Để thực hiện cải cách tiền lương tăng thu nhập cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động đối với khu vực hành chính, sự nghiệp công lập trong điều kiện ngân sách Nhà nước không
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LÊ THỊ THU HƯƠNG
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH 43/2006/NĐ-CP VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI TRƯỜNG
CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LÊ THỊ THU HƯƠNG
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH 43/2006/NĐ-CP VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI TRƯỜNG
CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số: 60.34.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN QUANG DUỆ
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
cam đoan rằng Luận văn thạc sĩ kinh tế: “Đánh giá tình hình thực hiện nghị định 43/2006/NĐ-CP về tự chủ tài chính tại trường cao đẳng Công nghiệp Thái Nguyên” được hoàn thành là quá trình nghiên cứu
nghiêm túc của tác giả cùng với sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn
TS Nguyễn Quang Duệ
ệu, trích dẫn trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng và trung thực, kết quả nghiên cứu này chưa được công bố trong những công trình được nghiên cứu từ trước đến nay
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2014
Tác giả luận văn
Lê Thị Thu Hương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của tập thể và các cá nhân Nhân đây tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn của mình:
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn giảng viên hướng dẫn khoa học: Tiến sỹ Nguyễn Quang Duệ đã rất tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban giám hiệu Nhà trường cùng các thầy, cô giáo khoa Sau Đại học Trường Đại học Kinh tế & Quản trị Kinh doanh - Đại học Thái Nguyên đã giúp đỡ, dạy bảo tôi trong quá trình học tập
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện của cán bộ công nhân viên Trường Cao đẳng Công nghiệp Thái Nguyên nơi tôi đang công tác
đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi tham khảo và thu thập số liệu đề hoàn thành luận văn này
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng đề hoàn thiện luận văn của mình, tuy nhiên vẫn không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Rất mong nhận được
sự đóng góp quý báu của các thầy cô giáo và các bạn
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2014
Tác giả luận văn
Lê Thị Thu Hương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
5 Kết cấu của đề tài 3
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU THUỘC LĨNH VỰC GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO 4
1.1 Một số vấn đề cơ bản về tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập có thu 4
1.1.1 Những khái niệm chung 4
1.1.2 Tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập 5
1.1.3 Nội dung tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập 13
1.2 Tổng quan về tình hình thực hiện tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp GD & ĐT ở Việt Nam thời gian qua 18
1.2.1 Những kết quả đạt được 18
1.2.2 Những hạn chế cần khắc phục 21
1.2.3 Những phương hướng hoàn thiện việc tự chủ tài chính hiện nay trong các đơn vị sự nghiệp GD & ĐT 24
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết 29
Trang 62.2 Các phương pháp nghiên cứu 29
2.2.1 Phương pháp luận 29
2.2.2 Phương pháp phân tích 30
2.2.3.Phương pháp lập dự toán thu chi ngân sách 31
2.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 33
Chương 3: THỰC TRẠNG THỰC THI VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP THÁI NGUYÊN 34
3.1 Khái quát về trường Cao đẳng Công nghiệp Thái Nguyên 34
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của trường cao đẳng công nghiệp Thái Nguyên 34
3.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của trường CĐCN Thái Nguyên 35
3.1.3 Tổ chức bộ máy trường cao đẳng công nghiệp Thái Nguyên 37
3.2 Thực trạng tự chủ tài chính tại trường CĐ Công nghiệp Thái Nguyên 39
3.2.1 Tình hình thực hiện tự chủ quản lý tạo lập các nguồn tài chính 39
3.2.2 Tình hình thực hiện tự chủ quản lý sử dụng các nguồn tài chính 46
3.2.3 Tình hình kết quả và phân phối kết quả hoạt động tài chính 50
3.2.4 Tình hình thực hiện cơ chế quản lý tài sản của nhà nước 54
3.2.5 Xây dựng và thực hiện Quy chế chi tiêu nội bộ 55
3.3 Đánh giá chung về tình hình thực hiện tự chủ tài chính tại trường Cao đẳng Công nghiệp Thái Nguyên 59
3.3.1 Những kết quả đạt được 59
3.3.2 Một số hạn chế và nguyên nhân 62
Chương 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP THÁI NGUYÊN 70
4.1 Định hướng phát triển trường cao đẳng công nghiệp Thái Nguyên 70
4.2 Quan điểm về hoàn thiện tự chủ đối với trường Cao đẳng Công nghiệp Thái Nguyên 73
Trang 74.3 Giải pháp hoàn thiện về tự chủ tài chính tại Trường Cao đẳng Công
nghiệp Thái Nguyên 74
4.3.1 Nâng cao nhận thức về tự chủ tài chính 74
4.3.2 Chủ động khai thác nguồn thu đáp ứng nhiệm vụ chi thườngxuyên, tăng tính tự chủ về tài chính của trường 74
4.3.3 Hoàn thiện quy chế chi tiêu nội bộ 78
4.3.4 Phân bổ hợp lý các nguồn kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên, đảm bảo các khoản chi được thực hiện một cách tiết kiệm, hiệu quả và cân đối 79
4.3.5 Tăng cường công khai, kiểm tra, giám sát 81
4.3.6 Nâng cao năng lực và ý thức đội ngũ cán bộ, giảng viên về tự chủ tài chính 82
4.3.7 Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động chuyên môn nhằm giảm chi phí 84
4.4 Một số kiến nghị 85
4.4.1 Kiến nghị với Chính phủ 85
4.4.2 Kiến nghị với Bộ Công Thương 86
4.4.3 Kiến nghị với Bộ Giáo dục đào tạo 86
KẾT LUẬN 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GD & ĐT : Giáo dục và đào tạo
GD ĐHCĐ : Giáo dục đại học cao đẳng HTKSNB : Hệ thống kiểm soát nội bộ KBNN : Kho bạc Nhà nước
NCKH : Nghiên cứu khoa học
NSNN : Ngân sách nhà nước
TNTT : Thu nhập tăng thêm
TSCĐ : Tài sản cố định
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Nguồn thu của trường giai đoạn 2011-2013 39
Bảng 3.2 Tổng hợp nguồn thu sự nghiệp giai đoạn 2011-2013 43
Bảng 3.3 Cơ cấu chi thường xuyên giai đoạn 2011-2013 48
Bảng 3.4 Hệ số theo phân loại lao động 51
Bảng 3.5 Hệ số thu nhập tăng thêm đối với công tác đoàn thể 51
Bảng 3.6 Thu nhập tăng thêm giai đoạn 2011-2013 52
Bảng 3.7 Tình hình trích lập và sử dụng các quỹ giai đoạn 2011-2013 53
Bảng 3.8 Bảng đơn giá thanh toán tiền vượt giờ 64
Trang 10MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong quá trình hội nhập và phát triển, Việt Nam buộc phải có những bước chuyển mình, thay đổi cho phù hợp, tránh tụt hậu Tại Quyết định số 13/2001/QĐ-TTg ngày 17 tháng 9 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ, Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 được phê duyệt với bốn nội dung lớn, trong đó có cải cách quản lý tài chính công là một nội dung quan trọng Để thực hiện nội dung này, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 192/2001/QĐ-TTg ngày 17 tháng 12 năm 2001 về
mở rộng thí điểm khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các
cơ quan hành chính nhà nước; Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002; Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 về chế độ tài chính
áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu;
Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ra đời đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong quản lý tài chính của những đơn vị sự nghiệp có thu Với chủ trương xã hội hoá các hoạt động sự nghiệp, chuyển đổi cơ chế tài chính của
cơ sở giáo dục công lập theo hướng tự chủ, lấy nguồn thu sự nghiệp để bù đắp chi phí cho đơn vị, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà nước
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện tự chủ tài chính các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng thực tiễn cho thấy rằng, tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục và hoàn thiện chúng ta hãy hình dung lại một nhà Trường mà từ chỉ tiêu đào tạo, cách thức tuyển sinh, biên chế đội ngũ, tiền lương, ngân sách hàng năm (quy định cả mục chi), chương trình, sách giáo khoa đại học, cao đẳng, kế hoạch và phát
triển cơ sở vật chất, trang thiết bị… đều do Bộ giao thì Nhà trường tự chủ được gì nếu không phải là tự chủ thực hiện, rất dễ hiểu vì Các cơ sở giáo
dục đại học, cao đẳng đâu có quyền tự chủ” Những hạn chế có nguyên nhân
Trang 11bắt nguồn từ hai phía đó là hạn chế bắt nguồn từ cơ chế chính sách của nhà nước và hạn chế bắt nguồn từ bản thân các đơn vị được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính Do vậy mặc dù đã có cơ chế chính sách, nhưng việc khơi thông nguồn lực, khai thác các nguồn lực, sử dụng một cách hữu hiệu và có hiệu quả các nguồn lực… ở các đơn vị sự nghiệp giáo dục, đào tạo còn nhiều bất cập hoàn thiện Để ngày càng nâng cao được hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực trong Các cơ sở giáo dục công lập, từ đó từng bước giải quyết được bài toán cho giáo dục quốc dân đó là quy mô đào tạo ngày càng tăng, đòi hỏi về chất lượng ngày càng cao, và vấn đề trách nhiệm với xã hội ngày càng lớn, đặt trong điều kiện giới hạn về nguồn lực đầu tư cho giáo dục (trong
đó nguồn lực tài chính là quan trọng nhất)
Xuất phát từ những phân tích trên tác giả chọn đề tài nghiên cứu là:
“Đánh giá tình hình thực hiện nghị định 43/2006/NĐ-CP về tự chủ tài chính tại trường cao đẳng Công nghiệp Thái Nguyên”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện chính sách về tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo và một số giải pháp hoàn thiện công tác thực thi tự chủ tài chính tại Trường Cao đẳng Công nghiệp Thái Nguyên
Thứ ba: Đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện về tự chủ tài chính đối với Trường Cao đẳng Công nghiệp Thái Nguyên
Trang 123 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của : Phân tích đánh giá thực trạng thực thi tự chủ tài chính theo nghị định 43/2006/NĐ-CP tại Trường Cao đẳng Công nghiệp Thái Nguyên
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại trường Trường Cao đẳng Công nghiệp Thái Nguyên
- Phạm vi thời gian: Số liệu nghiên cứu từ năm 2011 đến năm 2013
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn thực thi về tự chủ tài chính tại Trường Cao đẳng Công nghiệp Thái Nguyên theo nghị định 43/2006/NĐ-CP đề tài góp phần:
Phân tích, đánh giá, làm sáng tỏ nội hàm của cơ chế, chính sách về tự chủ tài chính áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp có thu thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo công lập bậc cao đẳng, đại học
Phân tích, đánh giá chỉ ra những ưu điểm, hạn chế trong thực thi về
tự chủ tài chính tại Trường Cao đẳng Công nghiệp Thái Nguyên giai đoạn
2011 - 2013
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, bản luận văn được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về tự chủ tài chính đối với đơn vị sự
nghiệp có thu thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng thực thi về tự chủ tài chính tại trường Cao đẳng
Công nghiệp Thái Nguyên
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện tự chủ tài chính tại trường Cao đẳng
Công nghiệp Thái Nguyên
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU THUỘC LĨNH VỰC GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO
1.1 Một số vấn đề cơ bản về tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập có thu
1.1.1 Những khái niệm chung
Đơn vị sự nghiệp công: Là các đơn vị được Nhà nước thành lập để
thực hiện các hoạt động sự nghiệp (như viện nghiên cứu, các loại Trường học, bệnh viện, cơ sở nghiên cứu khoa học…) những hoạt động này nhằm phục vụ
là chủ yếu, không vì mục tiêu lợi nhuận Trong xã hội có nhiều đơn vị sự nghiệp công Người ta có thể phân loại đơn vị sự nghiệp theo những tiêu chí khác nhau
Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động thì đơn vị sự nghiệp công gồm:
- Đơn vị sự nghiệp công có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động)
- Đơn vị sự nghiệp công có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được NSNN cấp (gọi tắt là đơn
vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động)
- Đơn vị sự nghiệp công có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do NSNN bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp do NSNN đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động)
Phân loại đơn vị sự nghiệp công theo nguồn thu sự nghiệp là cách phân loại các đơn vị sự nghiệp công lập để xác định mức độ tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội theo tinh thần của Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ
Trang 14Việc phân loại đơn vị sự nghiệp theo quy định trên được ổn định trong thời gian 3 năm Sau thời gian 3 năm sẽ xem xét phân loại lại cho phù hợp Trong thời gian ổn định phân loại, trường hợp đơn vị sự nghiệp có thay đổi chức năng, nhiệm vụ, tổ chức thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét điều chỉnh phân loại lại chi phù hợp
Căn cứ xác định đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động, đơn vị
sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động, đơn vị sự nghiệp do NSNN đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động, dựa vào việc xác định “mức tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị (tính theo tỷ lệ %”)
Cách xác định “mức tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị (tính theo tỷ lệ %)” để phân loại đơn vị sự nghiệp công được quy định tại điểm 2 phần II thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 09/08/2006 hướng dẫn thực hiện nghị định số 43/2006/NĐ-CP được xác định theo công thức:
Mức tự đảm bảo chi phí hoạt động
thường xuyên của đơn vị (%) =
Tổng số nguồn thu
sự nghiệp
* 100% Tổng số chi hoạt động
thường xuyên Trong đó:
Tổng số nguồn thu sự nghiệp được quy định tại điểm 1.2, khoản 1, mục VIII; điểm 1.2, khoản 1, mục IX thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 09/08/2006
Tổng số chi hoạt động thường xuyên được quy định tại điểm 2.1, khoản
2, mục VIII; điểm 2.1, khoản 2, mục IX thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 09/08/2006
Tổng số thu sự nghiệp và tổng số chi hoạt động thường xuyên được tính theo dự toán thu, chi của năm đầu thời kỳ ổn định
1.1.2 Tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập
1.1.2.1 Sự cần thiết ra đời tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập
Thực hiện tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp là hết sức cần thiết xuất phát từ những lý do cơ bản sau:
Trang 15Một là: Xuất phát từ thực trạng bộ máy quản lý Nhà nước và yêu cầu
nâng cao năng lực, hiệu quả bộ máy hành chính Nhà nước
Những năm qua, nền kinh tế quốc gia đã chuyển dần sang phương thức quản lý hoạt động theo pháp luật, bộ máy hành chính Nhà nước được xây dựng theo nguyên tắc tập trung, dân chủ, ngày càng thực hiện có hiệu lực, hiệu quả Nền công vụ và công chức đã có nhiều cải tiến Tuy nhiên quá trình đó cũng xuất hiện nhiều vấn đề mới và bộc rõ hơn những vấn đề yếu kém cụ thể
Bộ máy tổ chức Nhà nước chưa thực sự khoa học, chưa thực sự đổi mới còn cồng kềnh, trì trệ, chức năng, nhiệm vụ còn chồng chéo, quan hệ ngang dọc chưa hợp lý, phân quyền, phân công phối hợp còn thiếu rõ ràng, chưa chặt chẽ, còn quá nhiều đầu mối làm giảm sức quản lý vĩ mô phân tán nguồn lực
Đội ngũ cán bộ công chức chưa thực sự chuyên nghiệp hoá Thực trạng biên chế tại các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp vừa thừa, lại vừa thiếu
Cơ cấu công chức còn bất hợp lý về trình độ năng lực đã dẫn đến hiệu quả công việc thấp
Trước yêu cầu công cuộc đổi mới, mà trọng tâm là đổi mới kinh tế đã đặt ra những yêu cầu cấp thiết cho bộ máy hành pháp, cho nền hành chính Nhà nước, trong nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, các nghị định trung ương II khoá VII, nghị quyết trung ương II khoá VIII, nghị quyết trung ương VII khoá VIII, Đảng đã nêu lên những quan điểm, nguyên tắc và đề ra các quyết sách lớn để từng bước cải cách đồng bộ Nhà nước và khẳng định cải cách nền hành chính Nhà nước là yêu cầu bức xúc và là trọng tâm của việc xây dựng Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhằm xây dựng một nền hành chính trong sạch, vững mạnh, có đủ năng lực, sử dụng đúng quyền hạn và từng bước hiện đại hoá để quản lý có hiệu quả công việc của Nhà nước Thực hiện việc tự chủ tài chính cho các cơ quan, đơn vị hành chính sự
Trang 16nghiệp công là một biện pháp quan trọng thúc đẩy các cơ quan phải thường xuyên xem xét lại công tác tổ chức bộ máy, biên chế, rà soát lại chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận, từng cán bộ, thực hiện xắp xếp biên chế hợp lý,
từ đó hạn chế việc tăng thêm biên chế hàng năm, trên cơ sở đó từng bước nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước
Hai là: Xuất phát từ thực trạng tiền lương và chính sách tiền lương
hiện nay
Mặc dù chính sách tiền lương đã có những cải cách, mức lương tối thiểu của cán bộ, công chức, viên chức được nâng dần (đầu năm 1997 mức lương cơ bản là 144.000 đồng/tháng; từ 01/01/2000 là 180.000 đồng/tháng; từ 01/01/2001 là 210.000 đồng/tháng; từ 01/01/2003 là 290.000 đồng/tháng; từ 01/01/2006 là 450.000 đồng/tháng; từ 01/01/2007 là 540.000 đồng/tháng; năm 2009 là 650.000 đồng/tháng; từ 01/05/2010 là 730.000 đồng/tháng; Từ
01/5/2011 là 830.000 đồng/tháng; từ 01/5/ 2012 là 1.050.000 đồng/tháng;từ 01/7/2013 là 1.150.000đồng/tháng Tuy nhiên tiền lương còn mang tính bình quân, không có sự phân biệt giữa tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức giữa khu vực cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp Mặt khác mức lương của cán bộ, công chức, viên chức còn thấp chưa đảm bảo đúng nghĩa của tiền lương Trong thực tế tiền lương còn mang nạng tính hình thức, danh nghĩa, không còn là động lực thúc đẩy kích thích tích cực, sáng tạo của cán bộ, công chức, làm cho chất lượng công việc của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức không đảm bảo Bên cạnh đó chưa xây dựng được thang lương, ngạch lương cho những cán bộ công chức có trình độ học hàm cao sau đại học, do vậy chưa khuyến khích được lực lượng cán bộ, công chức, viên chức học tập, năng cao trình độ có thái độ tích cực, nhiệt huyết trong công tác Đây cũng là nguyên nhân gây ra hiện tượng chảy máu chất xám trong các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập trong thời gian vừa qua là rất lớn và đáng báo động
Trang 17Để thực hiện cải cách tiền lương tăng thu nhập cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động đối với khu vực hành chính, sự nghiệp công lập trong điều kiện ngân sách Nhà nước không phải cấp phát thêm thì thực hiện
cơ chế khoán chi hay tự chủ tài chính sẽ có tác dụng mạnh mẽ thúc đẩy các cơ chế khoán chi hay tự chủ tài chính sẽ có tác dụng mạnh mẽ để thúc đẩy các cơ quan đơn vị Nhà nước đối mới, rà soát lại để có sự phân định rõ nhiệm vụ, chức năng của từng bộ phận xắp xếp lại biên chế và điều hành quản lý Chỉ có tên cơ sở tổ chức lại lao động hợp lý, quản lý chi tiêu chặt chẽ hạn chế được hiện tượng lãng phí, cắt giảm các khoản chi không cần thiết mới có điều kiện
để tăng thu nhập và nâng cao đời sống vật chất cho chính cán bộ, viên chức, người lao động trong đơn vị hành chính sự nghiệp công lập
Ba là: Xuất phát từ phương thức cấp phát kinh phí cho các cơ quan
hành chính đơn vị sự nghiệp được áp dụng nhiều năm qua đã bộc lộ nhiều hạn chế
Cơ chế quản lý và cấp phát ngân sách của các cơ quan hành chính đơn
vị sự nghiệp chưa thực hiện khoán trước 31/12/2003 được cấp phát theo hạn mức kinh phí cho từng mục chi theo mục lục ngân sách Nhà nước Hết năm nếu không sử dụng hết thì phần hạn mức thừa sẽ bị huỷ bỏ Cơ chế chi này nhằm khắc phục tình trạng sử dụng kinh phí chưa đúng mục đích và tình trạng tồn đọng kinh phí ở các đơn vị sử dụng NSNN Tuy nhiên do chất lượng dự toán kinh phí còn hạn chế hoặc có những biến động chưa lường hết được nên dẫn đến tình trạng ngay trong một đơn vị sử dụng ngân sách cũng xảy ra tình trạng thừa hạn mức kinh phí ở mục này nhưng lại thiếu kinh phí hoạt động ở mục khác Mặt khác, nhiều định mức, tiêu chuẩn chi tiêu đã lạc hậu, thiếu cụ thể và không còn phù hợp Dự toán nhiều khoản chi thường xuyên tại các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp được tính theo đầu người, theo quỹ lương nên không khuyến khích các cơ quan, đơn vị tổ chức công việc một cách hiệu quả, tiết kiệm lao động, mà còn tác động ngược lại, có thể thấy đây là kiểu
Trang 18phân bố ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách có tính chất lịch sử, chính trị, tổng số tiền một đơn vị sử dụng ngân sách được căn cứ nhiều vào mức năm ngoái họ đã nhận được bao nhiêu, hoặc bạn bè của họ trong Chính phủ có sức mạnh quyền lực cỡ nào Cách cấp phát tài chính này có xu hướng thiên về kiểu “xin - cho” Do đó việc thực hiện tự chủ tài chính cho các đơn vị
sự nghiệp sử dụng ngân sách, sẽ tạo điều kiện cho các đơn vị chỉ tiêu phù hợp với khả năng tài chính hiện có, nâng cao ý thức tiết kiệm và tinh thần đấu tranh chống lãng phí của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan đơn vị hành chính sự nghiệp công lập
1.1.2.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò và các nhân tố chi phối đến tự chủ tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập
a Khái niệm, đặc điểm của tự chủ tài chính
Quản lý tài chính là hệ thống tổng thể các phương pháp, các hình thức
và công cụ được vận hành để quản lý các hoạt động tài chính ở một chủ thể nhât định nhằm đạt được nhưng mục tiêu đã định Quản lý tài chính là sản phẩm chủ quan của con người trên cơ sở nhận thức vận động khách quan của phạm trù tài chính trong từng giai đoạn lịch sử
Tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập thực chất là quản
lý tài chính mà ở đó quyền định đoạt các vấn đề tài chính của đơn vị gắn trách nhiệm thực thi quyền định đoạt đó được đề cao
Các đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị quản lý và cung cấp các dịch vụ công cho xã hội do Nhà nước thành lập và đặt dưới sự quản lý của Nhà nước nên quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tài chính trong các đơn
vị sự nghiệp công lập mang những đặc điểm riêng Cụ thể:
Thứ nhất: Quyền đi đôi với trách nhiệm
Đơn vị sự nghiệp công được Nhà nước giao quyền quyết định các vấn
đề tài chính trong đơn vị, song phải chịu trách nhiệm về các quyết định của mình trước pháp luật, trước Nhà nước và trước yêu cầu của người thụ hưởng các dịch vụ do mình cung cấp
Trang 19Thứ hai: Quyền tự chủ tài chính luôn song hành với các quyền tự chủ trong các hoạt động khác của đơn vị
Quyền tự chủ tài chính chỉ có thể triển khai thực hiện khi đơn vị sự nghiệp công lập được quyền tự chủ trong các hoạt động sự nghiệp một cách
có hiệu quả, đơn vị sự nghiệp công phải có tự chủ về tài chính Như vậy giữa quyền tự chủ tài chính với quyền tự chủ các hoạt động khác trong đơn vị sự nghiệp công lập có mối quan hệ hữu cơ gắn bó với nhau, hỗ trợ nhau
Thứ ba: Quyền tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công là quyền tự chủ có giới hạn
Các đơn vị sự nghiệp công lập là các đơn vị đo Nhà nước thành lập và quản lý, do đó mọi hoạt động trong đơn vị sự nghiệp công lập, kể cả hoạt động tài chính đều đặt dưới sự kiểm tra giám sát của Nhà nước, của các cơ quan quản lý cấp trên, cho dù các hoạt động đó đã được trao quyền tự chủ và
tự chịu trách nhiệm Sự giới hạnh của quyền tự chủ tài chính trong các đơn vị công lập là một yêu cầu tất yếu, nó xuất phát lợi ích chính đáng trong việc hưởng thụ dịch vụ công của xã hội, mà Nhà nước là người bảo hộ Nhà nước ban hành quy chế tự chủ tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập, quy định phạm vi, mức độ tự chủ đối với một số hoạt động tài chính trong đơn vị
b Vai trò của tự chủ tài chính
Vai trò cụ thể của việc thực hiện giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung và đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực GD&ĐT nói riêng được thể hiện trên các mặt sau:
Một là: Giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị đã khuyến khích
các đơn vị chủ động thu hút, khai thác, tạo lập nguồn vốn ngân sách và ngoài ngân sách thông qua đa dạng hoá các hoạt động sự nghiệp, nâng cao hiệu quả
sử dụng ngân sách Nhà nước, nhân lực, tài sản để việc thực hiện nhiệm vụ hiệu quả hơn, mở rộng, phát triển nguồn thu
Trang 20Hai là: Giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị tác động tích cực
tạo điều kiện cho các trường công lập chủ động hơn trong công tác quản lý tài chính quan tâm hơn đến hiệu quả sử dụng kinh phí và thực hành tiết kiệm, thúc đẩy các đơn vị năng động hơn trong các hoạt động theo hướng đa dạng hoá các loại hình đào tạo để tăng nguồn thu, khắc phục được tình trạng sử dụng lãng phí các nguồn lực, đồng thời khuyến khích sử dụng tiết kiệm trong chi tiêu và tôn trọng nhiệm vụ hoạt động nghiệp vụ có chuyên môn của các đơn vị
Ba là: Giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị góp phần tăng cường
trách nhiệm của đơn vị đối với nguồn kinh phí, công tác lập dự toán được chú trọng hơn và khả thi hơn 100% các đơn vị được giao quyền tự chủ đã xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ và thực hiện công khai tài chính
Bốn là: Giao quyền tự chủ tài chính là cơ sở xác lập cơ chế bảo đảm và
hỗ trợ thực hiện quyền tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập trong quá trình tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chính trong đơn vị
Năm là: Giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị bảo đảm đầu tư
của Nhà nước cho các đơn vị sự nghiệp được đúng mục đích hơn, có trọng tâm trọng điểm, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tạo cơ sở pháp lý cho các đơn vị hoạt động theo đúng quy định của pháp luật, thể chế hoá việc trả lương tăng thêm một cách thích đáng, hợp pháp từ kết quả hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ và tiết kiệm chi tiêu, tăng cường công tác quản lý tài chính của các đơn vị từng bước đi vào nề nếp
c Những nhân tố chi phối đến tự chủ tài chính
Sự hình thành, vận hành việc tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập, luôn chịu sự tác động của nhiều nhân tố Hiểu rõ được những nhân tố đó không chỉ có ý nghĩa với việc thiết lập cơ chế, mà quan trọng hơn là việc tổ chức thực hiện cơ chế phù hợp đặc thù với hoạt động sự nghiệp ở từng đơn vị
Trang 21Để tự chủ tài chính thực sự phát huy tác dụng, đạt được mục tiêu Nhà nước đặt ra là khuyến khích đơn vị sự nghiệp công lập nói chung và đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực GD&ĐT nói riêng tăng thu, tiết kiệm chi, thực hiện tinh giảm biên chế, tăng thêm thu nhập cho người lao động, trên cơ sở hoàn thành nhiệm vụ đuợc giao, thì khi xây dựng và tổ chức thực thi tự chủ tài chính bản thân các cơ quan xây dựng chính sách và các đơn vị được giao quyền tự chủ tài chính cần phải xem xét, đánh giá tác động một cách thấu đáo của những nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính của các đơn vị bao gồm:
Thứ nhất: Quản lý tài chính
Quản lý tài chính trong giáo dục là phương thức Nhà nước sử dụng các công cụ tài chính tác động hệ thống giáo dục quốc dân nhằm định hướng sự phát triển giáo dục quản lý tài chính giáo dục, một mặt thừa nhận và vận dụng quy luật khách quan của cơ chế quản lý kinh tế vận hành trong nền kinh
tế thị trường Mặt khác phải biết sử dụng các phương pháp thích hợp về mặt tài chính nhằm tác động vào sự vận hành của các cơ sở giáo dục theo các mục tiêu mong muốn Có thể nói tự chủ tài chính thực chất là một trong những phương pháp của quản lý tài chính nói chung, song cơ chế tài chính lại là một nhân tố ảnh hưởng quan trọng tới công tác tự chủ tài chính của các đơn vị
Thứ hai: Công tác tổ chức quản lý nguồn thu và nhiệm vụ chi
Công tác tổ chức quản lý nguồn thu và nhiệm vụ chi là nhân tố ảnh hưởng lớn đến khả năng tự chủ tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập Bởi vì chỉ khi coi trọng công tác tổ chức quản lý nguồn thu và nhiệm vụ chi thì các đơn vị được giao quyền tự chủ sẽ chủ động trong việc tăng thu, tiết kiệm chi, thực hiện tinh giảm biên chế tăng thêm thu nhập cho người lao động trên cơ sở hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Đối với công tác quản lý nguồn thu phải chú trọng công tác lập kế hoạch dự toán thật khoa học, chính xác và kịp thời, đề ra các biện pháp thu
Trang 22thật phù hợp với các khoản thu từ phí, lệ phí và đối tượng thu, hạn chế tối thiểu tình trạng thất thoát nguồn thu, thường xuyên quan tâm, đầu tư bồi dưỡng nguồn thu và đa dạng hoá các nguồn thu cho đơn vị
Đối với công tác quản lý chi để đảm bảo tiết kiệm chi, các khoản chi đúng mục đích, đúng đối tượng và hiệu quả th đơn vị phải tổ chức chặt chẽ từ khâu xây dựng kế hoạch nhiệm vụ chi, mức chi theo dự toán h định mức Thường xuyên đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm việc thực hiện các khoản chi và công tác quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính tài sản của đơn vị
Thứ ba: Công tác lập kế hoạch kế toán thống kê
Mỗi đơn vị sự nghiệp là một chủ thể tài chính độc lập Để có được một
hệ thống thông tin về tình hình huy động, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính cũng như kết quả hoạt động sự nghiệp của một đơn vị phục vụ công tác quản trị đơn vị một cách kịp thời và có hiệu quả thì công tác kế toán và thống
kê đóng vai trò hết sức quan trọng… Do vậy nếu các đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ tài chính tổ chức công tác lập kế hoạch, công tác
kế toán thống kê sẽ là công cụ hữu ích cho các nhà quản trị phân tích, đánh giá ra quyết định quản lý tốt giúp khơi thông các nguồn lực để tạo lập nguồn tài chính với quy mô ngày càng lớn phục vụ phát triển hoạt động sự nghiệp là công cụ hữu ích kiểm tra, giám sát các khoản chi sự nghiệp, chi dịch vụ đáp ứng được yêu cầu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao với chi phí tiết kiệm hợp lý
1.1.3 Nội dung tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập
a Khái quát quyền tự chủ về tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập
Quyền tự chủ về tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập được quy định tại Nghị định 43/2006/NĐ- Chính phủ của Chính phủ Ngày 25/04/2006 Nội dung quyền tự chủ về tài chính bao gồm:
- Quyền tự chủ trong việc huy động vốn và vay vốn tín dụng
Trang 23Đơn vị sự nghiệp công lập có hoạt động dịch vụ đuợc quyền vay vốn của các tổ chức tín dụng, được huy động vốn của các bộ, viên chức trong đơn
vị để đầu tư mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tổ chức các hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo quy định của pháp luật
- Quyền tự chủ về quản lý và sử dụng tài sản
Đơn vị được thực hiện đầu tư, mua sắm, quản lý sử dụng tài sản Nhà nước theo quy định của pháp luật quản lý tài sản tại đơn vị sự nghiệp Đối với TSCĐ sử dụng vào hoạt động dịch vụ theo thực hiện khấu hao thu hồi vốn theo quy định áp dụng cho doanh nghiệp Nhà nước Số tiền trích khấu hao, thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn NSNN được để lại cho đơn vị sự nghiệp công lập để bổ sung quỹ phát triển sự nghiệp, số tiền trích khấu hao, tiền thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn vay được dùng vào trả nợ vay, nếu trả đủ nợ
mà còn thừa thì bổ sung quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp
- Quyền tự chủ trong việc trả tiền lương, tiền công cho người lao động trong đơn vị theo các quy định của pháp luật lao động
- Quyền tự chủ trong việc phân phối và sử dụng kết quả hoạt động tài chính trong năm
Đó là những nội dung cơ bản quyền tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập có thu Tuỳ theo mức tự bảo đảm quyền nguồn kinh phí cho hoạt động thường xuyên trong các đơn vị công lập mà phạm vi, mức độ tự chủ tài chính có khác nhau trong các đơn vị sự nghiệp công lập Nói chung, đơn vị sự nghiệp bảo đảm hoàn toàn kinh phí cho hoạt động thường xuyên theo quy định thì phạm vi mức độ tự chủ đuợc quy định rộng rãi hơn
b Quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi phí hoạt động và đối với đơn vị sự nghiệp công lập bảo đảm một phần chi phí hoạt động
* Phạm vi và mức độ tự chủ về các khoản thu và mức thu:
Trang 24Được quyền thu phí, lệ phí nhưng phải thu đúng, thu đủ theo mức thu
và đối tượng thu do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định Nếu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định khung mức thu thì đơn vị có quyền quy định mức thu cụ thể dựa trên nhu cầu chi tiêu phục vụ cho hoạt động của đơn
vị và khả năng đóng góp của xã hội, nhưng không được vượt quá khung thu
đã được quy định Đơn vị có quyền thực hiện chế độ miễn giảm các khoản thu phí, lệ phí cho đối tượng chính sách xã hội theo quy định của Nhà nước
Được quyền xác định mức thu dựa trên mức giá do Nhà nước quy định khi thực hiện đơn đặt hàng về sản phẩm hàng hoá, dịch vụ Nếu Nhà nước chưa quy định mức giá thì việc xác định mức thu dựa trên cơ sở dự toán chi phí được cơ quan tài chính cùng cấp thẩm định chấp thuận
Được quyết định các khoản thu, mức thu cụ thể đối với những hoạt động dịch vụ theo hợp đồng với tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, đơn vị hoạt động liên doanh, liên kết dựa trên nguyên tắc bảo đảm bù đắp chi phí và
có tích luỹ
*Phạm vi mức độ và tự chủ về sử dụng nguồn tài chính
Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính đơn
vị, các khoản chi thường xuyên (chi cho hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao; chi hoạt động thường xuyên phục vụ cho công tác thu phí, lệ phí; cho các hoạt động dịch vụ; kể cả chi thực hiện nghĩa vụ đơn vị NSNN, trích khấu hao TSCĐ, chi trả vốn, trả lãi tiền vay theo quy định đơn vị pháp luật) Thủ trưởng đơn vị có quyền quyết định một số mức chi quản lý, chi hoạt động sự nghiệp cao hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định
Căn cứ vào bản chất công việc, thủ trưởng đơn vị được quyền quyết định phương thức khoán chi phí cho từng bộ phận, đơn vị trực thuộc
Có quyền quyết định đầu tư xây dựng, mua sắm mới và sửa chữa lớn tài sản theo quy định của pháp luật
Trang 25*Phạm vi, mức độ tự chủ về sử dụng kết quả hoạt động tài chính năm
Hàng năm sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp khác theo quy định (nếu có), khoản chênh lệch thu lớn chi thì đơn vị sự nghiệp có thu được toàn quyền sử dụng Quyền sử dụng này được quy định theo mức độ tự bảo đảm kinh phí cho hoạt động thường xuyên
Đối với đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm toàn bộ chi phí cho hoạt động thường xuyên thì phần chênh lệch thu lớn hơn chi được phân phối theo trình tự như sau:
- Trích tối thiểu 25% để lâp quỹ Phát triển hoạt động sự nghiệp
- Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động
- Trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi được quyền trích lập vào 2 quỹ tối đa không quá 3 tháng tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm
Dựa trên những quy định đó, Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi phí hoạt động, quyết định mức trả thu nhập và mức lập các quỹ theo quy chế chi tiêu nội bộ đơn vị
Đối với đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm một phần kinh phí hoạt động thường xuyên thì phần chênh lệch thu lớn hơn chi được quyền sử dụng và phân phối theo trình tự như đối với đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm toàn bộ kinh phí cho hoạt động thường xuyên, chi khác trong trường hợp nếu khoản chênh trong năm nhỏ hơn hoặc bằng 1 lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm thì đơn vị được quyền ưu tiên trả thu nhập tăng thêm cho người lao động trước số còn lại mới trích lập các quỹ
c Quyền tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công do NSNN bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động
Về cơ bản nội dung tự chủ tài chính trong các đơn vị này cũng tương tự như đối với các đơn vị sự nghiệp công lập bảo đảm toàn bộ hoặc một phần
Trang 26kinh phí cho hoạt động thường xuyên, song mức độ tự chủ tài chính thấp hơn Bởi vì nguồn kinh phí phục vụ cho hoạt động sự nghiệp ở đơn vị này chủ yếu
Nguyên tắc thực hiện quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm:
Một là: Hoàn thành nhiệm vụ được giao Đối với hoạt động sản xuất
hàng hoá, cung cấp dịch vụ (gọi tắt là hoạt động dịch vụ) phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao, phù hợp với khả năng chuyên môn và tài chính của đơn vị
Hai là: Thực hiện công khai, dân chủ theo đúng quy định của pháp luật
Ba là: Thực hiện quyền tự chủ phải gắn liền với tự chịu trách nhiệm trước
cơ quan quản lý cấp trên và trước pháp luật về những quyết định của mình; đồng thời chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Bốn là: Đảm bảo lợi ích của Nhà nước, quyền, nghĩa vụ tổ chức, cá
nhân theo quy định của pháp luật
Tóm lại: Thực hiện tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công
lập là nhằm thực hiện việc quản lý tốt hơn mọi hoạt động trong đơn vị sự nghiệp công lập Việc giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị chính là cơ chế Nhà nước giao quyền tự chủ cao hơn trong quản lý lao động và quản lý tài chính cho các đơn vị
Trang 271.2 Tổng quan về tình hình thực hiện tự chủ tài chính trong các đơn vị
sự nghiệp GD & ĐT ở Việt Nam thời gian qua
Có thể khẳng định rằng việc giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị
sự nghiệp có thu nói chung và giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu thuộc lĩnh vực GD&ĐT nói riêng theo Nghị định 10/2002/NĐ-
CP ngày 16/01/2002 và Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 của Chính phủ có ý nghĩa hết sức quan trọng, nhằm tách chức năng quản lý Nhà nước với các chức năng điều hành các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công để thực hiện theo cơ chế riêng, phù hợp, có hiệu quả, xóa bỏ cơ chế cấp phát tài chính theo kiểu “xin - cho” Sau xây dựng, ban chấp hành và tổ chức triển khai thực hiện cơ chế tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công nói chung và các đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo nói riêng đã thu được một số kết quả đáng ghi nhận, đồng thời cũng tồn tại những hạn chế bắt nguồn từ nguyên nhân chủ quan và khách quan cần quan tâm khắc phục
1.2.1 Những kết quả đạt được
Thứ nhất: Tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu là một
bước cải cách, làm thay đổi căn bản nhận thức, phương thức, nội dung thủ tục quản lý tài chính đối với sự nghiệp có thu từ Trung ương đến địa phương, chuyển từ cơ chế “bao cấp” sang cơ chế “phân cấp”, xác định trách nhiệm đầy
đủ của chủ thể sử dụng NSNN là các đơn vị sự nghiệp có thu, đồng thời tạo điều kiện cho các đơn vị chủ động sử dụng nguồn kinh phí (bao gồm nguồn ngân sách cấp và nguồn thu sự nghiệp…) đáp ứng yêu cầu hoạt động của đơn vị; bảo đảm chi tiêu hiệu quả, tiết kiệm trên cơ sở quy chế chi tiêu nội bộ do đơn vị xây dựng, thực hiện tốt hơn quy định công khai, minh bạch trong quản
lý và sử dụng nguồn tài chính
Thứ hai: Tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu là cơ chế
mới nhằm tạo sự chủ động cho thủ trưởng đơn vị sự nghiệp có thu Thủ trưởng đơn vị được giao quyền tự chủ tài chính được chủ động, tự
Trang 28quyết, tự chịu trách nhiệm; tăng cường trách nhiệm quản lý Nhà nước và tăng nguồn tài chính đầu tư cho hoạt động sự nghiệp; tạo cơ sở pháp lý cho các đơn vị thực hiện sắp xếp tổ chức, biên chế, thực hiện hợp đồng lao động, khuyến khích các đơn vị sự nghiệp hoạt động theo hướng đa dạng hoá các loại
h nh; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong chi tiêu; tăng thu nhập cho cán
bộ công nhân viên trong đơn vị
Thứ ba: Tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu đã xác
lập và tăng cường quyền chủ động, tự quyết, tự chịu trách nhiệm cho thủ trưởng đơn vị sự nghiệp được giao quyền tự chủ tài chính Đơn vị dự toán sự nghiệp được giao quyền tự chủ tài chính, được giao kinh phí chi thường xuyên từ NSNN ổn định trong 3 năm và hằng năm được tăng thêm theo tỷ lệ phần trăm do Thủ phủ quyết định Đây là bước đầu thử nghiệm
áp dụng “khuôn khổ chi tiêu trung hạn” của các cấp ngân sách
Thứ tư: Các đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ tài
chính đã chủ động trong việc huy động các nguồn vốn để tăng cường cơ sở vật chất, đổi mới trang thiết bị, phát triển hoạt động sự nghiệp, vay vốn của các tổ chức tín dụng, huy động vốn của cán bộ, viên chức trong đơn vị, từ nhà đầu tư thông qua các hoạt động liên doanh, liên kết Do đó cơ sở vật chất của các đơn vị sự nghiệp được tăng cường, tạo điều kiện mở rộng các hoạt động
sự nghiệp phong phú và đa dạng phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao
Thứ năm: Các đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ tài
chính đã chủ động mở rộng hoạt động và khai thác nguồn thu sự nghiệp, cụ thể các Trường đã chủ động tổ chức các hình thức đào tạo tập chung, từ xa, vùa học vừa làm, một số Trường đại học, cao đẳng có uy tín đã tổ chức liên kết với nước ngoài, mời các Trường nước ngoài vào mở Trường, mở lớp từ đó tạo điều kiện mở rộng và phát triển nguồn thu sự nghiệp Năm 2012 số thu của các đơn vị sự nghiệp trong cả nước tăng bình quân 18% so với năm 2011 Ngoài ra các Trường cũng có nhiều giải pháp về quản lý nội bộ, thực hành tiết
Trang 29kiệm chi phí như xây dựng các tiêu chuẩn, định mức chi phí, định mức tiêu hao nguyên, nhiên vật liệu để thực hiện trong nội bộ đơn vị, xây dựng các quy trình cung cấp dịch vụ hợp lý, khoa học hơn Theo báo cáo của các Bộ
Cơ quan trung ương và địa phương, nhiều đơn vị sử dụng tiết kiệm chi thường xuyên khoảng 2%-5% góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sự nghiệp
Thứ sáu: Tự chủ tài chính đã mở ra hướng tự chủ cho các cơ sở giáo
dục và đào tạo công lập, đặc biệt là các Trường Đại học và cao đẳng công lập trong việc chủ động sử dụng kinh phí NSNN, phí, lệ phí, tài sản cho việc thực hiện nhiệm vụ đạt hiệu quả cao hơn Các Trường đại học, cao đẳng đã chủ động khai thác nguồn tài chính, bố trí chi tiêu một cách hợp lý, tiết kiệm, hoàn thành nhiệm vụ được giao, chất lượng đào tạo ngày càng cao, đời sống cán bộ viên chức được cải thiện hơn trước Sau mỗi năm, các Trường tổng kết hoạt động tài chính, xác định mức thu lớn hơn chi, đơn vị đã chủ động trích lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; một số Trường huy động vốn của cán bộ, viên chức hoặc vay vốn của các tổ chức tín dụng để đầu tư xây dựng cơ bản, đổi mới trang thiết bị thí nghiệm, thực hành, thực tập, nghiên cứu khoa học làm cơ sở vật chất của các Trường trở nên khang trang, hiện đại hơn Đây là một trong những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng GD&ĐT: “học đi đôi với hành” và cũng là điều kiện để nâng cao thương hiệu đào tạo của các
cơ sở giáo dục Đại học, Cao đẳng là cơ sở để phát triển dịch vụ đào tạo tăng nguồn thu ngày càng nhiều, mức thu nhập cho người lao động ngày càng cao
Nhiều Trường đại học, cao đẳng công lập mở rộng quy mô, đa dạng hoá ngành nghề, cấp bậc đào tạo với nhiều hình thức đào tạo tập trung, vừa học vừa làm, từ xa nhằm khai thác và phát triển nguồn thu Ngoài ra các Trường đại học, cao đẳng có nhiều giải pháp để quản lý chi tiêu, thực hành tiết kiệm chống lãng phí như xây dựng tiêu chuẩn, định mức chi phí, định mức tiêu hao nguyên, nhiên vật liệu, xác định hệ số quy đổi giờ giảng lý thuyết, thực hành, thực tập, đơn giá giờ giảng hợp lý… đã góp phần nâng cao
Trang 30trách nhiệm của cán bộ, giảng viên trong việc sử dụng nguồn tài chính trong đơn vị, phục vụ nhiệm vụ được giao ngày càng hiệu quả cao hơn
Trách nhiệm của các Trường đại học, cao đẳng ngày càng được nâng cao, 100% các Trường xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ và công khai thu, chi tài chính, chi trả thu nhập tăng thêm, chế độ công tác phí, sử dụng điện thoại, xăng dầu, văn phòng phẩm, mua sắm tài sản, chế đ giáo viên, nghiên cứu khoa học, hoạt động dịch vụ, trích lập và sử dụng các quỹ được thống nhất trong các kỳ hội nghị cán bộ viên chức của Nhà trường
Nhìn chung khi thực hiện việc tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung, trong các Trường đại học, cao đẳng công lập nói riêng, chúng ta khẳng định cơ chế giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập cơ chế đổi mới trong công cuộc cải cách tài chính công, phát huy được quyền dân chủ trong quản lý, từng bước xoá bỏ cơ chế của nền hành chính kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp và tính ỷ lại của cơ chế “xin - cho” Các đơn vị đã chủ động khai thác nguồn thu, tiết kiệm được kinh phí được giao, sử dụng lao động hợp lý, tăng thu nhập cho người lao động, có điều kiện
để mua sắm trang thiết bị mới, hiện đại, công khai dân chủ theo nội dung của quy chế chi tiêu nội bộ, phân định giữa chức năng quản lý Nhà nước với các đơn vị sự nghiệp, tăng thu cho ngân sách và phúc lợi xã hội
1.2.2 Những hạn chế cần khắc phục
Bên cạnh các bước tiến trong thực hiện việc tự chủ, tự chịu trách nhiệm thì việc tự chủ, tự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công nói chung và các cơ sở giáo dục và đào tạo công lập nhìn chung còn hạn chế về tác dụng bao gồm:
Một là: Cơ chế chính sách của Nhà nước còn thiếu đồng bộ và có
những bất cập nhất định cụ thể là:
Chậm đổi mới, chậm ban hành các văn bản hướng dẫn Nghị định 43/CP quy định, Bộ chủ qu n phối hợp với các Bộ để ra văn bản hướng dẫn lĩnh vực
Trang 31Bộ chủ qu n phụ trách, nhưng hầu như các Bộ vẫn chưa có văn bản hướng dẫn, do vậy các đơn vị sự nghiệp được giao quyền tự chủ cùng thuộc một Bộ
và có tính chất hoạt động hoàn toàn tương đồng nhau nhưng cơ chế quản lý tài chính cũng khác nhau, mỗi đơn vị làm theo một kiểu, theo ý chủ quan của nhà quản lý đơn vị Việc phân cấp đầu tư, mua sắm TSCĐ, đầu tư xây dựng
cơ bản cho đơn vị tự thực hiện của Bộ chủ qu n đã được thực hiện nhưng giá trị phân cấp còn nhiều định mức tiêu chuẩn như định mức giờ giảng, chế đ thanh toán ngoài giờ… đã lạc hậu nhưng vẫn sử dụng làm hạn chế tính chủ động, tự chủ tài chính của các Trường
Thực tế trao quyền tự chủ chưa đ thực hiện triệt để và đầy đủ Hiện nay các Trường vẫn chịu sự chi phối về chỉ tiêu tuyển sinh của Bộ Giáo dục
và Đào tạo, trong khi nguồn lực có thể tiếp nhận nhiều hơn chỉ tiêu được giao Đây là một sự lãng phí về nguồn lực Mặt khác các Trường được yêu cầu dạy theo chương trình khung của Bộ Chương trình khung này có đến 70% khối lượng, nội dung chương trình và các Trường chỉ được “tự chủ” trong 30% khối luợng còn lại, vì vậy Trường vẫn ở thế bị động về học thuật Ngoài ra việc quy định mức thu học phí vẫn do Bộ quy định, trong khi lẽ ra Bộ nên để cho các Trường tự quyết định mức thu của mình dựa trên khả năng tuyển sinh, đánh giá của xã hội về chất lượng của Trường…
Nghị định 43/CP thực chất chỉ giao quyền tự chủ cho các Trường trong việc tổ chức chi, chưa giao quyền tự chủ về huy động các nguồn lực tài chính
từ học phí do người học đóng góp Đây thực sự là một bất cập lớn cho các Trường trong việc chủ động tìm kiếm, huy động nguồn lực tài chính cho đầu
tư phát triển, thu hút nhân tài, xây dựng cơ sở vật chất nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, trong khi ngân sách Nhà nước chi cho giáo dục hằng năm tăng không đáng kể giao động ở tỷ lệ 20% GDP
Quy định về chi tiêu đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm TSCĐ thực sự chưa đúng, bản chất của công tác đào tạo Theo nghị định số 43/CP thì số tiền
Trang 32chi cho đầu tư XDCB, mua sắm TSCĐ phuc vụ công tác giảng dạy, thực hành, thực tập trong năm không được tính là chi phí thường xuyên, không dung nguồn học phí để chi, làm cho việc đầu tư, mua sắm trong năm báo cáo gặp khó khăn, phức tạp (phải lập dự toán riêng trình Bộ phê duyệt và phải được kho bạc Nhà nước chấp thuận thanh toán) Việc triển khai dự án XDXB gặp nhiều khó khăn do ngân sách Nhà nước thường cấp 40% và đơn vị phải tự
lo 60%
Thời điểm chi và mức thu nhập tăng thêm là chưa hợp lý Từ năm 2002 khi thực hiện Nghị định số 10/2002/NĐ-CP của Chính phủ, các Trường đã thanh toán 100% thu nhập tăng thêm cho người lao động theo tháng, nhưng Nghị định 43/CP và các văn bản hướng dẫn lại quy định việc chi trả thu nhập tăng thêm cho người lao động chỉ được thực hiên theo quý với mức tối đa bằng 60% số chênh lệch thu lớn hơn chi tiết kiệm được Kết quả là hàng tháng Nhà trường không đủ kinh phí để trả 100% thu nhập tăng thêm cho người lao động Điều này không được người lao động chấp thuận, vì mức thu nhập hằng tháng của họ bị giảm và phải chờ đến khi cấp trên phê duyệt quyết toán mới được lĩnh, làm cho đời sống người lao động gặp khó khăn
Ngoài ra, Nhà nước chưa có hướng dẫn chưa có quy định cụ thể về việc liên doanh, liên kết, về tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành, chất lượng và kết quả hoạt động của đơn vị đựoc giao quyền tự chủ nên việc triển khai, thực hiện còn nhiều vướng mắc
Đối với các đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo với nguồn ngân sách cấp hàng năm còn hạn hẹp và mức thu học phí rất thấp và cố định nhiều năm (3,8 triệu đồng/sinh viên/năm) các cơ sở giáo dục không có
đủ nguồn lực để bổ sung thu nhập cho giáo viên khi thưc hiện chính sách tăng lương và tăng cường trang thiết bị, cơ sở vật chất nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Điều này đã tạo áp lực rất lớn buộc các Trường phải nâng tỷ lệ sinh viên/giảng viên cao, ngược lại với yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục
Trang 33Hai là: Tính chủ động của các Trường trong việc thực hiện tự chủ tài
chính còn mang tính hình thức
Một bộ phận không nhỏ cán bộ, viên chức, người lao động trong các Nhà trường chưa nhận thức được đầy đủ nội dung, mục đích và yêu cầu về tự chủ tài chính, vẫn có tâm lý ỷ lại, trông chờ vào sự bao cấp của Nhà nước, của Nhà trường, e ngại đụng trạm đến những vấn đề phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều lĩnh vực…Việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ còn mang tính chủ quan, áp đặt hơn là dân chủ khách quan, chưa quy định cụ thể về nội dung, mức chi hoặc việc chi trả thu nhập vẫn còn mang tính bình quân, chưa
có giải pháp về chi trả thu nhập theo mức độ hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động để hấp dẫn, thu hút người tài, người có năng lực; thực sự còn thiếu các biện pháp quản lý tiết kiệm chi, tăng thu, mới chi dừng lại ở mức là chủ trương, đường lối để phấn đấu thực hiện
Trước những bất cập kéo dài nói trên và nhu cầu tăng chất lượng và quy mô giáo dục các cấp học, bậc học, việc đổi mới cơ chế tài chính giáo dục trong thời gian tới là một yêu cầu rất cấp thiết
1.2.3 Những phương hướng hoàn thiện việc tự chủ tài chính hiện nay trong các đơn vị sự nghiệp GD & ĐT
Một là: Ngày 15 tháng 4 năm 2009, Bộ Chính trị ra Thông báo số
242-TB/TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII), phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020, trong đó đã khẳng định: Sau 12 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 2, khoá VIII, sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta có bước chuyển biến tích cực, đạt được những kết quả quan trọng, về cơ bản đã thực hiện được các mục tiêu, nhiệm
vụ nêu trong Nghị quyết Tuy nhiên so với yêu cầu của Nghị quyết và yêu cầu phát triển của đất nước, vẫn còn một số nội dung chưa đạt được Vì vậy, đồng thời với việc chỉ đạo ngành giáo dục cần sớm khắc phục những tồn tại, hạn chế yếu kém; Bộ Chính trị cũng đã ghi rõ bảy nhiệm vụ, giải pháp để phát
Trang 34triển giáo dục đến năm 2020 Cũng trong Kết luận này, Bộ Chính trị giao Ban cán sự Đảng Chính phủ xây dựng chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 và hoàn chỉnh Đề án đổi mới cơ chế tài chính giáo dục, trình Quốc hội xem xét, quyết định Đây là những định hướng chỉ đạo rất quan trọng để giáo dục Việt Nam có thể hội nhập quốc tế vào năm 2020 khi nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp
Trong bảy nhiệm vụ, giải pháp đặt ra để phát triển giáo dục đến năm
2020 có nhiệm vụ và giải pháp thứ năm “Tăng cường nguồn lực cho giáo dục” Theo đó tăng đầu tư Nhà nước cho giáo dục và đào tạo; ưu tiên các chương trình mục tiêu quốc gia, khắc phục tình trạng bình quân, dàn trải;
Không ngừng đầu tư xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục, thực hiện tốt chủ trương xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục Thực hiện tốt chủ trương xây dựng ký túc xá sinh viên và nhà công vụ cho giáo viên ở vùng khó khăn Hoàn thiện và bổ sung cơ chế, chính sách đối với Trường ngoài công lập;
Đẩy mạnh việc thực hiện xã hội hoá giáo dục; Nhà nước có chính sách huy động mạnh mẽ các nguồn lực xã hội cho phát triển giáo dục và đào tạo, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân, các thành phần kinh tế tích cực tham gia các hoạt động phát triển giáo dục Xây dựng cơ chế quản lý giám sát mọi nguồn lực đầu tư của xã hội cho giáo dục
Đổi mới cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo nhằm góp phần quan trọng nâng cao chất lượng, mở rộng quy mô và đảm bảo công bằng trong giáo dục; thực hiện chế độ học bổng, học phí và hỗ trợ học tập ở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học thực hiện theo nguyên tắc chia sẻ chi phí đào tạo giữa Nhà nước và người học Thực hiện tốt chủ trương cho người học nghề, sinh viên gia đình có hoàn cảnh khó khăn được vay tiền ngân hàng để học
Hai là: Ngày 19 tháng 6 năm 2009, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá 12,
Quốc hội đ thông qua Nghị định số 35/2009/QH12 về chủ trương định
Trang 35hướng đổi mới một số cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo từ năm học 2010-2011 đến năm học 2014-2015, với 83,37% số phiếu tán thành Nội dung
cơ bản của Nghị quyết số 35/2009/QH12 ảnh hưởng đến phương hướng hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính hiện nay trong đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực GD&ĐT bao gồm:
Mục tiêu của việc đổi mới cơ chế tài chính: là xây dựng một số cơ chế
tài chính mới cho giáo d c và đào tạo, nhằm huy động ngày càng tăng và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và xã hội để nâng cao chất lượng,
mở rộng quy mô và bảo đảm công bằng trong giáo duc và đào tạo, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; góp phần xây dựng hệ thống các chính sách để tiến tới mọi người ai cũng được học hành với nền giáo dục có chất lượng ngày càng cao
Chủ trương, định hướng đổi mới một số cơ chế tài chính:
(1) Nhà nước bảo đảm vai trò đầu tư chủ yếu cho giáo dục và đào tạo; đồng thời huy động sự đóng góp theo khả năng thực tế của gia đình người hoc; khuyến khích sự đóng góp của các doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân; tạo điều kiện thuận lợi thành lập và phát triển các cơ sở giáo dục và đào tạo ngoài công lập; hỗ trợ các cơ sở giáo dục và đào tạo ngoài công lập đào tạo nâng cao trình độ giáo viên và cán bộ quản lý
(2) Chính phủ quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các
cơ quan quản lý Nhà nước ở trung ương và ở địa phương trong việc lập, giao
và thực hiện kế hoạch ngân sách giáo dục và đào tạo Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư và cơ cấu lại chi ngân sách cho các mục tiêu của giáo dục và đào tạo
Ưu tiên ngân sách cho phổ cập giáo dục tiểu học miễn học phí; phổ cập giáo dục trung học cơ sở và phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi, trước mắt còn có thu học phí; giáo dục ở các vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số; phát triển dạy nghề và bồi dưỡng nhân tài Ngân sách Nhà nước đầu tư cho các cơ sở giáo dục và đào tạo công lập bảo đảm đạt chuẩn chất lượng trong các giai
Trang 36đoạn phát triển; hình thành một số cơ sở giáo dục và đào tạo chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn mới của đất nước
(3) Hoàn thiện cơ sở pháp lý và chính sách để các cơ sở đào tạo nghề nghiệp và đại học, cao đẳng công lập được tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính Các cơ
sở giáo dục và đào tạo phải bảo đảm sự tương quan giữa chất lượng giáo dục, đào tạo, tài chính; thực hiện chế độ báo cáo tài chính với c
p theo quy định của Nhà nước
(4) Các cơ quan quản lý Nhà nước về giáo dục, tài chính và các cơ quan hữu quan thực hiện thanh tra, kiểm tr, kiểm toán việc sử dụng tài chính của các cơ sở giáo dục và đào tạo, bảo đảm công khai, minh bạch, đúng mục đích
và đúng quy định của pháp luật Phụ huynh học sinh và cán bộ, giáo viên ở các cơ sơe giáo dục mầm non, phổ thông, học sinh, sinh viên và cán bộ, giảng viên ở các cơ sở đào tạo nghề nghiệp và đại học, cao đẳng có quyền và trách nhiệm giám sát việc sử dụng kinh phí của cơ sở giáo dục và đào tạo theo quy chế chi tiêu nội bộ của cơ sở giáo dục và đào tạo
(5) Thực hiện chính sách ưu tiên về lương và phụ cấp cho đội ngũ nhà giáo; thực hiện chế độ phụ cấp thâm niên đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; bảo lưu phụ cấp đứng lớp trong thời hạn 3 năm cho nhà giáo được điều động làm công tác quản lý giáo dục
(6) Đổi mới chính sách học phí, học bổng và hỗ trợ người học theo hướng… “Học phí đối với đào tạo nghề nghiệp và đại học,cao đẳng công lập thực hiện theo nguyên tắc chia sẻ chi phí đào tạo giữaNhà nước và người học Những năm đầu, tổng chi phí của các cơ sở đào tạo công lập chiếm không quá 40% tổng chi thường xuyên, những năm sau tăng dần phù hợp với lộ trình đổi mới chính sách học phí Thực hiện miễn, giảm học phí cho học sinh, sinh viên
là con của người có công với nước, các đối tượng chính sách; giảm 50% đến 100% học phí cho cho học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở đi học nghề; học
Trang 37sinh học nghề, sinh viên hộ nghèo, cận nghèo và gia đình có hoàn cảnh khó khăn được vay tiền tại Ngân hàng chính sách xã hội để học; tiếp tục thực hiện chế độ học bổng chính sách để hỗ trợ học sinh, sinh viên học giỏi Sinh viên tốt nghiệp đặc biệt xuất sắc được cấp học bổng để học tiếp ở trong nước và nước ngoài”
Các cơ sở giáo dục và đào tạo được thực hiện chương trình chất lượng cao và được thu học phí tương xứng để trang trải chi phí đào tạo
Thực hiện kiểm định chất lượng các cơ sở đào tạo nghề nghiệp và đại học, cao đẳng các chương trình đào tạo và áp dụng cơ chế gắn học phí với chất lượng đào tạo
(7) Lộ trình thực hiện: Đối với các chương trình đại trà tại các cơ sở đào tạo nghề nghiệp và đại học, cao đẳng công lập, học phí được xác định theo các nhóm nghề nghiệp đào tạo và các bậc học, gắn với chất lượng đào tạo, thực hiện lộ trình tăng dần, phù hợp với nguyên tắc chia sẻ và khả năng đóng góp thực tế của người học
Chính sách học phí được thực hiện từ năm 2010 - 2011 đến năm học
2014 - 2015, Những cơ chế tài chính không liên quan đến học phí được áp dụng từ năm tài khoá 2010
Trang 38Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết
- Trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về tự chủ tài chính của các trường đại học, cao đẳng công lập
- Phân tích thực trạng về công tác quản lý tài chính tại trường Cao đẳng công nghiệp Thái Nguyên, chỉ ra được nguyên nhân các kết quả đã đạt được nhằm phát huy và những tồn tại để khắc phục
công nghiệp Thái Nguyên
2.2 Các phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế, các quan điểm đường lối về phát triển giáo dục, đào tạo, chính sách giáo dục, đầu tư cho giáo dục của Nhà nước Đề tài này mang tính ứng dụng, triển khai cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước đối với các ĐVSN, nên đề tài bám sát khung khổ pháp luật về tài chính của Nhà nước trong đó đặc biệt quan trọng là các quy định của Chính phủ về quản lý tài chính theo Nghị định 10/NĐ-CP và Nghị định 43/NĐ-CP
Một là, xác định việc tồn tại hai hình thức quản lý tài chính ở một đơn
vị sự nghiệp có thu
Hai là, Một số giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính nhằm mục đích
tăng nguồn thu, tăng tính tự chủ trong hoạt động quản lý tài chính, đáp ứng các nhu cầu ngày càng tăng về nguồn tài chính cho đào tạo ngay tại chính Trường Cao đẳng Công nghiệp Thái Nguyên
Số liệu được thu thập từ các chứng từ, sổ sách, các báo cáo tài chính tại Trường Cao đẳng Công nghiệp Thái Nguyên
Trang 392.2.2 Phương pháp phân tích
Để tiến hành phân tích hoạt động tài chính người ta không dùng riêng
lẻ một phương pháp phân tích nào mà sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích với nhau để đánh giá tình hình đơn vị một cách xác thực nhất, nhanh nhất
Phương pháp phân tích hoạt động tài chính là hệ thống các phương pháp nhằm tiếp cận,nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, quan hệ, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, xong phương pháp chủ yếu là phương pháp
so sánh và phân tích tỷ lệ
a) Phương pháp so sánh: Để áp dụng được phương pháp này cần phải
đảm bảo các điều kiện có thể so sánh được của các chỉ tiêu(phải thống nhất về nội dung, phương pháp, thời gian và đơn vị tính toán của các chỉ tiêu so sánh)
Phương pháp so sánh sử dụng trong kỳ phân tích tài chính là:
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ
xu hướng thay đổi về tài chính của đơn vị, thấy được sự cải thiện hay xấu đi như thế nào để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới
- So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấu của đơn vị
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với mức trung bình của ngành để thấy được tình hình tài chính của đơn vị đang ở tình trạng tốt hay xấu, được hay chưa được so với các đơn vị khác cùng ngành
- So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng loại trong tổng hợp ở mỗi bản báo cáo So sánh theo chiều ngang để thấy đựơc sự biến đổi cả
Trang 40về số tương đối và số tuyệt đối của một khoản mục nào đó qua niên độ kế toán liên tiếp
b) Phương pháp phân tích tỷ lệ: Là phương pháp truyền thống, được sử
dụng phổ biến trong phân tích tài chính Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụng ngày càng được bổ xung và hoàn thiện Bởi lẽ:
Thứ nhất, nguồn thông tin kế toán và tài chính đựơc cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn Đó là cơ sở hình thành các chỉ tiêu tham chiếu tin cậy cho việc đánh giá một tỷ lệ tài chính của đơn vị
Thứ hai, việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ
Thứ ba, phương pháp phân tích này giúp cho nhà phân tích khai thác có hiệu quả các số liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loạt tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn
Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính Về nguyên tắc, phương pháp tỷ lệ yêu cầu phải xác định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét đánh giá tình hình tài chính trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của đơn vị với các tỷ lệ tham chiếu
Trong phân tích tài chính, các tỷ lệ tài chính được phân tích thành các nhóm tỷ lệ về nội dung thanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn và nguồn vốn, nhóm các tỷ lệ về năng lực hoạt động
2.2.3.Phương pháp lập dự toán thu chi ngân sách
Trong điều kiện cụ thể ở các đơn vị sự nghiệp của Việt Nam hiện nay, phương pháp lập dự toán trên cơ sở quá khứ vẫn là phương pháp được sử dụng rộng rãi Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu đổi mới của tự chủ tài chính, các đơn vị sự nghiệp có thể nghiên cứu triển khai áp dụng thử nghiệm phương pháp lập dự toán cấp không cho một số hoạt động tự chủ của đơn vị
Như vậy, trong quá trình chấp hành dự toán thu, các đơn vị sự nghiệp phải coi trọng công bằng xã hội, đảm bảo thực hiện nghiêm túc các chính