Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hoạt động chuyển giá và kiểm soát hoạt động chuyển giá của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Chương 2: Thực trạng công tác kiểm soát hoạt động chuyển giá của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát hoạt động chuyển giá của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT VÀ CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 2
6 Kết cấu đề tài 4
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ VÀ KIỂM SOÁT CHUYỂN GIÁ CỦA DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 5
1.1 Tổng quan về doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 5
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: 5
1.1.2 Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 5
1.1.3.Các loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài… …6
1.2 Một số vấn đề lý luận về chuyển giá ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 7
1.2.1 Khái niệm chuyển giá 7
1.2.2 Đặc điểm của chuyển giá 9
1.2.3 Các dấu hiệu nhận biết hiện tượng chuyển giá 10
1.2.4 Phạm vi chuyển giá 11
1.2.5 Các phương thức chuyển giá phổ biến 12
1.2.6 Động cơ chuyển giá của các doanh ngiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 15
Trang 21.2.7 Tác động của chuyển giá và sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp
luật 17
1.3 Một số vấn đề lý luận về kiểm soát hoạt động chuyển giá 20
1.3.1 Khái niệm 20
1.3.2 Thiết lập nguyên tắc giá thị trường để xác định thuế thu nhập doanh nghiệp 20
1.3.3 Các phương pháp định giá chuyển giao 21
1.4 Hoạt động kiểm soát chuyển giá của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 27
1.4.1 Kinh nghiệm của Mỹ 28
1.4.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc 28
1.4.3 Kinh nghiệm của ASEAN 31
1.4.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ CỦA DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM 34
2.1 Khái quát hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam 34
2.2 Thực trạng hoạt động chuyển giá trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam 36
2.2.2 Chuyển giá thông qua chuyển giao công nghệ 39
2.2.3 Chuyển giá nhằm mục đích chiếm lĩnh thị trường 41
2.2.4 Chuyển giá thông qua chênh lệch về thuế suất 42
2.2.5 Chuyển giá thông qua chi trả lãi vay vốn sản xuất kinh doanh 43
2.2.6 Chuyển giá thông qua cung cấp dịch vụ nội bộ tập đoàn 44
2.3 Thực trạng công tác kiểm soát hoạt động chuyển giá của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam 45
Trang 32.3.1 Thực trạng xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý về kiểm soát hoạt động chuyển giá của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài… 45
2.3.2 Thực trạng công tác tổ chức thực hiện kiểm soát hoạt động chuyển giá của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam 47
2.4 Đánh giá chung về thực trạng công tác kiểm soát hoạt động chuyển giá của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam 60
2.4.1 Những kết quả đạt được 60
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 61
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ CỦA DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM 64
3.1 Dự báo tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam thời gian tới và tác động đến công tác kiểm soát hoạt động chuyển giá của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 64
3.2 Quan điểm đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát hoạt động chuyển giá của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 66
3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát hoạt động chuyển giá của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 67
3.3.1 Hoàn thiện hành lang pháp lý 67
3.3.2 Hoàn thiện quy trình kiểm soát chuyển giá 68
3.3.3 Đẩy mạnh áp dụng cơ chế thỏa thuận trước về giá chuyển giao 68
3.3.4 Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ chuyên trách quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá 68
3.3.5 Nâng cao hiệu quả công tác quản lý kê khai thuế 69
3.3.6 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra 69
3.3.7 Hoàn thiện cơ sở dữ liệu thông tin về doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 69
3.3.8 Tăng cường hợp tác quốc tế về thuế 69
Trang 43.3.9 Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin 70
3.4 Các giải pháp điều kiện 71
3.4.1 Sự hỗ trợ của chính quyền và cơ quan hành chính Nhà nước 71
3.4.2 Có chế độ tiền lương thưởng phù hợp cho cán bộ thuế 71
3.4.3 Ổn định đồng tiền Việt Nam 71
3.4.4 Cải cách và thay đổi liên quan đến hoạt động ngân hàng 71
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT VÀ CHỮ VIẾT TẮT
ALP: Nguyên tắc căn bản giá thị trường
APA: Thỏa thuận định giá trước
ASEAN: Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
EU: Thị trường chung Châu ÂU
FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
MNC: Công ty đa quốc gia
OECD: Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển
TNDN: Thu nhập doanh nghiệp
UNCTAD : Diễn đàn thương mại và phát triển
USAID: Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ
VCCI: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam WTO: Tổ chức thương mại thế giới
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Thống kê số lỗ của các loại hình doanh nghiệp quý 4/2013 53 Bảng 2.2: Thống kê số lỗ của các loại hình doanh nghiệp lũy kế 4 quý năm 2013 53 Bảng 2.3: Kim ngạch xuất nhập khẩu quý I/2014 (ĐVT: tỷ USD) 54 Bảng 2.4: Thống kê số doanh có dấu hiệu chuyển giá bị thanh tra, kiểm tra 58 Bảng 2.5: Kết quả thanh tra chuyên đề về chuyển giá ở một số địa phương điển hình ĐVT: tỷ đồng (số liệu được làm tròn) 59 Bảng 2.6: Kết quả thanh tra chuyển giá và thu NSNN (ĐVT: tỷ đồng) 60 Bảng 3.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2004-2014 64
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Tốc độ tăng trưởng kinh kế giai đoạn 2004-2014 65
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của quá trình toàn cầu hoá,đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam đã tăng lên rất mạnh, đóng góp vai tròrất quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnhvực ngành công nghiệp Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, khu vực kinh tếnày không kém phần phức tạp Số lượng các giao dịch thương mại xuyên biên giớidiễn ra giữa các công ty liên kết ngày một tăng Với môi trường cạnh tranh ngày cànggay gắt, khốc liệt, vấn đề tối đa hoá lợi nhuận cho tổng thể tập đoàn luôn là mục tiêuquan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư nước ngoài Ngoài việc nỗ lực nâng cao hiệuquả hoạt động của doanh nghiệp đầu tư, chuyển giá được xem là một trong nhữngphương pháp mà các nhà đầu tư thường áp dụng nhằm mục đích tránh thuế, từ đó tổnglợi ích cuối cùng sẽ được gia tăng Việc mở cửa của mỗi quốc gia kéo theo việc thu hútđầu tư làm xuất hiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ của nhà nước sở tại dành cho nhà đầu
tư Đặc biệt ưu đãi về thuế ảnh hưởng đến quá trình phân phối lợi ích Sự khác biệttrong chính sách ưu đãi, hỗ trợ là cơ sở cho phép hình thành các thủ thuật nhằm hưởnglợi một cách tối ưu từ việc chuyển hóa quyền sở hữu lợi ích từ chủ thể này sang chủthể khác
Chuyển giá có thể gia tăng lợi ích của chủ thể kinh doanh nhưng không xuấtphát từ quá trình tạo ra lợi ích, đang ngày càng được sử dụng phổ biến trong nhiềugiao dịch của các chủ thể có quan hệ liên kết Gia tăng lợi ích không do hình thành giátrị mới, nên chuyển giá có thể làm thiệt hại đến lợi ích của các chủ thể khác do lợi ích
đó được chuyển sang cho chủ thể khác hưởng lợi từ chuyển giá Vì thế, nhiều quốc gia
đã thực hiện nhiều giải pháp kiểm soát hoạt động chuyển giá để bảo vệ lợi ích của cácchủ thể liên quan
Không nằm ngoài xu thế của thế giới và khu vực, đặc biệt từ khi gia nhập Tổchức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam cũng đã và đang tiếp nhận khối lượngngày càng gia tăng giữa các tập đoàn đa quốc gia với các công ty con tại Việt Nam Và
dĩ nhiên Việt Nam cũng không tránh khỏi việc các tập đoàn đa quốc gia lợi dụng giáchuyển nhượng để tránh thuế Việt Nam cũng đã có những qui định về việc chống
Trang 8chuyển giá từ năm 1997 (Thông tư số 74/TC-TCT ngày 20/10/1997 của Bộ Tài chính).Sau nhiều lần sửa đổi, pháp luật về điều chỉnh chuyển giá ở Việt Nam về cơ bản tươngđồng với hướng dẫn của OECD về giá chuyển nhượng Nhưng pháp luật kiểm soátchuyển giá Việt Nam vẫn chưa hình thành các quan hệ phối hợp giữa các chủ thể quản
lý và các chủ thể liên quan (bị thiệt hại, chuyển giá) Đồng thời, thực tiễn kiểm soátchuyển giá chưa đạt hiệu quả mong muốn do nhiều nguyên nhân chủ quan và kháchquan
Vì những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài “Kiểm soát hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam” là thực sự cần
thiết
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài này là đánh giá thực trạng hoạt động chuyển giá và côngtác kiểm soát chuyển giá đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở ViệtNam trong những năm gần đây Từ đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soátchuyển giá đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thờigian tới
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động chuyển giá và kiểm soát hoạtđộng chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu về không gian là ở Việt Nam dưới góc độ chức năng,nhiệm vụ của cơ quan thuế
Phạm vi nghiên cứu về thời gian đối với nghiên cứu thực tiễn là giai đoạn 2004– 2014
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử
Ngoài ra, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Thống kê, suyluận logic, phân tích - tổng hợp, so sánh - đối chiếu…
5 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Chuyển giá được Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD- Organizationfor Economic Cooperation and Development) đã đưa ra hướng dẫn chung về chuyển
Trang 9giá đối với các công ty đa quốc gia vào năm 1979, và sau đó là được cập nhật nhiềulần Hàng năm OECD đều có diễn đàn thảo luận chuyên sâu về vấn đề này Chuyểngiá cũng được Diễn đàn thương mại và phát triển – UNCTAD (United NationsConference on Trade and Development) của Tổ chức Liên hiệp quốc lưu tâm qua ấnphẩm “Transfer Pricing” (1999).
Chuyển giá được nhiều chuyên gia kinh tế trên thế giới đề cập như CliveEmmanuel và Jame Ellioit với chuyên đề “International Tranfer Pricing”(2002), hoặcRichard R.Sylvester với “International transfer pricing: Strategic planing”(1993), JuanMartin Jovanovich với “Customs valuation and Transfer Pricing- is it Posible toHamonize Customs and tax Rules”(2002), Robert Feinschreiber với “Transfer PricingMethods”(2004,2008), Elizabeth King với “Transfer Pricing and Coparation taxation:Problem,Practice and Solution”(2009) và nhiều chuyên đề nghiên cứu khác
Ở Việt Nam, vấn đề chuyển giá và kiểm soát chuyển giá đã được nghiên cứu vàcông bố trong nhiều công trình khoa học Tiêu biểu là các công trình nghiên cứu sau:
- Phan Hiển Minh (2002): Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện phương pháp định giáchuyển giao trong chính sách thuế của Việt Nam” thuộc chuyên ngành Tài chính –Lưu thông tiền tệ - Tín dụng
- Nhóm tác giả do TS Nguyễn Ngọc Thanh (1999) làm chủ biên đề tài nghiêncứu về “Chuyển giá trong doanh nghiệp FDI ở TP Hồ Chí Minh” trong dự án nghiêncứu của UBND TP Hồ Chí Minh là cơ sở cho việc ra đời sách chuyên khảo “Định giáchuyển giao và thủ thuật chuyển giá của các công ty đa quốc gia ở Việt Nam”
- Phan Thị Thành Dương (2010): Luận án tiến sĩ “Pháp luật về kiểm soátchuyển giá ở Việt Nam”, Trường Đại học Luật T.P Hồ Chí Minh
- Hồng Phương (2011): Kiểm soát và chống chuyển giá đối với các doanhnghiệp FDI tại Việt Nam, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh
- Huỳnh Thị Ngọc Diệp (2007): Các giải pháp kiểm soát hoạt động chuyển giácủa các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, Trường Đại học Kinh
tế TP Hồ Chí Minh
- Trần Lê Dũng (2003): Định giá chuyển giao và chuyển giá trong các MNC'Stại Việt Nam các giải pháp khắc phục, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM
Trang 10- Nguyễn Trí Thành (2004): Các giải pháp kiểm soát hoạt động chuyển giá tạiViệt Nam trong giai đoạn hội nhập, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh.
- Nguyễn Quang Trung (2000): Định giá chuyển giao và chuyển giá của cáccông ty đa quốc tại Việt Nam và các giải pháp khắc phục, Trường Đại học Kinh tế TP
Hồ Chí Minh
Các nghiên cứu về chuyển giá ở Việt Nam đã nhận diện được sự chuyển giá ởcác doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, giới thiệu những phươngpháp xác định giá thị trường đối với giao dịch giữa các bên liên kết có thể áp dụngtrong điều kiện, hoàn cảnh ở Việt Nam, nghiên cứu chuyển giá trong các mối quan hệpháp luật
Các nghiên cứu trên đây đã làm rõ nhiều vấn đề lý luận về kiểm soát chuyển giá
và đánh giá ở những mức độ nhất định việc thực trạng hoạt động kiểm soát chuyển giátrong giai đoạn nghiên cứu những đề tài đó và giải pháp tăng cường hoạt động kiểmsoát hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam trong thời gian tới
Trang 11CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ VÀ KIỂM SOÁT CHUYỂN GIÁ CỦA DOANH NGHIỆP CÓ VỐN
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1 Tổng quan về doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là loại hình doanh nghiệpđược hình thành do nhà đầu tư nước ngoài đóng góp một phần hoặc toàn bộ vốn bằngtiền hay bất kỳ tài sản nào để được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soátdoanh nghiệp đó với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của mình
1.1.2 Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Về vốn góp: các chủ đầu tư nước ngoài phải góp một lượng vốn “đủ lớn” để
họ có quyền trực tiếp tham gia điều phối và quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh.Mức độ “đủ lớn” của nguồn vốn tùy theo quy định của từng quốc gia
Về quyền kiểm soát: quyền kiểm soát của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn Nếu nhà đầu tư nước ngoài đầu
tư 100% vốn thì quyền điều hành hoàn toàn thuộc về nhà đầu tư nước ngoài, có thểtrực tiếp hoặc thuê người quản lý Nếu thành lập liên doanh thì chủ đầu tư nước ngoàitham gia điều hành tùy theo mức vốn góp của mình
Về tỷ lệ phân chia lợi nhuận: dựa trên kết quả sản xuất kinh doanh, lợinhuận được phân chia dựa trên tỷ lệ vốn góp trong vốn pháp định sau khi đã trừ đi cáckhoản đóng góp khác Do vậy, thu nhập của nhà đầu tư nước ngoài thường không ổnđịnh
Quyền kiểm soát chủ yếu về đầu tư, tình hình sản xuất kinh doanh thuộc vềnhững công ty mẹ ở nước ngoài Giữa các doanh nghiệp FDI với công ty mẹ hoặc vớicác công ty con khác trong các MNC thường xuyên diễn ra các nghiệp vụ mua bán,trao đổi, giao dịch nội bộ như:
- Các nghiệp vụ mua bán nội bộ liên quan đến nguyên, nhiên vật liệu, hàng hóa
- Các giao dịch liên quan việc dịch chuyển một lượng lớn máy móc, thiết bị chosản xuất mà đặc biệt hơn là điểm đến của các giao dịch này là các quốc gia đang pháttriển
Trang 12- Các giao dịch liên quan đến các tài sản vô hình như nhượng quyền, bản quyền,thương hiệu, nhãn hàng, các chi phí liên quan đến nghiên cứu và phát triển sản phẩm.
- Cung cấp các dịch vụ quản lý, dịch vụ tài chính hay chi phí cho các chuyên giavào làm việc tại nước nhận chuyển giao
- Tài trợ và nhận tài trợ về các nguồn lực như tài lực và nhân lực
- Đi vay và cho vay nội bộ các công ty con của MNC hay giữa công ty mẹ và cáccông ty con
1.1.3 Các loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
a) Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tácthành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chínhphủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoài, hoặc làdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc dodoanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liêndoanh
Hợp đồng liên doanh là văn bản ký kết giữa các bên Việt Nam với các bên nướcngoài để thành lập doanh nghiệp liên doanh tại Việt Nam
Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệmhữu hạn, có tư cách pháp nhân mang quốc tịch Việt Nam Mỗi bên liên doanh chỉ chịutrách nhiệm trong phạm vi phần vốn cam kết góp vào vốn pháp định doanh nghiệp
Như vậy, có thể hiểu doanh nghiệp liên doanh là một hình thức tổ chức kinhdoanh có tính chất quốc tế, hình thành từ những sự khác biệt giữa các bên về quốc tịch,quản lý, hệ thống tài chính, luật pháp và bản sắc văn hóa, hoạt động trên cơ sở có sựđóng góp của các bên về vốn, quản lý lao động và cùng chịu trách nhiệm về lợi nhuậncũng như rủi ro có thể xảy ra; hoạt động của liên doanh rất rộng, gồm cả hoạt động sảnxuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ, hoạt động nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu triểnkhai
b) Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài:
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nướcngoài đầu tư 100% vốn, là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoàithành lập tại Việt Nam, tự quản lý và chịu trách nhiệm vầ kết quả kinh doanh
Trang 13Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài hoạt động theo sự điều chỉnh quản
lý của chủ đầu tư nước ngoài nhưng vẫn phải tùy thuộc vào các điều kiện và môitrường kinh doanh của nước sở tại, đó là các điều kiện về chính trị, kinh tế, luật pháp,văn hóa, mức độ cạnh tranh,
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài có tư cách pháp nhân là một thựcthể pháp lý độc lập hoạt động theo luật pháp nước sở tại Thành lập dưới dạng công tytrách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần
1.2 Một số vấn đề lý luận về chuyển giá ở các doanh nghiệp có vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài
1.2.1 Khái niệm chuyển giá
Khi các quan hệ kinh tế được thiết lập đa dạng, có sự liên kết, phối hợp giữa cácchủ thể kinh doanh, thì việc xác định lợi ích kinh tế đã vượt ra ngoài phạm vi của mộtchủ thể riêng lẻ, mà được tính trong lợi ích chung của cả tập đoàn hay nhóm liên kết
Để lợi ích tổng thể đạt tối ưu, các doanh nghiệp thường sử dụng công cụ chuyển giá, vì
nó giúp họ làm giảm tổng nghĩa vụ thuế và từ đó lợi nhuận sau thuế sẽ tăng
Chuyển giá đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra quyết định tài chính củadoanh nghiệp, nó có khả năng điều chỉnh lợi nhuận, tạo luồng chảy của vốn đầu tư,tăng khả năng thanh toán Vì vậy, chuyển giá là công cụ hữu ích của doanh nghiệp
để tạo ra khả năng cạnh tranh trên thị trường, tiết kiệm chi phí thuế, kiểm soát lưuchuyển tiền tệ và phân bổ các nguồn lực
Một số học giả cho rằng, chuyển giá chỉ là hành vi liên quan đến các tập đoànkinh tế đa quốc gia Theo đó, “Chuyển giá được hiểu là việc thực hiện chính sách giáđối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tậpđoàn qua biên giới không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế của các công
ty đa quốc gia trên toàn cầu”1
Tuy nhiên, trên thực tế, chuyển giá không chỉ được thực hiện bởi các công ty đaquốc gia, các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (doanh nghiệp FDI), nócòn được thực hiện bởi các công ty có nhiều công ty con chỉ hoạt động kinh doanhtrong nước hoặc thậm chí được thực hiện bởi các công ty là các chủ thể kinh tế độc lập
1 Nguyễn Thị Thành Dương: “Chống chuyển giá ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Pháp lý, số 2 (33) 2006
Trang 14song chủ sở hữu của chúng lại có mối quan hệ thân nhân với nhau Như vậy, cần hiểuhành vi chuyển giá theo một nghĩa rộng hơn Theo đó, chuyển giá được hiểu là hành vithực hiện bởi các chủ thể kinh doanh nhằm thay đổi giá của hàng hóa, dịch vụ, tài sản
so với giá thị trường trong giao dịch với các bên liên kết Các đối tác liên kết ở đây cóthể là: (i) Các công ty thành viên trong một công ty đa quốc gia; (ii) Các công ty hoặcđơn vị thành viên trong một tổng công ty, công ty; (iii) Các công ty độc lập mà chủ sởhữu của chúng có mối quan hệ đặc biệt, thường làm mối quan hệ thân nhân Giá thịtrường là giá giao dịch giữa các bên không có quan hệ liên kết (còn gọi là các bên độclập), giá giao dịch nội bộ có thể định cao hay thấp tùy vào lợi ích đạt được từ nhữnggiao dịch này
Đối tượng để thực hiện hành vi chuyển giá là giá cả Các chủ thể liên kết có thểthảo thuận với nhau nhằm tăng hoặc giảm giá tùy theo lợi ích chung của các đơn vịliên kết Các cơ sở của hành vi chuyển giá2 gồm có:
- Xuất phát từ quyền tự do định đoạt trong kinh doanh, các chủ thể hoàn toàn cóquyền định giá cả của một giao dịch Do đó, họ hoàn toàn có quyền mua hay bán hànghóa, dịch vụ với giá họ mong muốn
- Xuất phát từ mối quan hệ gắn bó chung về lợi ích giũa hóm liên kết nên sựkhác biệt về giá giao dịch được thực hiện giữa các chủ thể kinh doanh có cùng lợi íchkhông làm thay đổi lợi ích toàn cục
- Việc quyết định chính sách giá giao dịch giữa các thành viên trong nhóm liênkết không thay đổi tổng lợi ích chung nhưng có thể làm thay đổi tổng nghĩa vụ thuếcủa họ Thông qua việc định giá, nghĩa vụ thuế được chuyển từ nơi bị điều tiết caosang nơi bị điều tiết thấp hơn và ngược lại Tồn tại sự khác nhau về chính sách thuếcủa các quốc gia là điều không tránh khỏi do chính sách kinh tế - xã hội của họ khôngthể đồng nhất, cũng như sự hiện hữu của các quy định ưu đãi thuế là điều tất yếu.Chênh lệch mức độ điều tiết thuế vì thế hoàn toàn có thể xảy ra
Như vậy, chuyển giá được hiểu là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ được chuyển dịch giữa các bên có quan hệ liên kết (các bên liên kết) không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa tổng số thuế phải nộp của tất cả các bên liên kết đó
2“Chuyển giá trong các công ty đa quốc gia ở Việt Nam” (2010) – Luận văn Thạc sĩ
Trang 151.2.2 Đặc điểm của chuyển giá
a) Chuyển giá gắn liền với các giao dịch giữa các bên có mối quan hệ liên kết
Do chuyển giá là thủ thuật hướng đến việc tăng lợi ích cho các chủ sở hữubằng cách thay đổi các giá trị giao dịch, nên nếu không có quan hệ liên kết thì các bêngiao dịch khó có thể chấp nhận giao dịch diễn ra trong tương quan không bình đẳng,theo đó một trong hai bên sẽ chịu bất lợi Do đó, giao dịch chuyển giá phải thực hiệntrong nội bộ nhóm liên kết – có cùng lợi ích để đảm bảo rằng lợi ích không dịchchuyển khỏi tầm kiểm soát của chủ sỡ hữu mà chỉ dịch chuyển từ “túi đựng tiền này”sang “túi đựng tiền khác” Chuyển giá vì thế gắn liền với yếu tố liên kết Không cóquan hệ liên kết được xác lập cũng có nghĩa rằng chuyển giá đã được loại trừ Dù cho
có hình thành những dấu hiệu bất ổn trong giao dịch thì điều đó sẽ là đối tượng điềuchỉnh của quan hệ pháp luật khác mà không phải là pháp luật kiểm soát chuyển giá
b) Chuyển giá có thể không phản ánh giá trị thực của giao dịch
Chuyển giá được phản ánh trên chứng từ kế toán ghi nhận các thông số về sựchuyển dịch đầu vào, đầu ra của các dạng lợi ích mà không phản ánh đúng thực chấtcủa giá trị giao dịch Các giá trị được chuyển giao là qua giá, bên thụ hưởng hưởng lợiqua giá thanh toán đối với giao dịch Điều đó có nghĩa là giá xác định trong trườnghợp này chỉ mang tính hình thức mà không phản ánh giá trị thực sự của giao dịch,trong đó cái được chuyển đi hay giữ lại không thể hiện trên con số được phản ánh.Thông thường, các số liệu thể hiện trong hệ thống sổ sách, chứng từ chính là cơ sởphản ánh thực chất của giao dịch Tuy nhiên, trong trường hợp giao dịch được thựchiện giữa các các bên liên kết thì không hoàn toàn như vậy Vì vậy điều chỉnh chuyểngiá phải căn cứ chủ yếu vào việc lưu trữ các dữ liệu về giao dịch giữa các bên liên kết
và các giao dịch tương tự giữa các bên độc lập
c) Chuyển giá có thể diễn ra trong các giao dịch liên kết xuyên biên giới hoặc trong phạm vi một quốc gia
Chuyển giá làm lợi ích tập trung tại những nơi khác nhau Một nơi có thể tích
tụ được giá trị nhiều hơn nơi khác tùy thuộc vào chính sách điều tiết của nhà nước,vùng lãnh thổ hoặc địa phương Do đó, chuyển giá có thể chỉ được thực hiện mộtchiều, ở một nơi để tập trung lợi ích về nơi khác ít bị điều tiết hơn Việc ngăn chặnhành vi này, thường xảy ra ở các quốc gia, địa phương bị thiệt hại do hành vi này gây
ra Để thực hiện điều này đòi hỏi phải có sự hợp tác giữa các quốc gia, địa phươngtrong việc cung cấp các thông tin về giá làm căn cứ điều chỉnh phù hợp
Trang 16d) Không làm tăng tổng lợi nhuận trước thuế của toàn tập đoàn chỉ là sự chuyển dịch
từ chủ thể này sang chủ thể khác trong phạm vi tập đoàn
Như vậy về lợi ích thì tổng lợi ích được hình thành vẫn thuộc sở hữu công ty
mẹ, nhưng với từng cá thể riêng lẻ hợp thành thì phần lợi ích do họ được quản lý vànắm giữ có thể thay đổi Điều này có nghĩa là thông qua chuyển giá công ty mẹ chỉphải chia sẻ ít hơn lợi ích của mình làm ra cho chủ thể khác như nhà nước hoặc đối táctrong liên doanh, liên kết, cổ đông hay với người lao động Trong quá trình phân phốilợi ích xã hội, hành vi chuyển giá làm ảnh hưởng đến lợi ích của chủ thể khác như :Nhà nước, đối tác, người lao động Pháp luật kiểm soát chuyển giá có nhiệm vụ trảlại sự bình thường cho các giá trị chuyển giao phù hợp với quan hệ thị trường
Tóm lại, chuyển giá xuất hiện như một tất yếu khách quan khi xã hội phát triểnđến một giai đoạn nhất định Những phương thức làm gia tăng lợi ích luôn được pháttriển như một động lực phát triển xã hội Trong đó, chuyển giá hình thành để gia tănglợi ích do quá trình hội nhập kinh tế mang lại, bằng cách tìm kiếm những điểm đầu tưkhác nhau, xác lập các thực thể pháp lý khác nhau nhưng từ một nguồn sở hữu để tạo
ra những lợi ích khổng lồ hơn từ quá trình tạo lập những cấu thành này
1.2.3 Các dấu hiệu nhận biết hiện tượng chuyển giá
Thứ nhất, biểu hiện cụ thể của hành vi chuyển giá là giao kết về giá Giá giao
kết là cơ sở để xem xét hành vi chuyển giá Chúng ta có thể đánh giá một giao dịch cóchuyển giá hay không khi so sánh giá giao kết với giá thị trường Nếu giá giao kếtkhông tương ứng với giá thị trường thì có nhiều khả năng giao dịch này có biểu hiệnchuyển giá
Thứ hai, hành vi chuyển giá được thể hiện qua kết quả sản xuất – kinh doanh
của một doanh nghiệp thường bị thua lỗ liên tục trong vài năm Doanh nghiệp kêkhống giá nhập khẩu nguyên liệu máy móc thiết bị từ công ty mẹ ở nước ngoài làmcho chi phí đầu vào tăng lên Hậu quả của việc này là giá thành sản phẩm do các doanhnghiệp này sản xuất ra trở nên đắt hơn Giá thành cao là cơ sở để các doanh nghiệp báocáo lỗ để không phát sinh thu nhập chịu thuế; hoặc doanh nghiệp kinh doanh có mặthàng có giá bán thấp hơn rất nhiều so với mặt hàng có cùng chức trên thị trường, mặc
dù doanh nghiệp có thể có lãi nhưng đây cũng là phương pháp chuyển giá hạ thấp đầuvào để giảm giá thành, giảm giá bán nhằm cạnh tranh thị trường
Trang 17Thứ ba, các doanh nghiệp kê khai hoạt động kinh doanh lỗ, song các doanh
nghiệp không ngừng mở rộng hoạt động sản xuất – kinh doanh, tăng quy mô hoạtđộng Thực tế này là do các công ty mẹ ở nước ngoài đã thực hiện chuyển giá, tìm mọicách để công ty con không có lãi và toàn bộ số lãi của công ty con được chuyển vềcông ty mẹ, làm thất thu cho ngân sách nhà nước
Thứ tư, các doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận nhỏ hơn nhiều so với các doanh
nghiệp khác trong cùng ngành hoặc các doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận thấp hơn lợinhuận của các doanh nghiệp khác trong cùng tập đoàn
1.2.4 Phạm vi chuyển giá3
Chuyển giá với ý nghĩa chuyển giao giá trị trong quan hệ nội bộ nên hành viphải được xem xét trong phạm vi giao dịch của các chủ thể liên kết Điều 9 Công ướcmẫu của OECD năm 2009 về định giá chuyển giao ghi nhận “Hai doanh nghiệp đượcxem là liên kết khi: (i) Một doanh nghiệp tham gia vào quản lý, điều hành hay góp vốnvào doanh nghiệp kia một cách trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc qua trung gian; (ii) Haidoanh nghiệp có cùng một hoặc nhiều người hay thực thể khác tham gia quản lý, điềuhành hay góp vốn một cách trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc qua trung gian”
Yếu tố quản lý, điều hành hay góp vốn chính là điều kiện quyết định sự ảnhhưởng, sự giao hòa về mặt lợi ích của các chủ thể này nên cũng là cơ sở để xác địnhmối quan hệ liên kết Tính chất của những biểu hiện này không mang tính quyết định.Như thế các doanh nghiệp liên kết có thể được hình thành trong cùng một quốc giahoặc có thể ở nhiều quốc gia khác nhau Từ đó, chuyển giá không chỉ diễn ra trong cácgiao dịch quốc tế mà có thể cả trong những giao dịch quốc nội
Trên thực tế, chuyển giá thường được quan tâm đánh giá đối với các giao dịchquốc tế hơn do sự khác biệt về chính sách thuế giữa các quốc gia được thể hiện rõ hơn.Trong khi đó, do phải tuân thủ nguyên tắc đối xử quốc gia nên các nghĩa vụ thuế hìnhthành từ các giao dịch trong nước ít có sự cách biệt Vì thế, phần lớn các quốc gia hiệnnay thường chỉ quy định về chuyển giá đối với giao dịch quốc tế Theo đó, giao dịchquốc tế được xác định là giao dịch giữa hai hay nhiều doanh nghiệp liên kết mà trong
số đó có đối tượng tham gia là chủ thể không cư trú Sự khác biệt chính yếu nằm ở sựucách biệt về mức thuế suất thuế TNDN của các quốc gia Một giá trị lợi nhuận chuyển
3“Chuyển giá trong các công ty đa quốc gia ở Việt Nam” (2010) – Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học kinh tế TP.HCM - Nguyễn Thị Quỳnh Giang, trang 8
Trang 18qua giá từ doanh nghiệp liên kết cư trú tại quốc gia có thuế suất cao sang doanh nghiệpliên kết ở quốc gia có thuế suất thấp Ngược lại, một lượng chi phí tăng lên qua giámua sẽ làm giảm thu nhập cục bộ ở quốc gia có thuế suât thuế thu nhập cao Trong haitrường hợp đều cho ra những kết quả tương tự là làm tổng thu nhập sau thuế của toàn
bộ nhóm liên kết tăng lên
Khía cạnh khác, các giao dịch trong nước có thể hưởng lợi từ chế độ ưu đãi,miễn giảm thuế Thu nhập sẽ lại dịch chuyển từ doanh nghiệp liên kết không đượchưởng ưu đãi hoặc ưu đãi với tỷ lệ thấp sang doanh nghiệp liên kết có lợi thế hơn vềđiều này
1.2.5 Các phương thức chuyển giá phổ biến
Chuyển giá thông qua hình thức nâng cao giá trị tài sản góp vốn
Đầu tư dưới dạng liên doanh: việc nâng giá trị tài sản đống góp sẽ làm chophần vốn góp của bên phía có ý nâng giá trị góp vốn tăng, nhờ đó, sự chi phối trongcác quyết định liên quan đến hoạt động của dự án liên doanh sẽ gia tăng và mức lờiđược chia sẽ tăng Ngoài ra, khi dự án kết thúc hoạt động thì tỷ lệ giá trị tài sản đượcchia cao hơn
Đối với các công ty có 100% vốn đầu tư nước ngoài thì việc nâng cao giá trị tàisản góp vốn sẽ giúp họ tăng mức khấu hao trích hàng năm, làm tăng chi phí đầu vào.Việc tăng mức khấu hao tài sản cố định sẽ giúp chủ đầu tư đạt được các lợi ích sau: (i)Nhanh hoàn vốn đầu tư cố định, nhờ đó giảm thiểu rủi ro đầu tư; (ii) Giảm mức thuếthu nhập doanh nghiệp (TNDN) phải đóng cho nước tiếp nhận đầu tư
Chuyển giá bằng cách nâng khống giá trị tài sản vô hình:
Một hình thức góp vốn khác phổ biến của các nhà đầu tư nước ngoài là góp vốnbằng các tài sản vô hình: phần mềm công nghệ, thương hiệu, công thức pha chế, Trong thực tế có hai hình thức chuyển giá:
Thứ nhất, mật thành viên trong tập đoàn (thường là công ty mẹ) tiếnhành nghiên cứu phát triển một công nghệ nào đó một cách độc lập rồi bán cho cácthành viên khác trong tập đoàn Về nguyên tắc, giá chuyển giao phải tuân thủ theo giáthị trường Tuy nhiên, bản chất việc sở hữu tài sản vô hình là độc quyền, việc định giáđối với loại tài sản vô hình mang tính đặc thù này thường rất khó khăn, do đó khó cóthể tìm thấy một giao dịch tương đương để so sánh Các công ty đa quốc gia thường
Trang 19lợi dụng đặc điểm này để thực hiện chuyển lợi nhuận cho nhau nhằm trốn thuế thôngqua thủ đoạn chuyển giá giữa các thành viên trong nội bộ công ty.
Thứ hai các thành viên trong tập đoàn cùng chia sẽ rủi ro của quá trìnhnghiên cứu và phát triển thông qua một hợp đồng tài trợ cho những chi phí nghiên cứu
và phát triển giữa các công ty thành viên trong tập đoàn Nói chung, trong hợp đồngnày các thành viên đều phải gánh chịu chi phí và rủi ro đồng thời cùng nhau đượchưởng các kết quả nghiên cứu theo tỷ lệ chi phí đóng góp Theo luật thuế thu nhậpdoanh nghiệp của nhiều nước, tỷ lệ đóng góp chi phí trực tiếp, chi phí tổ chức quản lýcủa quá trình nghiên cứu, phát triển được trừ khi tính thu nhập chịu thuế Lợi dụng quyđịnh này, các công ty có thể nâng tỷ lệ chi phí đóng góp để giảm nghĩa vụ thuế
Nhập khẩu nguyên,nhiên, vật liệu từ công ty mẹ ở nước ngoài, từ các chi nhánh trong tập đoàn, từ các bên liên doanh, từ các đơn vị liên kết khác với giá cao hơn giá thị trường thông thường
Đây là một trong những cách thức giúp các công ty chuyển lợi nhuận ra nướcngoài thông qua thanh toán tiền hàng nhập khẩu với công ty mẹ hoặc chi nhánh kháctrong các MNC Việc nhập khẩu các nguyên vật liệu từ nước ngoài của các doanhnghiệp FDI cũng là một nhân tố dẫn tới việc các quốc gia nhận đầu tư là có cán cânthanh toán nghiêng về nhập siêu Ngoài ra, việc nhập khẩu nguyên vật liệu từ công ty
mẹ hay chi nhánh khác ở nước ngoài với giá cao còn làm tăng chi phí đầu vào củadoanh nghiệp, từ đó giảm bớt số thuế phải nộp
Chuyển giá thông qua điều tiết giá mua bán hàng hóa giữa các chi nhánh
Khi thuế nhập khẩu cao thì công ty mẹ bán nguyên liệu, hàng hóa với giá thấpnhằm tránh nộp thuế nhập khẩu nhiều Trong trường hợp này, công ty mẹ sẽ tăngcường hoạt động tư vấn, huấn luyện, hỗ trợ tiếp thị với giá cao để bù đắp lại hoặc mualại sản phẩm với giá thấp Đối với hàng hóa nhập khẩu thuế suất thấp, thì công ty kýhợp đồng nhập khẩu với giá cao nhằm nâng chi phí để tránh thuế
Cách thức này cũng có thể được các MNC áp dụng trong giao dịch giữa các chinhánh ở cùng một quốc gia nhằm tối thiểu hóa sự điều tiết của thuế tiêu thụ đặc biệt,thuế thu nhập doanh nghiệp (như tách riêng giữa sản xuất-kinh doanh, lợi dụng ưu đãithuế thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp mới thành lập )
Chuyển giá thông qua hình thức nâng chi phí các đơn vị hành chính và quản lý
Trang 20Các công ty mẹ thường sử dụng các hợp đồng tư vấn hay thuê trung gian Một
số đối tác liên doanh còn bị ép nhận chuyên gia với chi phí rất cao nhưng hiệu quảthấp Chi phí này phía liên doanh nước chủ nhà gánh chịu
Một số công ty thuê người quản lý doanh nghiệp FDI với lương cao, ngoài racòn phải trả một khoản tiền lớn cho công ty nước ngoài cung cấp nhà quản lý Ở một
số trường hợp cũng có hiện tượng chuyển giá ở khâu này khi công ty cung cấp nguồnnhân lực cũng là công ty con của cùng một tập đoàn
Một số trường hợp còn thực hiện chuyển giá thông qua hình thức đào tạo ởnước ngoài: cử chuyên viên, công nhân sang học tập, thực tập tại công ty mẹ với chiphí cao
Một hình thức chuyển giá của công ty có vốn FDI là trả lương, chi phí chochuyên gia tư vấn được gửi đến từ công ty mẹ Loại hình tư vấn này rất khó xác định
số lượng và chất lượng để xác định chi phí cao hay thấp Lợi dụng điều này, nhiềudoanh nghiệp FDI thực hiện hành vi chuyển giá mà thực chất là chuyển lợi nhuận vềnước dưới danh nghĩa là phí dịch vụ tư vấn
Chuyển giá thông qua hình thức tài trợ bằng nghiệp vụ vay từ công ty mẹ
Bằng hình thức này, các công ty con tạo ra cơ cấu vốn và nguồn vốn bất hợp lýnhư dùng nguồn vốn vay từ công ty mẹ để tài trợ cho tài sản cố định và tài sản đầu tưdài hạn mà không tăng vốn góp và vốn chủ sở hữu nhằm đẩy chi phí hoạt động tàichính lên cao như chi phí chênh lệch tỷ giá, chi phí lãi vay và chuyển một phần lợinhuận về nước dưới dạng lãi vay, chi phí bảo lãnh vay vốn để tránh thuế, tránh lỗ dochênh lệch tỷ giá về sau Các MNC thường áp dụng hình thức này trong hai trườnghợp:
Khi một chi nhánh kinh doanh có lãi ở quốc gia có thuế suất thuế TNDN cao,chi nhánh này sẽ tiến hành cho công ty mẹ hoặc các chi nhánh khác vay với lãi suấtthấp (thậm chí không lãi suất) nhằm giúp toàn các MNC có vốn mở rộng thị trường
Khi chi nhánh đặt ở quốc gia có thuế suất thuế TNDN cao, họ có thể tiến hành
đi vay của công ty mẹ hoặc các chi nhánh khác với lãi suất rất cao, từ đó làm cho lợinhuận trước thuế (đã trừ đi lãi vay) âm, tránh được việc nộp thuế TNDN, đồng thời lạiđược Nhà nước thực hiện hoàn thuế Bên cho vay thường có trụ sở ở nơi có thuế suấtđối với tiền lãi thấp, từ đó tổng lợi nhuận của các MNC đạt được là lớn nhất
Trang 211.2.6 Động cơ chuyển giá của các doanh ngiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
a) Động cơ bên trong4
Tối đa hóa lợi nhuận: doanh nghiệp nói chung, các tập đoàn đa quốc gia nóiriêng không bao giờ từ bỏ các cơ hội, các biện pháp nhằm tối đa hóa lợi nhuận, kể cảcác hành vi chuyển giá, gian lận giá, gian lận thương mại, Chuyển giá thông qua cácgiao dịch hàng hóa, dịch vụ, vốn đầu tư qua biên giới sẽ khó bị phát hiện hơn so vớicác gian lận khác và kể cả trong trường hợp bị phát hiện thì việc xử lý cũng không hềđơn giản bởi chính phủ mỗi nước thường có thiên hướng bảo vệ doanh nghiệp củamình vì lợi ích quốc gia
Tạo hình ảnh đẹp về tình hình tài chính: Trong một số trường hợp khi cácMNC phạm phải các sai lầm trong kế hoạch kinh doanh, sai lầm trong việc nghiên cứu
và đưa sản phẩm mới vào thị trường, các chi phí quảng cáo, quảng bá sản phẩm quácao và hậu quả là tình trạng thua lỗ Vì thế, để có một hình ảnh đẹp về tình hình tàichính trước các cổ đông và các bên hữu quan khác, thì chuyển giá là một niện pháp để
có thể thực hiện được ý đồ trên Chuyển giá giúp cho các MNC chia sẻ việc thua lỗ vớicác thành viên, nhờ vậy các khoản thuế phải nộp giảm xuống và tình hình kinh doanhtrở nên sáng sủa hơn một cách giả tạo vi phạm pháp luật các quốc gia
Chiếm lĩnh thị trường: MNC sẽ đánh bật đối thủ, đối tác, đồng thời chiếmtoàn bộ quyền kiểm soát và quyền sở hữu công ty MNC thực hiện việc này bằng cáchtăng cường các hoạt động quảng cáo, quảng bá sản phẩm trong giai đoạn mới thâmnhập thị trường, làm cho MNC bị lỗ nặng và kéo dài Bằng nguồn lực tài chính dồi dàocủa mình, các MNC thực hiện hành vi chuyển giá để kéo dài tình trạng thua lỗ nhằmchiếm lấy quyền kiểm soát và quyền quản lý công ty Tồi tệ hơn là đẩy các đối tác rakhỏi hoạt động kinh doanh và chiếm toàn bộ quyền kiểm soát cũng như sở hữu công
ty Sau khi chiếm lĩnh được thị trường, các MNC thực hiện nâng giá sản phẩm để bùđắp cho phần lỗ lúc trước Tình trạng này thường thấy ở các nước đang phát triển, khi
mà trình độ quản lý còn yếu kém
b) Động cơ bên ngoài:
Sự khác biệt về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp:
4Kỷ yếu hội thảo khoa học hoạt động chuyển giá – những vấn đề lý luận, thực tiễn và biện pháp hạn chế - Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội, tháng 8/2012
Trang 22Đối với người nộp thuế và cơ quan thuế thì giá chuyển nhượng có ý nghĩa quantrọng bởi vì giá chuyển nhượng quyết định phần lớn thu nhập và chi phí dẫn đến kếtquả là giảm thu nhập chịu thuế của các doanh nghiệp liên kết Sự khác biệt trong chínhsách thuế giữa các quốc gia là cơ sở để các nhóm liên kết hoạch định về giá sao cho cóthể tối đa hóa lợi nhuận trong các công ty đa quốc gia và tối thiểu hóa thuế thu nhậpdoanh nghiệp bằng cách chuyển lợi nhuận sang các nước có thuế suất thấp hơn hoặcbằng không; trong phạm vi một quốc gia thì chuyển lợi nhuận từ các bên không đượchưởng ữu đãi sang bên được ưu đãi.
Chẳng hạn như, công ty B và C đều là công ty con của tập đoàn A Công ty B
áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 25% Công ty C kinh doanh ở địabàn kinh tế - xã hội khó khăn nên được áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanhnghiệp 10% Khi B cung cấp vật tư cho C với giá thấp hơn giá thị trường giao dịchsòng phẳng thì làm cho lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp của B giảm đi, cònlợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp của C tăng lên tương ứng Phần lợi nhuậntăng lên ở công ty C chỉ phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp với thuế suất 10% Nếubán đúng giá thị trường thì phần lợi nhuận này nằm ở công ty B và phải chịu thuế suất25% Như vậy, nếu xét riêng biệt thì công ty B thiệt, còn công ty C được lợi Nhưngxét tổng thể thì cả hai công ty này cùng được lợi về thuế
Ví dụ trên cho thấy chuyển giá xuất hiện khi có những điều kiện nhất định Đólà: (i) Sự chênh lệch về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp giữa các quốc gia khácnhau; (ii) Có quy định nhiều mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp với những đốitượng khác nhau trong một quốc gia, chẳng hạn như quy định các mức thuế suất ưu đãithấp hơn thuế suất phổ thông; (iii) Có các quy định về miễn, giảm thuế thu nhập doanhnghiệp có thời hạn
Vô hiệu hóa các qui định kiểm soát ngoại hối Nếu một quốc gia có nhữngqui định hạn chế việc chuyển lợi nhuận từ một công ty con về công ty mẹ ở nướcngoài thì có thể vượt quá rào cản này bằng cách công ty mẹ định giá cao các khoảnthanh toán thương mại như tiền bản quyền, lãi cho vay, chi phí quản lý
Với mục tiêu bảo toàn vốn ban đầu theo nguyên tệ, các MNC rút vốn đầu
tư ở quốc gia mà họ kỳ vọng vào việc đồng tiền nước đó sẽ yếu đi trong tương lai Như
Trang 23vậy, lúc này ngoài lợi nhuận thu được, các MNC còn thu được một khoản lợi nhuậnchênh lệch do sự biến động có lợi về tỷ giá.
Tránh yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa của nước nhận đầu tư, thông qua việcđịnh giá thấp nguyên liệu, vật tư nhập khẩu làm giảm tỷ lệ vật tư nguyên liệu nhậpkhẩu tăng tỷ lệ nội địa hóa
Sự thay đổi về mặt chính trị, pháp lý tại nước đầu tư nhà đầu tư sử dụngcông cụ chuyển giá để chuyển lợi ích của mình từ nơi kém an toàn về nơi an toàn
Đối phó với yêu cầu tăng lương của người lao động thông qua việc cố tìnhche giấu lợi nhuận thực của công ty
Chi phí cơ hội cũng là một động lực để các công ty đa quốc gia thực hiệnhành vi chuyển giá Các công ty đa quốc gia nhận ra rằng các khoản lợi nhuận của họchỉ có thể truyền về nước sau khi kết thúc năm tài chính và sau khi được kiểm tra của
cơ quan thuế và chịu sự kiểm soát ngoại tệ của cơ quan quản lý ngoại hối Vì vậy, các
cơ hội đầu tư có thể sẽ bị bỏ lỡ Do đó, các công ty đa quốc gia sẽ tiến hành thủ thuậtchuyển giá nhằm thu hồi nhanh vốn đầu tư và bắt lấy cơ hội đầu tư khác5
Do tình hình lạm phát của các quốc gia khác nhau, nếu quốc gia nào có tỷ
lệ lạm phát cao tức đồng tiền nước đó bị mất giá Do đó, các công công ty đa quốc gia
sẽ tiến hành hoạt động chuyển giá nhằm bảo toàn lượng vốn đầu tư và lợi nhuận6
Hoạt động liên doanh liên kết: nhằm tăng cường tỷ lệ vốn góp trong hoạtđộng liên doanh liên kết, MNC định giá thật cao các yếu tố đầu vào từ các công ty mẹ
để nắm quyền quản lý
1.2.7 Tác động của chuyển giá và sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật
a) Đối với các công ty đa quốc gia
Trang 24thì các MNC có thể thực hiện việc chuyển giá nhằm giảm thiểu việc thực hiện nghĩa
vụ về thuế đối với quốc gia mà mình đặt trụ sở
Thực hiện việc chuyển giá sẽ giúp cho các MNC dễ dàng chuyển lợi nhuận ranước ngoài và thực hiện những kế hoạch kinh doanh một cách nhanh chóng, không bỏ
lỡ các cơ hội kinh doanh trường hợp này thường được các MNC thực hiện tại cácquốc gia có chính sách tiền tệ thắt chặt
Việc chuyển giá còn giúp cho các MNC nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường nộiđịa, đánh bật và thâu tóm các công ty nhỏ lẻ trong nước dựa vào nguồn lực tài chínhdồi dào của mình Khi thực hiện xâm chiếm thị trường thì chi phí sẽ được chia sẻ chocác công ty con khác và cả công ty mẹ Vì vậy, đứng trên phương diện tài chính thì cácMNC sẽ không bị áp lực nhiều về tình trạng thua lỗ
Các MNC sẽ xây dựng một kế hoạch về thuế trên quy mô tổng thể sao cho cólợi nhất và từ đó dựa vào sự chênh lệch về mức lãi suất giữa các quốc gia để thực hiệnmua bán nội nộ, chuyển giá nếu cần thiết nhằm đạt mục tiêu về thuế
Thông qua việc bán các tài sản, thiết bị lỗi thời với giá cao thì một mặt giúp cáccông ty tại chính quốc thay đổi được công nghệ với chi phí thấp, một mặt lại thu hồivốn đầu tư nhanh tại các quốc gia tiếp nhận đầu tư
Thông qua việc mua bán qua lại thì các MNC có thể tránh được các rủi ro tronghoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm về các hoạt động này thường tốn nhiềuchi phí và khả năng thành công cũng không cao Các MNC sẽ giảm được một số rủi
ro về tỷ giá, rủi ro về thị trường tiêu thụ sản phẩm, rủi ro về tính ổn định của nhà cungcấp nguyên vật liệu và chất lượng nguyên vật liệu và một số rủi ro khác
Tác động tiêu cực: Nếu bị các quốc gia phát hiện và thực hiện các chế tài thìcác công ty đa quốc gia phải chịu một khoản phạt rất lớn, bị rút giấy phép kinh doanhtại quốc gia đó hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng trên thương trường quốc tế dẫn tới sựchú ý nhiều và chặt chẽ hơn của các cơ quan thuế ở những quốc gia mà công ty đaquốc gia đi đầu tư sau đó
b) Đối với quốc gia nhận đầu tư
Tác động tích cực
Khi có hoạt động chuyển giá ngược, do nước thu hút đầu tư có mức thuế thunhập thấp làm tăng thu nhập cho nước tiếp nhận vốn
Trang 25 Tác động tiêu cực
Thông qua hoạt động chuyển giá, các MNC định giá cao các yếu tố đầu vào từ
đó các MNC này rút ngắn thời gian thu hồi vốn, vì vậy mà các luồng vốn có xu hướngchảy ngược ra khỏi quốc gia tiếp nhận đầu tư Các hành động chuyển giá nhằm thu hồivốn nhanh hơn so với kế hoạch đầu tư ban đầu sẽ làm thay đổi cơ cấu vốn của nềnkinh tế quốc gia tiếp nhận đầu tư Hậu quả là tạo ra sự phản ánh sai lệch kết quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh của nền kinh tế, tạo ra một bức tranh kinh tế không thực
Đối với các quốc gia coi là thiên đường về thuế, họ là người được hưởng lợi từhoạt động chuyển giá trong ngắn hạn, nhưng trong dài hạn họ phải đương đầu với cáckhó khăn tài chính khi các MNC thoái vón do các thu nhập không bền vững trước đâytrong ngắn hạn không phản ánh chính xác sức mạnh của nền kinh tế
Thông qua chuyển giá nhằm xâm chiếm thị phần khi mới tham gia vào thịtrường, các MNC sẽ tiến hành các chiêu thức quảng cáo và khuyến mãi quá mức, vàhậu quả là lũng đoạn thị trường Các doanh nghiệp trong nước không đủ tiềm lực tàichính để cạnh tranh vì vậy mà dần sẽ bị phá sản hoặc buộc phải chuyển sang kinhdoanh trong các ngành khác Các MNC sẽ dần độc quyền và thao túng thị trường trongnước, kiểm soát giá cả và mất dần tính tự do cạnh tranh của thị trường tự do Chínhphủ quốc gia này sẽ gặp khó khăn trong quá trình hoạch định các chính sách kinh tế vĩ
mô và không thể thúc đẩy ngành sản xuất trong nước phát triển
Sự thua lỗ của các liên doanh- của các công ty con làm giảm sự tham gia củacác đối tác trong nước dẫn đến tình trạng mất vốn, công ty mẹ thôn tính hoàn toàn.Bằng cách đặt ra những giá giao dịch khác nhau khiến cho các liên doanh liên kết thua
lỗ, họ buộc các đối tác tham gia cùng tăng thêm vốn để bù lỗ, nếu không họ loại rabằng cách mua lại phần vốn liên doanh, liên kết với giá rẻ
Trong dài hạn, chuyển giá sẽ làm thay đổi đầu tư trong nền kinh tế quốc dân,làm giảm tính cạnh tranh của nền kinh tế, tăng sự phụ thuộc của nước tiếp nhận đầu tưvào các công ty đa quốc gia và ảnh hưởng tiêu cực đến các điều khoản thương mại vàcán cân thanh toán quốc gia So với phá giá thì khả năng thôn tính thị trường củachuyển giá thì được bộc lộ âm thầm nhưng lại có sức công phá mạnh mẽ hơn do nhữngthực thể tiến hành là những chủ thể có mối quan hệ liên kết
c) Đối với quốc gia xuất khẩu đầu tư
Tác động tích cực
Trang 26Nước xuất khẩu vốn thu được ngoại tệ nhờ đó góp phần cải thiện cán cânthương mại, cán cân thanh toán quốc tế Sự hoạt động của các công ty mẹ tốt hơn
về hình thức thì cũng tác động tốt hơn đến hiệu quả kinh tế xã hội: đóng góp nhiềuthuế hơn cho nhà nước, tác động tốt tới tăng trưởng GNP của nước xuất khẩu vốnđầu tư
Tác động tiêu cực
Nếu thuế suất ở các quốc gia tiếp nhận đầu tư thấp hơn thuế suất ở chính quốc,
sẽ làm cho các nước xuất khẩu đầu tư bị mất cân đối trong kế hoạch thuế của nước này
do việc thất thu một khoản từ thuế
Mục tiêu quản lý nền kinh tế vĩ mô ở các quốc gia này sẽ gặp một số khó khănnhất định do việc các dòng vốn đầu tư dịch chuyển không theo ý muốn quản lý củachính phủ
Tóm lại, chuyển giá là hành vi chuyển lợi ích qua giá của các thành viên liên
kết có khả năng tác động làm giảm nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước nhưng lại làmtăng lợi ích trong tổng thể từ đó tác động tiêu cực đến nền kinh tế và làm bất thườngcác quan hệ kinh tế lành mạnh Chính những hành vi bất thường này đòi hỏi các nhànước cần phải áp dụng pháp luật kiểm soát chuyển giá trong thực tiễn quản lý thuế thunhập doanh nghiệp
1.3.Một số vấn đề lý luận về kiểm soát hoạt động chuyển giá
1.3.1 Khái niệm
Kiểm soát chuyển giá là việc điều chỉnh giá giao dịch giữa các bên liên kếtnhằm kiểm soát và duy trì trật tự xã hội bình đẳng trong quá trình phân phối lợi íchqua giá, bảo đảm giao dịch liên kết phù hợp với giá thị trường và đảm bảo quyền thuthuế của Nhà nước
1.3.2 Thiết lập nguyên tắc giá thị trường để xác định thuế thu nhập doanh nghiệp
Theo Mẫu Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuếcủa OECD (The OECD Model Tax Convention) tại điều 9 có qui định “Khi điều kiệnđược đưa ra hoặc áp đặt giữa hai xí nghiệp có liên kết trong mối quan hệ thương mạihoặc tài chính khác với những điều kiện được đưa ra giữa các xí nghiệp độc lập, lúc đómọi khoản lợi tức mà một xí nghiệp có thể thu được nếu có những điều kiện trênnhưng nay vì những điều kiện này mà xí nghiệp đó không thu được, sẽ bị tính vào
Trang 27Nguyên tắc giá thị trường là nguyên tắc xác định giá giao dịch liên kết tươngđương với mức giá nếu giao dịch đó được tiến hành theo thỏa thuận khách quan giữacác bên không có quan hệ liên kết.
Nhiều quốc gia thừa nhận nguyên tắc giá thị trường do nguyên tắc này đảm bảotính công bằng trong việc xử lý thuế đối với các công ty đa quốc gia Nguyên tắc giáthị trường đặt các công ty liên kết và các công ty độc lập trên cơ sở quan hệ bình đẳnghơn cho mục đích thuế, ngăn ngừa việc tạo ra các thuận lợi hơn hay bất lợi về thuế
Hầu hết các nước phát triển đều có các điều luật qui định xác định giao dịchgiữa các bên liên kết đều phải trên cơ sở nguyên tắc giá thị trường như Mỹ, Đức, Anh,Pháp, Canada, Ở Châu Á, một số nước có qui định trong luật như Nhật, Trung Quốc,hàn Quốc, Ấn Độ, Malaysia, Việt Nam,
1.3.3 Các phương pháp định giá chuyển giao8
a) Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập (Comparable Uncontrolled CUP):
Price-Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập là phương pháp so sánh giữa mứcgiá trong các giao dịch liên kết và mức giá được sử dụng trong các giao dịch độc lậptrong các điều kiện tương đương có thể so sánh Nếu có sự khác biệt trong hai mức giátrên thì có thể cho thấy mối quan hệ thương mại hay tài chính của hai bên liên kếtkhông theo nguyên tắc thị trường
Trong trường hợp này, giá của giao dịch độc lập sẽ được sử dụng để thay thếcho giá giao dịch giữa các bên liên kết
Không có sự khác biệt giữa các giao dịch được so sánh hoặc giữa cácdoanh nghiệp thực hiện các giao dịch đó gây ảnh hưởng trọng yếu đến tỷsuất lợi nhuận trên giá bán
Trường hợp có các khác biệt ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất lợi nhuậngộp trên giá bán nhưng các khác biệt này đã loại trừ
Ưu điểm: Một khi có thể xác định được giao dịch độc lập để so sánh (thỏamãn một trong hai điều kiện trên) thì phương pháp CUP được xem là phương pháptrực tiếp và tin cậy nhất khi áp dụng nguyên tắc giá thị trường Vì vậy phương phápCUP được coi là phương pháp thích hợp hơn các phương pháp khác
8Kỷ yếu hội thảo khoa học hoạt động chuyển giá – những vấn đề lý luận, thực tiễn và biện pháp hạn chế - Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội, tháng 8/2012
Trang 28 Nhược điểm: Trong thực tế, rất khó có thể tìm kiếm các giao dịch độc lập
có điều kiện hoàn toàn tương đồng với giao dịch cần so sánh mà không có sự khác biệtảnh hưởng trọng yếu đến giá của giao dịch Vì vậy cần có sự điều chỉnh các yếu tốkhác nhau trước khi xác định giá thị trường Các điều chỉnh có thể thực hiện để loại trừ
sự khác nhau về điều kiện giao dịch, khối lượng sản phẩm giao dịch và thời điểm diễn
ra giao dịch; trong khi đó, các khác biệt về chất lượng sản phẩm, về vị trí địa lý của thịtrường, cấp độ thị trường, số lượng và loại tài sản vô hình liên quan đến giao dịch khókhông thể thực hiện điều chỉnh được
b) Phương pháp giá bán lại (Resale Price Method – RPM)
Phương pháp xác định giá bán lại dựa vào giá bán lại (hay giá bán ra) của sảnphẩm do cơ sở kinh doanh bán cho bên độc lập để xác định giá (chi phí) mua vào củasản phẩm đó từ bên liên kết Giá mua vào từ một giao dịch liên kết được xác định trên
cơ sở giá của sản phẩm bán ra trong giao dịch độc lập – lợi nhuận gộp – chi phí khác
có liên quan đến việc mua sản phẩm như chi phí vận chuyển, thuế, phí, (nếu có) Lợinhuận gộp được tính theo tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá bán ra (doanh thu thuần) vàgiá bán ra (doanh thu thuần), phản ánh giá trị doanh nghiệp thu được để bù đắp chi phíhoạt động kinh doanh và có mức lãi hợp lý
Tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá bán ra (doanh thu thuần) được xác định bằng giátrị chênh lệch giữa giá bán ra (doanh thu thuần) và giá vốn sản phẩm mua vào chia chogiá bán ra (doanh thu thuần)
Một giao dịch độc lập được sử dụng để so sánh khi áp dụng phương pháp nàykhi thỏa mãn một trong hai điều kiện:
Không có sự khác biệt giữa các giao dịch được so sánh hoặc giữa các doanhnghiệp thực hiện các giao dịch đó gây ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất lợi nhuận trêngiá bán
Trường hợp có các khác biệt ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất lợi nhuận gộptrên giá bán nhưng các khác biệt này đã loại trừ
Ưu điểm: So với phương pháp CUP, khi thực hiện phân tích so sánh vớigiao dịch độc lập cần ít hơn để loại bỏ sự khác biệt của sản phẩm, bởi vì một sự khácbiệt nhỏ của sản phẩm ít có ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất lợi nhuận gộp hơn so vớimức độ ảnh hưởng giá sản phẩm Khi áp dụng phương pháp RPM, việc phân tích sosánh chú trọng đến sự khác biệt về chức năng hoạt động, tài sản sử dụng và rủi ro gánh
Trang 29 Nhược điểm: Tuy nhiên phương pháp này có thể không phù hợp trongtrường hợp giá bán sản phẩm được cộng thêm một giá trị đáng kể, đặc biệt là các giátrị vô hình độc nhất bởi vì thường rất khó tìm được những người bán khác để thiết lập
tỷ lệ lợi nhuận gộp phù hợp
c) Phương pháp giá vốn cộng lãi (Cost Plus Method-CPM)
Theo phương pháp này, giá thị trường được xác định bằng chi phí phát sinh củanhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ trong giao dịch liên kết với bên liên kết cộng với mứclợi nhuận thích hợp Giá bán ra của sản phẩm = giá vốn (hoặc giá thành) + lợi nhuậngộp Lợi nhuận gộp được tính theo tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá vốn ( hoặc giá thành)sản phẩm bán ra và giá vốn ( hoặc giá thành) sản phẩm bán ra, phản ánh mức lợi nhuậnhợp lý tương ứng với chức năng hoạt động của doanh nghiệp và điều kiện thị trường
Tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá vốn (hoặc giá thành) được xác định bằng giá trị chênhlệch giữa doanh thu thuần và giá vốn (hoặc giá thành) sản phẩm chia cho giá vốn (hoặcgiá thành) Giá vốn (hoặc giá thành) sản phẩm bán ra bao gồm chi phí sản xuất trựctiếp, gián tiếp
Phương pháp này được áp dụng phù hợp cho các hoạt động mua bán thànhphẩm (semi-finished products), hoạt động cung cấp dịch vụ cho các bên liên kết, hoặckhi các bên ràng buộc, liên kết với nhau bởi các thỏa thuận mua bán dài hạn
Một giao dịch độc lập được sử dụng để so sánh khi áp dụng phương pháp nàythỏa mãn một trong hai điều kiện:
Không có sự khác biệt giữa các giao dịch được so sánh hoặc giữa các doanhnghiệp thực hiện các giao dịch đó gây ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất lợi nhuận gộptrên giá vốn
Trường hợp có sự khác biệt ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất lợi nhuận gộp trêngiá vốn nhưng các khác biệt này đã được loại trừ
Ưu điểm:
Tương tự như phương pháp giá bán lại, khi thực hiện phân tích so sánh với giaodịch độc lập cần ít hơn sự điều chỉnh liên quan đến sự khác biệt của sản phẩm, việcphân tích so sánh chú trọng đến sự khác biệt về chức năng hoạt động, tài sản sử dụng
và rủi ro gánh chịu
Một điểm thuận lợi của phương pháp này là khi xác định tỷ suất lợi nhuận đểcộng vào giá vốn trong trường hợp phải có sự tương đương của hàng hóa p sản xuấttheo hợp đồng thì điều quan trọng là hình thức của các giao dịch có thể so sánh đượckhông cần phải có sự tương đương của hàng hóa chuyển dịch
Trang 30 Nhược điểm: Một số khó khăn khi áp dụng phương pháp này:
Vấn đề xác định tỷ suất lợi nhuận có thể so sánh và giá vốn có thể so sánhđược Ví dụ như trường hợp nhà sản xuất thuê tài sản, máy móc để hoạt động thì giávốn của nhà cung cấp này không thể so sánh với giao dịch của nhà cung cấp sử dụngtài sản, máy móc do bản thân công ty trang bị (đoạn 2.37, OECD Guidelines) chuyểnsang chú dẫn; hay trong trường hợp doanh nghiệp thực hiện sản xuất theo hợp đồngvới một bên liên kết dành hết công suất oạt động của doanh nghiệp cho hợp đồngnày, thì khi sử dụng hết công suất bên liên kết sẽ phải chịu toàn bộ chi phí này dù họ
có sử dụng hay không
Cũng tương tự như phương pháp giá bán lại, phương pháp giá vốn cộng lãi dựavào việc so sánh giữa tỷ suất lợi nhuận cộng vào giá vốn của giao dịch liên kết với tỷsuất lợi nhuận cộng vào giá vốn của giao dịch độc lập so sánh; và sự khác biệt giữa cácgiao dịch độc lập và giao dịch liên kết ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất này cần phảiđiều chỉnh Các khác biệt cần xem xét là mức độ và loại chi phí – chi phí hoạt động,chi phí gián tiếp, chi phí tài chính- liên quan đến các chức năng thực hiện, rủi ro gánhchịu bởi các bên hoặc của các giao dịch được so sánh
Tính nhất quán trong hạch toán kế toán Trường hợp có sử dụng khác nhau vềhạch toán kế toán giữa giao dịch độc lập và giao dịch liên kết, cần có sự điều chỉnh dữliệu thích hợp đảm bảo các chi phí cùng loại được sử dụng để so sánh
Chi phí công ty được phân làm 3 loại: chi phí sản xuất trực tiếp, chi phí sảnxuất gián tiếp, và chi phí hoạt động Phương pháp giá vốn cộng lãi sử dụng tỷ suất lợinhuận được tính sau khi trừ chi phí sản xuất trực tiếp và chi phí sản xuất gián tiếp(khác với phương pháp lợi nhuận thuần sử dụng tỷ suất lợi nhuận trừ đi chi phí hoạtđộng) Thực tế việc phân loại chi phí như nêu trên có thể khác nhau giữa các quốc gia,
do đó khi áp dụng phương pháp giá vốn cộng lãi cần lưu ý xem xét các trường hợpmột số khoản chi phí có thể được xem là chi phí hoạt động
d) Phương pháp lợi nhuận thuần (Transactional Net Margin Method)
Phương pháp này xem xét lợi nhuận thuần (trên chi phí, trên doanh thu hoặc trêntài sản) từ các giao dịch liên kết có phải là lợi nhuận đạt được theo nguyên tắc thịtrường hay không bằng cách dựa vào tỷ suất sinh lời của sản phẩm trong các giao dịchđộc lập được chọn để so sánh làm cơ sở xác định tỷ suất sinh lời của sản phẩm trong
Trang 31 Ưu điểm:
Sự khác nhau của các giao dịch ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận thuần ít hơn sovới giá So với tỷ lệ lợi nhuận gộp, tỷ suất lợi nhuận thuần có thể dung hòa hơn trongmột số khác biệt về chức năng giữa giao dịch độc lập và giao dịch liên kết Các doanhnghiệp có thể có sự khác biệt về tỷ suất lợi nhuận gộp tùy thuộc qui mô, chức năng,nhưng vẫn có thể đạt được mức tỷ suất lợi nhuận thuần tương đương
Phương pháp này được sử dụng rộng rãi một phần là do sự hạn chế về dữ liệucác giao dịch độc lập có thể so sánh được hoặc các dữ liệu về tỷ suất lợi nhuận gộpdùng để áp dụng các phương pháp truyền thống Trong trường hợp các thông tin tàichính được công khai thì thường chỉ có chỉ tiêu lợi nhuận hoạt động là hữu ịch choviệc so sánh giữ công ty này và công ty kia
Nhược điểm:
Tỷ suất lợi nhuận thuần có thể bị ảnh hưởng bởi một số các yếu tố mà các yếu
tố này không ảnh hưởng, hoặc có ảnh hưởng không đáng kể, đến giá giao dịch hoặc tỷsuất lợi nhuận gộp của giao dịch, như khu vực kinh tế, khu vực địa lý khác nhau, thịtrường khác nhau, sự khác nhau về qui mô: doanh số, tài sản, khả năng cạnh tranh Điều này làm cho việc xác định tỷ suất lợi nhuận thuần theo nguyên tắc thị trường đảmbảo tin cậy được trở nên khó khăn, cần có hướng dẫn chi tiết về các tiêu chuẩn sosánh
Việc áp dụng các phương pháp xác định giá thị trường yêu cầu dữ liệu thông tincủa giao dịch độc lập mà các thông tin này có thể không có sẵn tại thời điểm diễn racủa giao dịch liên kết cần so sánh
e) Phương pháp tách lợi nhuận (Profit Split Method-PSM)
Khi các giao dịch liên kết có quan hệ tương hỗ với nhau, doanh nghiệp sẽ rất khóđánh giá mỗi giao dịch một cách độc lập Tương tự như vậy, các thành viên trong tậpđoàn có thể quyết định thành lập một hình thức hợp danh (partnership) và thống nhấtchia sẻ lợi nhuận Do đó, phương pháp tách lợi nhuận này nhằm hướng tới việc loại trừtác động của những điều kiện đặc biệt lên lợi nhuận của giao dịch liên kết bằng cáchxác định mức chia lợi nhuận mà các thành viên lẽ ra sẽ được nhận khi thực hiện nhữnggiao dịch trên
Phương pháp trách lợi nhuận trước tiên nhận diện lợi nhuận được tách cho các bênliên kết trong giao dịch, sau đó, tách lợi nhuận đó cho các bên liên kết căn cứ trên các
Trang 32cơ sở kinh tế học mà các bên liên kết dự định sẽ đạt được trong một hợp đồng tương tựgiá thị trường Tổng lợi nhuận được nhận diện ban đầu có thể là lợi nhuận tổng cộngcác giao dịch hoặc lợi nhuận còn lại sau khi loại trừ phần lợi nhuận không thể chia chobất cứ liên kết nào như lợi nhuận xuất phát từ những giá trị vô hình Mức đóng gópcủa mỗi bên liên kết trong giao dịch được xác định căn cứ theo chức năng hoạt độngcủa từng bên.
Ưu điểm:
Không cần thiết căn cứ trực tiếp vào các giao dịch so sánh, có thể áp dụng trongcác trường hợp giao dịch so sánh giữa các doanh nghiệp độc lập không xác định được.Việc phân bổ lợi nhuận dựa trên sự phân chia chwusc năng giữa bản thân các doanhnghiệp liên kết
Một ưu điểm của phương pháp này là không còn bên nào trong một giao dịchliên kết có kết quả lợi nhuận vượt trội vì cả hai bên giao dịch liên kết đều được đánhgiá và phân bổ lợi nhuận Điều này có ý nghĩa quan trọng khi phân tích các đóng gópcủa các bên về tài sản vô hình được sử dụng trong các giao dịch liên kết
Nhược điểm:
Các dữ liệu bên ngoài được dùng xem xét đánh giá mức đóng góp của mỗidoanh nghiệp liên kết trong các giao dịch liên kết ít liên quan trực tiếp đến các giaodịch này hơn so với các phương pháp khác
Một số nhược điểm khác như cơ quan thuế hay doanh nghiệp khó có thể thuthập, xử lý thông tin từ bên liên kết ở nước ngoài; các doanh nghiệp độc lập thường ít
sử dụng phương pháp tách lợi nhuận để xác định giá giao dịch, các khó khăn trongviệc tổng hợp doanh thu, chi phí của tất cả các bên liên kết tham gia vào giao dịch doyêu cầu về sổ sách, chứng từ trên căn bản chung và thực hiện các điều chỉnh các khácbiệt trong hạch toán kế toán và điều chỉnh tiền tệ
Như vậy, có các phương pháp định giá chuyển giao khác nhau, tùy điều kiện cụthể mà có thể áp dụng một trong 5 phương pháp nói trên Về phía cơ quan thuế cần thuthập và có được các dữ liệu thông tin trong và ngoài nước để xác định xem các doanhnghiệp liên kết giao dịch với nhau có theo giá thị trường hay không? Chi phí có đầy đủthông tin thì cơ quan thuế mới có đầy đủ căn cứ chứng minh sự bất hợp lý về giá củacác doanh nghiệp liên kết Trên thực tế, đối với các nước đang phát triển thì vấn đề thu
Trang 33việc áp dụng 5 phương pháp nói trên gặp không ít khó khăn Trong cuốn Cẩm nanghướng dẫn về định giá chuyển giao của các công ty đa quốc gia có đưa ra một biệnpháp mang tính chất bổ trợ về mặt quản lý, đó là thỏa thuận trước về xác định giá(Advance Pricing Agreement – APA) APA là một dạng cam kết mang tính pháp lýgiữa cơ quan thuế và người nộp thuế được xây dựng trước khi có giao dịch liên kết.Theo đó, các yếu tố để xác định giá giá chuyển giao như phương pháp tính giá, các yếu
tố so sánh, điều chỉnh hay các giả định liên quan đến mức thay đổi về giá trong tươnglai được thảo thuận trước và sẽ có hiệu lực áp dụng khi các giao dịch liên kết diễn ratrong một thời kỳ nhất định Thỏa thuận trước về định giá trong chống chuyển giá là
cơ chế phổ biến được nhiều nước áp dụng như các nước thành viên OCED (Tổ chứcHợp tác và Phát triển Kinh tế) và các nước trong khu vực như Trung Quốc, Hàn Quốc,Malaysia, Thái Lan, So với việc kiểm tra, thanh tra chống chuyển giá (ít nhiều mangtính đối kháng) thì việc áp dụng APA sẽ đạt hiệu quả do các bên cùng hợp tác để đạtthỏa thuận chung
1.4 Hoạt động kiểm soát chuyển giá của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Trong một thế giới toàn cầu hóa, quốc tế hóa, chuyển giá là một xu hướng tấtyếu, tác động tới mọi nền kinh tế Kiểm soát chuyển giá ngày càng trở thành vẫn đềquan trọng trong chính sách thuế của các quốc gia Đến nay, hầu hết các nước pháttriển như Canada, Mexico, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Đức, Australia, Mỹ, Nhật Bản,Trung Quốc, đã xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật vầ chống chuyển giá.Hiện nay, trên thế giới có hai hệ thống quan điểm chủ yếu về chuyển giá là của
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và của Mỹ Hai hệ thống này tương tựnhư nhau ở những nội dung chính như khái niệm, phương pháp xác định giá, yêu cầu
về thông tin, chứng từ lưu giữ của đối tượng nộp thuế Mỹ có xu hướng sáng tạo racác phương pháp xác định giá mới, đưa ra hướng dẫn riêng cho hàng hóa hữu hình và
vô hình bởi Mỹ là nước tiên phong trong phát triển sản phẩm sở hữu trí tuệ Tuy nhiên,hầu hết các nước hiện nay đều thừa nhận quan điểm của OECD trong xử lý về giáchuyển giao vì nó có tính trung lập và tương đồng trong khả năng quản lý
Trang 341.4.1 Kinh nghiệm của Mỹ
Hoạt động chống chuyển giá không còn xa lạ với các quốc gia, ể cả quốc gia có
hệ thống pháp luật chặt chẽ như Mỹ Theo khảo sát gần đây của cơ quan thuế nội địa
Mỹ, hầu hết các công ty nước ngoài đang hoạt động kinh doanh tại Mỹ đều không nạpthuế thu nhập liên bang Từ năm 1998 tới 2005, khoảng 2/3 các công ty Mỹ và khoảng68% các công ty nước ngoài hoạt động kinh doanh tại Mỹ cũng trốn thuế TNDN Tổngdoanh thu của các công ty này lên tới hàng nghìn tỷ đô la, nhưng nhờ việc chuyển cáckhoản lợi nhuận quan trọng ra nước ngoài nên đã tránh được một khoản tiền thuế lêntới 8 tỷ đô la mỗi năm Trong đó, các ngành kỹ thuật công nghệ cao và dược phẩmđang chuyển lợi nhuận ra nước ngoài thông qua những điều khoản liên quan đến việcđịnh giá chuyển giao các tài sản vô hình cho các bên liên quan Nhưng các công ty nàycho hay việc định thuế TNDN 40% của Mỹ là quá cao và chính phủ không đánh giáhết được các chi phí mà họ phải bỏ ra cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Trước sự gia tăng ngày càng mạnh mẽ của hành vi chuyển giá, gây thất thu mộtlượng lớn số thuế TNDN cho ngân sách liên bang, cơ quan thuế của Mỹ đã ban hànhcác đạo luật, quy định về chống chuyển giá Một trong những đạo luật cơ bản và đầy
đủ nhất là IRS sec 482 Đạo luật này quy định cơ sở thực hiện định giá chuyển giáchuyển giao là giá thị trường, đồng thời cũng quy định phần thu nhập được tạo ra trênlãnh thổ Mỹ thì phải nộp thuế thu nhập cho dù công ty ấy có thuộc quyền sở hữu của
Mỹ hay không Cùng với IRS Sec 482, cơ quan của Mỹ cũng ban hành thêm IRS Sec
6662 với những quy định chặt chẽ về chống chuyển giá và các chế tài nghiêm khắc đốivới các công ty thực hiện hành vi này Năm 2009, cơ quan thuế của Mỹ đã tuyển thêm1.200 nhân viên và năm 2010 là 800 người để thực hiện việc rà soát, giám sát giáchuyển nhượng Công tác kiểm toán chuyển giá cũng được thực hiện trong 5 nhómngành chính của Mỹ: thông tin liên lạc, công nghệ và truyền thông, nhóm ngành bán
lẻ, thực phẩm, dược và nhám ngành công nghiệp chăm sóc sức khỏe
1.4.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Năm 2010, Trung Quốc đã chính thức vượt qua Nhật Bản, trở thành nền kinh tếlớn thứ hai thế giới Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Trung Quốc trong thời giangần đây đã tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh có lợi nhuận và kết quả là dòng vốn đầu tưnước ngoài ồ ạt đổ vào quốc gia này Năm 1980, FDI của Trung Quốc chỉ đạt được 57triệu USD thì đến năm 1995 đã đạt được 35,8 tỷ USD (UNCTAD, 2003) Năm 2009,
Trang 35trong cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính lan rộng làm vốn FDI toàn thế giới giảm gần40%, nền kinh tế Trung Quốc vẫn giữ được vị trí thứ hai về thu hút vốn FDI với tổngvốn là 90 tỷ USD Đây thực sự là một thị trường đầy tiềm năng về nguồn lực cũng nhưthị trường tiêu thụ rộng lớn.
Tuy nhiên, hoạt động chuyển giá lại diễn ra khá mạnh mẽ tại quốc gia này Theocông bố chính thức của cơ quan thuế Trung Quốc, năm 2005, nước này có khoảng240.000 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì có tới 55% số doanh nghiệp tuyên
bố thua lỗ trong khi vẫn tiến hành mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh tại đây Mộtcuộc khảo sát khác năm 2007 của Cục thống kê Trung Quốc và đã sử dụng chuyển giá
để trốn thuế Các hành động làm thất thu cho ngành thuế khoảng 30 tỷ nhân dân tệ (3,6
tỷ USD) mỗi năm
Thực trạng trên khiến chính phủ phải chú trọng nhiều hơn tới các biện phápchống chuyển giá Năm 2008, các doanh nghiệp trong và ngoài nước của Trung Quốcđược áp dụng hai loại thuế suất thu nhập khác nhau, và điều này mang lại chênh lệchthuế suất gần 10 % cho các doanh nghiệp nên rất được ưa chuộng Tuy nhiên, thuếTNDN có hiệu lực từ ngày 01/01/2008 đã quy định một mức thuế duất thống nhất là25% cho tất cả các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, đồng thời nó cũng chútrọng đáng kể và định giá chuyển giao, khuyến khích các giám sát chặt chẽ hơn cácgiao dịch của các bên liên kết Pháp luật điều chỉnh chuyển giá hiện nay Trung Quốc
áp dụng các quy định chủ yếu theo các luật sau: Luật Thuế TNDN (2007); Thực hiệnQuy phạm pháp luật thuế TNDN (2007); thông tư Guoshuifa số 2 (2009)
Mục đích của thuế TNDN là để mang lại nhiều quy định về giá chuyển giao choTrung Quốc phù hợp với các quy tắc áp dụng trong các nền kinh tế phát triển khác trênthế giới Nó cung cấp cho SAT cơ sở để điều chỉnh thu nhập chịu thuế của người nộpthuế khi họ thực hiện các giao dịch với các bên liên kết chưa đúng theo hướng dẫn của
“nguyên tắc ALP” Luật thuế này cũng yêu cầu những người nộp thuế có liên quan đếngiao dịch với các bên liên kết phải gửi tài liệu trình bày rõ về giao dịch với bên liên kết
đó cùng với tờ khai thuế hàng năm của họ Người nộp thuế cũng được yêu cầu nộp cáctài liệu liên quan về giao dịch với các bên liên kết như giá cả, tiêu chuẩn xác định chiphí, phương pháp tính toán và giải thích khi được kiểm toán Cụ thể Luật thuế TNDNquy định như sau: các doanh nghiệp có các giao dịch tài sản hữu hình liên quan đếncác bên liên kết có giá trị hằng năm trên 200 triệu Nhân Dân Tệ hoặc có giao dịch giữacác bên liên kết trên 40 triệu Nhân dân Tệ phải chuẩn bị tài liệu đồng thời giải thích rõ
Trang 36Các quy định chống chuyển giá của Trung Quốc cũng xây dựng dựa trên cơ sởhướng dẫn của OECD, tuy nhiên luật chống chuyển giá của Trung Quốc có một sốđiểm khác cơ bản so với luật chống chuyển giá của Mỹ như sau:
Nghĩa vụ nộp thuế ở Trung Quốc không được hợp nhất, nếu một tập đoànkinh tế có các chi nhánh tại các tỉnh thành khác nhu của Trung Quốc sẽ chịu thanh tra
về thuế
Chống chuyển giá nhiều lần
Một điểm khác nữa là, khi cơ quan thuế của tỉnh này chấp nhận một vấn đềnào đó về thuế thì chưa chắc cơ quan địa phương khác chấp nhận Điều này khác hoàntoàn nếu các tập đoàn kinh tế có nhiều chi nhánh tại Mỹ, các vấn đề thuế được cơ quanthuế tiểu bang chấp nhạn thì xem như là được chấp nhận tại các tiểu bang khác
Nếu bị xác định là có hành vi chuyển giá tại công ty, thì các điều chỉnh vềđịnh giá chuyển giao do cơ quan thuế Trung Quốc đưa ra sẽ được áp đặt cho tất cả cácloại thuế có liên quan như: thuế TNDN, thuế GTGT, thuế xuất khẩu, nhập khẩu, Trong khi tại Mỹ chỉ áp đặt tính lại thuế TNDN mà thôi
Tại Mỹ, các chỉ số về mức nâng giá hợp lý do cơ quan thuế lập trên cácnguồn thông tin đại chúng và mọi người đều biết Nhưng tại Trung Quốc thì cơ quanthuế Trung Quốc xây dựng các nguồn dữ liệu từ việc so sánh bí mật
Trung Quốc đồng thời cũng đưa ra các biện pháp xử phạt cụ thể đối với hành vichuyển giá Điều 60-73 của Lật quản lý thuế quy định rằng hành vi vi phạm pháp luật
có thể bị phạt tiền, và những vi phạm nghiêm trọng như trốn thuế, gian lận thuế có thể
bị truy cứu trách nhiệm hình sự Luật thuế TNDN Trung Quốc cũng nêu rõ, từ saungày 1 tháng 1 năm 2008 các khoản thuế bị trả thiếu liên quan đến giao dịch giữa cácbên liên kết sẽ phải chịu một khoản lãi phí Khoản lãi suất này được tính bằng lãi suấtnày đươc tính bằng lãi suất cho vay cơ bản Nhân dân tệ của Ngân hàng Nhân DânTrung Quốc cùng kỳ cộng 5% phí Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp cung cấp được các tàiliệu và thông tin liên quan khác theo quy định này thì 5% phí tăng thêm này có thểđược giảm bớt hoặc loại bỏ hoàn toàn
Trung Quốc cũng đã nới lỏng các quy định để tham gia vào các thỏa thuận giátrước Do đó, các doanh nghiệp sẽ được tham gia nhiều hơn Để hội đủ điều kiện để trởthành ứng viên cho APA các công ty phải có tổng giá trị các giao dịch hằng năm vớicác bên liên quan lớn hơn 40 triệu Nhân Dân Tệ, đã chuẩn bị hoặc đã nộp hồ sơ hàngnăm và nộp hồ sơ tài liệu đương thời theo quy định của pháp luật Đồng thời công ty
sẽ không tốn lệ phí khi nộp đơn cho APA
Trang 37Trong năm 2009, cơ quan Thuế Trung Quốc đã đặc biệt tập trung vào các chủthể, công ty có giao dịch với các khu vực có luật thuế thấp hoặc có giao dịch với cácthiên đường thuế Ngoài ra, các phòng thuế tại các thành phố thuộc Bắc Kinh vàThượng Hải và các tỉnh ven biển cũng đã rất tích cực trong việc thực hiện hoạt độngkiểm toán giá chuyển nhượng, các giao dịch liên quan đến tiền bản quyền và phí dịch
vị lao động cũng được kiểm soát chặt chẽ (kết quả khảo sát chuyển giá toàn cầu, Ernst
&Young, 2009) Cũng theo nguồn này công bố, trong những năm qua, cơ quan thuế đãtập trung vào các ngành may mặc, điện tử và viễn thông, thực phẩm và nước giải khát,bán lẻ, công nghiệp, oto, dược phẩm, và các ngành công nghiệp dịch vụ, cũng như vềcác vấn đề tài chính liên quan đến xây dựng cơ sở hạ tầng và các công ty có vốn đầu tư
ra nước ngoài
Hiện nay, các phòng thuế cũng tăng cường các công cụ như công nghệ thông tin
và cơ sở dữ liệu để hỗ trợ cho công tác chống tránh thuế Phòng thuế cũng đang giatăng huấn luyện cho các chuyên gia chống trốn thuế bao gồm cả đào tạo ngắn hạn vàdài hạn, cả đào tạo trong nước và đào tạo nước ngoài Ngoài ra, các cơ sở thuế cũng đãtuyển dụng thêm sinh viên tốt nghiệp đại học các ngành liên quan để bổ sung thêm vàolực lượng chống trốn thuế
1.4.3 Kinh nghiệm của ASEAN
a) Malaysia
Phương thức áp dụng: dựa trên kinh nghiệm thực tế, các phương pháp củaOECD được chấp nhận sử dụng: phương pháp so sánh giá thị trường tự do, phươngpháp dựa vào giá bán ra, phương pháp cộng chi phí vào giá vốn, phương pháp phânchia lợi nhuận, phương pháp lợi tức thuần từ giao dịch
Hình thức phạt: không có quy định riêng biệt, áp dụng quy định xử phạt viphạm thuế chung trong luật Mức phạt dao động từ 100-300% số thuế bị phát hiện gianlận
b) Indonesia
Phương pháp áp dụng: phương pháp so sánh giá thị trường tự do, phươngpháp dựa vào giá bán ra, phương pháp cộng chi phí vào giá vốn và các phương phápkhác do OECD hướng dẫn (thông thường là biện pháp dựa trên lợi nhuận)
Hình thức xử phạt: mức phạt từ 2-48% một tháng tính trên số thuế nộp thiếu
bị phát hiện do gian lận qua chuyển giá
Trang 38c) Thái Lan
Để đối phó với hiện tượng chuyển giá, năm 2004, Thái Lan thiết lập cơ sở dữ liệuthông tin về các công ty đang là mục tiêu để tiến hành kiểm tra sổ sách và điều tra – cụthể là các công ty có các chỉ số “rủi ro cao”, như là thua lỗ liên tục hơn 2 năm; tổng sốlợi nhuận âm; không nộp thuế trong một giai đoạn; có các giao dịch dáng kể của cùngnhóm liên quan; và khả năng sinh lãi thấp so với các đối thủ cạnh tranh
Cơ quan thuế của Thái lan tập trung vào các chứng cứ giá cả chính xác, tất cả cầnhợp lý để chứng tỏ sự minh bạch, tài liệu cập nhật để chỉ ra cơ cấu và mối liên hệ củanhóm các công ty, bao gồm tính chất của mỗi một kinh doanh, ngân sách của nó, kếhoạch kinh doanh và các chiến lược tài chính Cùng với đó là tài liệu giải thích doanh
số của công ty, kết quả hoạt động, các giao dịch quốc tế của công ty với các tổ chứckinh doanh liên kết
Các chính sách giá, khả năng sinh lãi của mỗi một sản phẩm và thông tin thịtrường, sự đóng góp lợi nhuận của mỗi bên nhận các chức năng thực hiện, các tài sảnsản đã sử dụng, và sự rủi ra tất cả được đua vào tính toán và có khả năng sử dụng choviệc khảo sát tường tận
1.4.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Thông qua kinh nghiệm kiểm soát giá của Mỹ, Trung Quốc, một số quốc giathành viên ASEAN và từ hoạt động chuyển giá của một số công ty lớn trên thế giới,chúng ta có thể rút ra một vài kinh nghiệm kiểm soát chuyển giá có thể áp dụng choViệt Nam như sau:
Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về kinh tế nói chung, pháp luật về
kiểm soát chuyển giá nói riêng nhằm sẵn sàng cho việc tiếp nhận vốn đầu tư nướcngoài phục vụ cho sự phát triển kinh tế Hành lang pháp lý được xây dựng phải đảmbảo bắt kịp với sự phát triển kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế phát triển,đồng thời phải ngăn chặn một cách có hiêu quả các hành vi gian lận kinh tế
Thứ hai, xây dựng các chính sách thuế phù hợp với tình hình trong nước đồng
thời đáp ứng với yêu cầu của hội nhập và xu thế chung của khu vực và thế giới (xuhướng của các nước châu Á – Thái Bình Dương những năm gần đây là giảm mức thuếsuất thuế TNDN) Chính sách thuế được xây dựng phải đảm bảo mục tiêu công bằng
về quyền lợi và nghĩa vụ thuế giữa các thành phần kinh tế, tạo nguồn thu cho ngân
Trang 39Thứ ba, bên cạnh tăng cường thu hút vốn FDI, cần nâng cao tính hiệu quả của
quá trình thẩm định dự án Nếu công tác thẩm định dự án đầu tư được thực hiện tốt cóthể phát hiện kịp thời hành vi chuyển giá qua việc nâng giá trị vốn góp của các MNC
Thứ tư, chuẩn bị nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu quản lý nguồn vốn đầu
tư nước ngoài Đội ngũ cán bộ này cần thường xuyên cập nhập kiến thức về kinh tế,kinh nghiệm quản lý và kiểm soát hoạt động chuyển giá của các MNC trên thế giới
Thứ năm, phải nghiên cứu và tìm hiểu lịch sử phát triển kinh tế của các quốc gia
phát triển đi trước cũng như các quốc gia trong khu vực có những nét tương đồng vềkinh tế Chúng ta phải tiếp thu những kinh nghiệm quý báu và những thành công kinh
tế mà các quốc gia này đạt được để áp dụng vào kinh tế Việt Nam giúp cho kinh tếViệt Nam phát triển nhanh và đón đầu kinh tế thế giới Nhưng đồng thời tránh nhữngsai lầm mà các quốc gia đã vấp phải để rút ngắn thời gian phát triển kinh tế Cụ thểnhư sau:
Kinh nghiệm của Mỹ cho thấy, để phát hiện và xử lý các hiện tượng chuyển giácủa các MNC thì vấn đề quan trọng là sự phối kết hợp giữa các cơ quan như cơ quanthuế, hải quan, kiểm toán,
Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc cho thấy, để hạn chế những thiệt hại do quychế “kinh tế phi thị trường” mang lại trong quá trình đối phó với việc điều tra và ápthuế chống bán phá giá, các nước đang phát triển như Việt Nam cần tích cực triển khaicông tác đối ngoại, đàm phán song phương với các nước đối tác để được công nhậnđịa vị kinh tế thị trường
Bài học kinh nghiệm từ Thái Lan, Trung Quốc cho thấy sự cần thiết phải tổ chứcđào tạo và tư vấn xây dựng hệ thống thông tin cho các doanh nghiệp và cảnh báo sớmnhằm phát hiện nguy cơ, ngăn ngừa và giảm thiểu thiệt hại
Kinh nghiệm từ các nước cũng cho thấy sự cần thiết phải xây dựng hệ thống hạch toán kế toán minh bạch và phù hợp với chuẩn mực quốc tế, các doanh nghiệp cần nghiêm túc đầu tư hệ thống lưu trữ thông tin, hạch toán kế toán của mình.
Trang 40CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ CỦA DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM
2.1 Khái quát hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
Theo số liệu Tổng cục thống kê và Cục đầu tư nước ngoài- Bộ Kế hoạch và Đầu
Tư công bố, tổng số dự án đầu tư nước ngoài là 18.861 dự án, với số vốn đầu tư đăng
ký gần 286 tỷ USD trong giai đoạn từ 1988 đến tháng 11 năm 2014
Trong 3 năm 1988-1990, khi mới thực thi Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài tạiViệt Nam, kết quả thu hút vốn FDI còn ít (211 dự án với tổng vốn đăng ký cấp mới là1.603,5 triệu USD), FDI chưa tác động đến tình hình kinh tế-xã hội đất nước Trongthời kỳ 1991-1995, vốn FDI đã tăng lên (1.409 dự án với tổng vốn đăng ký cấp mới là18.379,1 triệu USD), và có tác động tích cực đến tình hình kinh tế xã hội của đất nước.Thời kỳ 1991-1996 được xem là thời kỳ “bùng nổ” đầu tư trực tiếp nước ngoài tại ViệtNam (có thể coi như là “làn sóng đầu tư trực tiếp nước ngoài” đầu tiên vào Việt Nam)với 1.781 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng ký (bao gồm cả vốn cấp mới và tăngvốn) là 28.014,4 triệu USD Đây là giai đoạn mà môi trường đầu tư-kinh doanh tạiViệt Nam đã bắt đầu hấp dẫn nhà đầu tư do chi phí đầu tư-kinh doanh thấp so với một
số nước trong khu vực, sẵn lực lượng lao động với giá nhân công rẻ, thị trường mới, vìvậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng trưởng nhanh chóng, có tác động với lan tỏa vớicác thành phần kinh tế khác và đóng góp tích cực vào thực hiện các mục tiêu kinh tế-
xã hội của đất nước Năm 1995 thu hút được 7.925,2 triệu USD vốn đăng ký, tăng gấp
6 lần năm 1991 ( 1.284,4 triệu USD) Năm 1996 thu hút được 9.635,3 triệu USD vốnđăng ký, tăng 21,65 so với năm trước
Trong 3 năm 1997-1999 có 961 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng ký13.111,5 triệu USD, nhưng vốn đăng ký của năm sau ít hơn năm trước (năm 1998 chỉbằng 81,8% năm 1997, năm 1999 chỉ bằng 46,8% năm 1998), chủ yếu là các dự án cóquy mô vốn vừa và nhỏ Cũng trong thời gian này nhiều dự án FDI được cấp phéptrong những năm trước đã phải tạm dừng triển khai hoạt động do nhà đầu tư gặp khókhăn về tài chính (đa số từ Hàn Quốc và Hồng Kông)