Cây Chò chỉ Parashorea chinensis, mới được nghiên cứu ở nước ta vào những năm 1965 với công trình nghiên cứu của Lê Viết Lộc về “Bước đầu điều tra thảm thực vật rừng Cúc Phương” Công trì
Trang 1- -
PHÙNG KIM HẢI
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC CỦA LOÀI CHÒ CHỈ
(PARASHOREA CHINENSIS) TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN NÀ
HẨU TỈNH YÊN BÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng
Giảng viên hướng dẫn : TS Hồ Ngọc Sơn
Thái Nguyên - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và không sao chép Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2015
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn Người viết cam đoan
Đồng ý cho bảo vệ kết quả trước
Hội đồng khoa học
Xác nhận của giáo viên chấm phản biện
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã sửa sai sót
sau khi hội đồng chấm yêu cầu
(ký, ghi rõ họ tên)
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để kết thúc khóa học 2011 - 2015 tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, được sự nhất trí của khoa Lâm nghiệp, tôi tiến hành thực tập tại KBTTN Nà Hẩu tỉnh Yên Bái Với sự cố gắng hết sức của bản thân cộng với
sự giúp đỡ hướng dẫn tận tình của thầy giáo, tôi đã hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp của mình Nhưng do trình độ có hạn và thời gian thực tập ngắn nên bản khóa luận của tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để bản khóa luận của tôi được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới BGH Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, nơi đã gắn bó với tôi suốt 4 năm học tập và tu dưỡng trở thành người
có ích cho xã hội Tôi cũng xin bày tỏ lòng tri ân tới BCN khoa Lâm nghiệp, nơi đã trực tiếp đào tạo chúng tôi Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy
cô trong Khoa Lâm nghiệp đã dìu dắt, giúp đỡ tôi, cho tôi những kiến thức khoa học mới và dạy tôi cách làm người có ích Đặc biệt, cho tôi gửi lòng biết
ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Hồ Ngọc Sơn, người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ kiểm lâm KBTTN Nà Hẩu tỉnh Yên Bái , đã tạo mọi điều kiện để tôi có thể hoàn thành khóa luận tốt nhất
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Phùng Kim Hải
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Hiện trạng sử dụng đất đai các xã vùng dự án 16
Bảng 4.1: Các pha vật hậu của loài Chò chỉ tại KBTTN Nà Hẩu 34
Bảng 4.2: Phân bố loài Chò chỉ theo độ cao tại KBTTN Nà Hẩu 36
Bảng 4.3: Hệ số tổ thành rừng của các loài cây trong OTC nơi có loài Chò chỉ phân bố theo IV% (ở độ cao 728m, trạng thái rừng IIIA2) 38
Bảng 4.4: Công thức tổ thành rừng nơi có loài Chò chỉ phân bố theo IV%(ở độ cao 728m, trạng thái rừng IIIA2) 39
Bảng 4.5: Hệ số tổ thành rừng của các loài cây trong OTC nơi có loài Chò chỉ phân bố theo IV% (ở độ cao 705m, trạng thái rừng IIIA2) 40
Bảng 4.6: Công thức tổ thành rừng nơi có loài Chò chỉ phân bố theo IV% (ở độ cao 705m, trạng thái rừng IIIA2) 41
Bảng 4.7: Hệ số tổ thành rừng của các loài cây trong OTC nơi có loài Chò chỉ phân bố theo IV% (ở độ cao 746m, trạng thái rừng IIIA2) 42
Bảng 4.8: Công thức tổ thành rừng nơi có loài Chò chỉ phân bố theo IV% (ở độ cao 746m, trạng thái rừng IIIA2) 43
Bảng 4.9: Cấu trúc mật độ loài Chò chỉ phân bố theo độ cao tại KBTTN Nà Hẩu 45
Bảng 4.10: Mức độ thường gặp loài Chò chỉ tại KBTTN Nà Hẩu 46
Bảng 4.11: Mức độ thường gặp của các loài trong lâm phần điều tra 47
Bảng 4.12: Đặc trưng khí hậu tại KBTTN Nà Hẩu 48
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1: Sơ đồ các bước tiến hành nghiên cứu của đề tài 24
Hình 4.1: Hình thái thân cây Chò chỉ tại KBTTN Nà Hẩu 30
Hình 4.2: Hình thái lá cây Chò chỉ tại KBTTN Nà Hẩu 31
Hình 4.3: Hình thái hoa cây Chò chỉ 32
Hình 4.4: Số loài và số loài tham gia vào trong công thức tổ thành 44
Trang 6DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt Nghĩa đầy đủ
Trang 7MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 4
2.1.1 Trên thế giới 4
2.1.2 Ở Việt Nam 7
2.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 12
2.2.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 12
2.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 17
2.2.3 Nhận xét, đánh giá thuận lợi, khó khăn của điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội tới bảo tồn loài Chò chỉ 21
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
3.2 Nội dung nghiên cứu 23
3.2.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái loài Chò chỉ tại khu vực nghiên cứu 23
3.2.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái và phân bố loài cây Chò chỉ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu 23
3.2.3 Đề xuất các giải pháp bảo vệ và phát triển bền vững loài cây Chò chỉ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu 23
3.3 Phương pháp nghiên cứu 24
3.3.1 Cách tiếp cận và phương pháp luận nghiên cứu 24
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu chung 24
Trang 83.3.3 Phương pháp điều tra cụ thể 25
3.3.4 Phương pháp nội nghiệp 28
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
4.1 Đặc điểm hình thái loài Chò chỉ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu 30
4.1.1 Đặc điểm hình thái thân, cành, lá cây Chò chỉ 30
4.1.2 Đặc điểm hình thái hoa, quả cây Chò chỉ 32
4.1.3 Đặc điểm vật hậu cây Chò chỉ 33
4.2 Đặc điểm sinh thái và phân bố cây Chò chỉ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu 36
4.2.1 Đặc điểm phân bố loài cây Chò chỉ theo đai cao và trạng thái rừng 36
4.2.2 Đặc điểm cấu trúc quần xã nơi có loài Chò chỉ phân bố 37
4.2.3 Một số đặc điểm về hoàn cảnh rừng nơi có loài Chò chỉ phân bố 47
PHẦN 5: KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ 51
5.1 Kết luận 51
5.2 Kiến nghị 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
I Tài liệu tiếng Việt 54
II Tài liệu tiếng Anh 56
Trang 9Họ Dầu (Dipterocarpaceae), là một họ thực vật điển hình của rừng nhiệt đới Đông Nam Á, Có phân bố rộng trải suốt khu vực từ Ấn Độ đến Philippin, gồm 13 chi và 470 loài Trung tâm phân bố của các loài cây họ Dầu còn có cả ở Lào, Campuchia, Thái Lan, Việt Nam, Myanmar và Trung Quốc (Thái Văn Trừng, 1978 [27]) Hệ sinh thái của các loài cây họ Dầu trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng chịu tác động rất mãnh liệt bởi các nhân tố phát sinh Tác động này không chỉ chi phối phạm vi phân bố mà còn tạo nên sự đa dạng về kiểu rừng, về tổ hợp cây ưu thế tạo thành nhiều trạng thái rừng khác nhau
Hệ sinh thái rừng cây họ Dầu ở khu vực phía Bắc chủ yếu là các kiểu rừng lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới mà tổ thành là các loài cây lá rộng họ 3 mảnh vỏ (Euphorbiaceae), họ Dẻ (Fabaceae), Họ Xoan (Meliaceae),
họ Cà phê (Rubiaceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Đậu (Fabaceae) Các loài
cây họ Dầu như cây Chò chỉ (Parashorea chinensis), Táu mật (Vatica
tonkinensis), Táu muối, Chò nâu chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong cấu trúc tổ thành rừng tự nhiên lá rộng thường xanh (Thái Văn Trừng, 1983 [27]
Trang 10Cây Chò chỉ (Parashorea chinensis), mới được nghiên cứu ở nước ta
vào những năm 1965 với công trình nghiên cứu của Lê Viết Lộc về “Bước đầu điều tra thảm thực vật rừng Cúc Phương” Công trình đã tiến hành điều tra
47 ô tiêu chuẩn có diện tích 1000 m2 và 2000 m2 và đã xây dựng được bản đồ phân bố của 11 loại hình ưu thế trong vùng nghiên cứu cho thấy ở Cúc phương Chò chỉ là cây ưu thế lập quần trong loại hình ưu thế: Sâng – Sấu – Chò chỉ - Đinh hương (Lê Viết Lộc, 1964 [20])
Chò chỉ mang nhiều đặc điểm quan trọng cho khoa học và là loài cây tiềm năng có thể ứng dụng trong lâm nghiệp đô thị, trồng rừng hay có thể phát triển nghiên cứu, nhưng sự phân bố của loài này tại khu bảo tồn còn ít được
biết đến Từ thực tiễn nêu trên, tôi chọn đề tài: "Nghiên cứu một số đặc điểm
lâm học của loài Chò chỉ (Parashorea chinensis) tại khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu tỉnh Yên Bái"
” nhằm góp phần nâng cao hiểu biết, đề xuất những hướng bảo tồn và
phát triển loài cây có triển vọng và hiếm này tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Xác định được những đặc điểm hình thái và vật hậu của loài Chò chỉ
- Xác định được một số đặc điểm sinh thái của loài Chò chỉ tại khu vực nghiên cứu
- Bước đầu đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây này ở Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu
1.3 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
+ Qua việc thực hiện đề tài sẽ giúp sinh viên làm quen với việc nghiên cứu khoa học, cũng cố kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết vào thực tế; biết các thu thập, phân tích và xử lý thông tin cũng như kỹ năng tiếp cận và làm việc với cộng đồng thôn bản và người dân
Trang 11+ Bổ sung các thông tin khoa học và là cơ sở khoa học cho các nhà quản lý
- Ý nghĩa trong thực tiễn
+ Nghiên cứu loài Chò chỉ (Parashorea chinensis), làm cơ sở đề xuất
hướng bảo tồn và phát triển loài tại KBT TN Nà Hẩu Tỉnh Yên Bái
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.1.1 Trên thế giới
2.1.1.1 Nghiên cứu về cấu trúc
Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được Richards P.W (1933 - 1934), Baur G.N (1962 [1]), Odum (1978) [22], v.v tiến hành Các nghiên cứu này thường nêu lên quan điểm, khái niệm và mô tả định tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng
Ngày nay, đa dạng sinh học đang được nhiều nhà khoa học quan tâm, đặc biệt việc bảo vệ đa dạng sinh học đã trở thành vấn đề quốc tế mà mọi quốc gia đều đặt vào vị trí quan trọng Quan trọng về lĩnh vực này là công ước bảo tồn đa dạng sinh học được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu ở Rio De Janeiro (1992) (Nguyễn Bá Thụ, 1995 [30]) Tại đây, định nghĩa về đa dạng sinh học đã được nêu một cách đầy đủ là: Đa dạng sinh học gồm 3 yếu
tố đa dạng hệ sinh thái, đa dạng loài và đa dạng di truyền
2.1.1.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài cây
Việc nghiên cứu sinh học loài cây trong đó có các đặc điểm hình thái
và vật hậu đã được thực hiện từ lâu trên thế giới Đây là bước đầu tiên, làm tiền đề cho các môn khoa học khác liên quan Có rất nhiêu công trình liên quan đến hình thái và phân loại các loài cây Những nghiên cứu này đầu tiên tập trung vào mô tả và phân loại các loài, nhóm loài, Có thể kể đến một vài công trình rất quen thuộc liên quan đến các nước lân cận như: Thực vật chí Hong Kong (1861), Thực vật chí Australia (1866), Thực vật chí rừng Tây Bắc
Trang 13và trung tâm Ấn độ (1874), Thực vật chí Ấn độ 7 tập (1872 – 1897), Thực vật chí Miến Điện (1877), Thực vật chí Malaysia (1892 – 1925), Thực vật chí Hải Nam (1972 – 1977), Thực vật chí Vân Nam (1977), Thực vật chí Quảng Đông, Trung Quốc (9 tập) Sự ra đời của các bộ thực vật chí đã góp phần làm tiền đề cho công tác nghiên cứu về hình thái, phân loại cũng như đánh giá tính
đa dạng của các vùng miền khác nhau
Về vật hậu học: Hoạt động sinh học có tính chất chu kỳ của các cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản Chu kỳ vật hậu của cùng 1 loài phân bố
ở các vùng sinh thái khác nhau sẽ có sự sai khác rõ rệt Điều này có ý nghĩa cần thiết trong nghiên cứu sinh thái cá thể loài và công các chọn tạo giống Các công trình như nêu trên cũng đã ít nhiều nêu ra các đặc điểm về chu kỳ hoa, quả và các đặc trưng vật hậu của từng loài, nhóm loài
2.1.1.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học loài cây
Việc nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài làm cơ sở đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả trong kinh doanh rừng rất được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Theo đó, các lý thuyết về hệ sinh thái, cấu trúc, tái sinh rừng được vận dụng triệt để trong nghiên cứu đặc điểm của 1 loài cụ thể nào đó
Theo Odum E.P (1971) [35] đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái,
trên cơ sở thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A.P (1935) Ông đã
phân chia ra sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể Sinh thái học cá thể nghiên cứu từng cá thể sinh vật hoặc từng loài, trong đó chu kỳ sống, tập tính cũng như khả năng thích nghi với môi trường được đặc biệt chú ý
Trung tâm Nông lâm kết hợp thế giới (World Agroforestry Centre, 2006), Anon (1996), Keble và Sidiyasa (1994) đã nghiên cứu đặc điểm hình
thái của loài Vối thuốc (Schima wallichii) và đã mô tả tương đối chi tiết về
đặc điểm hình thái thân, lá, hoa, quả, hạt của loài cây này, góp phần cung cấp
Trang 14cơ sở cho việc gây trồng và nhân rộng loài Vối thuốc trong các dự án trồng rừng (dẫn theo Hoàng Văn Chúc, 2009 [7])
Vối thuốc là loài cây tiên phong ưa sáng, biên độ sinh thái rộng, phân
bố rải rác ở các khu vực phía Đông Nam Châu Á Vối thuốc xuất hiện ở nhiều vùng rừng thấp (phía Nam Thái Lan) và cả ở các vùng cao hơn (Nepal) cũng như tại các vùng có khí hậu lạnh Là cây bản địa của Brunei, Trung Quốc, ấn
Độ, Lào, Myanmar, Nepal, Papua New Guinea, Phillipines, Thailand và Việt Nam (World Agroforestry Centre, 2006) Vối thuốc thường mọc thành quần thụ từ nơi đất thấp đến núi cao, phân bố ở rừng thứ sinh, nơi đồng cỏ, cây bụi
và ngay cả nơi ngập nước có độ mặn nhẹ Vối thuốc có thể mọc trên nhiều loại đất với thành phần cơ giới và độ phì khác nhau, từ đất cằn cỗi xương xẩu khô cằn đến đất phì nhiêu, tươi tốt, có thể thấy Vối thuốc xuất hiện nơi đầm lầy Vối thuốc là loài cây tiên phong sau nương rẫy (Laos tree seed project, 2006) (dẫn theo Hoàng Văn Chúc, 2009) [7]
Như vậy, với các công trình nghiên cứu về lý thuyết sinh thái, tái sinh, cấu trúc rừng tự nhiên cũng như nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái đối với một số loài cây như trên đã phần nào làm sáng tỏ những đặc điểm cấu trúc, tái sinh của rừng nhiệt đới nói chung Đó là cơ sở để lựa chọn cho hướng nghiên cứu trong luận văn
2.1.1.4 Nghiên cứu về cây Chò chỉ
Những nghiên cứu về cây Chò chỉ trên thế giới không có nhiều Tuy nhiên, theo Wendy Jackson (Bộ canh nông Mỹ) thì họ Dầu (Dipterocarpaceae) phân bố nhiều ở vùng Đông Nam Á và rất nhạy cảm với đất, chịu ảnh hưởng sâu sắc của Cacbonnat canxi
Theo Lecont đã nghiên cứu và xuất bản cuốn “Thực vật chí Đông Dương” Trong đó tác giả đã xác định được hai loài Chò chỉ là Parashorea stelata và Parashorea chinensis Hai loài cây này đã được đưa vào danh lục Thực vật ở Việt Nam Chò chỉ phân bố nhiều ở Trung Quốc, Miến Điện thuộc
Trang 15khu hệ Malaysia từ Nam di cư lên Bắc Chính vì vậy mà các nghiên cứu về loài Chò chỉ tập trung nhiều ở Trung Quốc
Theo Guang xi (1974), đã nghiên cứu việc gây trồng loài Chò chỉ ở Trung Quốc và đã có những thành công nhất định Năm 1988, nhà nghiên cứu Lin Chi cũng đã nghiên cứu một số sinh thái ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây Chò chỉ tại vùng Quảng Đông
2.1.2 Ở Việt Nam
2.1.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Việc nghiên cứu cấu trúc rừng ở Việt nam cũng đã được rất nhiều tác giả đề cập tới nhằm đưa ra giải pháp lâm sinh phù hợp, song tiêu biểu phải kể đến một số công trình nghiên cứu sau:
Theo Thái Văn Trừng (1963, 1970, 1978) [26] đã đưa ra mô hình cấu trúc tầng như: Tầng vượt tán (A1), tầng ưu thế sinh thái (A2), tầng dưới tán (A3), tầng cây bụi (B) và tầng cỏ quyết (C) Ông đã vận dụng và cải tiến bổ sung phương pháp biểu đồ, mặt cắt đứng của Davit - Risa để nghiên cứu cấu trúc rừng Việt Nam, trong đó tầng cây bụi và thảm tươi được vẽ phóng đại với tỉ lệ nhỏ hơn và có ký hiệu thành phần loài cây của quần thể đối với những đặc trưng sinh thái và vật hậu cùng biểu đồ khí hậu, vị trí địa lý, địa hình Bên cạnh đó, ông còn dựa vào 4 tiêu chuẩn để phân chia kiểu thảm thực vật rừng Việt Nam Đó là dạng sống ưu thế của những thực vật trong tầng cây lập quần, độ tàn che của tầng ưu thế sinh thái, hình thái sinh thái của nó và trạng mùa của tán lá Với những quan điểm trên, Thái Văn Trừng đã phân chia thảm thực vật Rừng Việt Nam thành 14 kiểu Rõ ràng các nhân tố cấu trúc rừng được vận dụng triệt để trong phân loại rừng dựa trên quan điểm sinh thái phát sinh quần thể
Về đa dạng tầng cây gỗ đã có nhiều tác giả Việt Nam quan tâm nghiên cứu về đa dạng sinh học, đặc biệt là đa dạng hệ thực vật, đầu tiên phải kể đến
Trang 16công trình nghiên cứu “Thảm thực vật rừng Việt Nam” của Thái Văn Trừng (1963, 1978 [26]) Tác giả đã tổng kết và công bố công trình nghiên cứu của mình với 7004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi và 189 họ ở Việt Nam Ông đã nhấn mạnh sự ưu thế của ngành thực vật hạt kín (Angiospermae) trong hệ thực vật Việt Nam với 6336 loài chiếm 90,9%, 1727 chi chiếm 93,5%
và 239 họ chiếm 82,7% trong tổng số taxon mỗi bậc Tiếp theo là công trình
“Bước đầu nghiên cứu rừng Miền Bắc” của Trần Ngũ Phương (1963) [23] Tác giả chia rừng miền Bắc Việt Nam thành 3 đai với 8 kiểu
2.1.2.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài cây
Ngoài những tác phẩm cổ điển về thực vật như “Flora Cochinchinensis“ của Loureiro (1790) và “Flore Forestière de la Cochinchine” của Pierre (1879-1907), thì từ đầu những năm đầu thế kỷ 20 đã xuất hiện một công trình nổi tiếng, là nền tảng cho việc nghiên cứu về hình thái phân loại thực vật, đó là Bộ thực vật chí Đông Dương do H Lecomte chủ biên (1907-1952) Trong công trình này, các tác giả người pháp đã thu mẫu, định tên và lập khóa mô tả các loài thực vật bậc cao có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương, trong đó hệ thực vật Việt Nam có 7004 loài, 1850 chi và 289 họ
Đối với mỗi miền có những tác phẩm lớn khác nhau như ở miền Nam Việt Nam có công trình thảm thực vật Nam Trung Bộ của Schmid (1974), trong đó tác giả đã chỉ rõ những tiêu chuẩn để phân biệt các quần xã khác nhau là sự phân hóa khí hậu, chế độ thoát nước khác nhau Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật đã xuất bản bộ sách “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” gồm 6 tập
do Lê Khả Kế chủ biên và ở miền Nam Phạm Hoàng Độ (1970-1972) cũng cho ra đời công trình đồ sộ 2 tập về “Cây cỏ miền Nam Việt Nam”, trong đó giới thiệu 5326 loài, trong đó có 60 loài thực vật bậc thấp và 20 loài rêu, còn lại là 5246 loài thực vật có mạch, và sau này là “Cây cỏ Việt Nam” [12]
Ngoài ra, còn rất nhiều các bộ sách chuyên khảo khác, tuy không tách
Trang 17riêng cho vùng Tây Nam Bộ nhưng cũng đã góp phần vào việc nghiên cứu đa dạng sinh học thực vật chung, như các bộ về Cây gỗ rừng Việt Nam (Viện điều tra qui hoạch, 1971-1988), Cây thuốc Việt Nam (Viện dược liệu, 1990), Cây tài nguyên (Trần Đình lý và cs., 1993), Cây gỗ kinh tế ở Việt Nam (Trần Hợp & Nguyễn Bội Quỳnh, 1993), 100 loài cây bản địa (Trần Hợp & Hoàng Quảng Hà, 1997), Cây cỏ có ích ở Việt Nam (Võ Văn chi và Trần Hợp, 1999), Tài nguyên cây gỗ Việt Nam (Trần Hợp, 2002) [17], v.v Gần đây Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật cũng đã xây dựng và biên soạn được 11 tập chuyên khảo đến họ riêng biệt Đây là những tài liệu vô cùng quý giá góp phần vào việc nghiên cứu về thực vật của Việt Nam
2.1.2.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học loài cây
Ở nước ta, nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học của các loài cây bản địa chưa nhiều, tản mạn, có thể tổng hợp một số thông tin có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như sau:
Theo Nguyễn Bá Chất (1996) [4] đã nghiên cứu đặc điểm lâm học và biện pháp gây trồng nuôi dưỡng cây Lát hoa, ngoài những kết quả nghiên cứu
về các đặc điểm phân bố, sinh thái, tái sinh, tác giả cũng đã đưa ra một số biện pháp kỹ thuật gieo ươm cây con và trồng rừng đối với Lát hoa
Theo Lê Phương Triều (2003) [32] đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của loài Trai lý tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, tác giả đã đưa ra một
số kết quả nghiên cứu về đặc điểm hình thái, vật hậu và sinh thái của loài, ngoài ra tác giả còn kết luận là: có thể dùng hàm khoảng cách để biểu thị phân
bố N-D1.3, N-Hvn, các mối quan hệ H-D1,3, Dt-D1,3
Theo Ly Meng Seang (2008) [25] đã nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của rừng Tếch trồng ở Kampong Cham Campuchia, đã kết luận: ở các độ tuổi khác nhau: Phân bố N-D1,3 ở các tuổi đều có dạng một đỉnh lệch trái và nhọn, phân bố N-H thường có đỉnh lệch phải và nhọn, phân bố N-Dt đều có
Trang 18đỉnh lệch trái và tù Giữa D1,3 hoặc Hvn so với tuổi cây hay lâm phần luôn tồn tại mối quan hệ chặt chẽ theo mô hình Schumacher Ngoài ra, tác giả cũng đề nghị trong khoảng 18 năm đầu sau khi trồng rừng Tếch nên chặt nuôi dưỡng 3 lần theo phương pháp cơ giới, với kỳ dãn cách là 6 năm 1 lần
Theo Nguyễn Toàn Thắng (2008) [34] đã nghiên cứu một số đặc điểm
lâm học của loài Dẻ anh (Castanopsis piriformis) tại Lâm Đồng Tác giả đã
có những kết luận rõ ràng về đặc điểm hình thái, vật hậu, phân bố, giá trị sử dụng, về tổ thành tầng cây gỗ biến đổi theo đai cao từ 17 đến 41 loài, với các loài ưu thế là Dẻ anh, Vối thuốc răng cưa, Du sam,
Tóm lại, với những kết quả của những công trình nghiên cứu như trên, là cơ sở để đề tài lựa chọn những nội dung thích hợp để tham khảo vận dụng trong đề tài nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài Chò chỉ tại Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Nà Hẩu
2.1.2.4 Nghiên cứu về cây Chò chỉ
Cây Chò chỉ (Parashorea chinensis), mới được nghiên cứu ở nước ta
vào những năm 1965 với công trình nghiên cứu của Lê Viết Lộc (1964) [19]
về “Bước đầu điều tra thảm thực vật rừng Cúc Phương” Công trình đã tiến hành điều tra 47 ô tiêu chuẩn có diện tích 1000 m2 và 2000 m2 và đã xây dựng được bản đồ phân bố của 11 loại hình ưu thế trong vùng nghiên cứu cho thấy
ở Cúc phương Chò chỉ là cây ưu thế lập quần trong loại hình ưu thế: Sâng – Sấu – Chò chỉ - Đinh hương (Lê Viết Lộc, 1964 [19] Các thảm thực vật rừng
ở Cúc Phương)
Năm 1976, Trạm nghiên cứu – VQG Cúc Phương đã giao trồng thử 1 ha rừng trồng Chò chỉ và vào năm 1985, tại trạm nghiên cứu – VQG Cúc Phương
đẫ tiến hành xây dựng vườn thực vật Trong danh lục vây trồng ở đó có Chò chỉ
đã được gây trồng và sinh trưởng rất tốt (Trạm NC-VQG Cúc Phương, 1976,
1985 Thiết kế trồng rừng Chò chỉ tại vườn thực vật VQG Cúc Phương)
Trang 19Nghiên cứu của các tác giả Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Bá Thụ (1987), đã xếp cây Chò chỉ vào quần thụ rừng rậm nhiệt đới thường xanh mưa mùa cây lá rộng đai thấp, đất thoát nước trong bảng phân loại rừng khu vực VQG Cúc Phương Trong nhóm này còn có các loài khác như Sâng, Sấu, Đinh hương
Vào năm 1999, trong một công trình nghiên cứu về Bảo tồn Đa dạng Sinh học Nguyễn Hoàng Nghĩa, tác giả cho rằng Chò chỉ là 1 trong 40 loài cây đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng mà nguyên nhân chủ yếu vẫn là hai thác bừa bãi, tàn phá môi trường sông và thu hẹp diện tích rừng tự nhiên Theo phân hạng mức độ đe doạ của IUCN (1994) thì Chò chỉ thuộc hạng VU/cd (có nguy cơ bị tuyệt chủng – Nguyễn Hoàng Nghĩa – Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam)
Năm 2000, cây Chò chỉ cũng đã được tiến hành trồng thử nghiệm tại VQG Bạch Mã, cũng đã cho thấy Chò chỉ có thể sinh trưởng tốt trên đất chịu ảnh hưởng của Cácbonnát Canxi
Theo Phạm Văn Hiếu (2000), đã nghiên cứu “Bước đầu nghiên cứu một số biến dị ở cây Chò chỉ trong vườn thực vật VQG Cúc Phương” qua đó
đã xác định được một số biến dị của rừng trồng cây Chò chỉ tại Cúc phương UNDP năm 2002 đã thực hiện dự án cộng đồng “Phục hồi và Bảo tồn loài Chò chỉ” tại Thanh Sơn – Phú Thọ Dự án đã tập huấn cho cộng đồng nhân dân địa phương một số biện pháp kỹ thuật Lâm sinh giúp cho loài Chò chỉ tái sinh tự nhiên, chọn giống và gieo trồng loài Chò chỉ và đã trồng được một số diện tích rừng Chò chỉ hỗn giao với một số loài cây gỗ có giá trị khác (Dự án phục hồi và bảo tồn loài Chò chỉ UNDP)
Vào năm 2002, Quĩ môi trường toàn cầu (GEF) đã hỗ trợ và thực hiện
dự án “Xây dựng mô hình cộng đồng phục hồi và phát triển cây Chò chỉ ở huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ” Sau khi nghiên cứu và khảo sát đã đưa ra
Trang 20được một số nhận định ban đầu rằng: cây Chò chỉ có thể sống thành quần thụ rừng và trong Hệ Sinh thái đó, chúng có thể cũng có những vai trò khác nhau trên những lập địa khác nhau (Dự án xây dựng mô hình cộng đồng và phát triển cây Chò chỉ GEF)
Chò chỉ có một số ưu điểm như thân thẳng, cây lớn, sinh trưởng tương đối nhanh, gỗ tốt và có giá trị kinh tế và môi trường cao nên Chò chỉ đã được một số tác giả quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, các nghiên cứu về loài Chò chỉ mới chỉ là bước đầu, chưa đồng bộ và chưa dủ cơ sở để phục vụ cho việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật gieo ươm và gây trồng trên diện tích lớn Chính vì vậy mà việc nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái một loài cây gỗ lớn có giá trị cao như Chò chỉ là hết sức cần thiết nhằm phục vụ cho mục tiêu gây trồng và Bảo tồn loài cây này và nâng cao chất lượng của rừng trồng tại vùng phòng hộ đầu nguồn hiện nay
2.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
2.2.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
2.2.1.1 Vị trí địa lý, địa giới hành chính
Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu thuộc địa phận của bốn xã phía Nam của huyện Văn Yên: xã Nà Hẩu, xã Đại Sơn, xã Mỏ Vàng và xã Phong Dụ Thượng Khu BTTN cách trung tâm huyện 30km và có vị trí địa lý như sau:
- Từ 104º23’ đến 104º40’ kinh độ Đông
- Từ 21º50’ đến 22º01’ vĩ độ Bắc
+ Phía Bắc giáp các xã Xuân Tầm, Tân Hợp, Đại Phác huyện Văn Yên + Phía Đông giáp xã Viễn Sơn huyện Văn Yên
+ Phía Đông – Nam giáp huyện Trấn Yên
+ Phía Nam giáp huyện Văn Chấn
+ Phía Tây và Tây – Nam giáp huyện Mù Cang Chải
+ Phía Tây Bắc giáp huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai
Trang 21Tổng diện tích tự nhiên khu vực 4 xã là 43.850ha, chiếm 31,6% tổng diện tích (27 xã) toàn huyện
2.2.1.2 Địa hình - địa thế
Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu nằm trong vùng địa hình đồi núi trung bình và cao thuộc lưu vực sông Hồng của dãy Hoàng Liên Sơn Nhìn toàn cảnh, các dãy núi cao phổ biến từ 1000-1400m, chạy theo hướng từ Tây – Bắc đến Đông – Nam và thoải dần về phía Đông – Bắc Cao nhất trong khu vực là đỉnh núi ở phía Nam, là điểm tiếp giáp ranh giới giữa Nà Hẩu – Phong Dụ Thượng và Văn Chấn, cao khoảng 1783m Tiếp đến là đỉnh phía Bắc thuộc Núi Khe Vàng cao 1412m, là điểm tiếp giáp ranh giới của ba xã Xuân Tầm, Đại Sơn và Phong Dụ Thượng
Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu là đầu nguồn của hai lưu vực suối lớn chảy theo hướng Bắc đổ ra sông Hồng, đó là lưu vực Ngòi Thia trên địa phận
ba xã Nà Hẩu, Đại Sơn và Mỏ Vàng, lưu vực thứ hai trên địa phận xã Phong
Dụ Thượng thuộc Ngòi Hút Phân chia giữa hai lưu vực này chính là dãy núi cao 1000m nối 2 đỉnh cao nhất kể trên, là ranh giới giữa Phong Dụ Thượng với Nà Hẩu và Đại Sơn
2.2.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng
Theo tài liệu địa chất miền Bắc Việt Nam năm 1984 cho biết: Khu vực KBT có quá trình hình thành và phát triển địa chất rất phức tạp Toàn vùng có cấu trúc dạng nếp lồi Nham thạch gồm nhiều loại và có tuổi khác nhau nằm xen kẽ
Được hình thành trong điều kiện địa chất phức tạp vời nhiều kiểu dạng địa hình và đá mẹ khác nhau, nên có nhiều loại đất được hình thành trong khu vực Chủ yếu gồm các loại đất Feralit với tầng đất được phong hoá từ đá trầm tích, đá mác ma và đá vôi Do khí hậu nóng ẩm tạo nên tầng đất dày với các khoáng vật khó phong hoá như Thạch anh và Silíc Thành phần cơ giới chủ yếu
từ trung bình đến nặng
Những nhóm loại đất chính có trong khu vực gồm:
Trang 22Đất alít có mùn trên núi cao, được hình thành trong điều kiện mát ẩm,
độ dốc lớn, không đọng nước, tầng mùn nhiều, phân bố trên các đỉnh núi cao trên 1400m, chủ yếu tập trung ở phía Nam của khu bảo tồn
Đất feralit có mùn trên núi cao và núi trung bình, được hình thành trong điều kiện ẩm mát, không có kết von và nhiều mùn Nhóm loại đất này phân bố tập trung ở các đai độ cao từ 700m đến 1400m
Đất feralit đỏ vàng phát triển trên vùng đồi và núi thấp, được hình thành với quá trình feralitic rất mạnh và điển hình, màu sắc phụ thuộc vào đá
mẹ và độ ẩm Nhóm loại đất này phân bố chủ yếu ở độ cao dưới 700m Thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, tầng đất dầy, ít đá lẫn, đất đai khá màu mỡ, thích hợp cho nhiều loại cây trồng
Đất dốc tụ chân đồi và ven suối, là loại đất tốt, thích hợp với việc canh tác nông nghiệp, phân bố chủ yếu ở vùng thấp dưới 400m hoặc vùng thung lũng và bồn địa Đất có tầng dày, màu mỡ
Đất biến đổi do trồng lúa, là loại đất bị biến đổi do canh tác lúa nước, đất chua, quá trình glây hoá mạnh
2.2.1.4 Khí hậu thủy văn
2.2.1.4.1 Khí hậu
Khí hậu khu vực Nà Hẩu mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới núi cao Hàng năm có hai mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng tư đến tháng 10, thời tiết nóng và ẩm Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, thời tiết lạnh và khô Sau đây là số liệu các chỉ tiêu khí hậu cơ bản tại hai trạm quan trắc gần nhất là trạm khí tượng Văn Chấn và Lục Yên
* Chế độ nhiệt:
Nhiệt độ trung bình năm biến động từ 220C đến 230C Tổng bức xạ 147 Kcl/cm2 (nằm trong vành đai nhiệt đới)
Trang 23Mùa lạnh chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông – Bắc, nhiệt độ trung bình các tháng này thường dưới 200C, nhiệt độ thường thấp nhất vào thàng 1 hàng năm với trung bình là 15,10C
Mùa nóng chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam, thời tiết luôn nóng
ẩm, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình thường trên 250C, nhiệt độ cao nhất vào tháng 7, với nhiệt độ trung bình tháng bảy từ 27,6 đến 280C
* Chế độ mưa ẩm:
Lượng mưa trung bình năm từ 1547mm ở Văn Chấn đến 2126mm ở Lục Yên, tập trung gần 90% lượng mưa vào mùa mưa, hai thàng có lương mưa cao nhất là tháng 7 và tháng 8 hàng năm
Mùa khô lượng mưa chỉ chiếm hơn 10% tổng lượng mưa cả năm Hạn hán ít khi sảy ra
Độ ẩm không khí bình quân năm khoảng 84 – 86%
2.2.1.4.2 Thuỷ văn
Với lượng mưa tương đối cao và số ngày sương mù trong năm khoảng
40 ngày cho nên nguồn nước trong khu vực tương đối dồi dào Các con suối chính thường có nước quanh năm Lượng nước đảm bảo cho sinh hoạt cũng như sản xuất nông nghiệp ở các xã Tuy nhiên, vùng thượng nguồn các con ngòi, suối thường dốc nên vào mùa mưa có thể xảy ra lũ quét
2.2.1.5 Hiện trạng rừng và sử dụng đất
Khu BTTN Nà Hẩu được thành lập theo Quyết định số 512/QĐ-UB ngày 09/10/2006 của UBND tỉnh Yên Bái với diện tích 16950 ha nằm trên địa vàn các xã Nà Hẩu, Đại Sơn, Phong Dụ Thượng, Mỏ Vàng
Hiện trạng sử dụng đất các xã trong vùng được thống kê ở (bảng 2.1):
Trang 24Bảng 1.1: Hiện trạng sử dụng đất đai các xã vùng dự án
Đvt: ha
Xã Các loại
đất đai
Nà Hẩu
Đại
Sơn
Mỏ Vàng
Dụ Thượng Tổng
Nguồn: Chi cục Kiểm lâm Yên Bái, 2013 [9]
Qua kết quả (bảng 2.1) cho thấy:
Bốn xã khu vực nghiên cứu có tổng diện tích 43310ha, chiếm 31,6% tổng diện tích của toàn huyện (27xã) Diện tích đất Lâm nghiệp và đất đồi núi chưa sử dụng là 41500ha, chiếm 95,8% Đất nông nghiệp chủ yếu được sử dụng làm nương rẫy, trồng lúa, màu và cây lâu năm với tổng số 1464,9ha, chiếm 3,3% Các loại đất khác chiếm 0,9% Độ che phủ của rừng trên toàn khu vực là 62,2%
Trong diện tích được xác định là khu bảo tồn, với tổng diện tích tự nhiên 16950ha, có 470,04 ha đất nông nghiệp (chiếm 2,9%) Đất Lâm nghiệp, đất đồi
Trang 25núi chưa sử dụng và núi đá là 16452,64ha (chiếm 97,1%) Đất ở nông thôn 27,32ha, chiếm 0,2% Trong diện tích dự kiến làm phân khu bảo vệ nghiêm ngặt không có đất nông nghiệp và đất ở
Nhiều nơi trong KBT còn giữ đặc tính nguyên sinh và là nơi cư trú chính của các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp – quý hiếm, đáp ứng được yêu cầu bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn nguồn gen
Sau rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng tỉnh Yên Bái, Theo Quyết định số 325/2007/QĐ-UBND, ngày15/3/2007 của UBND tỉnh Yên Bái, diện tích vùng lõi Khu bảo tồn là 16950ha và vùng đệm có diện tích là 26754ha
2.2.1.6 Tài nguyên nước
- Rừng của khu bảo tồn thiên nhiên là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho các con suối chính của khu vực ngòi Thia và ngòi Hút đổ ra sông Hồng hướng chảy từ Tây sang Đông của khu vực, hệ thống suối này có vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp nước để phát triển sản xuất và sinh hoạt của nhân dân Khu rừng còn có vai trò lớn trong hệ thống cảnh quan, điều tiết các yếu tố sinh thái môi trường, hạn chế lũ lụt và hạn hán cho vùng hạ lưu ven sông Hồng Trong KBT còn có hồ tích nước của các thủy điện Ngòi Hút 1 và Ngòi Hút 2
Tại các xã, phần lớn các thôn bản được sự hỗ trợ của các chương trình đầu tư đã xây dựng hệ thống kênh mương, nước sạch đảm bảo tưới tiêu và sinh hoạt
2.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
2.2.2.1 Dân tộc, dân số, lao động và phân bố dân cư
- Dân số: Năm 2010 dân số Khu BTTN Nà Hẩu có 13,988 người Mật
độ dân số trung bình 33 người/km2, trong đó: Mỏ Vàng có mật độ cao nhất 39 người/km2; thấp nhất là Phong Dụ Thượng là 27 người/km2
Trang 26- Lao động: Toàn khu bảo tồn có 7693 lao động, chiếm 55 % dân số Lao động trong khu vực Nhà nước là 559 người, chiếm 4 % tổng số lao động
- Dân tộc: Cộng đồng dân cư trong khu bảo tồn gồm 5 dân tộc sinh sống, gồm Kinh, Dao, Tày, H’Mông…trong đó có 2 dân tộc chính đó là dân tộc Dao và H’Mông
2.2.2.2 Tập quán sinh hoạt, sản xuất
Sản xuất Nông nghiệp trong khu vực chiếm tỷ trọng cao, trong khi diện tích đất nông nghiệp thì quá nhỏ, tỷ trọng sản xuất Lâm nghiệp đang phát triển mạnh nhờ trồng quế, dịch vụ chậm phát triển Nhìn chung trong khu vực nền kinh tế bước đầu đã có sự chuyển dịch từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa, nhưng cần có sự chuyển đổi cơ cấu nhanh mới có thể tiến kịp và hòa nhập với xu thế chung của các vùng trong tỉnh
Sản xuất Lâm nghiệp: Trong khu vực đã có một số dự án: 135, 661, giảm nghèo của WB, vay vốn 167, định canh, định cư, nhưng với vốn đầu tư thấp, không thường xuyên Ngoài ra người dân còn tham gia nhận khoán bảo
vệ rừng trên diện tích 9,863 ha, mức khoán 100,000đ/ha/năm, góp phần cải thiện thu nhập của người dân
2.2.2.3 Sản xuất nông nghiệp
Trồng trọt: Diện tích đất nông nghiệp có tỷ lệ quá nhỏ so với tổng diện tích Trong đó đất trồng lúa, màu ít, bình quân 285m2/khẩu sản phẩm trồng trọt chủ yếu là lúa nước, ngô, lúa nương, sắn… Ruộng nước được phân bố nơi thấp, gần nới dân cư, ven suối và ruộng bậc thang Năng suất lúa thấp do kỹ thuật canh tác chưa cao, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên
- Các loại hoa màu thường có Ngô, sắn…được trồng trên nơi đất cao, bằng phẳng nhưng không có điều kiện khai hoang ruộng nước Do diện tích ruộng nước không đầy 1sào/người, chủ yếu là 1 vụ, người dân phải làm nương rẫy để bổ sung nguồn lương thực
Trang 27- Chăn nuôi: Chăn nuôi trong khu vực chưa phát triển, chưa được trú trọng đầu tư Thành phần đàn gia súc tương đối đơn giản, chủ yếu là trâu, bò, ngựa, lơn, gà Công tác thú y chưa phát triển, các thôn bản chưa có cán bộ thú
y hoặc cán bộ chưa qua trường lớp chính quy
2.2.2.4 Lâm nghiệp
Trước đây lâm sản chính do người dân khai thác từ rừng chủ yếu là gỗ, các loài động vật phục vụ làm nhà và nguồn thực phẩm, đôi khi trở thành hàng hoá Từ khi thực hiện đóng cửa rừng tự nhiên, giao đất giao rừng, lực lượng kiểm lâm đã cắm bản cùng người dân tham gia bảo vệ rừng thì hiện tượng khai thác gỗ và săn bắn thú rừng bừa bãi không còn xảy ra thường xuyên, công khai Một nguồn lợi từ rừng đem lại sự giàu có của nhiều hộ trong khu vực nhất là ở Phong Dụ Thượng, Mỏ Vàng, Đại Sơn là trồng và khai thác rừng quế, có thể xem cây quế ở đây là cây xoá đói giảm nghèo, là cây đem lại thu nhập chính của người dân trong khu bảo tồn
2.2.2.5 Đời sống sinh hoạt
Số liệu thống kê năm 2010 của huyện Văn Yên cho thấy, tại xã Nà Hẩu
có 233 hộ nghèo chiếm 70,1 %, hộ cận ngèo là 71 hộ chiếm 21,3 %, đời sống sinh hoạt rất đơn sơ và gặp rất nhiều khó khăn, số hộ được xem ti vi rất ít
2.2.2.6 Thực trạng cơ sở hạ tầng
- Giao thông: Xã Nà Hẩu hiện nay đã có đường giao thông đổ bê tông
và cấp phối đến trung tâm xã tuy nhiên do độ dốc cao, nền địa chất kém bền vững nên hiện tượng sạt lở thường xuyên xảy ra, gâytắc đường không có khả năng khắc phục ngay, việc giao lưu văn hoá, hàng hoá gặp nhiều khó khăn Trong vùng các xã đã chú trọng xây dựng đường liên thôn, xã, nhưng đường hẹp, dốc, lầy lội vào mùa mưa
- Thuỷ lợi: Trong vùng canh tác nông nghiệp, điều kiện nguồn nước
không khó khăn do được đầu tư nên hệ thống thuỷ lợi tương đối phát triển
Trang 28Cần đầu tư cho thủy lợi để tăng năng suất cây trồng, tăng vụ trên diện tích đã
có, đảm bảo an ninh lương thực, góp phần cho người dân tham gia vào công cuộc bảo tồn trong khu vực rừng đặc dụng
- Y tế: Các xã đề có trạm y tế và cán bộ y tế, Tuy nhiên chưa đáp ứng
được nhu cầu của nhân dân địa phương Trong điều kiện giao thông như Nà Hẩu thì rất cần thiết phải tăng cường y tế tuyến xã Các dịch bệnh lớn không xảy ra do làm tốt công tác phòng bệnh
- Giáo dục: Các xã đều có trường học cấp tiểu học cơ sở và trung học
cơ sở, nhưng điều kiện cơ sở vật chất và giáo viên thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu học tập của con em nhân dân.Hầu hết trẻ em đến độ tuổi đi học đều được đến trường
- Đời sống văn hóa xã hội: Trong khu bảo tồn hầu hết các cộng đồng
dân cư là dân tộc H'Mông và Dao, Cộng đồng dân cư các dân tộc thiểu số ở đây vẫn giữ gìn tốt bản sắc văn hoá của dân tộc mình, thể hiện trong trang phục, lối sống, các hoạt động sản xuất, dệt vải, thêu thùa và làm đồ thủ công
mỹ nghệ Đây là tiềm năng lớn trong du lịch sinh thái, nhân văn Những đóng góp của khu rừng đặc dụng vào việc phòng hộ, duy trì cảnh quan thiên nhiên, cân bằng sinh thái và giữ gìn bản sắc văn hoá, nhân văn là rất to lớn trong công
cuộc phát triển kinh tế xã hội của khu vực
Do điều kiện là vùng sâu, vựng xa của cả nước, điều kiện phát triển kinh tế xã hội ở khu bảo tồn còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ đói nghèo cao, đời sống vật chất và tinh thần còn nhiều thiếu thốn, lạc hậu, trình độ nhận thức còn nhiều hạn chế Việc đầu tư xây dựng khu bảo tồn sẽ là cơ hội góp phần
thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế xã hội một cách bền vững
Trang 292.2.3 Nhận xét, đánh giá thuận lợi, khó khăn của điều kiện tự nhiên kinh
tế - xã hội tới bảo tồn loài Chò chỉ
- Lực lượng lao động dồi dào, có kinh nghiệm trong sản xuất lâm nghiệp Rừng là nguồn sống chủ yếu của cộng đồng nên việc bảo tồn và phát triển rừng là nhiệm vụ chung của cộng đồng
* Khó khăn
- Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu của tỉnh Yên Bái tập trung chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống Do đó, rừng là nguồn sống quan trọng đối với người dân nên tình trạng xâm lấn, khai thác trái phép rừng vẫn xảy ra không những ở phân khu phục hồi sinh thái mà cả phân khu bảo vệ nghiêm ngặt khai thác và lợi dụng tán rừng trồng cây Thảo quả vẫn còn diễn ra
- Phong tục tập quán thả rông gia súc của người dân vẫn còn là tình trạng phổ biến ở các thôn bản, xã thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu
- Khu vực có địa bàn rộng, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn; nằm trong địa bàn dân cư kinh tế, văn hóa còn nhiều hạn chế
- Trong địa bàn quản lý nhiều nguồn tài nguyên có giá trị cao (gỗ quý, động vật quý hiếm, khoáng sản, ) là đối tượng của các hoạt động bất hợp pháp
Trang 30- Chưa có quy hoạch cụ thể về ranh giới cho các hộ dân sống trong vùng lõi khu bảo tồn vì vậy đã gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý bảo
vệ và phát triển kinh tế xã hội
- Thiếu thông tin chi tiết về sự phân bố của các loài và sinh cảnh quan trọng
- Nguồn nhân lực hiện tại thiếu và hạn chế cả về mặt năng lực, trang thiết bị và ngân sách để thực hiện hiệu quả công tác quản lý bảo tồn và đáp ứng các mục tiêu quản lý khu bảo tồn
Trang 31PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Loài Chò chỉ (Parashorea chinensis) phân bố tự nhiên tại Khu bảo tồn
thiên nhiên Nà Hẩu, tỉnh Yên Bái
Đề tài chỉ nghiên cứu loài cây Chò chỉ phân bố tự nhiên ở đai độ cao dưới 750m so với mặt nước biển tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái loài Chò chỉ tại khu vực nghiên cứu
- Đặc điểm hình thái thân, cành cây Chò chỉ;
- Đặc điểm hình thái tán cây, lá cây Chò chỉ;
- Đặc điểm hình thái hoa, quả cây Chò chỉ;
- Đặc điểm vật hậu của loài cây Chò chỉ (thời kỳ nở hoa, hình thành quả, rụng lá, v.v )
3.2.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái và phân bố loài cây Chò chỉ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu
- Phân bố loài theo đai cao
- Đặc điểm cấu trúc quần xã nơi có loài Chò chỉ phân bố;
- Một số đặc điểm về hoàn cảnh rừng (khí hậu, đất đai) nơi có loài Chò chỉ phân bố
3.2.3 Đề xuất các giải pháp bảo vệ và phát triển bền vững loài cây Chò chỉ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu
Trang 323.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Cách tiếp cận và phương pháp luận nghiên cứu
Hình 3.1: Sơ đồ các bước tiến hành nghiên cứu của đề tài
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu chung
- Sử dụng phương pháp kế thừa: Kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có
về điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu, về lược sử phân loại của cây Chò
chỉ (Parashorea chinensis) hay một số các nghiên cứu tương tự về đặc điểm
sinh học và sinh thái loài
- Sử dụng phương pháp điều tra khảo sát ngoài thực địa: Khảo sát theo các tuyến điều tra, lập các OTC điển hình tạm thời, thu thập các số liệu/tài liệu liên quan đến các nội dung của đề tài