong kiến Biến xã hội VN thành một
xã hội thuộc địa nửa phong kiến
Thực tiễn lịch sử Vn đặt ra 2 nhiệm vụ cách mạng: một là, phải đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nd; hai là, xóa
bỏ chế độ phong kiến, giành quyền dân chủ cho nhân dân, ruộng đất cho nông dân
Trước tình hình đó, nhiều phong trào yêu nước nổ ra, theo nhiều khuynh hướng (khuynh hướng phong kiến và tư sản) cuối thế kỷ 19, đầu 20 ra đời như: phong trào Cần Vương, khởi nghĩa yên Thế, phong trào yêu nước theo
tư tưởng dân chủ tư sản của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh Nhưng tất cả đều đi đến thất bại
Trước hoàn cảnh lịch sử của đất nước như vậy, xuất phát từ lòng yêu nước nồng nàn, trên cơ sở rút kinh nghiệm từ cuộc đấu tranh của các bậc tiền bối đi trước, 5/6 1911, Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước
Trang 2 Trong quá trình tìm đường cứu nước, Người đã tìm hiểu kỹ các cuộc cách mạng điển hình trên tg Người đánh giá cao tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái
và quyền con người của các cuộc CM tư sản tiêu biểu như CM Mỹ (1776),
CM Pháp(1789)… nhưng cũng nhận thức rõ những hạn chế của các cuộc CM
tư sản này là những cuộc CM không đến nơi đến chốn (không giải phóng cho
số đông và người lao động trong xã hội) Do đó người khẳng định: Con đường CMTS không thể đưa lại độc lập và hạnh phúc thực sự cho nhân dân nói chung, nhân dân VN nói riêng Người cũng không nóng vội mặc dù trong thời kỳ này không còn xu hướng nào khác
1917, CM tháng Mười Nga thành công Người tập trung nghiên cứu cuộc CM này nhưng vẫn chưa đi theo con đường CMVS
Đầu năm 1919, người thay mặt “Hội những người VN yêu nước” đưa ra bản yêu sách 8 điểm lên hội nghị Véc xây nhưng không được chấp nhận khẳng định sự bịp bợm của các nước Đế Quốc Các dân tộc muốn giải phóng được mình thì nên dựa vào chính sức mình
1919, NAQ ra nhập đảng Xh Pháp chủ trương chống chính sách bóc lột của TDP, tranh thủ được sự ủng hộ, tuyên truyền, giúp NAQ hoạt động thâm nhập trong các phong trào CN và có cơ hội tiếp xúc, hoạt động cùng nhiều nhà chính trị nổi tiếng Tạo điều kiện cho mối quan hệ sau này
Tháng 7/1920, Người đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn
đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lê Nin Sự kiện này đã đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động CM của NAQ Người tìm thấy trong luận cương của Lê Nin lời giải đáp về con đường giải phóng cho nd VN Nguyễn
ÁI Quốc đã đến với CN Mác-Lê Nin “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường CMVS”
Tháng 12/1920, Người tham gia đại hội lần 18 Đảng XH Pháp, bỏ Phiếu tán thành Quốc tế 3 từ CN yêu nước chân chính đến CN Cộng Sản, từ một
Trang 3thanh niên yêu nước, NAQ đã trở thành một chiến sĩ cộng sản đầu tiên của dân tộc
Như vậy, vượt qua rào cản hạn chế của các sĩ phu đương thời, bằng thiên tài
và trí tuệ hoạt động CM, sau 10 năm kể từ khi rời bến cảng Nhà Rồng, NAQ
đã tổng kết kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn tìm ra con đường cứu nước đúng đắn: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản” Từ đây, cùng với việc thực hiện nhiệm vụ với phong trào cộng sản Quốc tế, NAQ xúc tiến truyền bá CNMLN, vạch phương hướng chiến lược CMVN, chuẩn bị điều kiện để thành lập ĐCSVN
TÓM TẮT
1 Hành tình tìm đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc
Thực dân Pháp áp đặt chính sách cai trị thực dân,đã tác động mạnh mẽ đến xã hội Việt Nam xuất hiện thêm 2 giai cấp mới là công nhân và tư sản tồn tại 2 mâu thuẫn cơ bảndân tộc Việt Nam với thực dânnhân dân VN với giai cấp địa chủ phong kiến, nhiều phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản cuối thế kỷ 19, đầu 20 Nhưng tất cả đều đi đến thất bại
Trước hoàn cảnh lịch sử của đất nước như vậy, 5/6 1911, Nguyễn Tất Thành đã ra
đi tìm đường cứu nước Người đã tìm hiểu kỹ các cuộc cách mạng điển hình trên tg
Đầu năm 1919, người đưa ra bản yêu sách 8 điểm
Tháng 7/1920, Người đọc bản “ sơ thảo luận cương lần thứ nhất những luận cương
về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lê Nin
Tháng 12/1920, Người tham gia đại hội lần 18 Đảng XH Pháp, bỏ Phiếu tán thành Quốc tế 3
2 Quá trình chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức của lãnh tụ Nguyễn
Ái Quốc để xúc tiến thành lập chính đảng của giai cấp CNVN
Trang 4Tháng 7-1920 : Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ khảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin Người vô cùng phấn khởi và tin tưởng, vì Luận cương đã chỉ rõ cho Người thấy con đường để giải phóng dân tộc mình “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản”
Mặc dù đã xác định được con đường cứu nước, nhưng NAQ không vội vã đi vào giai đoạn đấu tranh giải phóng dân tộc ngay Người nhận thấy các cuộc CM ở VN còn rất lẻ tẻ, lạc hậu, thiếu đường lối chiến lược, sĩ phu yêu nước còn chưa giác ngộ
Từ những năm 1921, Nguyễn Ái Quốc tích cực xúc tiến việc chuẩn bị về tư tưởng chính trị và tổ chức nhằm tạo điều kiện chín muồi cho việc thành lập Chính Đảng của Giai cấp CN VN
1 Về mặt tư tưởng và chính trị:
+) Trước tháng 12/1924: (NAQ ở Pháp và Liên Xô)
Người đã viết bài đăng các báo: "Người cùng khổ" do Người sáng lập, báo
"Nhân đạo" - cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Pháp, báo "Đời sống công nhân" - tiếng nói của giai cấp công nhân, báo Sự thật (Liên Xô), Tạp chí thư tín Quốc
tê quốc tế cộng sản),… Qua đó đã lên án, vạch trần bản chất xâm lược, phản động, bóc lột, đàn áp tàn bạo của chủ nghĩa thực dân Đồng thời khơi gợi lòng yêu nước
và truyền bá tư tưởng MLN vào VN
NAQ tham gia nhiều đại hội: ĐH quốc tế nhân dân lần 1, ĐH lần V của QTCS, quốc tế phụ nữ, quốc tế thanh niên… Trong các đại hội này, người tiếp tục làm rõ quan điểm của mình về vai trò lịch sử của GCVS ở các nước thuộc địa, về mối quan
hệ giữa phong trào CM thuộc địa với phong trào CM các nước chính quốc Nêu rõ cần thiết phải thủ tiêu hệ thống thuộc địa của CN đế quốc trước khi xóa bỏ chế độ thối nát này trên toàn TG
Như vậy trong giai đoạn này:
Trang 5- NAQ đánh giá cao vấn đề thuộc địa, phê phán sai lầm của 1 số ĐCS ở các nước
TB phát triển chưa quan tâm tới vấn đề các nước thuộc địa
- Đánh giá chính xác tình hình thực tế ở các nước thuộc địa, qua đó tố cáo tội ác của
CN Thực dân
- NAQ tập trung tích cực truyền bá tư tưởng CNMLN vào VN Đó chính là nền tảng
tư tưởng chính trị quan trọng nhất khi thành lập chính đảng của giai cấp CN
+) Từ tháng 12/1924 – 1930: (NAQ ở TQ)
Người tiếp tục viết nhiều bài báo đăng tải trên các tạp chí lớn Đặc biệt là tác phẩm: “Bản án chế độ thực dân Pháp” (1925) của Người Đã tố cáo trước dư luận Pháp và thế giới tội ác tày trời của thực dân Pháp đối với nhân dân các nước thuộc địa Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước và thức tỉnh tinh thần dân tộc nhằm đánh đuổi TD Pháp xâm lược
Mở các lớp đào tạo cán bộ (1925-1927), huấn luyện chính trị cho cán bộ CM
VN, người cũng trực tiếp lựa chọn các thanh niên ưu tú gửi đi đào tạo nước ngoài (ĐH Phương Đông - Liên Xô…) Tổ chức các tờ báo Thanh niên, Công nông, Tiền phong,…nhằm truyền bá tư tưởng Mác – Lê nin vào VN, thức tỉnh và giác ngộ quần chúng
- Tác phẩm “Đường Kách Mệnh” 1927 tập hợp tất cả các bài giảng của người,
đã đề cập những vấn đề cơ bản của một cương lĩnh chính trị, chuẩn bị về tư tưởng chính trị cho việc thành lập ĐCSVN Có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn với CMVN
Hệ thống quan điểm đó được truyền vào Việt Nam nhằm chuẩn bị về tư tưởng và chính trị cho việc thành lập Đảng
Trang 62 Về mặt tổ chức:
Tháng 12-1924, Người tham gia sáng lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức
Á - Đông để thống nhất hành động chống chủ nghĩa thực dân
Tháng 6-1925, Người thành lập "Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội", tổ chức trung kiên là "Cộng sản đoàn" làm nòng cốt để trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam; mở nhiều lớp huấn luyện đào tạo một số thanh niên yêu nước Việt Nam thành những cán bộ cách mạng, Những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện ở Quảng Châu sau đó đã được xuất bản thành sách “Đường Kách Mệnh” Một số được chọn đi học ở Trường đại học Phương Đông (Liên Xô); một số được cử đi học quân sự, phần lớn sau này được đưa về nước hoạt động
Hệ thống quan điểm, lý luận về con đường cách mạng của Nguyễn Ái Quốc trở thành tư tưởng cách mạng khuynh hướng phong trào dân tộc và các tổ chức chính trị theo khuynh hướng cách mạng vô sản, dẫn đến sự ra đời các tổ chức cộng sản ở
Trang 7Việt Nam: [Đông Dương cộng sản đảng (6-1929), An Nam cộng sản đảng (7-1929)
và Đông Dương cộng sản liên đoàn (9-1929).]
Từ năm 1928 : Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã xây dựng được cơ sở của mình ở khắp nơi Hoạt động của Hội góp phần truyền bá tư tưởng Mác- Lênin, thúc đẩy phong trào cách mạng Việt Nam theo xu thế cách mạng vô sản Sự ra đời
và hoạt động của Hội Việt Nam cách mạng là bước chuẩn bị chu đáo về chính trị ,
tổ chức và đội ngũ cán bộ cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam sau này
T2 - 1930, Hội nghị thống nhất Đảng đã họp tại Cửu Long Hương Cảng, dưới
sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc đã nhất trí hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng duy nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam
-Tổ chức:
Thống nhất hành động = cách 1924 lập nên hội liên hiệp các dân tộc bí áp bức á đông
1925 thành lập thêm 1 hội, 1 tổ chức nữa, huấn luyện, đào tạo chiến sỹ cách mạng
Sự ra đời 3 tổ chức cộng sản ở VN ( Đông dương, an nam, đông dương) – do theo khuynh hướng vô sản của tư tương HCM
Trang 8Sự hoạt động của hội VNCMTN và ảnh hưởng của nó – 1928
Phương hướng chiến lược của CMVN: “tư sản dân quyền CM và thổ địa CM
để đi tới xã hội cộng sản”
Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa CM (trên 3 lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội):
- Về chính trị : đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, lập chính phủ công nông binh, tổ chức quân đội công nông binh
- Về kinh tế : thủ tiêu hết các thứ quốc trái, tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn (công nghiệp, vận tải, ngân hàng ) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho Chính phủ công nông binh quản lý; tịch thu toàn bộ ruộng đất của bọn đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo; bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; mở mang công nghiệp và nông nghiệp; thi hành luật ngày làm 8h
- Về văn hóa - xã hội: dân chúng được tự do, nam nữ bình quyền phổ thông giáo dục theo công nông hóa
Về lực lượng cách mạng: GC Công nhân, nông dân, phải tranh thủ, lôi kéo, thu phục các giai cấp tư sản dân tộc, tiểu tư sản…
Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo để làm thổ địa cách mạng, đánh đổ bọn đại địa chủ và phong kiến;
Trang 9 Đảng phải làm cho các đoàn thể thợ thuyền và dân cày( công hội,hợp tác xã) khỏi ở dưới quyền lực và ảnh hưởng của bọn tư bản quốc gia
Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, thanh niên, Tân Việt để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp
Với phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng ( Đảng lập hiến ) thì phải đánh đổ
Về lãnh đạo cách mạng: giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng; trong khi liên lạc với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng bộ một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào con đường thỏa hiệp
Về quan hệ của cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới: cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, phải thực hành liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp
Tóm tắt:
- Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới
xã hội cộng sản
- Nhiệm vụ của cách mạng :
• Chính trị: đánh đổ đế quốc, phong kiến giành độc lập
• Kinh tế: thủ tiêu quốc trái, tịch thu ruộng đất, tài sản của tư sản đế quốc giao cho chính phủ và chia cho người nghèo
• Văn hóa xã hội: người dân được tự do, bình đẳng
Trang 10- Lực lượng cách mạng: bao gồm nhiều giai cấp như công nhân,nông dân, tiểu
tư sản, tư sản dân tộc…trong đó công nhân nắm vai trò lãnh đạo
- Đoàn kết quốc tế: đoàn kết chặt chẽ với các dân tọc bị áp bức và giai cấp vô sản tg, đặc biệt là vô sản Pháp
b) Nội dung của bản luận cương tháng 10 năm 1930
Từ ngày 14 – 30/10/1930, HN ban chấp hành TW Đảng lần thứ nhất họp tai Hương Cảng (TQ) do đ/c Trần Phú chủ trì Đổi tên DCSVN thành DCS Đông Dương (thể hiện tinh thần đoàn kết quốc tế), và thông qua bản luận cương chính trị đầu tiên của Đảng (Luận cương tháng 10)
Nội dung bản luận cương:
Luận cương đã phân tích đặc điểm, tình hình xã hội thuộc địa nửa phong kiến
và nêu lên những vấn đề cơ bản của cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương do giai cấp công nhân lãnh đạo
Luận cương chỉ rõ: mâu thuẫn diễn ra gay gắt giữa một bên là thợ thuyền, dân cày và các phần tử lao khổ với một bên là địa chủ phong kiến và tư bản đế quốc mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân lao động với phong kiến, tư sản, đế quốc Khác
so với luận cương tháng 2, đặt mâu thuẫn giai cấp lên trước mâu thuẫn dân tộc
Luận cương vạch ra phương hướng chiến lược của cách mạng Đông Dương là: lúc đầu cách mạng Đông Dương là một cuộc “cách mạng tư sản dân quyền”, có tính chất thổ địa và phản đế, “tư sản dân quyền cách mạng là thời kỳ dự bị để làm
xã hội cách mạng”, sau khi cách mạng tư sản dân quyền thắng lợi sẽ tiếp tục “phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bổn mà tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa”
So với luận cương tháng 2 giống nhau là đều xác định 2 thời kỳ của CMVN, khác ở chỗ chỉ cụ thể cách thức tiến lên XHCN là bỏ qua TBCN
Luận cương khẳng định nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền là: đánh
đổ phong kiến, thực hành cách mạng ruộng đất triệt để và đánh đổ đế quốc chủ nghĩa
Trang 11Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập Hai nhiệm vụ chiến lược đó có quan
hệ khăng khít với nhau, vì có đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mới phá được giai cấp địa chủ, để tiến hành cách mạng thổ địa thắng lợi, và có phá tan được chế độ phong kiến thì mới đánh đổ được đế quốc chủ nghĩa Trong hai nhiệm vụ này, Luận cương xác định: “Vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền” và là cơ sở để Đảng giành quyền lãnh đạo dân cày trong luận cương tháng 2 thì ngược lại, vấn
đề dân tộc lên trước vấn đề giai cấp
Về lực lượng cách mạng, Luận cương chỉ rõ:
- Giai cấp vô sản vừa là động lực chính của cách mạng tư sản dân quyền, vừa
là giai cấp lãnh đạo cách mạng
- Dân cày là lực lượng đông đảo nhất và là động lực của cách mạng
- Tư sản thương nghiệp thì đứng về phe đế quốc và địa chủ chống lại cách mạng, còn tư sản công nghiệp thì đứng về phía quốc gia cải lương và khi cách mạng phát triển cao thì họ sẽ theo đế quốc
- Trong giai cấp tiểu tư sản, bộ phận thủ công nghiệp thì có thái độ do dự; tiểu
tư sản thương gia thì không tán thành cách mạng; tiểu tư sản trí thức thì có xu hướng quốc gia chủ nghĩa và chỉ có thể hăng hái tham gia chống đế quốc trong thời kỳ đầu Chỉ có các phần tử lao khổ ở đô thị như những người bán hàng rong, thợ thủ công nhỏ, trí thức thất nghiệp mới đi theo cách mạng mà thôi
Do đặt vấn đề giai cấp lên trước nên trong luận cương này đã xác định LLCM chỉ
có ND và CN, giống mô hình chung ở nước ngoài Trong khi đó luận cương tháng
2 thì đầy đủ mọi tầng lớp, vì ở đó mâu thuẫn cơ bản là mẫu thuẫn dân tộc nên cần tranh thủ liên minh dân tộc, đoàn kết giữa các tầng lớp Thực tế VN chứng minh là bản luận cương tháng 2 đúng đắn hơn với tình hình lúc bấy giờ
Về phương pháp cách mạng, Luận cương chỉ rõ, để đạt được mục tiêu cơ bản của cuộc cách mạng là đánh đổ đế quốc và phong kiến, giành chính quyền về tay công nông thì phải ra sức chuẩn bị cho quần chúng về con đường “võ trang bạo
Trang 12động” Võ trang bạo động để giành chính quyền là một nghệ thuật, “phải tuân theo khuôn phép nhà binh” (giống)
Về quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, Luận cương khẳng định: cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới,
vì thế giai cấp vô sản Đông Dương phải đoàn kết gắn bó với giai cấp vô sản thế giới, trước hết là giai cấp vô sản Pháp, và phải mật thiết liên lạc với phong trào cách mạng
ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa nhằm mở rộng và tăng cường lực lượng cho cuộc đấu tranh cách mạng ở Đông Dương (giống)
Về vai trò lãnh đạo của Đảng, Luận cương khẳng định: sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là điều kiện cốt yếu cho thắng lợi của cách mạng Đảng phải có đường lối chính trị đúng đắn, có kỷ luật tập trung, liên hệ mật thiết với quần chúng Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, lấy chủ nghĩa Mác-Lê Nin làm nền tảng tư tưởng, đại biểu chung cho quyền lợi của giai cấp vô sản ở Đông Dương, đấu tranh để đạt được mục đích cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản (giống)
Tóm tắt:
sau khi thành công sẽ bỏ qua tư bản tiến lên XHCN
đạo
sản Pháp, các dân tộc thuộc địa trên thế giới
Trang 134 ND quá trình chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng của Đảng giai đoạn 1939-1941
Hoàn cảnh lịch sử:
Trong nước :
Ngày 28-9-1939, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định cấm cộng sản, đóng cửa các tờ báo và nhà xuất bản, cấm hội họp và tụ tập đông người
Thực dân Pháp thi hành chính sách thời chiến rất tàn bạo, thủ tiêu quyền
tự do, dân chủ giành được trong thời kỳ 1936-1939…
Lợi dụng Pháp đầu hàng Đức, ngày 22-9-1940, phát xít Nhật tấn công Lạng Sơn rồi đổ bộ vào Hải Phòng
Ngày 23-9-1940, Pháp ký hiệp định đầu hàng Nhật Từ đó ND ta chịu cảnh
Nội dung chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng:
Khi CTTG thứ 2 bùng nổ, Đảng rút vào hoạt động bí mật, đề ra đường lối chuyển hướng chiến lược trong thời kỳ mới thông qua nghi quyết:
- HN BCHTW lần T6 (11/1939)
- HN BCHTW lần T7 (11/1940)
Trang 14- HN BCHTW lần T8 (5/1941) (đặc biệt có đc NAQ chủ trì, hoàn thiện đường lối chuyển hướng chiến lược)
Một là, đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu
BCH TW nêu rõ mâu thuẫn chủ yếu ở nước ta đòi hỏi phải được giải quyết cấp bách
là mâu thuẫn giữa dân tộc ta với bọn đế quốc, phát xít Pháp - Nhật Bởi “Trong lúc này nếu không giải quyết được VĐ dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự
do cho toàn thể DT thì chẳng những toàn thể quốc gia DT còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được” Để tập trung cho nhiệm vụ hàng đầu của CM lúc này, Ban Chấp hành Trung ương tạm gác khẩu hiệu “Đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày” thay bằng khẩu hiệu
“Chia lại ruộng đất công cho công bằng và giảm tô, giảm tức”, “Tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian cho dân cày nghèo” …
Hai là, quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh để đoàn kết, tập hợp lực lượng
CM nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc
Để tập hợp lực lượng CM đông đảo trong cả nước, BCH TW quyết định thành lập Mặt trận VN độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh thay cho Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, đổi tên các Hội phản đế thành Hội cứu quốc (Công nhân cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc…) để vận động, thu hút mọi người dân yêu nước không phân biệt thành phần,lứa tuổi, đoàn kết bên nhau đặng cứu Tổ quốc, giống nòi
Ba là, quyết định xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và nhân dân ta trong giai đoạn hiện tại
Để đưa cuộc khởi nghĩa vũ trang đến thắng lợi cần phải ra sức phát triển lực lượng
CM, bao gồm lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, xúc tiến XD căn cứ địa CM BCH TW chỉ rõ: việc “chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của Đảng ta và dân ta trong giai đoạn hiện tại TW quyết định duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn
và chủ trương thành lập những đội du kích hoạt động phân tán, dùng hình thức vũ
Trang 15trang vừa chiến đấu chống địch, bảo vệ ND, vừa phát triển cơ sở CM, tiến tới thành lập khu căn cứ, lấy vùng Bắc Sơn, Vũ Nhai làm trung tâm
BCH TW xác định phương châm và hình thái khởi nghĩa ở nước ta: “phải luôn luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng, nhắm vào cơ hội thuận tiện hơn cả mà đánh lại quân thù…với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo 1 cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho 1 cuộc tổng
KN to lớn
BCH TW còn đặc biệt chú trọng công tác XD Đảng nhằm nâng cao năng lực tổ chức và lãnh đạo của Đảng, đồng thời chủ trương gấp rút đào tạo cán bộ, cán bộ lãnh đạo, cán bộ công vận, nông vận, binh vận, quân sự và đẩy mạnh công tác vận động quần chúng
Ngoài ra: Trong HN BCHTW lần 8, đưa 3 nhận định:
- Chiến tranh đang lan rộng, Đức nhất định tấn công LX, LX sẽ tuyên chiến trở lại và giành thắng lợi
- Chiến tranh sẽ lan tới châu Á
- Sau chiến tranh các nước sẽ phát triển phong trào đấu tranh giành độc lập và
đi theo con đường CNXH
Do đó, đưa ra quyết định: Đưa nhiệm vụ GPDT lên hàng đầu; Chủ trương giải quyết vấn đề GPDT trong khuôn khổ của từng nước, từng dân tộc, quyết định thành lập ở mỗi nước một mặt trận riêng (ở VN là mặt trận ĐM) Phương pháp tiến hành là khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền
Ý nghĩa:
Quá trình chuyển hướng chỉ đạo chiến lược được hoàn chỉnh góp phần giải quyết mục tiêu hàng đầu của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc, đưa đến những chủ trương, sự chỉ đạo đúng đắn để thực hiện mục tiêu đó
- Có ý nghĩa quyết định đvới sự ptriển của phong trào cm đi tới thắng lợi của cm tháng 8/45, giúp cho nhân dân ta có đường hướng đúng để tiến lên giành thắng lợi
Trang 16trong sự nghiệp đánh Pháp, đuổi Nhật, giành độc lập cho dân tộc và tự do cho nhân dân
- Giúp công tác chuẩn bị giành độc lập dân tộc diễn ra sôi nổi ở khắp các địa phương trong cả nước, cổ vũ và thúc đẩy mạnh mẽ phong trào cách mạng của quần chúng vùng lên đấu tranh giành chính quyền
Tóm tắt:
Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và đế quốc tay sai trở nên gay gắt và trở thành mâu thuẫn chủ yếu cần phải giải quyết→ đặt nhiệm vụ chống đế quốc và tay sai, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên đầu
- Chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược được từng bước hoàn chỉnh qua ba hội nghị:
+ Hội nghị lần thứ 6 (11-1939) mở đầu sự chuyển hướng
+ Hội nghị lần thứ 7 (11-1940) tiếp tục bổ sung nội dung chuyển hướng
+ Hội nghị lần thứ 8 (5-1941) hoàn chỉnh nội dung chuyển hướng
Nội dung cơ bản chuyển hướng chỉ đạo chiến lược:
- Đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu: tạm gác khẩu hiệu “Đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày” bằng khẩu hiệu “Tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo”, “Chia lại ruộng đất công cho công bằng và giảm tô, giảm tức”…
- Về công tác tổ chức, tập hợp lực lượng:
+ Thành lập Việt Nam Độc lập đồng minh (còn gọi là Việt Minh), đổi tên các hội phản đế thành hội cứu quốc
- Về phương thức hoạt động và PP đấu tranh:
+ Xác định xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm+ Ra sức phát triển lực lượng cách mạng + xúc tiến xây dựng căn cứ địa cách mạng
+ Xác định phương châm và hình thái khởi nghĩa ở nước ta: khởi nghĩa từng phần
Trang 17+ Chú trọng công tác xây dựng Đảng
+ Đào tạo cán bộ cho cách mạng
+ Đẩy mạnh công tác vận động quần chúng
=> Đường lối giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, nhận thức nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên cao hơn hết thảy, tập hợp rộng rãi mọi người Việt Nam yêu nước trong Mặt trận Việt Minh, xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng ở cả nông thôn và thành thị, xây dựng căn cứ địa cách mạng và lực lượng vũ trang, nâng cao hơn nữa năng lực tổ chức và lãnh đạo của Đảng là tinh thần chung của quá trình chuyển hướng chỉ đạo chiến lược
5 Nghệ thuật chớp thời cơ của Đảng trong CM tháng 8
MỞ ĐẦU
Thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa mùa Thu năm 1945 là thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam, chỉ xảy ra trong nửa tháng, đó là khởi nghĩa ít đổ máu nhất và nhân văn nhất Một trong những nguyên nhân dẫn đến thắng lợi đó là nhờ nghệ thuật chớp thời cơ của Đảng ta
a) Phân tích, dự báo thời cơ:
Từ lịch sử đấu tranh và thực tiễn cách mạng trên thế giới, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã chỉ ra rằng: Thời cơ của cuộc cách mạng chỉ có thể diễn ra khi xuất hiện cả 3 điều kiện sau: Một là, kẻ thù của cách mạng (giai cấp thống trị) không thể thống trị nhân dân như cũ được nữa; Hai là, nhân dân lao động không thể cam chịu ách áp bức bóc lột của giai cấp thống trị như cũ được nữa; Ba là, có một chính Đảng ra đời và sẵn sàng đảm nhận sứ mệnh lịch sử của mình là lãnh đạo cuộc cách mạng của dân tộc giành chính quyền về tay nhân dân
Tình hình thế giới và trong nước:
* Trên thế giới:
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ:
Trang 18Ngày 22/6/1941, quân phát xít Đức tấn công Liên Xô Từ khi phát xít Đức xâm lược Liên Xô, tính chất chiến tranh đế quốc chuyển thành chiến tranh giữa các lực lượng dân chủ do Liên Xô làm trụ cột với các lực lượng phát xít do Đức cầm đầu
Mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc, phát xít Pháp - Nhật trở nên gay gắt hơn bao giờ hết
=>Điều kiện 2
Ngay sau chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, với tầm nhìn chiến lược, lãnh tụ Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng ta đã phân tích, đánh giá tình hình, chuyển hướng chỉ đạo chiến lược nhằm giải quyết mục tiêu số 1 của CM bây giờ là Độc lập dân tộc Đồng thời nhanh chóng phát triển lực lượng vũ trang, thành lập các đội du kích, mặt trận chính trị, thành lập đội VN tuyên truyền giải phóng quân… công việc chuẩn
bị cho cuộc tổng vũ trang diễn ra sôi nổi trên cả nước
=> Điều kiện 3
Như vậy cuối năm 1944, nước ta đã đủ cả 3 điều kiện
- Tháng 10/1944, HCM gửi thư tới đồng bào cả nước sau 1 quá trình dự báo thời cơ: “Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ trong 1 năm hoặc 1 năm rưỡi nữa Thời gian rất gấp Ta cần phải làm cho nhanh Quân phát xít nhất định sẽ thua quân Đồng Minh”
Trang 19Đêm 9/3/1945 Nhật đảo chính Pháp để độc chiếm Đông Dương Quân Pháp mau chóng đầu hàng Nhật Ngay đêm 9/3/1945 Ban thường vụ Đảng đã họp và đưa ra chỉ thị vào 12/3/1945: “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”
-Toàn Đảng, toàn dân vẫn chưa thực sự sẵn sàng (*)
-Cả Pháp và Nhật vẫn trên đất nước ta, dù chúng có suy yếu nhưng số lượng quân của chúng vẫn rất đông và đủ mạnh để chống lại cách mạng
-Phần đông nhân dân đã chán cả Pháp và Nhật nhưng vẫn còn một số bộ phần chưa ngả hẳn về phe cách mạng
Nhưng đây lại là cơ hội tốt để làm cho những điều kiện tổng khởi nghĩa nhanh chóng chín muồi vì:
-Trên TG thành lập lực lượng quân ĐM sang các nước khác đánh đuổi phát xít -Nạn đói năm 45 do Nhật-Pháp, VN phá kho thóc chia cho dân, đem lại lợi ích cho
nd, nên nhân dân đi theo CM
* Dự kiến thời cơ có thể khởi nghĩa:
1 khi quân đồng minh đổ bộ vào Đông dương đánh Nhật, Nhật phải kéo ra mặt trận ngăn chặn Đồng Minh nên phía sau sẽ sơ hở
2 CM Nhật bùng nổ, chính quyền Nhật thành lập
3 Nhật mất nước như Pháp năm 1940 và quân viễn chinh Nhật mất tinh thần
* Chỉ thị xác định: Phát xít Nhật là kẻ thù chính => Khẩu hiệu: Đánh đuổi Nhật Pháp được thay bằng: Đánh đuổi phát xít Nhật
Trang 20* Chỉ thi chủ trương:
- phát động cao trào kháng nhật trước tổng kn
- mọi hình thức tuyên truyền phải thay đổi phù hợp vs thời kỳ tiền kn
- Đẩy mạnh xd các đội tự vệ cứu quốc, xd LLVT, lập căn cứ địa cách mạng, phát động đt du kích, gp từng vùng, mở rộng căn cứ địa
Giải quyết ý (*)
b) Nắm bắt thời cơ :
Ngày 9/5 phát xít Đức đầu hàng vô điều kiện Ở châu Á, phát xít Nhật đang đi đến chỗ thất bại hoàn toàn Trước sự pt hết sức nhanh chóng của tình hình TW quyết định họp Hội nghị toàn quốc của Đảng tai Tân Trào (13-15/8/1945).Hội nghị nhận định: Cơ hội tốt giành chính quyền cho ta đã đến và quyết định phát động toàn dân Tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật trước khi quân đồng minh vào đông dương
* Thời điểm vàng: Từ khi quân Nhật đầu hàng quân Đồng Minh đến trước khi quân Đồng Minh đổ bộ vào Việt Nam
Đây chính là khoảng thời cơ khi “Kẻ thù cũ đã suy yếu, kẻ thù mới chưa xuất hiện
- Giữa trưa ngày 13 tháng 8 năm 1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng các lực lượng Đồng minh trên sóng phát thanh của Nhật Bản Đến đây, kẻ thù của cách mạng nước ta đã vô cùng suy yếu - tình thế của cách mạng đã xuất hiện Nếu tiến hành trước khi Nhật đầu hàng thì Nhật vẫn có thể ngóc đầu dậy
- Theo thỏa thuận, Đồng Minh vào Việt Nam là: Phía Bắc là Mỹ, phía Nam là Anh với mục đích áp giải quân Nhật Nhưng đó là các nước đế quốc, không phải nước thuộc CNXH, bản chất bóc lột, thực dân, chắc chắn sẽ trở mặt và tham vọng biến ta thành thuộc địa Ta nhận thấy đây là âm mưu các nước
đế quốc mượn danh quân ĐM vào nước ta Kẻ thù mới
Nếu ta không đón Mỹ và Anh với tư cách là nước chủ nhà thì sẽ bị các nước này đưa quân chiếm đóng và lèo lái nước ta theo con đường mà ta không mong muốn Đồng
Trang 21thời sẽ chia năm, xẻ bảy nước ta cũng như miếng mồi béo bở Đông Dương để cùng nhau ra sức xâu xé, đàn áp, bóc lột
Như vậy, Khởi nghĩa phải được diễn ra trong khoảng thời gian sau khi Nhật đầu hàng quân ĐM và trước khi quân ĐM đổ bộ vào Đông Dương Việc xác định thời
cơ vàng của ta là rất chính xác và khéo léo, nhạy bén thay đổi khoảng thời cơ để chớp lấy cơ hội Cơ hội này chỉ có một và là duy nhất Đây là một nhận định hoàn toàn đúng đắn, thể hiện sự tài tình, sáng suốt của Đảng và Bác Hồ
TÓM TẮT
I XÁC ĐỊNH THỜI CƠ:
1.Phân tích, dự báo thời cơ:
các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã chỉ ra rằng: Thời cơ của cuộc cách mạng chỉ có thể diễn ra khi xuất hiện cả 3 điều kiện
* Trên thế giới:
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ:
* Tình hình trong nước:
nhân dân chịu cảnh một cổ 2 tròng áp bức, bóc lột của Pháp - Nhật
với đường lối chiến lược cách mạng “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, Đảng ta, đã
có những chủ trương, biện pháp sáng suốt, tích cực, thể hiện qua việc chuyển hứng chỉ đạo chiến lược nhằm giải quyết mục tiêu số 1 của CM bây giờ là Độc lập dân tộc
* Dự kiến thời cơ: 3 TH
Nhưng thời cơ đó chưa thực sự chín muồi, vì : 2 ý
2.Nắm bắt thời cơ :
Trang 22Nêu thời cơ
* Thời điểm vàng: Từ khi quân Nhật đầu hàng quân Đồng Minh đến trước khi quân Đồng
Minh đổ bộ vào Việt Nam
trước ngày 15-8-1945 , tình thế cách mạng chưa xuất hiện, kẻ thù của cách mạng vẫn còn
mạnh Còn nếu khi quân Đồng minh kéo vào giải giáp quân đội Nhật thì lúc này kẻ thù của
chúng ta không chỉ đông lên về số lượng mà còn mạnh hơn rất nhiều.quân Đồng minhbản
chất của chúng là chủ nghĩa thực dân - đế quốc
6 ND đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng (1946-1954)
MỞ ĐẦU:
- Vì sao phải phát động toàn quốc kháng chiến? (hoàn cảnh lịch sử)
- Nội dung được thể hiện trong các văn kiện nào?
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến + chỉ thị toàn dân kháng chiến + kháng chiến
nhất định thắng lợi = đường lối toàn quốc kháng chiến
NỘI DUNG: cần trình bày được các ý sau
vọng + Đánh phản
chủ mới
+ Toàn dân: toàn dân tham gia KC, lấy LLVT làm nòng cốt
+ Toàn diện: chính trị, quân
sự, kinh tế, văn hóa, ngoại giao
+ Lâu dài + Dựa vào sức mình là chính: tự cấp tự túc về mọi mặt
+ Liên hiệp với dân tộc Pháp, chống, chống phản động TDP
+ Đoàn kết với Miên, Lào và các dân tộc yêu chuộng tự do, hòa bình + Đoàn kết toàn dân
+ Tự cấp, tự túc về mọi mặt + Thực hiện toàn dân kháng chiến
Nhất định thắng lợi
1 Hoàn cảnh lịch sử:
Trang 23Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 nước ta còn nằm trong vòng vây của Chủ nghĩa
đế quốc và phản động quốc tế Để bảo vệ chính quyền, tranh thủ thời gian hoà bình, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài, Đảng ta đã thực hiện sách lược hoà hoãn với Tưởng và sau đó hoà hoãn với Pháp bằng việc ký Hiệp định sơ bộ 6-3-1946 và Tạm ước 14-9-1946 – đây là sự nhân nhượng cuối cùng của ta với Pháp Nhưng với dã tâm xâm lược, cuối năm 1946, Pháp phản bội mọi cam kết, quyết cướp nước ta một lần nữa
17/12/46, Pháp đổ bộ vào miền Bắc Thảm sát tại HN
18/12/46, Pháp gửi tối hậu thư, đòi chúng ta phải đầu hàng, vứt bỏ vũ khí
Đây là giọt nước tràn ly Trước hành động ngày càng lấn tới của thực dân Pháp, ta không thể nhân nhượng được nữa, hòa hoãn nữa sẽ dẫn đến họa mất nước Trong thời điểm lịch sử này, Đảng và nhà nước ta đã quyết định phát động cuộc kháng chiến trong cả nước, chủ động tiến công
2 Nội dung của đường lối kháng chiến:
Đường lối kháng chiến của Đảng được thể hiện tập trung trong ba văn kiện lớn:
- "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến" – Chủ tịch HCM (19/12/46)
- “Chỉ thị toàn dân kháng chiến” – TW Đảng (12/46)
- “Kháng chiến nhất định thắng lợi" năm 1947 – Trường Chinh (1947)
Nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến thể hiện qua các văn kiện trên là:
- Mục đích kháng chiến
Kế tục và phát triển sự nghiệp CM Tháng Tám “Đánh phản động thực dân Pháp xâm lược, giành thống nhất và độc lập”
- Tính chất của cuộc kháng chiến
Một là: Cuộc kháng chiến có tính chất dân tộc giải phóng và dân chủ mới
+ Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là kế tục sự nghiệp của Cách mạng tháng Tám, cuộc kháng chiến này sẽ hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, mở rộng và
Trang 24củng cố chế độ cộng hoà dân chủ Việt Nam và phát triển nó trên nền tảng dân chủ mới Cho nên cuộc kháng chiến của ta có tính chất dân tộc giải phóng Lúc này nhiệm
vụ giải phóng dân tộc là yêu cầu cấp bách nhất
+ Tính chất dân chủ mới là trong quá trình kháng chiến, phải từng bước thực hiện cải cách dân chủ và thực chất của vấn đề dân chủ lúc này là từng bước thực hiện
“người cày có ruộng”
Hai là: Cuộc kháng chiến của ta là một cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện và lâu dài, dựa vào sức mình là chính
+ chiến tranh nhân dân , toàn dân đánh giặc là đánh giặc bằng bất cứ vũ khí gì có trong tay, đánh giặc ở bất cứ nơi nào chúng tới
+ Kháng chiến toàn dân là xuất phát từ so sánh lực lượng giữa ta và địch và xuất phát từ chân lý: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng
+ chiến tranh là một cuộc đọ sức toàn diện giữa hai bên tham chiến Vì thế phải đánh địch trên tất cả các mặt trận: quân sự, chính trị , kinh tế , văn hoá, trong đó quân sự
là mặt trận hàng đầu, nhằm tiêu diệt lực lượng của địch trên đất nước ta, đè bẹp ý chí xâm lược của chúng, giành lại toàn bộ đất nước
- Phương châm của cuộc kháng chiến:
+ Kháng chiến toàn dân: “bất kỳ đàn ông đàn bà không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, bất kỳ người già, trẻ em hễ là người VN thì phải đứng lên đánh TDP” thực hiện mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng xóm là một pháo đài Sự nghiệp Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” Tạo ra được sức mạng toàn dân thì ắt sẽ giành được chiến thắng
+ Kháng chiến toàn diện: Đánh địch về mọi mặt: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, ngoại giao Trong đó:
Trang 25Chính trị: thực hiện đoàn kết toàn dân, tăng cường xây dựng Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân, đoàn kết với Miên, Lào và các dân tộc yêu chuộng tự do, hòa bình
Quân sự: thực hiện vũ trang toàn dân, xây dựng LLVT nhân dân, tiêu diệt địch, giải phóng nhân dân và đất đai, thực hiện, tiêu du kích tiến lên vận động chiến, đánh chính qui, là “Triệt để dùng du kích, vận động chiến Bảo toàn lực lượng, kháng chiến lâu dài Vừa đánh vừa võ trang, vừa đánh vừa đào tạo thêm cán bộ”
Kinh tế: xây dựng kinh tế tự cung tự cấp, tập trung phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp quốc phòng
VH: Xóa bỏ VH thực dân, phong kiến, xây dựng nền VH dân chủ mới theo ba nguyên tắc: dân tộc, khoa học, đại chúng
Ngoại giao: thực hiện thêm bạn bớt thù, biểu dương lực lượng “Liên hiệp với dân tộc Pháp, chống phản động thực dân Pháp, sẵn sàng đàm phán nếu Pháp công nhận
VN độc lập
+ Kháng chiến lâu dài (trường kỳ): là để chống âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh của Pháp, để có thời gian phát huy yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” của ta, chuyển hóa tương quan lực lượng từ chỗ ta yếu hơn địch đến chỗ ta mạnh hơn địch, đánh thắng địch
+ Dựa vào sức mình là chính: “Phải tự cung tự cấp, tự túc về mọi mặt” vì ta bị bao vây bốn phía, chưa được nước nào giúp đỡ nên phải tự lực cánh sinh Khi nào có điều kiện ta sẽ tranh thủ sự giúp đỡ của các nước, song lúc đó cũng không được ỷ lại
- Triển vọng kháng chiến:
Mặc dù lâu dài, gian khổ, khó khăn song nhất định thắng lợi
KẾT LUẬN:
Trang 26Đường lối KC của Đảng với những nội dung cơ bản như trên là đúng đắn, sáng tạo, vừa kế thừa được kinh nghiệm của tổ tiên, đúng với các nguyên lý về chiến tranh cách mạng của CNMLN, vừa phù hợp với thực tế đất nước lúc bấy giờ Đường lối
KC của Đảng được công bố sớm đã có tác dụng đưa cuộc kháng chiến nhanh chóng
đi vào ổn định và phát triển đúng hướng, từng bước đi tới thắng lợi
7 Chủ trương ký kết HĐ Giơnevo của Đảng và chính phủ VN và ND hội nghị
I Chủ trương ký kết hiệp định Gionevo của Đảng và chính phủ VN:
Phối hợp với cuộc tiến công Đông Xuân 1953-1954, Đảng và Chính phủ VN đưa ra chủ trương “giải quyết mâu thuẫn với thực dân Pháp trên bàn đàm phán” Ta cần sức mạnh pháp lý để đối chọi với âm mưu của đế quốc
Chủ trương trên được đưa ra dựa trên bối cảnh lịch sử bấy giờ:
Đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, thực hiện năm đầu của kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm lần thứ nhất nhằm đặt nền móng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc; đẩy mạnh chính sách cùng tồn tại hòa bình, trước hết với các nước châu
Á, nhằm phá thế bao vây cấm vận của Mỹ áp đặt để chống Trung Quốc từ năm 1951
Trang 27Như vậy, hai đồng minh trụ cột của ta lúc bấy giờ là Liên Xô và Trung Quốc đều muốn hòa hoãn với Mỹ và phương Tây, làm dịu tình hình thế giới để tranh thủ phục hồi và phát triển đất nước
Kết quả lớn nhất của xu thế hòa hoãn này là các nước lớn: Mỹ, Anh, Pháp và Liên
Xô đi đến triệu tập Hội nghị Berlin bàn về giải pháp chấm dứt căng thẳng ở Đức,
Áo Đây là cuộc gặp đầu tiên của các nước lớn từ năm 1949 Hội nghị Berlin cũng
đi đến thỏa thuận triêu tập tại Geneva hội nghị bốn nước lớn và chính phủ các bên hữu quan, có sự tham gia của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa để bàn về chấm dứt tình hình căng thẳng ở Triều Tiên và việc chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình tại Đông Dương
Tình hình thế giới như vậy đã mở ra một con đường mới cho khả năng kết thúc chiến tranh VN thông qua biện pháp thương lượng hòa bình
Bên cạnh đó, tiền lệ từ cuộc chiến tranh Triều Tiên cũng thúc đẩy việc giải quyết tình hình Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng bằng phương pháp đàm phán hòa bình
+) Tình hình Đông Dương 1953-1954:
Đang ở thế có lợi cho Việt Nam khi bước vào vòng đàm phán của hội nghị Geneva
- Tình hình chính trị của Pháp rất rối ren do những thất bại quân sự to lớn trên chiến trường Đông Dương và chính sách lệ thuộc vào Mỹ của giới cầm quyền Pháp Phong trào chống chiến tranh, đòi quân đội rút về nước ngày một lan rộng trong các tầng lớp xã hội khác nhau ở Pháp Quốc hội Pháp bị phân liệt trong vấn
đề Đông Dương và các nước đồng minh phương Tây cũng không thực tâm giúp Pháp
+) Tình hình trong nước đang ở thế có lợi cho ta để tiếp tục bước vào hội nghị Geneva
Trang 28Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến dịch ĐBP
đã đập tan kế hoạch Nava, cố gắng chiến tranh cao nhất và cũng là nỗ lực cuối cùng của thực dân Pháp và can thiệp của Mỹ
- Tác động trực tiếp và sâu sắc nhất của chiến trường toàn Đông Dương và chiến dịch Điện Biên Phủ làm rung chuyển nội bộ xã hội và dân tình nước Pháp, thúc đẩy phong trào chống chiến tranh của nhân dân Pháp lên cao trào, tạo phân hóa trong chính giới Pháp, thúc đẩy mạnh mẽ lực lượng chủ hòa trong chính giới, đặc biệt trong Quốc hội Pháp
- Chiến thắng Điện Biên Phủ làm thất bại âm mưu kéo dài mở rộng chiến tranh
và phá hoại Hội nghị Geneva của Mỹ
- Chiến thắng cũng tăng thêm sự đồng tình ủng hộ của nhân dân Pháp và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam
Chiến thắng Điện Biên phủ tạo thế vững vàng cho đoàn đàm phán Việt Nam Đoàn
ta đã bước vào Hội nghị Geneva với thế thắng, thế mạnh nhờ có thắng lợi quân sự khắp chiến trường Việt Nam
II Nội dung hội nghị Geneva
Ngày 8/5/1954, Hội nghị quốc tế về chấm dứt chiến tranh Đông Dương chính thức khai mạc tại Giơnevơ – Thụy Sĩ
Ngày 21/7/1954, các văn bản của Hiệp định Giơ ne vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết, cuộc kháng chiến chống TDP của nhân dân
ta đã kết thúc thắng lợi
Nội dung:
1 Về chính trị và kinh tế
Trang 29ận độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Campuchia
ổ chức tổng tuyển cử tự do trong ba nước nhằm lập chính phủ duy nhất cho mỗi nước
ệt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố ý định xem xét việc tự nguyện gia nhập Liên hiệp Pháp và những điều kiện gia nhập đó Các chính phủ Campuchia và Lào cũng ra những tuyên bố tương tự
ệt Nam Dân chủ Cộng hòa, Campuchia, Lào thừa nhận các quyền lợi kinh tế, văn hóa của nước Pháp trong ba nước Sau khi các chính phủ duy nhất được thành lập, các quan hệ kinh tế và văn hóa được giải quyết theo nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi
o Ngừng bắn trên toàn Đông Dương và đồng thời với việc điều chỉnh các lãnh thổ
và khu vực mà các bên chiếm giữ
o Ngừng việc đưa quân đội mới, vũ khí đạn dược vào Đông Dương
o Thiết lập một hệ thống kiểm soát các uỷ ban liên hiệp gồm đại diện củacác bên tham chiến
TÓM TẮT:
I Bối cảnh quốc tế của HN Giơ ne vơ:
Trang 30• Tình hình thế giới:
- 1952-1954: Chiến tranh lạnh đỉnh điểm => xu thế hòa hoãn giữa các nước lớn + Liên Xô: Xtalin mất => lãnh đạo đối ngoại thay đổi chiến lược đối ngoại => Hòa hoãn quốc tế => củng cố thực lực
+ Tung Của: Chính sách phát triển kinh tế => đặt nền móng xây dựng XHCN ở TQ => đẩy mạnh chính sách cùng tồn tại hòa bình => phá thế cấm vận của Mỹ
2 đồng mình muốn hòa hoãn => phục hồi và phát triển đất nước
• Tình hình Đông Dương: ( rất có lợi cho VN)
- Chính trị Pháp đang rối ren: Thất bại ở Đông Dương và chính sách phụ thuộc vào
Mỹ
Phong trào đòi rút quân, chống chiến tranh ngày 1 rộng => Pháp đang bị phân liệt bởi vấn đề Đông Dương và các nước đồng minh phương Tây cũng ko thực tâm giúp Pháp
• Tình hình trong nước: (rất có lợi cho VN)
- Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954: chiến dịchĐBP đã đập tan kế hoạch Nava
- Chiến trường toàn Đông Dương và chiến dịch Điện Biên Phủ:
+ Làm rung chuyển nội bộ xã hội Pháp: =>phong trào chống chiến tranh của nhân dân Pháp lêncao trào => tạo phân hóa trong chính giới Pháp
=> thúc đẩy lực lượng chủ hòa trongchính giới, đặc biệt trong Quốc hội Pháp
+ Làm thất bại: âmmưu kéo dài mở rộng chiến tranh + phá hoại Hội nghị Geneva của Mỹ
+ Tăng thêm sự đồng tình ủng hộ: Nhân dân Pháp + nhân dân yêu hòa bình => đấu tranh giải phòng dân tộc của nhân dân VN
Chiến thắng ĐBP: Tạo thế vững vàng cho đoàn đàm phán VN
II Mục tiêu của VN tham gia HN Giơ ne vơ:
• Chính trị - Kinh tế: (3 nước Đông Dương)
Trang 31- Độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ
- Tổng tuyển cử tự do =>lập chính phủ duy nhất cho mỗi nước
- Xem xét việc tự nguyện gia nhậpLiên hiệp Phápvà những đk gia nhập
- Thừa nhận các quyền lợi kinh tế,văn hóa của nước Pháp
• Quân sự:
- Hiệp định về rút quân đội nước ngoài ra khỏi 3nước
- Trước khi rút quân: Đạt thỏa thuận về nơi rút quân của lực lượng Pháp
- Hai bên cam kết không truy tố những người hợp tác với đối phương trong thờigian chiến tranh
- Trao trả tù binh
- Pháp và banước Đông Dương ký hiệp đình về từng nước trên cơ sở dưới đây: + Ngừng bắn trên toàn Đông Dương + điều chỉnh cáclãnh thổ và khu vực mà các bên chiếm giữ
+ Ngừng việc đưa quân đội mới, vũ khí đạn dược vào Đông Dương
+ Thiết lập hệ thống kiểm soát các uỷ ban liên hiệp gồm đại diện các bên tham chiến
8 Chủ trương phát động tổng khởi nghĩa trong cách mạng tháng 8
Trước ngày 13/8/45, Đảng ta đã xác định khoảng thời cơ vàng cho khỏi nghĩa giành chính quyền là từ khi quân Nhật đầu hàng quân ĐM cho đến trước khi quân ĐM đổ
bộ vào ĐD giải tán vũ khí Nhật
Ngay từ ngày 13-8-1945, khi nhận được những thông tin về Nhật Bản đầu hàng đồng minh không điều kiện, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh nhận định: Cơ hội rất tốt cho ta giành chính quyền độc lập đã tới, lập tức thành lập Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc Đến 23 giờ cùng ngày, Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc “đã hạ lệnh tổng khởi nghĩa” - chính thức phát lệnh Tổng khởi nghĩa trong cả nước
Nguyên tắc chỉ đạo cuộc khởi nghĩa:
1 Tập trung, thống nhất, kịp thời
2 Phải đánh chiếm ngay những nơi chắc thắng bất kể ở nông thôn hay thành thị
3 Quân sự và chính trị phải phối hợp làm tan rã tinh thần quân địch
Trang 324 Thành lập được chính quyền nhân dân trước khi quân đồng minh vào đông dương
5 Đối nội: lấy 10 chính sách của việt Minh làm chính sách cơ bản
6 Đối ngoại: dựa trên nguyên tắc bình đẳng hợp tác, thêm bạn bớt thù
- Từ ngày 14 đến ngày 15-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang) thông qua kế hoạch lãnh đạo toàn dân Tổng khởi nghĩa
và quyết định những vấn đề quan trọng về chính sách đối nội, đối ngoại sau khi giành được chính quyền
- Từ ngày 16 đến ngày 17-8-1945, Đại Hội quốc dân được triệu tập ở Tân Trào Đại hội tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua Mười chính sách của Việt Minh, cử ra Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch
- Từ ngày 14 đến ngày 18-8, nhiều xã, huyện thuộc các tỉnh ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ đã nhanh chóng chớp thời cơ tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền
Ngày 19/8/1945, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh, nhân dân ta khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội
Ngày 23-8, giành chính quyền ở Huế.Ngày 25-8, giành chính quyền tại Sài Gòn.Đến ngày 28-8-1945, cách mạng đã giành chính quyền trong cả nước
- Chiều ngày 30-8-1945, trong cuộc mít tinh lớn có hàng vạn quần chúng tham gia, vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị Đến đây, chế độ phong kiến Việt Nam hoàn toàn sụp
đổ
- Ngày 02-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ lâm thời trịnh trọng tuyên bố với toàn thể quốc dân và nhân dân thế giới: Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thành lập
Từ đây, Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ chính thức là Đảng cầm quyền
Trang 33Một trong những nhân tố góp phần quyết định làm nên thắng lợi của cuộc cách mạng chính là vấn đề thời cơ của cách mạng và việc nhanh nhạy chớp lấy thời cơ cách mạng, phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam
mà người đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh
9 Ý nghĩa ra đời của Đảng CSVN
Đảng CSVN ra đời thể hiện bước phát triển biện chứng quá trình vận động của CMVN: sự phát triển từ Hội VN CM thanh niên đến ba tổ chức cộng sản, đến Đảng CSVN trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê nin và quan điểm của NAQ Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở VN đã quy tụ ba tổ chức cộng sản thành một đảng CS duy nhất, theo một đường lối chính trị đúng đắn, đã tạo nên sự thống nhất về tư tưởng chính trị, tổ chức và hành động của phong trào CM cả nước, hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa XH
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác
- Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam Đó cũng là kết quả của sự phát triển cao và thống nhất của phong trào công nhân và phong trào yêu nước Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng” Đường lối cách mạng của Đảng thể hiện trong Cương lĩnh là mục tiêu, lý tưởng của Đảng, phù hợp và đáp ứng đúng nguyện vọng của giai cấp công nhân, các tầng lớp nhân dân lao động và của toàn dân tộc
Chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ là hệ tư tưởng lý luận của giai cấp công nhân, phong trào công nhân mà còn là vũ khí giải phóng giai cấp công nhân, giải phóng dân tộc, giải phóng toàn xã hội Đối với hoàn cảnh cụ thể của VN, Chủ tịch HCM – NAQ không chỉ vận dụng sáng tạo mà còn bổ sung, phát triển học thuyết Mác – Lê nin về ĐCS Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam