1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và môt số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác giải quyết khiếu nại bồi thường trong bảo hiểm con người phi nhân thọ tại công ty bảo hiểm SHB – Vinacomin (SVIC) Hà Nội

59 502 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 1: Lý luận chung về bảo hiểm con người phi nhân thọ và công tác giải quyết khiếu nại trong bảo hiểm con người phi nhân thọ Chương 2: Thực trạng công tác giải quyết bồi thường các nghiệp vụ bảo hiểm con người tại SVIC Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác giải quết khiếu nại các nghiệp vụ bảo hiểm con gnười phi nhân thọ

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày nay, bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội luôn là một chủtrương, nhiệm vụ lớn của Đảng và Nhà nước Cùng với việc không ngừng cảitiến chế độ tiền lương, tiền công và nâng cao thu nhập cho người lao động,…thì bảo hiểm nói chung và bảo hiểm con người phi nhân thọ nói riêng cũng làmột công cụ đắc lực giúp Nhà nước thực hiện chủ trương này

Thực tế, chúng ta đều có thể nhận thấy là khi lao động sản xuất conngười luôn luôn phải đối mặt với tai nạn, rủi ro, bệnh tật, đe doạ đến cuộcsống, tính mạng của con người Để khắc phục được tình trạng đó, có rất nhiềubiện pháp đề phòng, hạn chế tai nạn rủi ro xảy ra, nhưng đó là chưa đủ bởi vịtrí và tầm quan trọng của con người nói riêng và xã hội loài người nói chungthì cần có những biện pháp khác nữa để khắc phục hậu quả Trong đó, bồithường và chi trả tiền bảo hiểm là công tác trực tiếp giúp giảm thiểu gánhnặng cho người được bảo hiểm và xã hội khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra

Thực hiện tốt công tác khiếu nại bồi thường và trả tiền bảo hiểm sẽ bảo

vệ lợi ích chính đáng của khách hàng, nâng cao chất lượng phục vụ và là cáchquảng cáo có hiệu quả nhất làm tăng uy tín và ảnh hưởng tích cực đến kết quảkinh doanh của công ty bảo hiểm Bởi vì “Nếu giải quyết bồi thường hoặc chitrả nhanh chóng và chính xác, khách hàng cũng sẽ nhanh chóng khắc phụcđược những tổn thất về mặt tài chính để từ đó ổn định cuộc sống, ổn định sảnxuất kinh doanh và nâng cao niềm tin với doanh nghiệp bảo hiểm Từ đó,doanh nghiệp bảo hiểm giữ được khách hàng truyền thống và mở ra triểnvọng khai thác được những khách hàng tiềm năng trong tương lai."( JêrômeYeafman- Trường quốc gia Bảo hiểm Pari)

Trang 2

Chính vì thế tôi quyết định chọn đề tài: “Thực trạng và môt số giải

pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác giải quyết khiếu nại bồi thường trong bảo hiểm con người phi nhân thọ tại công ty bảo hiểm SHB – Vinacomin (SVIC) Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp của mình.

Bố cục bài viết gồm ba chương chính:

Chương 1: Lý luận chung về bảo hiểm con người phi nhân thọ và công tácgiải quyết khiếu nại trong bảo hiểm con người phi nhân thọ

Chương 2: Thực trạng công tác giải quyết bồi thường các nghiệp vụ bảo hiểmcon người tại SVIC

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác giải quếtkhiếu nại các nghiệp vụ bảo hiểm con gnười phi nhân thọ

Với ý nghĩa là một đề tài khoá luận đòi hỏi kiến thức và kinh nghiệmthực tế, là sinh viên lần đầu tiếp xúc với đề tài khoa học nên không thể tránhkhỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự thông cảm và những ý kiếnđóng góp, chỉ bảo của thầy cô giáo để bài viết của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

CHƯƠNG 1:

LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM CON NGƯỜI PHI NHÂN THỌ VÀ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TRONG BẢO HIỂM CON NGƯỜI PHI NHÂN THỌ

1.1Khái quát chung về bảo hiểm con người phi nhân thọ

1.1.1 Sự cần thiết của bảo hiểm con người

Trong cuộc đời của mỗi con người việc xảy ra các rủi ro ốm đau, bệnhtật, tai nạn làm tổn hại về sức khỏe, tính mạng hoàn toàn nằm ngoài sự mongđợi của mỗi người Nhu cầu an toàn đối với các cá nhân và tổ chức trong xãhội là vĩnh cửu Trong suốt cuộc đời mình con người luôn tìm cách để bảo vệchính bản thân và tài sản trước những bất hạnh của số phận và những biến cốbất ngờ trong sản xuất kinh doanh

Hiện nay, các cuộc cách mạng công nghiệp rồi cách mạng thông tin đãđưa nền kinh tế toàn cầu phát triển đến chóng mặt Thu nhập của đại bộ phậndân chúng được tăng lên đáng kể so với cách đây hai ba thập niên Thu nhậptăng giúp con người có điều kiện chăm sóc cho bản thân và gia đình Nhu cầucũng trở nên phong phú hơn trước, ngày càng có nhiều người mong muốnđược bảo đảm an toàn trong hiện tại và tương lai Bên cạnh BHXH các dịch

vụ bảo hiểm con người trong bảo hiểm thương mại đã ra đời là hết sức cầnthiết Nó tuân theo đúng quy luật cung- cầu của thị trường, đáp ứng mọi nhucầu của các tầng lớp dân cư trong xã hội

Bảo hiểm con người là một trong ba loại hình BHTM, là hình thức bổsung hữu hiệu nhất cho BHXH nhằm đảm bảo ổn định đời sống cho mọithành viên trong xã hội trước những rủi ro, tai nạn bất ngờ đối với thân thể,tính mạng, sự giảm sút hoặc mất thu nhập và đáp ứng một số nhu cầu khác

Trang 4

của người tham gia bảo hiểm So với BHXH, các nghiệp vụ bảo hiểm conngười trong BHTM có đối tượng tham gia rộng hơn nhưng vẫn có thể thay thếBHXH trong những trường hợp, những khu vực của nền kinh tế - những nơi

mà BHXH chưa được thực hiện hoặc có nhưng không bù đắp đủ cho phần thunhập bị giảm sút của người lao động

Như vậy, các nghiệp vụ bảo hiểm con người trong BHTM sẽ có vai tròrất quan trọng giúp mọi người chống lại những bấp bênh của cuộc sống trong

sự đa dạng và phức tạp của rủi ro

1.1.2 Sự ra đời của bảo hiểm con người

Ngay từ thời cổ đại đã xuất hiện nhiều tổ chức gần giống với bảo hiểm,chẳng hạn người Ba-bi-lon đã đưa ra những quy tắc tổ chức phương tiện vậntải bằng xe kéo để phân chia các thiệt hại do mất cắp và bị thương cho cácthương gia cùng gánh chịu Hoặc vào thế kỷ thứ V trước công nguyên Pê-ri-clex đã tổ chức Hội đoàn tương hỗ nhằm hoạt động trợ giúp cho các thànhviên và gia đình của họ trong các trường hợp bị tử vong, ốm đau, bệnh tật hayhoả hoạn Cũng ngay từ thời Trung cổ đã xuất hiện những bản cam kết bảođảm an toàn cho các khoản tiền bỏ ra mua - bán tù binh, nô lệ của các ôngchủ nếu không may những người này bị chết cái chết khác với tự nhiên.Những tù binh, nô lệ tuy là con người nhưng được quy đổi thành một giá trịnhất định song đây được coi là hình thức sơ khai nhất của bảo hiểm conngười Như vậy, bảo hiểm con người đã được triển khai cách nay đã rất lâu,

và xã hội càng phát triển thì loại hình bảo hiểm này càng đựơc triển khai mộtcách rộng rãi tương xứng với tầm quan trọng và sự đóng góp to lớn của nó đốivới xã hội

Với mục đích đảm bảo cho người dân, người lao động hạn chế đượcphần nào những thiệt hại do bị tai nạn, ốm đau, bệnh tật…BHXH được thực

Trang 5

hiện ở các nước và được coi như là quyền của con người Tuy nhiên, đốitượng được bảo hiểm và phạm vi bảo đảm cho các rủi ro còn rất hạn hẹp Việc thoả mãn những nhu cầu trong cuộc sống và phát triển của conngười phụ thuộc chủ yếu vào khả năng lao động Có rất nhiều trường hợp gặpkhó khăn như: bất ngờ ốm đau, bị tai nạn, bệnh tật…làm mất hoặc giảm thunhập, đặc biệt là rủi ro của người trụ cột trong gia đình Khi rơi vào nhữngtrường hợp này, các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống không vì thế mà mất đitrái lại có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm một số nhu cầu mớinhư chi phí khám chữa bệnh và điều trị khi ốm đau…Do đó, để tránh nhữngkhó khăn về tài chính, đảm bảo sự ổn định cho đời sống, đối với cá nhân vàgia đình, việc tiết kiệm chi tiêu hiện tại để phòng xa là một biện pháp cầnthiết Chính vì thế BHCN PNT đã ra đời và phát triển nhằm đảm bảo an toàn

về mặt tài chính cho cuộc sống của mỗi người và xã hội

1.1.3 Đặc điểm của bảo hiểm con người phi nhân thọ (BHCN PNT)

1.1.3.1 Khái niệm

Bảo hiểm con người bao gồm tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm có đốitượng được bảo hiểm là tuổi thọ, tính mạng, tình trạng sức khoẻ con ngườihoặc các sự kiện liên quan đến cuộc sống con người và có ảnh hưởng tới cuộcsống con người được chia thành hai loại là bảo hiểm con người nhân thọ vàbảo hiểm con người phi nhân thọ

Bảo hiểm con người phi nhân thọ là loại bảo hiểm có đối tượng bảohiểm là tính mạng, sức khoẻ và khả năng lao động của con người

 Về phương diện kỹ thuật, BHCN PNT là loại bảo hiểm có mục đíchthanh toán những khoản trợ cấp hoặc số tiền nhất định cho người được bảohiểm hoặc người thụ hưởng bảo hiểm

 Về phương diện pháp lý, BHCN PNT là loại bảo hiểm theo đó để đổilấy phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm, NBH cam kết sẽ trả cho

Trang 6

NĐBH hoặc người thụ hưởng bảo hiểm một số tiền nhất định theo thỏa thuậnkhi xảy ra sự kiện bảo hiểm

Như vậy, BHCN PNT đảm bảo cho rủi ro tác động trực tiếp đến ngườiđược bảo hiểm như tai nạn, ốm đau, bệnh tật, Chỉ những tổn hại thân thểcon người mới là đối tượng của HĐBH

1.1.3.2 Đặc điểm

Bảo hiểm con người có đặc điểm chung là khi thanh toán tiền bảo hiểm

“nguyên tắc khoán” được áp dụng vì khi tổn thất xảy rất khó xác định đượcchính xác thiệt hại về mặt vật chất do tính mạng, sức khỏe con người là vôgiá Do vậy việc trả tiền bảo hiểm của NBH chỉ mang ý nghĩa là thực hiệnnghĩa vụ đã cam kết với NĐBH chứ không phải là bồi thường tổn thất xảy ra.STBH nhiều hay ít là do các bên tham gia hợp đồng thoả thuận

Tuy nhiên trong BHCN, vẫn còn một số nghiệp vụ sử dụng nguyên tắcbồi thường chẳng hạn như: nghiệp vụ bảo hiểm trợ cấp nằm viện và phẫuthuật,…

Trong khi các nghiệp vụ BHNT chỉ được ra đời và phát triển khi nềnkinh tế - xã hội hội tụ đủ những điều kiện nhất định thì BHCN PNT ra đờisớm hơn, với mục đích chủ yếu là góp phần khắc phục hậu quả khi đối tượngtham gia bảo hiểm gặp rủi ro, từ đó góp phần ổn định tài chính cho ngườitham gia Vì vậy BHCN PNT có một số đặc điểm cơ bản sau:

 Hậu quả của những rủi ro mang tính chất thiệt hại vì rủi ro bảo hiểm ởđây là tai nạn, bệnh tật, ốm đau thai sản liên quan đến thân thể và sức khoẻcon người

 NĐBH thường được quy định trong một khoảng tuổi nào đó Các công

ty bảo hiểm không chấp nhận bảo hiểm cho những người có độ tuổi quá thấphoặc quá cao do việc quản lý rủi ro rất phức tạp

Trang 7

 So với BHNT, thời hạn BHCN PNT ngắn hơn và thường chỉ trongvòng một năm, thậm chí có nghiệp vụ thời hạn bảo hiểm chỉ có trong vài ngàyhoặc vài giờ đồng hồ như bảo hiểm tai nạn hành khách.

 Các nghiệp vụ BHCN PNT thường được triển khai kết hợp với cácnghiệp vụ bảo hiểm khác trong cùng một HĐBH Việc triển khai kết hợp này

sẽ làm giảm chi phí khai thác, chi phí quản lý…tạo điều kiện cho công ty bảohiểm giảm phí, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm

 Bảo hiểm con người phi nhân thọ được coi là loại hình bảo hiểm bổsung hữu hiệu nhất cho BHXH

1.1.4 Một số khái niệm cơ bản

Trang 8

1.1.4.3 Mất khả năng lao động

Khi con người bị ốm đau, tai nạn, bệnh tật có thể dẫn đến hậu quả là mất khả năng lao động Mất khả năng lao động có thể được chia thành hai loại:

 Mất khả năng lao động tạm thời: Là trạng thái người lao động phảingưng việc trong một thời gian nhất định Khi điều trị xong, sức khoẻ đượcphục hồi như ban đầu và có khả năng lao động trở lại

 Mất khả năng lao động vĩnh viễn: Là trạng thái người lao động phảingừng việc vĩnh viễn mặc dù đã được điều trị, phẫu thuật nhưng sức khoẻ vẫnkhông thể được phục hồi lại, vì thế không thể làm được việc như cũ

1.1.4.4 Chi phí y tế

Là tất cả các khoản chi phí phát sinh liên quan đến người bệnh Các chiphí này được chia làm ba loại như sau:

 Chi phí phát sinh trực tiếp tại cơ sở y tế

 Chi phí chuyển viện, đưa đón bệnh nhân…

 Chi phí chăm sóc nuôi dưỡng bệnh nhân sau khi điều trị

1.1.4.5 Bệnh viện

Là một cơ sở khám chữa bệnh được nhà nước công nhận mà ở đấy cókhả năng và có phương tiện chẩn đoán, điều trị và phẫu thuật, có điều kiệnđiều trị nội trú và có phiếu theo dõi sức khoẻ hàng ngày cho bệnh nhân

1.1.4.6 Nằm viện

Là việc người được bảo hiểm cần lưu trú ít nhất 24 giờ ở trong bệnhviện để điều trị khỏi lâm sàng, bao gồm cả việc sinh đẻ hoặc điều trị trongthời kỳ có thai

Trang 9

1.1.4.7 Phẫu thuật

Là một phương pháp khoa học để điều trị thương tật hoặc bệnh tật đượcthực hiện bởi những phẫu thuật viên có bằng cấp thông qua những ca mổbằng tay với các dụng cụ y tế hoặc máy móc y tế trong bệnh viện

 Được điều trị trong vòng ba năm trước

 Triệu chứng bệnh đã thấy xuất hiện hoặc nhận thấy bệnh tật này đã có.1.1.5 Các nghiệp vụ bảo hiểm con người phi nhân thọ

BHCN PNT được triển khai rất đa dạng và linh hoạt tuỳ theo tình hình

cụ thể ở từng nước Và ngay cả trong một nước thì giữa các công ty bảo hiểmcũng có sự khác nhau về một số nội dung cơ bản như: phạm vi, phí, số tiềnbảo hiểm, thủ tục bảo hiểm…Điều này cũng khá dễ hiểu vì BHTM hoạt độngkinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận trong khuôn khổ pháp luật của mỗi nước

1.1.5.1 Bảo hiểm tai nạn con người

Khi người được bảo hiểm bị tai nạn thuộc phạm vi bảo hiểm, nhà bảohiểm sẽ chi trả tiền bảo hiểm cho họ trên cơ sở phí bảo hiểm đã được đóngkhi kí kết hợp đồng giữa hai bên

 Đối tượng tham gia bảo hiểm: SVIC nhận bảo hiểm cho mọi công dânViệt Nam từ 16 đến 65 tuổi trừ những người đang bị bệnh thần kinh và đang

bị tàn phế hoặc bị thương tật vĩnh viễn từ 50% trở lên

Trang 10

 Phạm vi bảo hiểm: Là những tai nạn xảy ra tại Việt Nam do một lực bấtngờ ngoài ý muốn từ bên ngoài tác động lên thân thể NĐBH và là nguyênnhân trực tiếp làm cho NĐBH bị chết hoặc bị thương tật.

 Phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm căn cứ vào biểu phí do Bộ Tài Chínhquy định

 Chi trả tiền bảo hiểm: Khi sự kiện được bảo hiểm xảy ra, NĐBH hoặcngười thừa kế hợp pháp sẽ phải nộp đầy đủ các loại giấy tờ có liên quan theoquy định Nếu hồ sơ hợp lệ, việc thanh toán tiền bảo hiểm sẽ được thực hiệntrong vòng 15 ngày kể từ ngày có hồ sơ trên

1.1.5.2 Bảo hiểm trợ cấp nằm viện và phẫu thuật

 Người tham gia bảo hiểm: từ 16 tuổi cho đến 65 tuổi và những ngườitrên 65 tuổi đã được bảo hiểm theo nghiệp vụ này liên tục ít nhất là từ năm 60tuổi, trừ những người bị bệnh thần kinh, ung thư, bị tàn phế hoặc thương tậtvĩnh viễn từ 80% trở lên, những người đang điều trị bệnh tật, thương tật

 Phạm vi bảo hiểm: Khi NĐBH gặp những rủi ro ốm đau, bệnh tật,thương tật thân thể do tai nạn, thai sản phải nằm viện hoặc phải phẫu thuật,hoặc là bị chết khi đang nằm viện hoặc phẫu thuật

 Phí bảo hiểm: Do Bộ Tài Chính ban hành, có nhiều mức khác nhau vàphụ thuộc vào độ tuổi, giới tính, STBH, tình trạng sức khoẻ…

 Chi trả tiền bảo hiểm: Nghiệp vụ này áp dụng nguyên tắc bồi thường

Số tiền chi trả được xác định trên cơ sở chi phí thực tế phát sinh, khi ngườitham gia bảo hiểm có đầy đủ các giấy tờ như giấy chứng nhận bảo hiểm, giấy

ra viện, các hoá đơn, chứng từ điều trị hợp lệ… sẽ được thanh toán tiên bảohiểm đúng theo quy định

Trang 11

1.1.5.3 Bảo hiểm sinh mạng cá nhân

 Đối tượng bảo hiểm: công dân Việt Nam từ 16-70 tuổi, những ngườitrên 70 tuổi đã được bảo hiểm theo quy tắc này liên tục ít nhất là từ năm 69tuổi Những người bị bệnh thần kinh, tàn phế hoặc bị thương tật vĩnh viễn từ50% trở lên, hoặc đang trong thời gian điều trị bệnh tật, tai nạn không thuộcphạm vi trách nhiệm bảo hiểm

 Phạm vi bảo hiểm: bảo hiểm trong trường hợp chết đối với NĐBHtrong phạm vi lãnh thổ Việt Nam Những trường hợp chết do NĐBH vi phạmpháp luật, hành động do người thừa kế hợp pháp của người được bảo hiểmhoặc người thừa kế gây ra…không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm

 Phí bảo hiểm: được quy định trong hợp đồng bảo hiểm hoặc giấy chứngnhận bảo hiểm căn cứ vào “biểu phí và số tiền bảo hiểm” do Bộ Tài Chínhban hành

 Chi trả tiền bảo hiểm: Người thừa kế hợp pháp phải gửi các chứng từcho SVIC trong vòng 06 tháng kể từ ngày xảy ra sự kiện bảo hiểm Nếu quáthời hạn 06 tháng mà chưa đủ hồ sơ thì sẽ không thuộc trách nhiệm bồithường của công ty bảo hiểm

1.2.1 Vai trò của công tác giải quyết khiếu nại

Theo thoả thuận trong HĐBH, khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra,DNBH phải có trách nhiệm và nghĩa vụ bồi thường hoặc chi trả tiền bảo hiểmcho người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm Để được bồi thường hoặc chi trả,bên tham gia bảo hiểm tiến hành khiếu nại đòi bồi thường và chi trả đối vớiDNBH Văn bản khiếu nại thường là giấy yêu cầu đòi bồi thường hoặc chi trả

“Nếu giải quyết bồi thường hoặc chi trả nhanh chóng và chính xác, kháchhàng cũng sẽ nhanh chóng khắc phục được những tổn thất về mặt tài chính để

từ đó ổn định cuộc sống, ổn định sản xuất kinh doanh và nâng cao niềm tin

Trang 12

với doanh nghiệp bảo hiểm Từ đó, DNBH giữ được khách hàng truyền thống

và mở ra triển vọng khai thác được những khách hàng tiềm năng trong tươnglai."( Jêrôme Yeafman- Trường quốc gia Bảo hiểm Pari)

1.2.2 Quy trình giải quyết khiếu nại bồi thường

Để xác định được chính xác số tiền chi trả hoặc bồi thường thì việc đầutiên là phải tiến hành giám định tổn thất Do vậy, nội dung chính của côngviệc giải quyết khiếu nại bao gồm 2 khâu là:

1.2.2.1.1 Nguyên tắc chung của công tác giám định tổn thất

Công tác này phải được tiến hành sớm nhất sau khi nhận được thôngbáo tổn thất Nếu không tiến hành giám định sớm thì lý do của việc chậm trễphải được thể hiện trong biên bản giám định Quá trình giám định phải có sựhiện diện và ký xác nhận của các bên liên quan: Người tham gia bảo hiểm,cán bộ giám định… Nguyên tắc này nhằm mục đích đưa ra một biên bản giámđịnh trung thực, khách quan, có tính hợp pháp để tránh kiện cáo, tranh chấp

Trong trường hợp công ty không thể tiến hành giám định trực tiếp thì

có thể nhờ bên khác giám định hộ

1.2.2.1.2 Mục tiêu của giám định

Công tác giám định là khâu hết sức quan trọng trong BHCN PNT,nhằm đạt được các mục tiêu sau đây:

 Đảm bảo đánh giá chính xác mức độ tai nạn xảy ra cho bản thân NĐBHsau khi đã xác định được phạm vi trách nhiệm bảo hiểm

Trang 13

 Thực hiện giám định nhanh chóng để có thể tiến hành việc bồi thường,chi trả bảo hiểm nhằm khắc phục phần nào những tổn thất cho NĐBH.

1.2.2.1.3 Nội dung thực hiện quá trình giám định

Sau khi xảy ra sự kiện được bảo hiểm thì người tham gia bảo hiểm phảithông báo cho DNBH biết Quy định này vừa nhằm tạo điều kiện thuận lợicho công tác giám định đồng thời đảm bảo quyền lợi của người tham gia.Giám định bảo hiểm chỉ chấp nhận yêu cầu giám định khi tai nạn, rủi ro thuộcphạm vi trách nhiệm bảo hiểm Việc giải quyết hồ sơ tai nạn cho khách hàngphải đảm bảo giải quyết nhanh, tránh tình trạng tồn đọng hồ sơ, làm kháchhàng phải mệt mỏi vì chờ đợi dẫn đến kêu ca, mất sự tín nhiệm

 Có thể khái quát quy trình giám định theo các bước sau:

- Chuẩn bị giám định: Chuẩn bị đầy đủ các loại giấy tờ cần thiết liênquan đến đối tượng bảo hiểm như: Đơn bảo hiểm, giấy ra viện, sổ khám chữabệnh, các phim chụp X quang…

- Tiến hành giám định: Công việc giám định phải được tiến hành khẩntrương, ý kiến GĐV đưa ra phải chuẩn xác, hợp lý, nhất quán Phải tập trungvào các công việc sau:

+ Kiểm tra lại đối tượng giám định

+ Phân trả lại tổn thất

+ Xác định mức độ tổn thất

+ Nguyên nhân gây ra tổn thất

Trên cơ sở những thông tin thu được trong quá trình giám định, GĐVcần cố gắng tìm ra nguyên nhân gây tai nạn và xác định mức độ thiệt hại.Điều quan trọng nhất là phải tìm ra nguyên nhân trực tiếp gây tai nạn

- Lập biên bản giám định: Sau khi giám định xong, GĐV phải lập đượcbiên bản giám định mô tả chi tiết nhất về tổn thất và phải thể hiện được mối

Trang 14

quan hệ nhân quả giữa nguyên nhân và hậu quả thiệt hại Nội dung chủ yếucủa biên bản giám định là thời gian và địa điểm xảy ra tai nạn, tình trạng thiệthại, thương tật của nạn nhân, các bên tham gia giám định như GĐV của công

ty bảo hiểm người đại diện hợp pháp cuả người tham gia, chữ ký các bên…1.2.2.1.4 Giám định viên (GĐV)

GĐV là người thực hiện công việc giám định còn được gọi là chuyênviên giám định ở những nước phát triển, chuyên viên giám định do DNBHtrực tiếp chỉ định và lựa chọn Nhưng phần lớn các chuyên viên giám định lànhân viên của bản thân các DNBH

 Giám định viên có nhiệm vụ là:

- Khi giám định cùng phối hợp với NĐBH và cơ quan chức năng (nếucó) thu thập tài liệu, bằng chứng có liên quan đến tai nạn, rủi ro để điều tralập biên bản giám định Biên bản này phải đảm bảo phản ánh một cách đầy

đủ, trung thực, khách quan các thiệt hại xảy ra

- Có trách nhiệm hướng dẫn người tham gia thu thập đầy đủ những giấy

tờ, chứng từ cần thiết để khiếu nại bồi thường, tiến hành khắc phục hậu quảtổn thất

1.2.3 Bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm

Thực hiện tốt công tác bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm sẽ bảo vệlợi ích chính đáng của khách hàng, nâng cao chất lượng phục vụ và là cáchquảng cáo có hiệu quả nhất làm tăng uy tín và ảnh hưởng tích cực đến kết quảkinh doanh của công ty bảo hiểm

1.2.3.1 Khái niệm bồi thường

Bồi thường là sự kết bù đắp của NBH đối với những thiệt hại của ngườitham gia bảo hiểm khi sự kiện được bảo hiểm xảy ra gây thiệt hại cho NĐBH

1.2.3.2 Yêu cầu công tác chi trả tiền bảo hiểm

Việc giải quyết chi trả tiền bảo hiểm phải đáp ứng các yêu cầu sau:

Trang 15

 Nhanh chóng, kịp thời

 Chính xác

 Công bằng, nhân đạo

1.2.3.3 Quy trình bồi thường và chi trả

 Mở hồ sơ khách hàng

Khi nhận được biên bản giám định tổn thất và các giấy tờ có liên quan,

bộ phận giải quyết bồi thường phải mở hồ sơ khách hàng và ghi lại theo thứ

tự số hồ sơ (số hợp đồng) và thời gian Sau đó kiểm tra, đối chiếu với bản hợpđồng gốc về các thông tin liên quan đến bản kê khai tổn thất Tiếp theo phảithông báo cho khách hàng là đã nhận được đầy đủ các giấy tờ có liên quan.Trong trường hợp hồ sơ khiếu nại không thuộc phạm vi bảo hiểm hoặc hếtthời hạn khiếu nại, công ty bảo hiểm sẽ từ chối chi trả tiền bảo hiểm

 Xác định số tiền chi trả

Sau khi hoàn tất hồ sơ bồi thường của khách hàng bị tổn thất hoặc cầnphải chi trả, bộ phận giải quyết bồi thường phải tính toán số tiền chi trả đượcxác định căn cứ vào:

- Biên bản giám định tổn thất và bản kê khai tổn thất

- Điều khoản, điều kiện của HĐBH

- Bảng theo dõi số phí bảo hiểm đã nộp

- Thực tế chi trả của người thứ 3 (nếu có)

- Số tiền vay trên hợp đồng (nếu có)

 Thông báo chi trả tiền bảo hiểm

Trang 16

- Xác định xong số tiền chi trả, DNBH sẽ thông báo chấp nhận bồithường và đề xuất các hình thức bồi thường cho khách hàng.

- Các vụ tổn thất phải đảm bảo được giải quyết bồi thường hoặc chi trảnhanh chóng, ngay sau khi khách hàng tập hợp được các giấy tờ chứng minhcần thiết cùng với đơn khiếu nại hoặc ngay sau khi GĐV xác định được sốtiền thiệt hại do tổn thất xảy ra và lập biên bản giám định

Khi việc thanh toán bồi thường thực hiện trong thời gian dài đòi hỏiDNBH phải giải quyết và xử lý theo nguyên tắc mềm dẻo, hạn chế đến mứcthấp nhất sự can thiệp của toà án Có như vậy mới giữ được uy tín cho doanhnghiệp bảo hiểm, hạn chế chi phí bồi thường

1.2.4 Một số vấn đề về trục lợi bảo hiểm

1.2.4.1 Khái niệm trục lợi bảo hiểm

Trục lợi bảo hiểm (TLBH) là hành vi cố tình gian dối, lừa đảo có thể cóchủ ý ngay từ khi tham gia bảo hiểm hoặc phát sinh sau khi đã xảy ra rủi rocho đối tượng bảo hiểm nhằm chiếm đoạt một số tiền từ DNBH mà đáng lý ra

họ không được hưởng Đây là một sự gian lận trong bảo hiểm và là vấn đềnhức nhối đối với các DNBH TLBH diễn ra ở hầu hết các nghiệp vụ bảohiểm và bất cứ nước nào đã triển khai BHTM, phổ biến đến mức hàng nămtrên thế giới đã thống kê về tình hình trục lợi cũng như trao đổi thông tin, tổchức các buổi hội thảo thường kỳ liên quan đến chống gian lận bảo hiểm

1.2.4.2 Nguyên nhân và hậu quả của trục lợi bảo hiểm

- Về nguyên nhân: Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng TLBH.Tuy nhiên, có thể kể đến một số nguyên như sau:

 Do những kẽ hở pháp luật và do thực hiện pháp luật không nghiêm,thiếu sự kiểm tra, kiểm soát và xử lý nên nhiều người nảy sinh hành vi gianlận

Trang 17

 Thị trường bảo hiểm luôn sôi động, phức tạp, tình hình cạnh tranh ngàycàng khốc liệt nên các DNBH luôn phải giữ bí mật thông tin Việc trao đổinhững thông tin cần thiết về khách hàng giữa các DNBH hầu như không có.

 Nhận thức của người dân về pháp luật còn nhiều yếu kém, nhất lànhững văn bản pháp quy về bảo hiểm Cho nên đã có rất nhiều trường hợp nóisai sự thật để giúp nạn nhân nhận quyền lợi bảo hiểm

 Đối với những tổn thất xảy ra ở xa, ít người qua lại (với bảo hiểm xe cơgiới, tàu thuyền), khó có thể giữ nguyên hiện trường, sự thay đổi tình tiết hiệntrường có lợi cho người tham gia bảo hiểm là rất dễ xảy ra

 Do lỗi vô tình hay cố ý của các nhân viên bảo hiểm Họ có thể vô tìnhghi sai ngày tham gia bảo hiểm trên giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc họ thôngđồng với khách hàng để trục lợi bảo hiểm

 Do sự thông đồng giữa những người tham gia bảo hiểm có hành vigian lận với những người có liên quan như y, bác sỹ, những người làm chứngtrong các tai nạn, rủi ro

- Hậu quả của trục lợi bảo hiểm:

Theo Hiệp hội các hãng bảo hiểm châu Âu, hàng năm họ bị thiệt hại vìtrục lợi bảo hiểm không dưới 10 tỷ USD , chiếm gần 2,5% số phí bảo hiểm.Còn ở Việt Nam, theo số liệu thống kê của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm(Bộ Tài chính), trong giai đoạn từ 2007 đến 2011, tổng số vụ TLBH tại thịtrường Việt Nam bị phát hiện là 44.704 vụ, bình quân mỗi năm gần 9000 vụ.Tổng số tiền bị trục lợi trong thời gian nói trên là hơn 410 tỷ đồng, trong đólĩnh vực BH PNT là 3.973 vụ, với tổng số tiền là 149,95 tỷ đồng và BHNT là40.731 vụ, với tổng số tiền là 261,812 tỷ đồng Còn năm 2012, tuy chưa có sốliệu tổng hợp, nhưng theo nhiều chuyên gia, số vụ TLBH chắc chắn khônggiảm so với bình quân 5 năm trước

Có thể kể đến một số hậu quả do TLBH gây ra như sau :

Trang 18

- Đối với DNBH hậu quả có thể tính toán được do hành vi trục lợi bảohiểm là làm giảm lợi nhuận hiệu quả kinh doanh bị hạn chế Thậm chí còn tácđộng xấu đến uy tín của doanh nghiệp.

- Đối với khách hàng là những người trung thực sẽ bị thiệt thòi về quyềnlợi bởi vì phí bảo hiểm mà họ phải nộp lại dùng để trả cho những khoản tiềngian lận không được phát hiện ra

- Đối với xã hội gian lận bảo hiểm là một nguy cơ về đạo đức, làm thahoá, biến chất cán bộ nhà nước, làm cho môi trường kinh doanh thiếu lànhmạnh và thiếu sự công bằng Điều đó dẫn đến tình trạng coi thường pháp luật,gây rối trật tự an ninh xã hội

1.2.4.3 Các biện pháp phòng chống trục lợi bảo hiểm

 Không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hiểm Đối vớinhững nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc, cần có sự phối hợp với các cơ quan chứcnăng để kiểm tra theo dõi và đưa ra những mức tiền phạt thích đáng

 DNBH phải tổ chức các đầu mối quản lý, theo dõi kiểm tra chặt chẽ cáccán bộ, các đại lý bảo hiểm… Một mặt nhắc nhở họ thực hiện đúng chức năngquyền hạn nhiệm vụ, mặt khác phải đề ra những cơ chế quản lý phù hợp

 Quá trình giám định và bồi thường, chi trả bảo hiểm phải thực hiệnđúng nguyên tắc và trình tự mỗi khâu Nếu thấy cần thiết phải báo ngay đểDNBH tổ chức xác minh, điều tra cho rõ

 Nếu phát hiện có sự gian lận cần phải theo dõi chặt chẽ đối tượng, tổchức điều tra xác minh chính xác và nhờ các cơ quan chức năng can thiệp

Tuy vậy, việc theo dõi phòng chống gian lận bảo hiểm không được làmảnh hưởng đến các công việc khác trong hoạt động kinh doanh Nhất là khôngđược chậm trễ trong quá trình thanh toán bảo hiểm cho khách hàng vì tuyệtđại đa số khách hàng là những người trung thực

Trang 19

CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI BỒI THƯỜNG CÁC NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM CON NGƯỜI TẠI SVIC HÀ NỘI

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Tổng công ty

Công ty Bảo hiểm SHB VINACOMIN Hà Nội trực thuộc Tổng công ty

cổ phần Bảo hiểm SHB-VINACOMIN, viết tắt là Bảo hiểm SVIC

- Giấy phép thành lập và hoạt động số 56 GP/KDBH ngày 10/12/2008 do

Bộ Tài chính cấp

- Trụ sở chính: tầng 7+8, tòa nhà AC, Lô A1A, Cụm SXTTCN&CNN,Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Hà Nội

- Vốn điều lệ: 300.000.000.000 VNĐ

Trang 20

- Số lượng Công ty trực thuộc: 14 công ty.

- Lĩnh vực kinh doanh: Kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, tái bảo hiểm,quản lý quỹ, đầu tư vốn và các hoạt động khác theo quy định của phápluật

- Cổ đông sáng lập:

 Tập đoàn công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam(TKV)

 Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB)

 Công ty cổ phần tập đoàn T&T

 Công ty cổ phần đầu tư công nghiệp An Sinh

 Công ty cổ phần đầu tư tài chính ITASCO

 Công ty cổ phần Hoa Sơn

- Slogan : An toàn để phát triển

Công ty cổ phần bảo hiểm SHB – VINACOMIN (SVIC) được thànhlập vào ngày 10/12/2008 Ngay từ đầu SVIC đã tập trung phát triển mạnglưới, chú trọng thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, thường xuyên quantâm và có hình thức phù hợp để đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp

vụ cho CBNV trong toàn hệ thống Cho đến nay SVIC đã có 14 công ty thànhviên, 57 phòng bảo hiểm tại các tỉnh, thành phố trên cả nước, với 439 CBNVtrong đó có hơn 70% có trình độ đại học trở lên, tuyển dụng và đào tạo đượctrên 1500 đại lý bảo hiểm

Trong năm 2012, theo chỉ đạo của Thủ tướng chính phủ, Tập đoànThan khoáng sản Việt Nam (TKV) đã thực hiện thoái toàn bộ 19,8% vốn điều

lệ của SVIC và một số cổ đông mới đã tham gia vào SVIC dẫn đến thay đổi tỷ

lệ sở hữu ĐHCĐ đã thông qua nhóm các giải pháp tái cấu trúc SVIC, trong

Trang 21

đó đáng lưu ý là giải pháp hợp tác toàn diện với các đối tác lớn trong các lĩnhvực: Công nghiệp, xây dựng, xuất nhập khẩu, thủy sản, cao su… và trước mắt

là hợp tác với ngân hàng SHB nhằm triển khai sản phẩm liên kết bảo hiểm ngân hàng (bancassurance)

-2.1.2 Những kết quả đáng khích lệ

Liên tiếp hai năm liền 2009 – 2010, SVIC vinh dự được Bộ Côngthương trao tặng giải thưởng Thương mại dịch vụ Việt Nam “Vietnam TopTrade Service Awards” Đặc biệt năm 2011 SVIC nhận giải Thương hiệumạnh Việt Nam do Cục xúc tiến thương mại Bộ Công thương phối hợp vớiThời báo kinh tế Việt Nam trao tặng

Theo ông Trần Đỗ Thành – Ủy viên HĐQT SVIC, tuy là doanh nghiệptrẻ, nhưng doanh thu của Bảo hiểm SVIC tăng trưởng nhanh chóng, đặc biệt

là doanh thu bảo hiểm gốc tăng trưởng bình quân 60%; năm 2011, doanh thubảo hiểm gốc chiếm 1,5% thị phần, đứng thứ 14/29 DNBH phi nhân thọ 2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh

KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM CỦA TỔNGCÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM SHB - VINACOMIN

Đơn vị: triệu đồng

Năm

Doanh thu bảo hiểm gốc Lợi nhuận sau thuế

Trang 22

2011 312.303 13,4 % 37.996 97,7 %

Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hàng năm của Tổng công ty

Cổ phần bảo hiểm SHB – Vinacomin

Từ bảng số liệu trên ta thấy, hoạt động kinh doanh của SVIC trong thờigian ngắn đã có những tăng trưởng vượt bậc Năm 2009 đi vào hoạt động,doanh thu bảo hiểm gốc của công ty đạt 142.545 triệu đồng, lợi nhuận sauthuế đạt 8.246 triệu đồng Nhưng sang đến năm 2010, những chỉ tiêu này đãtăng lên mức khá cao, doanh thu bảo hiểm gốc đạt 275.314 triệu đồng, tăngtrưởng 93,1 % so với năm trước, lợi nhuận sau thuế đạt 19.215 triệu đồng,tăng trưởng 33% Năm 2011, trước sự cố gắng vươn lên không ngừng củatoàn bộ đội ngũ cán bộ nhân viên, doanh thu của công ty tiếp tục tăng cao,doanh thu bảo hiểm gốc đạt 312.303 triệu đồng, tăng trưởng 13,4 %, lợinhuận sau thuế đạt 37.996 triệu đồng, tăng trưởng 97,7 % so với năm trước.2.1.4 Cơ cấu tổ chức

Bộ máy tổ chức CTCP bảo hiểm SHB – VINACOMIN :

Trang 23

2.2 Vài nét về công ty Bảo hiểm SHB - Vinacomin Hà Nội

2.2.1 Khái quát về Công ty bảo hiểm SHB Vinacomin Hà Nội

Ngày 30-12-2009, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà đã ký Giấyphép số 56/GPĐC7/KDBH cho phép Bảo hiểm SVIC thành lập Chi nhánh

Trang 24

Bảo Hiểm SVIC Hà Nội, trở thành một công ty thành viên trực thuộc Tổngcông ty, nhằm phục vụ đầy đủ và chu đáo hơn mọi nhu cầu của các cá nhân,

tổ chức kinh tế, các nhà đầu tư và mọi thành phần kinh tế khác trong xã hội

Công ty cổ phần bảo hiểm SHB-Vinacomin Hà Nội( SVIC Hà Nội) tiềnthân là công ty cổ phần bảo hiểm SHB-Vinacomin chi nhánh Hà Nội tại số1C, ngõ Tuổi trẻ, Hoàng Quốc Việt, Hà Nội Đến tháng 7 năm 2011, công tychuyển đến địa chỉ Tầng 7+8, Tòa nhà AC, Lô A1A, Cụm SXTTCN&CNN,Phường Dịch Vọng Hậu, Quận Cầu Giấy, Hà Nội

Với mục đích hoạt động cùng nền tảng phát triển và sự quan tâm chuđáo của Tổng công ty, Công ty bảo hiểm SHB Vinacomin Hà Nội ngay từ khi

đi vào hoạt động, đã có được những điều kiện thuận lợi nhất định để tiến hànhtriển khai đầy đủ những nghiệp vụ bảo hiểm cơ bản như:

- Bảo hiểm con người

- Bảo hiểm tài sản kĩ thuật

- Bảo hiểm hỏa hoạn

- Bảo hiểm hàng hải

- Bảo hiểm xe cơ giới

- Một số loại hình bảo hiểm khác

Trong đó, các nghiệp vụ BHCN PNT công ty SVIC Hà Nội tập trungkhai thác là:

- Bảo hiểm kết hợp con người

- Bảo hiểm sinh mạng cá nhân

- Bảo hiểm tai nạn con người

- Bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật

Trang 25

- Bảo hiểm khách du lịch

Nhằm tiếp cận và phát triển hơn nữa trong thị trường bảo hiểm đầybiến động, đảm bảo khả năng bồi thường cho khách hàng và có năng lực nhậnbảo hiểm cho các dự án đầu tư lớn, SVIC Hà Nội đang từng bước hoàn thiệnhơn bộ máy hoạt động của mình, đồng thời tạo mối quan hệ tốt đẹp với nhiềucông ty bảo hiểm khác như Bảo Việt, PVI, PJICO, Bảo Long…

Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty bảo hiểm SHB Vinacomin Hà Nội

Tách ra khỏi Tổng công ty và đi vào hoạt động trong thời kì thị trườngtrong nước xuất hiện thêm nhiều công ty bảo hiểm bao gồm cả Nhà nước, cổphần, liên doanh, 100% vốn nước ngoài và các văn phòng đại diện của nướcngoài tại Việt Nam… là những điều kiện buộc SVIC Hà Nội phải khôngngừng cải thiện, nâng cao chất lượng dịch vụ của mình mới có khả năng đảmbảo đứng vững trong cạnh tranh

Trải qua gần 4 năm hoạt động, được sự hậu thuẫn rất lớn từ Tổng công

ty, SVIC Hà Nội đã khẳng định được vị thế và uy tín của mình trên thị trườngbảo hiểm phía Bắc Sự ra đời và hoạt động của công ty đã tạo ra công việc

Trang 26

cho hàng trăm lao động tại Hà Nội và và các địa phương mà công ty mở chinhánh Đời sống cán bộ công nhân viên không ngừng được cải thiện 2.2.2 Tình hình kinh doanh của SVIC Hà Nội trong thời gian qua

Là một Công ty mới đi vào hoạt động trong lĩnh vực Bảo hiểm chưalâu, hơn nữa lại đứng trước sự cạnh tranh gay gắt của thị trường bảo hiểmThủ đô, SVIC Hà Nội đã gặp không ít những khó khăn trên con đường gianhập và phát triển của mình Cùng với sự chỉ đạo và hỗ trợ tích cực, kịp thờicủa Tổng công ty, sự ủng hộ và giúp đỡ có hiệu quả của các cấp chính quyền,đặc biệt là sự tín nhiệm và mến mộ của khách hàng, nên tuy mới hoạt độngtrong thời gian ngắn nhưng công ty đã đạt được những kết quả đáng khích lệ

KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA SVIC HÀ NỘI

2012 doanh thu thuần 18.501 triệu giảm 7,7 % so với cùng kỳ, lợi nhuận sauthuế -2.042 triệu giảm 52,6% Có thể nhận thấy, doanh thu thuần và lợi nhuận

từ hoạt động kinh doanh của công ty đều có xu hướng giảm đã chứng tỏ sức

Trang 27

ảnh hưởng to lớn của suy thoái kinh tế đến hoạt động của công ty Tuy vậynăm 2012 tốc độ tăng trưởng đã giảm nhẹ hơn so với năm 2011 thể hiện bảnlĩnh cũng như sự năng động của một công ty trẻ.

2.2.3 Kết quả kinh doanh BHCN PNT tại SVIC Hà Nội

Qua khoảng thời gian 5 năm, tình hình khai thác tại SVIC tỏ ra khánăng động, với tốc độ khai thác tăng trưởng trung bình là 20%, doanh thu phí(DTP) từ các nghiệp vụ bảo hiểm con người không ngừng tăng lên

Tỷ trọng doanh thu phí từ các nghiệp vụ BHCN PNT tại SVIC năm 2012

Đơn vị: nghìn VNĐ

Chỉ tiêu

Doanh thu(nghìn đồng)

Tỷ trọng(%)

Nguồn: Phòng kế toán tổng hợp SVIC Hà Nội

Từ bảng trên có biểu đồ thể hiện tỷ trọng doanh thu phí của các nghiệp

vụ trong BHCN PNT:

Trang 28

Trong các nghiệp vụ trên thì nghiệp vụ học sinh có doanh thu phí thu

về cao nhất, chiếm 433,66 triệu đồng, chiếm hơn 60% tổng DTP Hiện nay thịtrường bảo hiểm học sinh đã được rất nhiều công ty bảo hiểm triển khainghiệp vụ, với hơn 1% thị phần nhưng nghiệp vụ này lại có tốc độ tăngtrưởng mạnh (30%/ năm) và ngày càng được công chúng thừa nhận Năm

2012, tốc độ tăng trưởng bảo hiểm học sinh của SVIC đạt 11,17% Trong khi

đó, các doanh nghiệp bảo hiểm nội địa lớn cũng chứng kiến mức tăng trưởngsuy giảm nhẹ: Bảo Việt và PVI đều giảm khoảng một nửa so với năm ngoái,

xuống khoảng 10% (theo trang www.svic.vn).

Sau nghiệp vụ bảo hiểm học sinh là nghiệp vụ bảo hiểm tai nạn hànhkhách ,chiếm 27,2% tổng DTP Lý do là ngày càng nhiều công ty vận tảihành khách thấy được những ưu thế hơn hẳn của nghiệp vụ này so với cácnghiệp vụ bảo hiểm con người như bảo hiểm trợ cấp và phẫu thuật, kết hợpvới hiệu quả từ công tác khai thác nên có số lượng hợp đồng ngày càng tăng.Các nghiệp vụ còn lại chỉ chiếm chưa đến 10% tổng DTP

Tỷ trọng doanh thu phí BHCH PNT trong toàn công ty (2010 – 2012)

Trang 29

Chỉ tiêu 2010 2011 2012

Nguồn:Phòng kế toán tổng hợp SVIC Hà Nội

Nhìn vào bảng ta thấy, DTP từ các nghiệp vụ BHCN PNT tuy chiếm một

tỷ lệ nhỏ so với tổng doanh thu phí toaàn công ty (< 5%) nhưng lai có sự tăngtrưởng qua các năm đã chứng tỏ vị trí quan trọng của nghiệp vụ trong hoạtđộng kinh doanh bảo hiểm của công ty Năm 2011 DTP đạt là 624 triệu, tăngtrưởng so với năm 2010 là giảm 46,35% Doanh thu có sự giảm mạnh nhưvậy là vì năm 2011, SVIC Hà Nội được tách thành SVIC Hà Nội và SVICThăng Long Năm 2012, tình hình kinh tế khó khăn là một trong số nhữngnguyên nhân quan trọng dẫn đến tốc độ tăng trưởng DTP toàn công ty giảm(7%), tuy nhiên DTP của BHCN PNT lại tăng nhẹ (3,2%) đã cho thấy nghiệp

Nguồn:Phòng kế toán tổng hợp SVIC Hà Nội

Ta có biểu đồ thể hiện sự biến động của doanh thu phí và lợi nhuậntrước thuế của nghiệp vụ BHCN PNT:

Ngày đăng: 14/03/2016, 13:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty bảo hiểm SHB Vinacomin Hà Nội - Thực trạng và môt số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác giải quyết khiếu nại bồi thường trong bảo hiểm con người phi nhân thọ tại công ty bảo hiểm SHB – Vinacomin (SVIC) Hà Nội
Sơ đồ c ơ cấu tổ chức của Công ty bảo hiểm SHB Vinacomin Hà Nội (Trang 25)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w