VI THỊ THI NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CÔNG TÁC BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC TẠI TỈNH BẮC KẠN LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG THÁI NGUYÊN, 2015...
Trang 1VI THỊ THI
NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CÔNG TÁC BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC TẠI
TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
THÁI NGUYÊN, 2015
Trang 2VI THỊ THI
NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CÔNG TÁC BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC TẠI
TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 60.44.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Thị Lan
THÁI NGUYÊN, 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hướng dẫn,
hỗ trợ từ giảng viên hướng dẫn là PGS TS Đỗ Thị Lan Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình
Tác giả luận văn
Vi Thị Thi
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến quý thầy, cô trong khoa Môi trường, trường Đại học Nông lâm Thái nguyên đã quan tâm giúp đỡ chỉ bảo tận tình trong quá trình thực hiện luận văn Nhờ đó tôi đã tiếp thu được nhiều ý kiến đóng góp và nhận xét quý báu của thầy cô thông qua các buổi bảo vệ đề cương và báo cáo tiến độ thực hiện
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến PGS TS Đỗ Thị Lan đã trực tiếp hướng dẫn, định hướng chuyên môn, quan tâm giúp đỡ tận tình và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong quá trình công tác cũng như thực hiện luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và sự biết ơn sâu sắc đến gia đình đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành tốt mọi công việc trong quá trình thực hiện luận án Bên cạnh đó, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn của mình tới bạn bè và đồng nghiệp, luôn quan tâm, chia sẻ, động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả mong nhận được sự góp ý của quý thầy, cô và bạn bè
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Vi Thị Thi
Trang 5
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC HÌNH ẢNH vi
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu 23
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học 4 1.1.1 Khái niệm về đa dạng sinh học 4
1.1.2 Bảo tồn đa dạng sinh học 5
1.2 Nghiên cứu về bảo tồn Đa dạng sinh học 6
1.2.1 Nghiên cứu bảo tồn Đa dạng sinh học trên thế giới 6
1.2.2 Nghiên cứu bảo tồn Đa dạng sinh học ở Việt Nam 10
1.2.3 Nghiên cứu bảo tồn đa dạng sinh học tại khu vực nghiên cứu 16
1.3 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu 18
1.3.1 Đặc điểm tự nhiên 18
1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 21
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.3 Nội dung nghiên cứu 24
2.3.1 Đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học tại khu vực nghiên cứu 24
2.3.2 Nghiên cứu nguyên nhân suy giảm đa dạng sinh học 24
2.3.3 Nghiên cứu thực trạng quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học 24
2.3.4 Đề xuất giải pháp quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học 25
2.4 Phương pháp nghiên cứu 25
Trang 62.4.1 Thu thập và kế thừa thông tin, số liệu có chọn lọc 25
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 25
2.4.3 Phương pháp phỏng vấn 26
2.4.4 Phương pháp tổng hợp và xử lí số liệu 26
2.4.5 Xây dựng bản đồ hiện trạng Error! Bookmark not defined. 2.4.5 Phân tích ma trận SWOT 27
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
3.1 Đặc điểm đa dạng sinh học tại tỉnh Bắc Kạn 28
3.1.1 Đặc điểm thực vật tại khu vực nghiên cứu 28
3.1.2 Đặc điểm động vật có xương sống ở cạn tại khu vực nghiên cứu 37
3.2 Nguyên nhân suy giảm đa dạng Sinh học tại tỉnh Bắc Kạn 44
3.2.1 Nguyên nhân trực tiếp 44
3.2.2 Nguyên nhân gián tiếp 47
3.3 Thực trạng quản lý bảo tồn ĐDSH tại tỉnh Bắc Kạn 50
3.3.1 Hệ thống quản lý, bảo tồn ĐDSH trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 50
3.3.2 Công tác đào tạo, phát triển du lịch sinh thái và giáo dục bảo tồn 52
3.3.3 Ảnh hưởng của các chương trình, chính sách đến quản lý, bảo tồn ĐDSH trong khu vực nghiên cứu 53
3.3.4 Mối quan hệ giữa chủ rừng với các bên liên quan trong công tác quản lý, bảo tồn ĐDSH 55
3.3.5 Phân tích ma trận SWOT đối với công tác quản lý, bảo tồn ĐDSH tại khu vực nghiên cứu 58
3.4 Đề xuất giải pháp cho công tác quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học 59
3.4.1 Nhóm giải pháp chiến lược 59
3.4.2 Giải pháp về thể chế, chính sách 60
3.4.3 Nhóm giải pháp về phát triển kinh tế- xã hội 63
3.4.4 Giải pháp về khoa học công nghệ 65
3.4.5 Giải pháp tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật 66
3.4.6 Giải pháp về đào tạo, giáo dục 66
3.4.7 Giải pháp về hợp tác Quốc tế 68
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
1 Kết luận 69
2 Kiến nghị 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
BI Tổ chức Bảo tồn Chim Quốc tế - BirdLife International
BTTN Bảo tồn thiên nhiên
CI Tổ chức Bảo tồn Quốc tế - Conservation International
CITES Công ước về buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã
nguy cấp ĐDSH Đa dạng sinh học
HST Hệ sinh thái
KBT Khu bảo tồn
KTKT Kinh tế kỹ thuật
KHKT (Viện) Khoa học kỹ thuật
LCKT Luận chứng kinh tế- kỹ thuật
NGO Tổ chức phi Chính phủ
PTBV Phát triển bền vững
RAMSAR Công ước về bảo tồn và sử dụng một cách hợp lý và thích đáng
các vùng đất ngập nước TNC Tổ chức bảo tồn tự nhiên
TNTN Tài nguyên thiên nhiên
VQG Vườn Quốc gia
WWF Quỹ Bảo vệ thiên nhiên Quốc tế
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Tổng lượng mưa trung bình theo tháng 20
Bảng 1.2: Dân số, mật độ dân số của tỉnh Bắc Kạn năm 2013 21
Bảng 3.1 Diễn biến diện tích rừng và độ che phủ rừng tại khu vực nghiên cứu 28
Bảng 3.2 Diễn biến diện tích rừng tại khu vực nghiên cứu 29
Bảng 3.3 Thành phần thực vật rừng khu vực nghiên cứu năm 2014 34
Bảng 3.4 So sánh thực vật của khu vực nghiên cứu với các khu vực khác 35
Bảng 3.5 Thành phần các loài động vật có xương sống tại khu vực nghiên cứu 37
Bảng 3.6 So sánh động vật ở khu vực nghiên cứu và các khu vực khác 38
Bảng 3.7 Thành phần loài thú tại khu vực nghiên cứu 39
Bảng 3.8 Mười loài thú nguy cấp, quý hiếm tại khu vực nghiên cứu 40
Bảng 3.9 Thành phần khu hệ Chim ở khu vực nghiên cứu 41
Bảng 3.10 Sự phân bố về cấu trúc thành phần loài chim theo các dạng sinh cảnh 42
Bảng 3.11 Các loài Chim nguy cấp, quý hiếm tại khu vực nghiên cứu 43
Bảng 3.12 Các loài cây gỗ người dân thường khai thác ở khu vực nghiên cứu 44
Bảng 3.13.Tình trạng săn bắt và sử dụng động vật hoang dã ở khu vực nghiên cứu 45
Bảng 3.14 Tổng hợp thực thi pháp luật ở khu vực nghiên cứu 49
Bảng 3.15 Phân tích mối quan hệ giữa chủ rừng và các bên liên quan 55
DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 1.1: Biến động các hình thức bảo tồn đa dạng sinh học 14
Hình 2.1: Tổng thể phạm vi nghiên cứu Error! Bookmark not defined Hình 3.2 : Biểu đồ tỷ lệ các loài động vật có xương sống tại Bắc Kạn 38
Trang 9MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Đa dạng sinh học (ĐDSH) có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tự nhiên và cân bằng sinh thái Đó là cơ sở của sự sống còn, thịnh vượng của loài người và sự bền vững của thiên nhiên trên Trái Đất Theo ước tính giá trị của tài nguyên đa dạng sinh học toàn cầu cung cấp cho con người là 33.000 tỷ đô la
mỗi năm (Constan Za et al-1997) Đối với Việt Nam nguồn tài nguyên đa dạng sinh
học trong các ngành Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản hàng năm cung cấp cho đất nước khoảng 2 tỷ đô la
Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho nguồn tài nguồn tài nguyên ĐDSH của Việt Nam đã và đang bị suy giảm Nhiều hệ sinh thái và môi trường sống bị thu hẹp diện tích và nhiều Taxon loài và dưới loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng trong một tương lai gần
Bảo tồn đa dạng sinh học được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng
và là trọng tâm đối với sự phát triển trên toàn thế giới Với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế xã hội cùng với sự quản lý tài nguyên sinh học còn yếu kém đã làm cho ĐDSH bị suy thoái ngày càng nghiêm trọng Sự mất mát về ĐDSH hiện nay là đáng
lo ngại, nhiều loài động thực vật bị đe dọa và nguy cơ tuyệt chủng mà nguyên nhân chủ yếu là do con người sử dụng tài nguyên không hợp lý Do đó, việc quản lý tài nguyên và bảo tồn ĐDSH là thực sự cần thiết và cấp bách [8] [36]
Nhận thức được giá trị to lớn và tầm quan trọng của ĐDSH, năm 1993 Việt Nam đã phê chuẩn công ước quốc tế về bảo tồn ĐDSH Năm 1995, Chính phủ đã phê duyệt và ban hành “Kế hoạch hành động ĐDSH ở Việt Nam” Năm 2007, “Kế hoạch hành động quốc gia về ĐDSH đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” được xây dựng và phê duyệt triển khai [20]
Bắc Kạn là một tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa vùng Đông Bắc với tổng diện tích tự nhiên khoảng 4.859,41 km2
chiếm 1,47 % diện tích tự nhiên của cả nước Bắc Kạn có địa hình đa dạng, phức tạp, chủ yếu là đồi và núi vì vậy có tiềm
Trang 10năng rất lớn về tài nguyên đất và rừng; đồng thời, điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa đã tạo nên sự đa dạng hệ sinh thái của tỉnh Bắc Kạn Diện tích rừng tự nhiên của Bắc Kạn vào loại lớn nhất trong các tỉnh vùng Đông Bắc (tương đương 95,3% diện tích) Tài nguyên rừng của tỉnh khá đa dạng và phong phú, được coi là trung tâm bảo tồn nguồn gen thực vật của vùng Đông Bắc
Tuy vậy, trong những năm gần đây, việc đẩy mạnh các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đã làm cho diện tích rừng tự nhiên có chất lượng bị thu hẹp, mục đích sử dụng đất bị chuyển đổi, tài nguyên sinh vật bị khai thác quá mức, nhiều giống mới du nhập không được kiểm soát và ô nhiễm môi trường ngày càng tăng Bên cạnh đó, nạn phá rừng làm nương rẫy, cháy rừng, khai thác lâm sản quá mức, săn bắn chim thú trái phép, đánh bắt thủy sản bằng các biện pháp hủy diệt; việc sử dụng phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật quá mức không theo quy định, đặc biệt hoạt động khai thác khoáng sản trái phép diễn biến phức tạp, xảy ra tập trung thành các điểm nóng đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với việc bảo vệ các Khu bảo tồn thiên nhiên, tác động xấu đến nơi cư trú ổn định, sinh tồn và phát triển của các loài động vật quý Ngoài ra, nhiều trách nhiệm hành chính liên quan đến quy hoạch bảo tồn ĐDSH, bảo tồn loài, bảo tồn tài nguyên di truyền, về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích, … vẫn chưa được cụ thể trong các văn bản hiện hành cũng là nguyên nhân góp phần làm suy giảm ĐDSH toàn tỉnh Bắc Kạn [7]
Trước yêu cầu bảo vệ, phục hồi, phát triển và sử dụng bền vững ĐDSH, đề
tài : “Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác
bảo tồn Đa dạng sinh học tại tỉnh Bắc Kạn” được triển khai với mục tiêu đưa ra
được các đề xuất giải pháp hoàn thiện thể chế, chính sách, kế hoạch hành động cụ thể nhằm khai thác, sử dụng hợp lý các thành phần của ĐDSH và quản lý ATSH là thực sự cần thiết nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 11- Xác định nguyên nhân gây suy giảm đa dạng sinh học, các yếu tố tác động đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học của khu vực nghiên cứu Từ đó đề xuất một số giải pháp về chính sách - chiến lƣợc - kinh tế - kỹ thuật để nâng cao hiệu quả của công tác bảo tồn đa dạng sinh học
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm liên quan đến đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học
1.1.1 Khái niệm về đa dạng sinh học
Năm 1989, Quỹ Bảo vệ thiên nhiên Quốc tế (WWF) đã định nghĩa: “ĐDSH
là sự phồn thịnh của sự sống trên Trái Đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những HST vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường” Đa dạng sinh học bao gồm 3 cấp độ: Đa dạng nguồn gen, đa dạng loài và đa dạng HST Trong đó, đa dạng loài bao gồm toàn bộ các loài sinh vật sống trên Trái đất, từ vi khuẩn đến các loài động vật, thực vật và các loài nấm Ở mức độ vi mô hơn, ĐDSH bao gồm sự khác biệt về gen giữa các loài, khác biệt về gen giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể ĐDSH còn bao gồm
cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó các loài sinh sống, và cả sự khác biệt của mối tương tác giữa chúng với nhau [35]
Theo Công ước đa dạng sinh học thì ĐDSH là sự phong phú các sinh vật sống gồm các hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái biển, các hệ sinh thái nước ngọt, và tập hợp các HST mà sinh vật chỉ là một bộ phận ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong một loài (đa dạng gen) hay còn gọi là đa dạng di truyền, sự đa dạng giữa các loài (đa dạng loài) và sự đa dạng hệ sinh thái (đa dạng HST) Nói cách khác ĐDSH là sự
đa dạng của sự sống ở các cấp độ và các tổ hợp [7]
ĐDSH là sự phong phú của tất cả các sinh vật sống trong tự nhiên trên trái đất, từ các sinh vật nhỏ bé nhất đến những sinh vật lớn nhất, từ Vi sinh vật, Nấm, Thực vật, Động vật, các HST và môi trường chúng sinh sống [35]
ĐDSH trực tiếp phục vụ đời sống của con người trong phát triển kinh tế, góp phần xóa đói, giảm nghèo… Những giá trị trực tiếp đó là giá trị sử dụng, tiêu thụ, và sản xuất ra các mặt hàng phục vụ nhu cầu của con người ĐDSH và cảnh quan là nền tảng cho sự phát triển các dịch vụ hệ sinh thái, điều tiết nguồn nước, bảo vệ môi trường đặc biệt trong giảm nhẹ các tác động bất lợi do biến đổi khí hậu hiện nay [9], [11]
Trang 131.1.2 Bảo tồn đa dạng sinh học
Bảo tồn đa dạng sinh học là quá trình quản lý mối tác động qua lại giữa con người với các gen, các loài và các HST nhằm mang lại lợi ích lớn nhất cho thế hệ hiện tại và vẫn duy trì tiềm năng để đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau
Có nhiều phương pháp và công cụ để quản lý bảo tồn ĐDSH Một số phương pháp và công cụ được sử dụng để phục hồi một số loài quan trọng, các dòng di truyền hay các sinh cảnh Một số khác được sử dụng để sản xuất một cách bền vững các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ từ các tài nguyên sinh vật,… Có thể phân chia các phương pháp và công cụ thành các nhóm như sau:
- Bảo tồn tại chỗ (in-situ conservation):
Bảo tồn tại chỗ bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo
vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các HST trong điều kiện tự nhiên Tùy theo đối tượng bảo tồn mà các hành động quản lý thay đổi Thông thường bảo tồn tại chỗ được thực hiện bằng cách thành lập các khu bảo tồn và áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp [28]
- Bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ conservation):
Bảo tồn chuyển chỗ bao gồm các biện pháp di dời các loài cây, con và các sinh vật ra khỏi môi trường sống tự nhiên của chúng Mục đích của việc di dời này là để nhân giống, lưu giữ, nhân nuôi vô tính hay cứu hộ trong trường hợp: (1) nơi sống bị suy thoái hay hủy hoại không thể lưu giữ lâu hơn các loài nói trên, (2) dùng để làm vật liệu cho nghiên cứu, thực nghiệm và phát triển sản phẩm mới, để nâng cao kiến thức cho cộng đồng Bảo tồn chuyển chỗ bao gồm các vườn thực vật, vườn động vật, các
bể nuôi thủy hải sản, các ngân hàng giống [28]
- Phục hồi (Rehabilitation):
Bao gồm các biện pháp để dẫn đến bảo tồn tại chỗ hay bảo tồn chuyển chỗ Các biện pháp này được sử dụng để phục hồi lại các loài, các quần xã, sinh cảnh, các quá trình sinh thái Việc hồi phục sinh thái bao gồm một số công việc như phục hồi lại các HST tại những vùng đất đã bị suy thoái bằng cách nuôi trồng lại các loài bản địa chính, tạo lại các quá trình sinh thái, tạo lại vòng tuần hoàn vật
Trang 14chất, chế độ thủy văn, tuy nhiên không phải là để sử dụng cho công việc vui chơi, giải trí hay phải phục hồi đủ các thành phần động thực vật như trước đã từng có Một trong những mục tiêu quan trọng trong việc bảo tồn sinh học là bảo vệ các đại diện của HST và các thành phần của ĐDSH Ngoài việc xây dựng các KBT cũng cần thiết phải giữ gìn các thành phần của sinh cảnh hay các hành lang còn sót lại trong khu vực mà con người đã làm thay đổi cảnh quan thiên nhiên, và bảo vệ các khu vực được xây dựng để thực hiện chức năng sinh thái đặc trưng quan trọng cho công tác bảo tồn ĐDSH [28], [40]
1.2 Nghiên cứu về bảo tồn Đa dạng sinh học
1.2.1 Nghiên cứu bảo tồn Đa dạng sinh học trên thế giới
a Xác lập thứ bậc ưu tiên bảo tồn trên phạm vi toàn cầu
Trên thực tế, các nguồn lực dành cho công tác bảo tồn còn hạn chế, vì vậy để phân bổ các nguồn lực một cách phù hợp và thiết thực, cần phải xác định được thứ
tự ưu tiên, xây dựng chiến lược và lập kế hoạch trong bảo tồn một cách hiệu quả Nhiều tổ chức phi Chính phủ (NGO) đã tham gia vào quá trình này nhằm xác định được các khu vực mà họ muốn hướng các nguồn đầu tư của mình vào đó, có thể gộp thành 3 nhóm như sau:
Bảo tồn dựa trên các sinh cảnh đại diện: Hình thức này đã được một số tổ chức bảo tồn như Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF), tổ chức bảo tồn tự nhiên (TNC), sử dụng Trong đó, WWF đã xác định được 867 vùng sinh thái trên toàn cầu Khái niệm này được Tổ chức bảo tồn tự nhiên (TNC) sử dụng như một phương pháp
tiếp cận chủ đạo cho các hoạt động của mình, sau đó phát triển thành “Global 200”
nhằm kết hợp các kiểu sinh cảnh đặc trưng nhất trên phạm vi toàn thế giới [22],[39]
Bảo tồn dựa trên các tiêu chí về loài: như mức độ phong phú của loài (Species richness) và số lượng các loài đặc hữu (Endemic species) được Tổ chức Bảo tồn Quốc tế (CI - Conservation International) và Tổ chức Bảo tồn Chim Quốc tế (BirdLife International) sử dụng Phương pháp tiếp cận về loài được tổ chức bảo tồn quốc tế CI sử dụng nhằm tập trung các nguồn lực vào các khu vực có tính ĐDSH cao
Trang 15nhất, có mối đe dọa lớn nhất, đồng thời đưa ra khái niệm các điểm nóng về ĐDSH và những vùng còn nguyên vẹn được xem là vùng có giá trị ĐDSH cao [36],[39]
BirdLife cũng đưa ra khái niệm về các vùng chim đặc hữu (EBA: Endemic
Bird Area) để áp dụng cho những nơi có ít nhất hai loài phân bố hẹp (RRS: Ranger
- restricted species), loài phân bố hẹp là loài có phạm vi phân bố trên toàn cầu nhỏ
hơn 50.000 km2 Bên cạnh đó BirdLife còn đưa ra khái niệm về các vùng chim quan trọng, đó là những vùng có tầm quan trọng quốc tế về bảo tồn chim, được xác định dựa trên tiêu chí về loài như: sự hiện diện của các loài đe dọa, các loài phân bố ở một khu vực có diện tích hẹp, hoặc là nơi tụ tập của nhiều loài Tổ chức bảo tồn quốc tế (CI), BirdLife và Plant Life đã phối hợp nghiên cứu và đưa ra khái niệm các vùng ĐDSH chính [44]
Bảo tồn dựa trên tiêu chí về các mối đe dọa: Phương pháp này được Tổ chức bảo tồn động thực vật hoang dã Quốc tế (FFI) và Hiệp hội bảo tồn động vật hoang dã (WCS) sử dụng để xác định các mức đe dọa tối thiểu hoặc các vùng biệt lập [28]
b Xác định các cảnh quan để bảo tồn
Thuật ngữ “cảnh quan” (landscape) mang nhiều ý nghĩa khác nhau tùy theo
mục đích cụ thể Theo mục đích bảo tồn, thì cảnh quan có thể hiểu là: “Một vùng đất rộng lớn bao gồm nhiều đặc trưng khác nhau và được xem như là kết quả của một quá trình hình thành và biến đổi lâu dài” Đến nay vẫn chưa có giải thích cụ thể nào về qui mô của cảnh quan, cũng như chưa có định nghĩa nào về việc xác định ranh giới của cảnh quan Tuy nhiên, các nhà qui hoạch bảo tồn đã xác định ranh giới của cảnh quan dựa trên các yếu tố tự nhiên như: lưu vực, vùng núi, ngọn núi, phạm vi phân bố của một loài hoặc nhóm loài [7] [29]
Việc xác định các cảnh quan trong ưu tiên bảo tồn đã giúp cho việc bảo vệ và duy trì các chức năng sinh thái của nó, đồng thời giúp cho việc xác định và thực thi các chiến lược về bảo tồn Theo cách này, WWF (2004) đã đưa ra khái niệm về tầm nhìn ĐDSH nhằm xác định các khu vực ưu tiên bảo tồn trong phạm vi một vùng
Trang 16sinh thái WCS (2004) cũng đưa ra khái niệm về loài đại diện cho một vùng cảnh quan nhằm bảo vệ các giá trị ĐDSH trong từng vùng [33]
c Xác định các khu vực để triển khai các hoạt động bảo tồn
Bảo tồn thông qua việc thiết lập hệ thống các KBT là ý tưởng đầu tiên xuất hiện ở Hoa Kỳ từ thế kỷ XIX bằng việc thành lập VQG Yellowstone ngày 01 tháng
Có thể nói rằng, đến nay trên thế giới mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, nhưng bảo tồn ĐDSH đã được quan tâm một cách toàn diện Công tác quản lý bảo tồn ĐDSH không chỉ tập trung bảo vệ tài nguyên, xây dựng hệ thống các khu bảo tồn mà còn chú trọng đến giáo dục về quản lý và nâng cao hiệu quả trong điều hành cũng như nhận thức bảo tồn, chú ý đến khía cạnh xã hội nhân văn trong bảo tồn như phối hợp bảo tồn, bảo tồn dựa vào cộng đồng, chia sẻ lợi ích từ bảo tồn nhằm hướng đến đích cuối cùng là sử dụng bền vững các thành phần của ĐDSH, chia sẻ các lợi ích có được từ việc sử dụng các nguồn tài nguyên di truyền, một cách bình đẳng và công bằng
Trang 17d Phương thức tiếp cận được áp dụng trong quản lý bảo tồn Đa dạng sinh học
Nhằm đảm bảo phát triển bền vững, nhiều ngành, nhiều tổ chức liên quan đến sử dụng tài nguyên thiên nhiên đang hình thành và xây dựng những phương thức tiếp cận mới về quản lý, đó là: (1) Quản lý hệ sinh thái, (2) Quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng, (3) Đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên, (4) Bảo tồn và phát triển tổng hợp, (5) Phát triển bền vững
Các phương thức tiếp cận nêu trên đều giống nhau trong việc nỗ lực tìm kiếm một số giải pháp tối ưu để giải quyết mâu thuẫn và chia sẻ quyền lợi trong việc sử dụng các nguồn TNTN, mà những quyền lợi này có thể là giữa bảo tồn và phát triển, giữa cộng đồng địa phương và một quốc gia, hoặc giữa các nhóm người
có liên quan trong xã hội Điểm nổi bật trong các phương thức tiếp cận này là nâng cao vai trò của cộng đồng địa phương cũng như những nhóm người trong xã hội có liên quan đến TNTN Các phương thức tiếp cận này đang được hình thành và phát triển nhằm khắc phục những hạn chế trong cách quản lý áp đặt từ trên xuống theo cách quan liêu bao cấp và đẩy mạnh cách thức quản lý TNTN từ dưới lên [43]
Những điểm khác biệt cơ bản giữa các phương thức tiếp cận là sự nhìn nhận vấn đề, điểm trung tâm là tính ưu tiên của các phương pháp cụ thể được ứng dụng
Ví dụ: phương pháp tiếp cận hệ sinh thái quan tâm trước tiên là tính toàn vẹn của HST và nhìn nhận con người là một bộ phận của HST Vì vậy muốn đạt được mục đích cơ bản trên thì phải tuân thủ các nguyên tắc của phát triển bền vững Vì thế, phương pháp tiếp cận là làm sao tận dụng được mọi thế mạnh của cộng đồng trong việc sử dụng và bảo vệ TNTN, để có thể chia sẻ lợi ích một cách công bằng cho cộng đồng địa phương được quan tâm trước tiên, nhưng tất nhiên đều phải gắn chặt với quyền lợi bảo tồn thiên nhiên để đảm bảo sự hài hoà Trong khi đó, phương pháp tiếp cận đồng quản lý có nhiều đặc điểm giống với phương pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng, nhưng mang ý nghĩa rộng hơn, tức là quan tâm đến mọi đối tác, mọi nhóm xã hội trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến tài nguyên, để đạt được mục đích
là chia sẻ quyền lợi công bằng đồng thời không làm suy thoái TNTN và bảo vệ ĐDSH [43] [46]
Trang 18Trên thế giới, phát triển bền vững, đặc biệt là sự tham gia của cộng đồng là vấn đề được chú trọng trong quản lý bảo tồn đa dạng sinh học Đây là điều kiện tiên quyết để tạo nên sự thay đổi cần thiết cho sự phát triển của xã hội sinh thái học bền
vững Thực tế tại New Zealand cho thấy, vào những năm 1980, mạng lưới các VQG
ở nước này bắt đầu phát triển và liên tục, vừa bảo vệ các vùng nhỏ, vừa tạo ra các khu giải trí cho cộng đồng
1.2.2 Nghiên cứu bảo tồn Đa dạng sinh học ở Việt Nam
Theo đánh giá của Trung tâm giám sát bảo tồn thế giới (WCMC) (1992, 2003), Việt Nam được xếp thứ 16 trong số các nước có ĐDSH cao nhất thế giới Theo báo cáo quốc gia về ĐDSH Việt Nam năm 2011 thì hệ thực vật Việt Nam đã ghi nhận 13.766 loài thực vật, trong đó có 11.373 loài thực vật bậc cao có mạch, có
2256 chi, 305 họ chiếm 4% tổng số loài, 15% tổng số chi và 5% tổng số họ thực vật trên thế giới, 2.393 loài thực vật bậc thấp chưa kể các nhóm vi tảo ở nước [7] [10]
Về hệ động vật, ngoài các loài đặc hữu Việt Nam còn có nhưng loài động vật mang tính chất hỗn hợp của hai khu hệ động vật Nam Trung Hoa và Ấn Độ, Mã Lai [8] Nhiều loài không những có giá trị cao về kinh tế, mà còn có giá trị bảo tồn ở Việt Nam và thế giới, nhiều loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Danh lục
đỏ IUCN (2012) Sự phong phú về thực vật và các hệ sinh thái là nơi trú ngụ của nhiều loài động vật Việt Nam có đến 312 loài và phân Thú, 840 loài Chim, 317 loài
Bò sát, 167 loài Lưỡng cư, 7700 loài Côn trùng, 547 loài Cá nước ngọt, 2038 loài
Cá biển và 9300 loài Động vật không xương sống [8], [33]
Theo báo cáo về quan trắc môi trường nước của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam là một trong 10 quốc gia giàu ĐDSH nhất trên thế giới, với sự có mặt của 10%
số loài được biết đến, trong khi diện tích lãnh thổ chỉ chiếm chưa đến 1% diện tích Trái đất Việt Nam là nơi cư trú của hơn 275 loài thú có vú, 800 loài chim, 180 loài
bò sát, 2.470 loài cá, 5.500 loài côn trùng và 12.000 loài cây (trong đó chỉ có 7.000 loài đã được nhận dạng) [44]
Trang 19Tuy nhiên, ngày nay, nhu cầu về động vật hoang dã và các sản phẩm làm từ động vật hoang dã tại Việt Nam có chiều hướng gia tăng đã làm suy giảm nghiêm trọng sự đa dạng sinh học này
Theo báo cáo của Hội Động vật học Việt Nam, các loài bị khai thác bất hợp pháp chủ yếu là rắn, kỳ đà, tê tê, hổ, gấu, voi… Tỉ trọng các cá thể được khai thác gồm thú rừng 20%, rắn 45%, rùa 30% với hơn 66% sử dụng làm thực phẩm Theo Sách đỏ Việt Nam, số loài động vật nguy cấp quý hiếm tăng từ 365 loài (năm 1992) lên 418 loài (năm 2007), trong đó có 116 loài mức nguy cấp rất cao, 9 loài từ
nguy cấp lên mức coi như đã tuyệt chủng Theo ước tính của Quỹ Bảo vệ động vật
hoang dã (WWF) trong vòng 40 năm, 12 loài động vật quý hiếm đã bị biến mất hoàn toàn ở Việt Nam…[5] [34]
Theo WWF-1998, hổ Đông dương phân bố tại 47 điểm tại Việt Nam, trong
đó có 15 vườn quốc gia và nhiều khu bảo tồn thiên nhiên Hổ phân bố tập trung ở các tỉnh Lai Châu, Thanh Hóa, Quảng Ninh, Kon Tum, Đắk Lắk So với những năm
1970, số lượng hổ đã giảm sút một cách nghiêm trọng và có nguy cơ tuyệt chủng trong tương lai gần nếu không có các biện pháp bảo tồn hữu hiệu Hổ còn tồn tại trong tự nhiên chủ yếu tại các khu bảo tồn thiên nhiên hoặc vườn quốc gia, nơi rừng còn ít bị tác động và có chế độ bảo vệ khá nghiêm ngặt Theo điều tra gần đây tại hai tỉnh Quảng Nam và Bắc Kạn, đoàn khảo sát nhận thấy hổ còn sinh sống tại khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh tỉnh Quảng Nam và không có bất cứ dấu vết nào cho thấy hổ còn tồn tại ở khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ tỉnh Bắc Kạn [46]
Hiện trạng hổ phân bố rải rác ở nhiều sinh cảnh bị chia cắt Một số địa phương ở tỉnh Kon Tum, Sông Mã (Sơn La), Lạc Dương (Lâm Đồng), Quảng Nam, Lai Châu có số lượng hổ trên 7 cá thể còn các nơi khác chỉ có 2 đến 5 cá thể (Cục Kiểm lâm, 2008) Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, số lượng hổ ở Việt Nam chỉ còn khoảng 28 - 47 cá thể sinh sống rải rác ở các khu rừng hẻo lánh
và đang đối mặt với nguy cơ bị tuyệt diệt do bị săn bắt, buôn bán và mất nơi sinh sống Bên cạnh đó, số hổ nuôi nhốt cũng chỉ có 112 cá thể và hoạt động này hiện chưa khẳng định sẽ hỗ trợ được công tác bảo tồn hổ trong tự nhiên [11]
Trang 20a, Sơ lược về tình hình nghiên cứu đa dạng sinh học ở Việt Nam
Các nghiên cứu ĐDSH thường được bắt đầu bằng những nghiên cứu cơ bản
để có tiền đề xây dựng luận chứng kinh tế- kỹ thuật (LCKT) cho các KBT Phần lớn LCKT được xây dựng bởi các cơ quan chuyên môn, các Viện nghiên cứu, các trường đại học như Viện Điều tra Quy hoạch rừng, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Trường đại học Lâm nghiệp…Ngoài các nghiên cứu liên quan đến LCKT còn phải kể đến các nghiên cứu chuyên sâu của các cơ quan nghiên cứu, Viện Khoa học
và Công nghệ Quốc gia- Đại học QG Hà Nội, các tổ chức trong và ngoài nước Các
số liệu trong nghiên cứu này rất quan trọng và có giá trị, được các VQG và KBT sử dụng để biết được sự đa dạng sinh vật mà mình đang quản lý [6],[7]
Trong những thập kỷ của những năm đầu cuối thế kỷ XX, các nghiên cứu về ĐDSH phục vụ cho việc xây dựng các luận chứng KTKT để xây dựng hệ thống các khu rừng đặc dụng của Việt Nam Tuy nhiên, do thiếu kinh phí nên số liệu chưa được cập nhật, nhiều VQG và Khu BTTN chỉ có số liệu khi xây dựng LCKT Nhiều loài động vật, thực vật có trong thực tế nhưng chưa có tên trong danh lục hoặc ngược lại có tên trong danh lục nhưng lại không thấy trong thiên nhiên
b Chiến lược, chính sách bảo tồn đa dạng sinh học
Nhận thức được tầm quan trọng của sự suy thoái tài nguyên ĐDSH, Việt Nam đã sớm có những hành động tích cực trong công tác bảo tồn ĐDSH Theo thống kê từ năm 1958 đến nay, có tới vài trăm văn bản pháp luật do Nhà nước và các ban ngành liên quan ban hành về vấn đề bảo tồn ĐDSH và các tài liệu hướng dẫn thi hành lần lượt được ban hành [7],
Năm 1962, Cục Kiểm lâm được thành lập cùng với sự ra đời rừng cấm đầu tiên ở Việt Nam là rừng cấm Cúc Phương Năm 1985, Chiến lược Bảo tồn Quốc gia của Việt Nam (NCS) được ban hành Đây là một chiến lược đầu tiên được xây dựng ở một nước đang phát triển Và từ đó, việc cải cách thể chế và luật pháp đã phát triển nhanh chóng với sự ra đời của các văn bản pháp luật do nhà nước ban hành liên quan đến bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên ĐDSH như: Luật bảo
Trang 21vệ và phát triển rừng 1991 (được sửa đổi, bổ sung năm 2004); Luật đất đai năm
1993 (được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và 2003); Luật bảo vệ môi trường năm 1993 (được sửa đổi, bổ sung năm 2005); Luật thủy sản năm 2003; và gần đây nhất, luật
Đa dạng sinh học được Quốc hội phê chuẩn tháng 11 năm 2008 [5], [18]
Ngoài ra, trong phong trào chung và tính cấp bách của toàn cầu về bảo tồn và phát triển bền vững, Việt Nam cũng đã tham gia ký kết nhiều công ước quốc tế về môi trường có liên quan, đặc biệt là: Công ước Ramsar về đất ngập nước (1975), công ước ĐDSH (1993) và Công ước CITES về buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã nguy cấp (1994) [1]
Trong giai đoạn 2005-2010, các quy hoạch, kế hoạch hành động quốc gia về bảo tồn ĐDSH đã được ban hành và tổ chức thực hiện như quy hoạch hệ thống khu bảo tồn vùng nước nội địa đến năm 2020, Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2020 Đặc biệt là kế hoạch hành động Quốc gia về ĐDSH đến năm
2010 và định hướng đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 79/2007/QĐ-TTg ngày 31 tháng 5 năm 2007 Bên cạnh đó, các ngành các cấp tiếp tục triển khai Chiến lược, Kế hoạch, chương trình khác có liên quan đến bảo tồn ĐDSH được phê duyệt trước năm 2005 như Chương trình nâng cao nhận thức bảo tồn ĐDSH đến năm 2010, Kế hoạch hành động Quốc gia về tăng cường kiểm soát buôn bán động thực vật hoang dã đến năm 2010, Chiến lược quản lý hệ
thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010 , Kế hoạch bảo vệ và phát
triển rừng giai đoạn 2011 – 2020” [9] [13] [40]
Hệ thống các văn bản quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến bảo vệ ĐDSH tuy đã được hình thành nhưng còn có nhiều khiếm khuyết và bất cập Việt Nam là thành viên của Công ước ĐDSH nhưng cho đến nay, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào hoàn chỉnh để đảm bảo thực hiện Công ước này Các văn bản hiện hành mới chỉ tập trung vào việc bảo tồn ĐDSH, trong khi đó, Công ước ĐDSH nêu ra ba mục tiêu: (1)- Bảo tồn ĐDSH; (2)- Sử dụng bền vững tài nguyên; (3)- Chia sẻ trung thực và công bằng lợi ích có được từ việc sử dụng tài nguyên gen
Trang 22Việc hình thành hệ thống rừng đặc dụng ở Việt Nam là một trong những biện pháp tích cực đã và đang góp phần quan trọng trong sự nghiệp bảo tồn ĐDSH Năm 2000, quy hoạch mới hệ thống rừng đặc dụng với nhiều thay đổi lớn như: đề xuất phân hạng mới, loại bỏ, chuyển hạng, sát nhập, đổi tên và thành lập mới cho một số khu rừng đặc dụng Đến năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 192/2003/QĐ - TTg ban hành chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam đến năm 2010 [3][16]
Đến năm 2012, việc quy hoạch các khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam được đẩy mạnh, đã thành lập 205 KBT, trong đó có 144 khu bảo tồn trên cạn, 45 khu bảo tồn vùng nước nội địa, 16 khu bảo tồn biển phân bố trên tất cả các vùng sinh thái trong cả nước, bao gồm 30 VQG, 58 khu Dự trữ Thiên nhiên, 11 khu bảo tồn loài/sinh cảnh và 45 khu bảo vệ cảnh quan; các KBT trên cạn (rừng đặc dụng) chiếm diện tích gần 2.198.744 ha, chiếm 13,5% diện tích tự nhiên Bên cạnh đó, đã
có một số hình thức bảo tồn khác được công nhận gồm: 4 khu đất ngập nước Ramsar, 8 khu bảo tồn sinh quyển, 4 khu di sản thiên nhiên ASEAN, 2 khu di sản thiên nhiên thế giới và đặc biệt Vịnh Hạ Long được công nhận là 1 trong 7 Kỳ quan Thiên nhiên mới của thế giới [6], [63], [65]
Hình 1.1: Biến động các hình thức bảo tồn đa dạng sinh học
Trang 23Có thể nhận định rằng, việc thành lập hệ thống các KBT và VQG đã làm cho công tác bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam phần nào đáp ứng được mục đích bảo tồn, vấn
đề còn lại là thực hiện cho đúng tiến trình kèm theo đó là những thay đổi, cải tiến về chính sách, thể chế trong quản lý và tất nhiên là để thực hiện tiến trình này rất cần
sự hỗ trợ và hợp tác của nhiều tổ chức, cơ quan trong và ngoài nước có liên quan [5]
c Xây dựng và quản lý vùng đệm
Cũng như nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam mỗi khi xây dựng một khu bảo tồn, người dân sống ở quanh hoặc trong KBT buộc phải hy sinh quyền lợi riêng của mình, họ không được khai thác tài nguyên như trước vì lợi ích của quốc gia và các thế hệ mai sau [24], [31] Phần lớn các VQG và KBT đã và đang được xây dựng thường nằm giữa khu vực có dân cư sinh sống nên chịu sức ép hết sức nặng nề Cộng đồng địa phương, những người sống trong, hay gần các khu bảo tồn đã nhiều đời có mối liên quan trực tiếp với thiên nhiên các vùng đó, cuộc sống của họ lệ thuộc phần lớn vào việc khai thác TNTN Tuy nhiên, công cuộc bảo tồn ngày nay thường
bỏ qua những yêu cầu thiết yếu của họ và đồng thời cũng ít lưu ý đến các giá trị văn hoá, các phong tục tập quán, những hiểu biết của họ về thiên nhiên, về các loài mà
họ rất quen thuộc, cách thức tổ chức bảo tồn thiên nhiên mà cộng đồng đã đúc rút từ nhiều đời nay
Cùng với việc hình thành và phát triển hệ thống các khu bảo tồn tại chỗ (in-situ
conservation), công tác bảo tồn chuyển chỗ cũng đã được quan tâm trong bảo tồn
ĐDSH ở nước ta Một số loại hình bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ conservation) đã triển
khai và đạt được những kết quả đáng kể như các vườn thực vật, trại gây nuôi động vật, vườn thú, trạm cứu hộ động vật, ngân hàng giống Công tác bảo tồn nguồn gen động thực vật, bao gồm nguồn gen thực vật rừng, cây nông nghiệp, nguồn gen vật nuôi và động vật hoang dã cũng đã được các Viện khoa học Lâm nghiệp, Viện khoa học Nông nghiệp, Viện Chăn nuôi, các vườn thú, các tổ chức nghiên cứu và bảo tồn động thực vật tiến hành nghiên cứu Trong các vườn thực vật phải kể đến Vườn Bách thảo Hà Nội đã xây dựng hơn 100 năm nay, với hàng trăm loài cây, chủ yếu là loài cây bản địa Trung tâm cứu hộ động vật đầu tiên là Trung tâm cứu hộ linh trưởng ở VQG Cúc Phương, hiện nay ở Cúc Phương còn có Trung tâm cứu hộ và nghiên cứu Rùa, Trung
Trang 24tâm cứu hộ Gấu tại VQG Tam Đảo, VQG Cát Tiên Việc lưu giữ nguồn giống được thực hiện ở một số cơ sở như: Viện KHKT nông nghiệp Việt Nam, Viện KHKT Nông nghiệp miền Nam, trường Đại học Cần Thơ, Viện cây Lương thực và Thực phẩm…[7]
1.2.3 Nghiên cứu bảo tồn đa dạng sinh học tại khu vực nghiên cứu
Bắc Kạn là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam: phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía Đông giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Nam giáp tỉnh Thái Nguyên và phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang Là một tỉnh miền núi, có địa hình chia cắt phức tạp, đất có
độ dốc lớn, lại là vùng đầu nguồn của nhiều hệ sông, suối… nên Bắc Kạn có một vị trí đặc biệt quan trọng đối với các tỉnh trong khu vực Khu vực này có hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi điển hình của khu vực chuyển tiếp giữa vùng núi Tây Bắc và đồng bằng sông Hồng với một khu vực rừng tự nhiên rộng lớn có nhiều loài động thực vật quý hiếm đã từng được coi là các loài quan trọng đang bị đe dọa cần được bảo tồn và liệt kê vào Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Danh lục đỏ IUCN (2012) [2]
Theo báo cáo ĐDSH Vườn Quốc gia Ba Bể: “VQG Ba Bể có 1.268 loài thực vật bậc cao, trong đó có 26 loài được ghi tên trong sách đỏ Việt nam và Thế giới, các loài cây gỗ quí, hiếm như Đinh, Nghiến, Lim, Trúc dây Trong đó Trúc dây là một loài tre đặc hữu của Ba Bể thường mọc tại các vách đá, thân của chúng thả mành mành xuống hồ tạo nên những bức mành xung quanh hồ Đây là khu vực được các nhà khoa học trong và ngoài nước đánh giá là trung tâm đa dạng và đặc hữu cao nhất về loài Lan không chỉ của Việt Nam mà còn của cả toàn vùng Đông Nam Á Ở đây có 182 loài Lan, 1 số loài Lan là đặc hữu chỉ phát hiện thấy duy nhất
ở vùng này Hệ động vật phong phú và đa dạng, 234 loài chim, Lớp thú 81 loài, 48 loài bò sát và lưỡng cư, 106 loài cá nước ngọt đây là một trong những sinh cảnh nước ngọt có giá trị lớn nhất tại Việt Nam Có 36 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam và Sách đỏ Thế giới; trong đó VQG có hai loài đặc hữu hẹp là Voọc đen má
trắng (Semnopithecus francoisi) và Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) và một loài đặc hữu Đông dương là Cu li lớn (Nycticebus coucang) Vườn Quốc gia Ba
Bể có khu hệ thú tương đối phong phú, đặc biệt là thành phần các loài thú Nhiều loài bị đe doạ đã tập trung ở đây như: Hổ, Gấu, Sơn dương, Sói đỏ, Báo hoa mai, [12]
Trang 25Đề tài nghiên cứu khoa học “Điều tra, đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý bảo tồn đa dạng sinh học cá tại Hồ Ba Bể, Vườn Quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn” đến tháng 10 năm 2006 cho thấy có 85 loài thuộc 50 giống, 18 hộ và 5
bộ Trong đó riêng hồ Ba Bể có 69 loài trong 50 giống, 5 bộ và 16 họ; 20 loài cá quí hiếm và có giá trị kinh tế; Có 12 loài cá quý hiếm theo sách đỏ Việt Nam Đặc biệt
đã phát hiện và đánh bắt được cá Anh vũ nhưng cần có thời gian để điều tra và khẳng định Theo báo cáo, ở Hồ Ba Bể, các nhà khoa học đã phát hiện và ghi nhận
106 loài cá thuộc 65 giống, 18 họ và 5 bộ; có 138 loài và phân loài thực vật nổi
thuộc 8 ngành, đặc biệt là loài tảo đỏ nước ngọt Batrachospermum sp.; 35 loài và nhóm động vật nổi, 10 loài thân mềm (Bộ NN&PTNT, 2003) Song hiện trạng
quản lý bảo tồn đa dạng sinh học cá của Vườn Quốc gia Ba Bể và chính quyền địa phương chưa quản lý tốt, vẫn còn tình trạng nổ mìn, đánh bắt cá vào mùa cá đẻ ý thức chấp hành, tự giác bảo vệ nguồn lợi cá của cộng đồng còn thấp Đời sống của một bộ phận dân cư còn nghèo [3]
Theo Báo cáo đánh giá kết quả hoạt động của Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn năm 2011, hiện trạng rừng ở Khu bảo tồn này còn nguyên khá nguyên vẹn, nhiều nơi chưa bị tác động bởi con người, còn lưu giữ nhiều loài động động vật quý hiến đang có nguy cơ bị tuyệt trủng ở Việt Nam và trên thế giới như Voọc mũi hếch, Voọc đen má trắng, Vạc Hoa và các loài thực vật quý hiếm như Trai, Nghiến, Đinh, lan hài và thông [42]
Lê Đồng Tấn (Viện nghiên cứu khoa học Tây Bắc) và Hoàng Đức Chính
(Khoa Quốc tế - Đại học Thái Nguyên) trong báo cáo kết quả nghiên cứu về tính đa
dạng thực vật Tại xã Cổ Linh huyện Pắc Nặm tỉnh Bắc Kạn bước đầu đã thống kê
hệ thực vật xã Cổ Linh huyện Pắc Nặm tỉnh Bắc Kạn có 319 loài thực vật bậc cao
có mạch thuộc 5 ngành, 93 họ, 247 chi Trong đó ngành Cỏ tháp bút (Equysetophyta) có 1 chi 1 họ 1 loài; sau đó là ngành Thông (Pinophyta) 2 họ 2 chi
2 loài; tiếp đến là ngành Thông đất (Licopodiophyta) 2 họ 3 chi 3 loài; ngành Dương xỉ (Polypophyta) 7 họ 11 chi 15 loài; ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) 81
họ, 230 chi 298 loài, trong đó lớp Hai lá mầm (Dicotyledones) 65 họ 196 chi 253 loài, lớp một lá mầm (Monocotyledones) 16 họ, 34 chi và 45 loài Song hoạt động bảo tồn ở đây chưa thực sự hiệu quả Các hoạt động khai thác sử dụng không hợp lý
Trang 26nên hiệu quả không cao Mặt khác do bị suy thoái nên khả năng cung cấp của rừng thấp, không đáp ứng được nhu cầu của người dân; chức năng phòng hộ bị suy giảm
do bị suy thoái [22]
1.3 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu
1.3.1 Đặc điểm tự nhiên
a Vị trí khu vực nghiên cứu
Bắc Kạn là tỉnh thuộc vùng núi Đông Bắc, nằm trong khoảng tọa độ địa lý từ
21048‟22‟‟ đến 22044‟17‟‟ vĩ độ Bắc và từ 105025‟08‟‟ đến 106024‟47‟‟ kinh độ Đông
Phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng
Phía Nam giáp tỉnh Thái Nguyên
Phía Đông giáp tỉnh Lạng Sơn
Phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang
Vị trí của tỉnh có địa hình núi cao, có vị trí rất quan trọng trong chiến lược an ninh - quốc phòng tuy nhiên do nằm sâu trong nội địa nên gặp nhiều khó khăn trong việc trao đổi hàng hoá với các trung tâm kinh tế lớn cũng như các cảng biển Mạng lưới giao thông chủ yếu trong tỉnh chỉ là đường bộ nhưng chất lượng đường lại kém Chính vị trí địa lý cũng như những khó khăn về địa hình đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển kinh tế - xã hội của toàn tỉnh
b Địa hình
Địa hình đồi núi dốc, bị chia cắt mạnh, độ cao trung bình từ 600 đến 700m Nằm trong hệ thống cánh cung Đông Sơn và cánh cung Bắc Sơn với một số đỉnh cao trên 1000 như Pia Bioc cao 1502m, Pia Ngoam cao 1193m, Hoa Sơn cao 1517m Độ dốc trung bình 20o
-35o Núi đá tập trung chủ yếu ở Na Rì và Ba Bể với nhiều hang động và cảnh quan đẹp
c Khí hậu - thuỷ văn
- Khí hậu: Bắc Kạn nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ trung bình
năm 21,90
C - 22,4oC; nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất 26,5o
C -28,2oC; nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất 13o
C - 15,5oC Hiện tượng sương muối, mây mù xảy ra thường xuyên Lượng mưa trung bình từ 1600 - 2100mm/năm, số ngày mưa trung bình 150 - 160 ngày/năm Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 và chiếm trên
Trang 2785-90% tổng lượng mưa hàng năm Mùa khô kéo dài từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau Độ ẩm không khí trung bình 83 - 85%, thấp nhất vào mùa khô 77%, cao nhất vào mùa mưa 88%
- Hệ thống thuỷ văn: Bắc Kạn có 3 hệ thống sông chính: Hệ thống sông
Cầu dài 120km bắt đầu từ Phương Viên (Chợ Đồn) chảy qua các xã Đông Viên qua qua Bạch Thông, thị xã Bắc Kạn và Chợ Mới Hệ thống sông Năng dài 85km bắt đầu tự Bằng Thành, Công Bằng qua xã An Thắng, Bành Trạch, Thượng Giáo, Cao Trĩ, Khang Ninh rồi đổ về thác Đầu Đẳng sang Tuyên Quang nhập vào sông Đáy
Hệ thống sông Yến Lạc dài 75km bắt nguồn từ các xã Côn Minh, Đổng Xã, Xuân Dương, chảy qua xã Hảo Nghĩa, Hữu Thác, Lương Thượng, Vũ Loan rồi đổ vào thị trấn Yến Lạc qua Kim Lư sang Lạng Sơn
Ngoài 3 hệ thống sông suối trên, Bắc Kạn còn có hồ Ba Bể với diện tích mặt
hồ rộng 301,4ha, mực nước dao động giữa hai mùa là 2,8m, tốc độ dòng chảy trung bình là 0,5m/s Tuy có diện tích mặt nước nhỏ và bình thường nước từ hồ chảy vào sông Năng, nhưng khi sông Năng có lũ đột ngột, nước trong hồ không đổ vào dòng sông nữa mà sẽ dâng lên cao thêm đến 2,8m, khi lũ trên sông giảm xuống, nước hồ lại tiếp tục chảy vào sông Năng để đổ vào sông Gâm Lượng nước tích lại trong hồ đạt tới 8,4 triệu m3, làm giảm một cách đáng kể cho lũ sông Năng và vì thế đã góp phần điều tiết nước cho sông Gâm
- Chế độ gió: Do tỉnh Bắc Kạn nằm sâu trong đất liền lại được các dãy núi
che chắn, nên ít chịu ảnh hưởng của bão, thỉnh thoảng có gió lốc cục bộ từng khu vực hẹp ít ảnh hưởng đến sản xuất, sinh hoạt của nhân dân Hướng gió thịnh hành ở tỉnh Bắc Kạn là hướng Bắc và Đông Bắc từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau Gió mùa Đông Bắc ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến tỉnh Bắc Kạn từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau Gió mùa Đông Bắc đột ngột làm giảm nhiệt độ 4 - 60C so với bình quân nên thường gây hậu quả xấu đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là đối với
mạ và lúa chiêm xuân Gió Đông Nam xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 9 kèm theo mưa dông, đôi khi xuất hiện lốc xoáy gây thiệt hại cho hoa màu, nhà cửa
- Chế độ mưa: Gió mùa đã gây ra hiện tượng mưa mùa và phân hóa theo
không gian Lượng mưa trung bình năm toàn tỉnh bình quân khoảng 1.756 mm, phân bố không đều theo huyện và theo mùa Lượng mưa trung bình lớn nhất ở trạm Phủ Thông (2.144,50 mm) và thấp nhất ở trạm Na Rì (1.148,10 mm)
Trang 28Bảng 1.1: Tổng lượng mưa trung bình theo tháng
Riềng
Chợ Mới Na Rì
Phương Viên
Phủ Thông Chợ Rã Ngân
Sơn
Tháng 1 13,70 12,90 20,00 30,00 21,40 10,60 20,40 Tháng 2 14,00 22,80 26,70 20,00 19,40 11,60 19,90 Tháng 3 33,60 40,90 24,40 18,70 70,80 70,00 45,70 Tháng 4 58,50 76,10 80,60 61,20 195,00 33,10 90,90 Tháng 5 339,40 212,00 170,60 412,40 584,20 33,10 364,70 Tháng 6 111,30 170,20 200,30 154,40 122,10 160,70 116,60 Tháng 7 388,80 622,00 211,90 460,20 386,00 386,00 370,10 Tháng 8 420,30 450,30 201,40 369,00 374,90 347,80 509,70 Tháng 9 191,60 282,80 111,30 312,20 161,90 81,60 146,80 Tháng 10 41,60 82,40 53,20 103,30 62,90 53,90 50,50 Tháng 11 23,00 22,70 30,60 10,80 41,30 22,00 87,40 Tháng 12 63,40 46,40 17,10 91,30 104,60 78,80 106,00
Cả năm 1.699,20 2.041,50 1.148,10 2.043,50 2.144,50 1.289,20 1.928,70 Trung bình 141,60 170,13 95,68 170,29 178,71 107,43 160,73 Cao nhất 420,30 622,00 211,90 460,20 584,20 386,00 509,70 Thấp nhất 13,70 12,90 17,10 10,80 19,40 10,60 19,90
Nguồn: Trung tâm Khí tượng và Thủy văn tỉnh Bắc Kạn
Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9 mưa nhiều, lượng mưa chiếm từ 75 - 85% lượng mưa cả năm theo từng trạm đo, bình quân toàn tỉnh chiếm khoảng 80,84% Tháng 7 có lượng mưa lớn nhất trong năm, chiếm từ 18,46 - 30,47% tổng lượng mưa năm
Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau mưa ít, lượng mưa chỉ chiếm 15 - 25% lượng mưa cả năm Mưa ít là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra
Trang 29hạn hán, hỏa hoạn và các vụ cháy rừng của tỉnh Bắc Kạn cũng nhiều hơn so với các địa phương khác trong vùng Đông Bắc
1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
a Dân số:
Theo số liệu thống kê, dân số năm 2013 của tỉnh Bắc Kạn có 305.560 người, trong đó khu vực thành thị có 49.646 người, chiếm 16,25%; khu vực nông thôn có 255.914 người, chiếm 83,75% dân số
Bảng 1.2: Dân số, mật độ dân số của tỉnh Bắc Kạn năm 2013
Đơn vị hành chính
Dân số năm 2013 (người)
Mật độ dân số (người/km 2
Nguồn: Niêm giám thống kê tỉnh Bắc Kạn năm 2013
Mật độ dân số bình quân thấp, chỉ đạt 63 người/km2, tuy nhiên dân cư phân
bố không đều, tập trung nhiều ở các đô thị, ven các trục đường giao thông Thị xã Bắc Kạn là nơi có mật độ dân số cao nhất đạt 284 người/km2, tiếp đến là các huyện
Ba Bể 71 người/km2, huyện Pắc Nặm 65 người/km2; nơi có mật độ dân số thấp là các huyện Na Rì 45 và Ngân Sơn 46 người/ km2
Trang 30
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đã giảm bình quân 0,02%/năm, đến năm 2013 tỷ
lệ tăng dân số tự nhiên của tỉnh còn 0,98% Dân số cơ học biến động không đều có
xu hướng tăng dần đặc biệt là ở khu vực đô thị
b Lao động và việc làm
Phần lớn dân cư trong vùng hiện nay đã ổn định cuộc sống, định canh, định cư Tuy nhiên, do những lý do khách quan vẫn còn một số hộ phải di chuyển tự do vào Nam để làm ăn hoặc chuyển ra gần đường để giao lưu, buôn
bán Dân số trong độ tuổi lao động năm 2013 là 187,90 ngàn người, chiếm 63,37%
số dân toàn tỉnh, trong đó có 172,72 nghìn lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân Phần lớn số lao động tập trung trong khu vực kinh tế nông nghiệp (chiếm 69,94% tổng số lao động đang làm việc), lao động trong khu vực kinh tế công nghiệp chiếm 5,77%, còn lại là trong lĩnh vực dịch vụ Cơ cấu lao động của tỉnh còn khá trẻ, tỷ lệ lao động trong độ tuổi 16 - 35 chiếm khoảng 50%, nhóm lao động trong độ tuổi từ 24 - 35 chiếm trên 20%
Đến nay số lao động được qua đào tạo các ngành nghề chiếm 14% trong tổng
số lao động, trong đó người dân tộc thiểu số được đào tạo chỉ chiếm 3,2% số lao động Lao động có tay nghề cao, kỹ thuật giỏi và có trình độ cơ bản từ trung cấp đến đại học được tập trung chủ yếu trong các cơ quan nhà nước ở cấp tỉnh, thị xã Bắc Kạn và các đơn vị quốc doanh Trong năm 2013 đã giải quyết việc làm cho trên 1,50 nghìn lao động, trong đó khu vực kinh tế nông nghiệp tạo thêm trên 1,3 nghìn chỗ làm mới
Tuy nhiên hiện nay số lao động thiếu việc làm theo mùa vụ còn khá lớn, theo ước tính hiện nay lao động khu vực nông nghiệp mới sử dụng khoảng 80,5% số ngày công trong năm, còn lại là thời gian nông nhàn
Trang 31CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá tính đa dạng sinh học tỉnh Bắc Kạn
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài trải rộng trên toàn địa bàn tỉnh Bắc Kạn
- Địa điểm nghiên cứu: Thị xã Bắc Kạn và 7 huyện của tỉnh Bắc Kạn bao
gồm: Ba Bể, Bạch Thông, Chợ Đồn, Chợ Mới, Na Rì, Ngân Sơn, Pắc Nặm
Hình 2.1 Tổng thể phạm vi nghiên cứu
Trang 322.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 9 năm 2015
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học tại khu vực nghiên cứu
ĐDSH và cảnh quan là nền tảng cho sự phát triển các dịch vụ hệ sinh thái, điều tiết nguồn nước, bảo vệ môi trường đặc biệt trong giảm nhẹ các tác động bất lợi
do biến đổi khí hậu hiện nay ĐDSH là sự phong phú của tất cả các sinh vật sống trong tự nhiên trên trái đất, từ các sinh vật nhỏ bé nhất đến những sinh vật lớn nhất,
từ Vi sinh vật, Nấm, Thực vật, Động vật, các HST và môi trường chúng sinh sống Hiện trạng đa dạng sinh học chính là các thống kê về số loài và mức độ phân bố của chúng trong sinh cảnh sống Đánh giá, nhận định được hiện trạng đa dạng sinh học
có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý và đề xuất các biện pháp bảo tồn hợp lý
2.2.2 Nghiên cứu nguyên nhân suy giảm đa dạng sinh học
Suy giảm ĐDSH được xác định bởi các nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp: (1)- Nguyên nhân trực tiếp: Săn bắt động vật hoang dã, khai thác gỗ trái phép, thu hái lâm sản ngoài gỗ, chăn thả gia súc, xâm lấn rừng lấy đất canh tác, cháy rừng; (2)- Nguyên nhân gián tiếp: biến đổi khí hậu, tăng dân số, tập quán sinh sống của người dân địa phương, sự nghèo đói và hiệu lực thi hành pháp luật về quản lý bảo vệ rừng, một số chính sách ở trung ương và địa phương chưa đi vào cuộc sống
2.2.3 Nghiên cứu thực trạng quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học
- Các hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến công tác bảo tồn ĐDSH hiện nay ở Bắc Kạn;
- Đánh giá các chủ trương, chính sách phát triển có liên quan đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học của tỉnh;
- Phân tích hệ thống quản lý đa dạng sinh học của địa phương về tổ chức quản
lý, lực lượng quản lý, những điểm mạnh, điểm yếu và nguy cơ thách thức
- Hệ thống và hiện trạng của các khu vực bảo vệ rừng đặc dụng, các khu bảo tồn thiên nhiên và VQG trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đến năm 2013
Trang 332.2.4 Đề xuất giải pháp quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học
Từ những kết quả điều tra, nghiên cứu, đánh giá, đề tài đưa ra một số đề xuất một số giải pháp kinh tế - kỹ thuật - môi trường và chính sách để nâng cao hiệu quả của công tác bảo tồn đa dạng sinh học, cụ thể:
- Nhóm giải pháp về thể chế, chính sách
- Nhóm giải pháp về tăng cường cơ sở vật chất – kỹ thuật, phát triển kinh tế xã hội
- Nhóm giải pháp về đào tạo –giáo dục, tuyên truyền
- Nhóm giải pháp về mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thu thập và kế thừa thông tin, số liệu có chọn lọc
Thu thập, tổng hợp các thông tin, số liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên và
kinh tế xã hội tỉnh Bắc Kạn Tham khảo những số liệu ĐDSH, về dân tộc, hiện
trạng sử dụng đất nông nghiệp và lâm nghiệp, tình hình sản xuất nông lâm nghiệp, tình hình đói nghèo, hiện trạng sử dụng tài nguyên và những khó khăn, thuận lợi trong phát triển kinh tế và công tác bảo tồn tại các xã trong khu vực nghiên cứu Kế thừa các số liệu đã có tại Niên giám thống kê tỉnh Bắc Kạn phục vụ cho việc phân tích biến động mà đề tài đưa ra
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
- Xác định địa điểm thu mẫu và tuyến điều tra: Để thu mẫu một cách đầy
đủ và đại diện cho một khu nghiên cứu việc chọn tuyến điều tra và điểm thu mẫu là rất cần thiết Tuyến đường đi phải xuyên qua các môi trường sống của khu nghiên cứu Có thế chọn nhiều tuyến theo các hướng khác nhau, nghĩa là các tuyến đó phải
đi qua các vùng đại diện cho khu vực Một tuyến điều tra chạy dọc từ hướng Đông sang hướng Tây khu vực nghiên cứu được lập để kiểm chứng cập nhật thông tin và các số liệu về thành phần loài; sau đó tiến hành sơ thám khu vực nghiên cứu, tham khảo các tài liệu, bản đồ địa hình khu vực liên quan và các cán bộ, người dân, quen biết thông thạo địa hình và lập kế hoạch cho công tác điều tra ngoại nghiệp
Trang 342.3.3 Phương pháp phỏng vấn
- Phỏng vấn, bảng hỏi: Phỏng vấn người dân địa phương trong quá trình điều
tra, thu thập số liệu trong quá trình phỏng vấn có sử dụng các ảnh màu hoặc hình vẽ
màu trong các tài liệu như “Sổ tay ngoại nghiệp nhận diện các loài thú của VQG Pù
Mát” của Phạm Nhật và Nguyễn Xuân Đặng, “hướng dẫn nhận dạng các loài thú ở Việt Nam” của Parr John W.K và Hoàng Xuân Thủy; “Hướng dẫn điều tra ngoại nghiệp linh trưởng” của FFI, “Nhận dạng động vật hoang dã bị buôn bán” của
TRAFFIC; “Chim Việt Nam” của Nguyễn Cử, Lê Trọng Trải và Karen Phillipps,
đồng thời tiến hành tìm hiểu các di vật của các loài động vật còn lại trong nhân dân như các sọ, các phần xương, cặp sừng, tấm da lông, đuôi, lông và cả những con vật còn sống mà người dân còn nuôi nhốt,… [16] [23] [33];
Tiến hành điều tra bằng bảng hỏi với 85 hộ dân, 5 lãnh đạo các xã và 8 cán bộ
dự án hoặc kiểm lâm để thu thập thông tin về tình hình sử dụng đa dạng sinh học trên địa bàn Mặt khác, trao đổi mở với các cán bộ lãnh đạo của UBND các cấp ở địa phương, cán bộ phụ trách các vấn đề kinh tế xã hội, dân cư, phát triển nông lâm nghiệp, cán bộ hạt kiểm lâm, ban quản lý Khu bảo tồn Phỏng vấn, trao đổi với các hộ trong khu vực nghiên cứu về tình hình kinh tế xã hội, dân cư cũng như tình hình sử dụng tài nguyên, khai thác lâm sản ngoài gỗ
- Quan sát và chụp ảnh: Quan sát hiện trạng tài nguyên trong khu vực để mô
tả cấu trúc rừng, thu thập mẫu lá, hoa,… và chụp hình theo lát cắt các kiểu trạng thái rừng Đối với động vật, thu thập số liệu và mẫu vật thực địa bằng cách quan sát trực tiếp vào ban ngày (dùng ống nhòm, máy ảnh, nghe tiếng kêu, tiếng hót, quan sát bằng mắt thường); hoặc dùng đèn pin quan sát vào ban đêm (quan sát điểm mắt, vết phân, dấu chân, …) dựa theo kinh nghiệm của chuyên gia và người dân địa phương thông thạo địa hình, tập tính của các đối tượng nghiên cứu
2.3.4 Phương pháp tổng hợp và xử lí số liệu
Thông tin được thu thập được tổng kết theo bảng và xử lý sang các dạng đồ thị tương quan để có những phân tích và đánh giá khách quan
Trang 352.2.5 Phân tích ma trận SWOT
Phân tích SWOT là việc đánh giá một cách chủ quan các dữ liệu được sắp xếp theo định dạng SWOT dưới một trật tự lô gíc dễ hiểu, dễ trình bày, dễ thảo luận
và đưa ra quyết định, có thể được sử dụng trong mọi quá trình ra quyết định, bao
gồm 4 chiến lược cơ bản: Strengths (Thế mạnh, Weaknesses (điểm yếu) ,Opportunities (Cơ hội), Threats (thách thức) Phân tích SWOT đối với công tác
quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học cho các nhà quản lý định hướng được chiến lược
hành động Đa dạng sinh học hiện tại có gì, cần gì?
Trang 36CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đặc điểm đa dạng sinh học tại tỉnh Bắc Kạn
3.1.1 Đặc điểm thực vật tại khu vực nghiên cứu
a Diễn biến tài nguyên rừng tại khu vực nghiên cứu
Bảng 3.1 Diễn biến diện tích rừng và độ che phủ rừng tại khu vực nghiên cứu
Năm
Tổng diện tích
(ha)
Rừng tự nhiên (ha)
Rừng trồng (ha)
Tỷ lệ che phủ rừng(%)
Nguồn: Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Bắc Kạn
So sánh số liệu điều tra rừng trên với số liệu các năm trở về trước ta thấy rõ ràng được rằng, qua các năm tỷ lệ rừng trồng tăng lên đáng kể, trong khi diện tích rừng tự nhiên bị suy giảm chút ít Điều này cho thấy các chương trình dự án trồng rừng, phủ xanh đất rống đồi núi trọc đã được triển khai đến từng xã huyện địa bàn
và thu được kế quả khả quan Cụ thể, diện tích rừng trồng đã tăng từ 17,473.5 trong năm 2009 lên đến 44,998.7 vào năm 2014
Sự biến động trông thấy này diễn ra ngày càng rõ nét trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh những năm gần đây Cơ chế kinh tế thoáng thúc đẩy mức tiêu thu các sản phẩm lâm sản và lâm sản ngoài gỗ cũng chính là động lực chính thúc đẩy công tác trồng rừng và triển khai các kế hoạch giao đất giao rừng cho người dân
Trang 37Bảng 3.2 Diễn biến diện tích rừng tại khu vực nghiên cứu
Tổng diện tích rừng
Rừng
TN
Rừng trồng
Tổng diện tích rừng
Rừng
TN
Rừng trồng
2009 13,258.843 10,339.305 2,919.538 4,832.962 4,241.384 591,578 6,288.246 4,147.005 2,141.41
2014 22,817.2 9,114.48 13,672.72 81,592.6 4,216.642 77,375.958 229,628.2 4,238.723 225,389.47
Nguồn:Bộ NN&PTNT, 9/2010, Điều tra, thống kê và đánh giá ĐDSH tại tỉnh Bắc Kạn
* Diễn biến diện tích rừng tại khu vực nghiên cứu
Theo số liệu điều tra, thống kê rừng năm 2014, Bắc Kạn có 334,038.1 ha đất
có rừng tương đương với độ che phủ 70.6% Trong tổng số thì rừng tự nhiên có 289,039.0 ha chiếm 86,5%, rừng trồng có 44,998.7 ha = 13,5% Rừng phòng hộ có 81,592.6 ha = 24,4%; Rừng sản xuất có 229,628.2 ha = 68,7%, rừng đặc dụng có 22,817.2 ha = 6,8%
Sau 5 năm triển khai dự án trồng rừng, diện tích rừng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn có xu hướng tăng rõ rệt Tổng diện tích rừng đặc dụng năm 2009 thống kê được mới chỉ có hơn 13,000 ha; đến năm 2014 đã tăng lên hơn 10,000 ha Theo số liệu thống kê, tổng diện tích rừng phòng hộ sau 5 năm tăng vượt trội từ 4.832 vào năm 2009 lên đến 81.592 ha vào năm 2014 Bên cạnh đó, diện tích rừng sản xuất vào năm 2009 mới chỉ có 6.288 ha đã tăng gấp nhiều lần lên đến 229.628 ha Diện tích các thành phần rừng được cải thiện đáng kể là tín hiệu thành công trong công tác trồng rừng, quản lý bảo vệ rừng Diện tích rừng tăng lên cũng đồng nghĩa với diện tích cư trú của các loài động vật được mở rộng; mặt khác đối phó với hậu quả của sự biến đổi khí hậu đang diễn ra và hủy hoại sự sống từng ngày Hiệu quả của các dự án, các chương trình trồng rừng mang lại cho công tác quản lý tài nguyên cũng như bảo vệ môi trường
Trang 38b Đa dạng về các hệ sinh thái và thảm thực vật
(1) Rừng kín
- Rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở địa hình thấp: Kiểu này phân
bố ở khắp các địa phương trong tỉnh Đây là đối tượng bị con người tác động nhiều nhất nên rừng nguyên sinh không còn Các loài gỗ quí đã bị khai thác hầu như cạn kiệt Tuy nhiên, tại một số nơi nhất là trong khu vực được bảo vệ của Vườn Quốc gia Ba Bể, tuy có bị khai thác nhưng những tính chất nguyên sinh của rừng vẫn còn được lưu giữ Rừng có cấu trúc phức tạp gồm 5 tầng trong đó có 3 tầng cây gỗ Tầng trên (tầng vượt tán) cao 20-25m được ưu thế bởi các loài như xoan nhừ
(Allospondias axilaris), trám trắng (Canarium album), phay sừng (Duabanga
grandiflora), thung (Tetrameles nudiflora), vạng (Endosperma chinense), quếch
(Aphanamixis grandifolia), chặc khế (Dysoxylum binectariferum), chò xanh (Terminarria tinctoria)… Tầng ưu thế sinh thái cao 15-20m gồm tai chua (Garcinia
cowa), dọc (G multiflora), sấu (Dracontomelum duperreanum), nhội (Bischofia javanica), các loài thuộc chi Cinnamomum họ Re (Lauraceae), chi Castanopsis,
Lithocarpus họ Dẻ (Fabaceae) Tầng dưới tán cao trung bình 10m là sổ (Dillenia
indica), các loài trâm (Syzygium), ràng ràng (Ormosia balanse), sảng (Sterculia
sp.), các loài thuộc chi bời lời (Litsea), kháo (Machilus), sụ (Phoebe)… Tầng cây bụi gồm các loài thuộc họ Cà phê (Rubiaceae), họ Đơn nem (Myrsinaceae), họ Mua (Melastomataceae)… Tầng cỏ quyết là các loài cây thuộc Cỏ (Poaceae), Cói (Cyperaceae), Ráy (Araceae, Riềng (Gingiberaceae), và các loài khuyết thực vật thuộc ngành dương xỉ Ngoài ra trong rừng còn có hệ dây leo (chủ yếu thuộc họ Đậu - Fabaceae) khá phát triển
- Rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên núi thấp: Đây cũng là đối tượng chịu nhiều sự tác động của con người, nên rừng cũng đã bị biến đổi so với tính chất nguyên sinh của chúng Rừng có cấu trúc đơn giản hơn có gồm tầng cây
gỗ cao 15-20m với thành phần chủ yếu là cây lá rộng thường xanh thuộc họ re (Lauraceae), họ Dẻ (Fabaceae), họ Chẹo (Juglandaceae)… Do bị tác động nên các loài cây tiên phong ưa sáng cũng xuất hiện khá nhiều Các loài thường gặp là: ràng
ràng (Ormosia balanse), ba bét (Mallotus paniculatus), bời lời (Litsea verticllata, L
Trang 39umbellata), chẹo (Engelhardtia spicata), ba soi (Macaranga deticulata)… tầng cây
bụi gồm các loài cây thuộc họ họ Cà phê (Rubiaceae), họ Đơn nem (Myrsinaceae),
họ Mua (Melastomataceae), các loài sặt, trúc thuộc họ Cỏ (Poaceae)… Tầng cỏ quyết không phát triển, thường thưa thớt với các loài cây thuộc Cói (Cyperaceae), Ráy (Araceae, Riềng (Gingiberaceae) và các loài khuyết thực vật thuộc ngành dương xỉ
- Rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên núi đá vôi: Kiểu này tập trung ở huyện Ba Bể, Na Rì, và Bạch Thông Ở độ cao dưới 700m rừng thường có hai tầng cây chính, tầng trên thường không liên tục với loài ưu thế là nghiến
(Burretiodendron hsienmu), đinh (Markhamia pierrei), trai lý (Garcinia
fragraeoides), dâu da xoan (Allospondias lakonensis), thung (Tetramelet nudiflora),
lát hoa (Chukrasia tabularis), lòng mang (Pterospermum heterophyllum), Tầng dưới là những quần xã thực vật mà các loài ưu thế là tèo nông (Stroblus
tonkinensis), mạy tèo (S macrophyllus), đại phong tử (Hydnocarpus hainanensis)
Cây rừng thường có đường kính trung bình 50cm và cao trên 20m Lên đến độ cao
trên 700, tầng trên thấy xuất hiện các loài hinh núi đá (Keteleeria evelyniana), sam vàng (Pseudocarpus sinensis) với tán che không liên tục; tầng dưới là các loài thuộc
họ Dẻ (Fagaceae), họ Re (Lauraceae), họ Hồi (Illiaceae)… Một đặc điểm nổi bật về cấu trúc của loại rừng này là cây thường phân bố tập trung ở các cấp đường kính lớn hơn 40cm-50cm và ở các cấp kính nhỏ hơn 15cm Trong các hệ sinh thái rừng loại này cây bụi, dây leo và thảm tươi phân bố thưa thớt, không phát triển
- Rừng tre nứa: Theo số liệu thống kê, Bắc Kạn có 11.442 ha (chiếm 4,86%)
là rừng tre nứa và 17.918 ha (chiếm 7,62%) là rừng hỗn giao gỗ + tre nứa Trong tổng số 11.442 ha rừng tre nứa thì rừng rừng vầu có 7.724ha phân bố chủ yếu ở huyện Chợ Đồn, Ngân Sơn; rừng nứa - 3.689 ha phân bố ở huyện Chợ Đồn, Na Rì, Chợ Mới và Bạch Thông; rừng luồng có 29 ha chủ yếu là rừng trồng phân bố rãi rác
ở các địa phương trong tỉnh Phần lớn diện tích rừng tre nứa của tỉnh là rừng phòng
hộ và rừng sản xuất Tuy chiếm diện tích không lớn nhưng đây cũng là một nguồn cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp giấy và sản xuất hàng mây tre xuất khẩu
Trang 40- Rừng hỗn giao gồm có: rừng nứa xen cây gỗ lá rộng và rừng vàu xen cây
gỗ lá rộng Trong các quần xã này thành phần cây gỗ chủ yếu là ràng ràng (Ormosia
blansea), hu đay (Trema orientalis, T angustifolia), ba bét (Mallotus paniculatus),
ba soi (Macaranga deticulata), bời lời (Litsea verticllata, L umbellata), bồ đề (Styax tonkinensis), các loài thuộc chi dẻ gai - Castanopsis…
(2) Rừng thưa
Trong khu vực không có kiểu rừng thưa nguyên sinh Các quần xã thuộc lớp quần hệ này đều được phát sinh hình thành từ các quần hệ rừng kín tương ứng nêu trên Đó là các trạng thái rừng thứ sinh phục hồi sau khai thác kiệt hay sau nương rẫy đang trong quá trình diễn thế đi lên
- Rừng thưa thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở địa hình thấp: Thành phần
chủ yếu là các loài cây tiên phong ưa sáng mọc nhanh Các loài thường gặp là ràng
ràng (Ormosia blansea), hu đay (Trema orientalis, T angustifolia), ba bét (Mallotus
paniculatus), ba soi (Macaranga deticulata), bời lời (Litsea verticllata, L umbellata), chẹo (Engelhardtia spicata), các loài thuộc chi dẻ gai (Castanopsis),
kháo (Machilus)…
- Rừng thưa thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên núi thấp: Kiểu rừng này
khá phổ biến trong khu vực Những loài cây ưu thế thường là chẹo (Engelhardtia
roburghiana, E spicata), ba bét (Mallotus paniculatus), ba soi (Macaranga deticulata), bời lời (Litsea verticllata, L umbellata), sụ (phoebe oblongifolia, P lanceolata), ràng ràng (Ormosia balansea), vối thuốc (Schima wallichii)…
- Rừng thưa thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên núi đá vôi: Là những trạng
thái suy thoái được phát sinh hình thành từ “Rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên núi đá vôi” do khai thác kiệt Do đó trong thành phần rãi rác thấy xuất hiện các loài gỗ lớn như đã trình bày ở trên Song những loài cây này thường có kích nhỏ hay bị sâu bệnh không có giá trị sử dụng nên được chừa lại Các loài thường gặp là
mạy tèo (Streblus macrophyllus), teo nông (S tonkinensis), vạng (Endosperma
chinense), thị (Diospyros sp.), bứa (Garcinia oblongifolia), sổ (Dillenia indica)…
Nếu tiếp tục bị khai thác thì rừng sẽ bị suy thoái thành trảng cây bụi, trảng cỏ và rất