Kiến thức, thực hành của NCSC về đáp ứng nhu cầu chăm sóc PHCN cho người bệnh tai biến mạch máu não .... Kiến thức, thực hành của người chăm sóc chính về đáp ứng nhu cầu chăm sóc phục hồ
Trang 1NGUYỄN VĂN LỆ
THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN CHĂM SÓC PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TẠI NHÀ CHO NGƯỜI BỆNH BỊ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO ĐÃ TỪNG ĐIỀU TRỊ
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HÀ ĐÔNG NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01
HÀ NỘI, 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG
NGUYỄN VĂN LỆ
THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN CHĂM SÓC PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TẠI NHÀ CHO NGƯỜI BỆNH BỊ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO ĐÃ TỪNG ĐIỀU TRỊ
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HÀ ĐÔNG NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01
PGS TS Nguyễn Thị Minh Thủy TS Nguyễn Thị Thịnh
HÀ NỘI, 2015
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo Sau Đại học, các Thầy giáo, Cô giáo trường Đại học Y tế Công cộng đã có nhiều công sức giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, tập thể cán bộ, giảng viên và đặc biệt là bộ môn điều dưỡng, phòng Hành chính tổng hợp Trường Cao đẳng y tế Hà Đông đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu
Xin gửi tặng gia đình và bè bạn, những người đã dành cho tôi những tình cảm, lời động viên, sự giúp đỡ trong cuộc sống và trong quá trình học tập vừa qua
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 08 tháng 10 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Văn Lệ
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1 Thông tin chung về tai biến mạch máu não 4
2 Thực trạng nhu cầu chăm sóc PHCN ở người bệnh tai biến mạch máu não 11
3 Kiến thức, thực hành của NCSC về chăm sóc PHCN tại nhà cho người bệnh tai biến mạch máu não 12
4 Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của NCSC về chăm sóc PHCN cho người bệnh tai biến mạch máu não tại cộng đồng 14
5 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 17
KHUNG LÝ THUYẾT 18
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
1 Đối tượng nghiên cứu 19
2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 19
3 Thiết kế nghiên cứu 19
4 Cỡ mẫu và chọn mẫu 19
5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 21
6 Các biến số nghiên cứu 21
7 Các khái niệm, thước đo và tiêu chuẩn đánh giá 22
8 Quản lý và phân tích số liệu 24
9 Vấn đề đạo đức nghiên cứu 24
10 Sai số của nghiên cứu, biện pháp khắc phục 25
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
Trang 53.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu: 26
3.2 Nhu cầu chăm sóc PHCN tại nhà của người bệnh tai biến mạch máu não 28
3.3 Kiến thức, thực hành của NCSC về đáp ứng nhu cầu chăm sóc PHCN cho người bệnh tai biến mạch máu não 31
3.4 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về chăm sóc PHCN cho người bệnh tai biến mạch máu não 42
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 49
4.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 49
4.2 Nhu cầu chăm sóc phục hồi chức năng tại nhà của người bệnh tai biến mạch máu não 50
4.3 Kiến thức, thực hành của người chăm sóc chính về đáp ứng nhu cầu chăm sóc phục hồi chức năng cho người bệnh tai biến mạch máu não 53
4.4 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành về đáp ứng nhu cầu chăm sóc PHCN tại nhà cho người bệnh của người chăm sóc chính 56
KẾT LUẬN 61
KHUYẾN NGHỊ 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO ix
PHỤ LỤC xiii
Phụ lục 1: Biến số nghiên cứu xiii
Phụ lục 2: Bộ câu hỏi phỏng vấn xx
Phụ lục 3: Phiếu đánh giá nhu cầu chăm sóc PHCN của người bệnh tai biến mạch máu não xxviii
Phụ lục 4: Quy trình chăm sóc người bệnh tai biến mạch máu não của Bộ Y tế xxxi Phụ lục 5: Kế hoạch hoạt động nghiên cứu xxxiii
Phụ lục 6: Dự trù kinh phí xxxvii
Phụ lục 7: BIÊN BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA SAU BẢO VỆ ĐỀ CƯƠNG/BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ/LUẬN VĂN xxxviii Phụ lục 8: Biên bản hội đồng chấm luận văn thạc sỹ y tế công cộng xliii
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GVHD: Giáo viên hướng dẫn
UBND: Ủy ban nhân dân
TTYT: Trung tâm y tế
PHCNDVCĐ Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng
WHO: World Health Organization_Tổ chức Y tế thế giới
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3 1 Thông tin chung về người bệnh 26
Bảng 3 2 Phân bố theo thông tin về bệnh tật 26
Bảng 3 3.Thông tin chung của người chăm sóc chính 27
Bảng 3 4 Nhu cầu chăm sóc da và đường tiểu, bàng quang 28
Bảng 3 5 Nhu cầu chăm sóc ăn, uống và phòng ngừa táo bón 29
Bảng 3 6 Nhu cầu chăm sóc hô hấp và phòng ngừa tắc mạch 29
Bảng 3 7 Nhu cầu chăm sóc tư thế đúng và luyện tập – vận động 30
Bảng 3 8 Nhu cầu chăm sóc PHCN chung của người bệnh TBMMN 31
Bảng 3 9 Kiến thức về chăm sóc da và đường tiểu, bàng quang ở người bệnh có nhu cầu 31
Bảng 3 10 Kiến thức về chăm sóc ăn uống và phòng ngừa táo bón ở người bệnh có nhu cầu 32
Bảng 3 11 Kiến thức về chăm sóc hô hấp và phòng ngừa tắc mạch ở người bệnh có nhu cầu 33
Bảng 3 12 Kiến thức về chăm sóc tư thế đúng và luyện tập vận động ở người bệnh có nhu cầu 34
Bảng 3 13 Kiến thức chung của người chăm sóc chính về chăm sóc PHCN 34
Bảng 3 14 Kiến thức về nội dung và tầm quan trọng của việc chăm sóc PHCN 35
Bảng 3 15 Kiến thức về biến chứng của người bệnh tai biến mạch máu não 35
Bảng 3 16 Kiến thức về nội dung chăm sóc PHCN 36
Bảng 3 17 Thực hành đáp ứng nhu cầu về chăm sóc da 36
Bảng 3 18 Thực hành đáp ứng nhu cầu chăm sóc ăn, uống 37
Bảng 3 19 Thực hành đáp ứng nhu cầu chăm sóc đường tiểu, bàng quang 38
Bảng 3 20 Thực hành đáp ứng nhu cầu chăm sóc PHCN 38
Bảng 3 21 Thực hành đáp ứng nhu cầu chăm sóc luyện tập - vận động 39
Bảng 3 22 Thực hành chung của người chăm sóc chính 40
Bảng 3 23 Mức độ tự tin khi thực hiện các bước chăm sóc 40
Bảng 3 24 Những hỗ trợ của nhân viên y tế với người chăm sóc 41
Trang 8Bảng 3 25 Những nguồn thông tin mà NCSC tiếp cận 41
Bảng 3 26 Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học của NCSC với kiến thức về
chăm sóc PHCN của NCSC 42 ảng 3 27 Mối liên quan giữa tiếp cận thông tin với kiến thức về đáp ứng nhu cầu chăm sóc PHCN 43
Bảng 3 28 Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học NCSC với thực hành về
chăm sóc PHCN của NCSC 44 Bảng 3 29 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành về chăm sóc PHCN cho người bệnh tai biến mạch máu não 45 Bảng 3 30 Mô hình hồi quy các yếu tố liên quan đến kiến thức 46 Bảng 3 31 Mô hình hồi quy các yếu tố liên quan đến thực hành 47
Trang 9TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Tai biến mạch máu não luôn luôn là vấn đề thời sự của ngành y tế ở tất cả các quốc gia trên toàn thế giới vì bệnh có tỷ lệ mắc, tỷ lệ tử vong và tàn phế rất cao, ảnh hưởng nhiều đến kinh tế, đời sống của gia đình cũng như xã hội Tại quận Hà Đông chưa có nghiên cứu nào về nhu cầu chăm sóc PHCN cho người bệnh tai biến mạch máu và kiến thức, thực hành của người chăm sóc chính về chăm sóc PHCN cho người bệnh tai biến mạch máu não như thế nào Chính vì thế chúng tôi tiến
hành nghiên cứu “Thực trạng và các yếu tố liên quan đến công tác chăm sóc phục
hồi chức năng tại nhà cho người bệnh tai biến mạch máu não đã điều trị tại bệnh viện đa khoa Hà Đông năm 2014” với các mục tiêu: 1) Mô tả nhu cầu chăm sóc
phục hồi chức năng tại nhà cho người bệnh tai biến mạch máu não đã điều trị tại bệnh viện Hà Đông năm 2014; 2) Mô tả kiến thức, thực hành của người chăm sóc chính đáp ứng với nhu cầu chăm sóc phục hồi chức năng tại nhà cho người bệnh tai biến mạch máu não đã điều trị tại bệnh viện Hà Đông năm 2014; 3) Mô tả một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của NCSC cho người bệnh tai biến mạch máu não đã điều trị tại bệnh viện Hà Đông năm 2014
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang trên tổng số 156 người bệnh
và NCSC cho người bệnh bị tai biến mạch máu não tại nhà từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2015, và đã thu được một số kết quả như sau:
100% người bệnh có nhu cầu chăm sóc PHCN tại nhà, trong đó 92,3% có nhu cầu được chăm sóc cả 8 nội dung, và 7,7% có nhu cầu chăm sóc 7 nội dung Tỷ
lệ NCSC có kiến thức đạt về đáp ứng nhu cầu chăm sóc PHCN cho người bệnh là 25% và 75% có kiến thức không đạt Tỷ lệ NCSC có thực hành đạt về đáp ứng nhu cầu chăm sóc PHCN cho người bệnh là 26,9% và có 73,1% có thực hành không đạt Trong đó, NCSC chủ yếu có kiến thức và thực hành đáp ứng tốt đối với các nội dung như có chế độ ăn phù hợp, ăn các thức ăn dễ tiêu, cách cho ăn tránh nghẹn, sặc, vệ sinh da và bộ phận sinh dục hàng ngày, và chế độ luyện tập cho người bệnh như tăng cường vận động và vận động tay chân cho người bệnh Tuy nhiên, kiến thức và thực hành đáp ứng của NCSC vẫn còn hạn chế đối với một số nội dung như xoa bóp theo khung đại tràng, vỗ rung lồng ngực cho người bệnh, tập thở và tập thói
Trang 10quen đại tiện đúng giờ cho người bệnh và nhu cầu cho người bệnh có vị thế nằm đúng trên giường Sau khi phân tích đa biến bằng mô hình hồi quy logistic, nghiên cứu đã xác định được một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành về đáp ứng nhu cầu chăm sóc PHCN cho người bệnh TBMMN tại nhà Theo đó, những đối tượng trên 40 tuổi, là nữ giới, có trình độ học vấn cao, và đã từng tiếp cận thông tin
về các nội dung chăm sóc PHCN có kiến thức đạt về đáp ứng nhu cầu chăm sóc PHCN cho người bệnh TBMMN cao hơn so với những đối tượng khác (p<0,05) NCSC có thời gian chăm sóc người bệnh trên 24 tháng, có kiến thức chung đạt về đáp ứng nhu cầu chăm sóc PHCN và tự tin khi thực hiện các nội dung chăm sóc cụ thể cho người bệnh TBMMN có khả năng có thực hành đạt về đáp ứng nhu cầu chăm sóc PHCN cao hơn so với những đối tượng khác (p<0,05)
Từ các kết quả thu được, nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị như sau: 1) Sau khi người bệnh ra viện trở về gia đình thì người nhà và người chăm sóc chính cho người bệnh cần lưu ý đến các nhu cầu cần chăm sóc PHCN của người bệnh để đáp ứng đầy đủ các nhu cầu cho người bệnh; 2) Tăng cường cung cấp thông tin về
về bệnh TBMMN và các nội dung về chăm sóc PHCN cho người bệnh và người nhà người bệnh; 3) CBYT tăng cường cung cấp thông tin cho NCSC về chăm sóc PHCN đầy đủ và toàn diện cho người bệnh, đồng thời tư vấn, hướng dẫn hỗ trợ cho người nhà người bệnh về các hoạt động chăm sóc và luyện tập có thể thực hiện tại gia đình; 4) Tăng cường kỹ năng về chăm sóc PHCN cho người bệnh của NCSC và hướng dẫn kỹ thuật về chăm sóc PHCN cho NCSC để NCSC cảm thấy tự tin trong việc chăm sóc PHCN cho người bệnh, từ đó tăng tỷ lệ người bệnh được đáp ứng nhu cầu về chăm sóc PHCN
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai biến mạch máu não luôn luôn là vấn đề thời sự của ngành y tế ở tất cả các quốc gia trên toàn thế giới vì bệnh có tỷ lệ mắc, tỷ lệ tử vong và tàn phế rất cao, ảnh hưởng nhiều đến kinh tế, đời sống của gia đình cũng như xã hội Người bệnh thường giảm hoặc mất khả năng vận động, phải phụ thuộc vào người khác trong sinh hoạt hàng ngày, giảm khả năng tái nhập xã hội Tai biến mạch máu não đã và đang là một thách thức lớn đối với nền y học thế giới cũng như Việt Nam [2], [4]
Theo hiệp hội tim mạch Mỹ (AHA) ước tính ở Mỹ có khoảng 4,7 triệu người bệnh tai biến mạch máu não còn sống, chi phí chăm sóc điều trị trực tiếp cho những người bệnh này khoảng 17 tỉ USD [11] Ở Hàn Quốc theo Hong và cộng sự, ước tính rằng hiện tại có khoảng 750.000 người trên 30 tuổi mắc bệnh tai biến mạch máu não, chi phí chăm sóc người bệnh là khoảng 3,3 tỉ đô la Mỹ vào năm 2005 [32] Tại Việt Nam, tác giả Nguyễn Văn Thắng nghiên cứu dịch tễ học tại Hà Tây (Hà Nội) cho thấy: tỉ lệ mới mắc là 33/100.000 dân, tỷ lệ hiện mắc 169,9/100.000 dân, đặc biệt ở nhóm tuổi 70 – 79, tỉ lệ này lên tới 1.211,1/100.000 dân: tỉ lệ tử vong cũng dao động từ 15,1 – 25,5/100.000 dân [23]
Tai biến mạch máu não có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp ở những người cao tuổi, người bị tai biến mạch máu não thường được điều trị cấp cứu tại các bệnh viện từ một đến vài tuần, sau đó họ trở về nhà nhưng vẫn được tiếp tục điều trị chăm sóc để đảm bảo cho họ tái hội nhập xã hội một cách bình đẳng, có cuộc sống bình thường tối đa so với hoàn cảnh sống của họ Do đó, việc chăm sóc PHCN cho người bệnh sau khi ra viện là rất quan trọng và cần phải có biện pháp phù hợp Người bệnh tai biến mạch máu não cần phải được chăm sóc toàn diện không chỉ ở
cơ sở y tế mà còn tại gia đình
Đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng có tới 60 – 80% người tàn tật có thể phục hồi tại cộng đồng [9], [10] Tuy nhiên, một số nghiên cứu, đánh giá về thực trạng công tác chăm sóc PHCN cho người bệnh TBMMN cho thấy, việc đáp ứng nhu cầu chăm sóc PHCN cho người bệnh vẫn còn nhiều hạn chế Trong đó, người bệnh TBMMN chủ yếu được đáp ứng các nhu cầu chăm sóc cơ bản như chế độ ăn, dinh
Trang 12dưỡng, vệ sinh trong sinh hoạt hàng ngày, nhưng việc đáp ứng các nhu cầu chăm sóc PHCN toàn diện cho người bệnh còn hạn chế [22]
Địa bàn quận Hà Đông là một quận mới được thành lập của Hà Nội, dân số năm 2013 là 257.139 người, chia thành 17 phường Hệ thống y tế quận bao gồm 1 trung tâm y tế, 2 phòng khám đa khoa, 17 trạm y tế phường [6], [7] Theo khảo sát ban đầu của nhóm nghiên cứu, toàn quận có khoảng 485 người tai biến mạch máu não đã điều trị tại bệnh viện đa khoa Hà Đông, chủ yếu là người cao tuổi đang sống tại cộng đồng Hiện tại người bệnh tai biến mạch máu não ở đây có những nhu cầu chăm sóc PHCN gì? Thực tế người chăm sóc đáp ứng các nhu cầu chăm sóc PHCN
ấy cho người bệnh tai biến mạch máu não ra sao? Kiến thức của người chăm sóc như thế nào và những yếu tố nào tác động đến việc chăm sóc PHCN tại nhà cho người bệnh tai biến mạch máu não? Từ trước đến nay trên địa bàn chưa có nghiên cứu nào trả lời cho những câu hỏi này Để tìm ra giải pháp đẩy mạnh và nâng cao chất lượng chăm sóc PHCN tại nhà cho NB tai biến mạch máu não ở quận Hà Đông, cần có những bằng chứng, thông tin đánh giá có tính khoa học về công tác
này Chính vì những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng
và các yếu tố liên quan đến công tác chăm sóc phục hồi chức năng tại nhà cho người bệnh tai biến mạch máu não đã điều trị tại bệnh viện đa khoa Hà Đông năm 2014”
Trang 13MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả nhu cầu chăm sóc phục hồi chức năng tại nhà cho người bệnh tai biến mạch máu não đã điều trị tại bệnh viện Hà Đông năm 2014
2 Mô tả kiến thức, thực hành của người chăm sóc chính chăm sóc phục hồi chức năng tại nhà cho người bệnh tai biến mạch máu não đã điều trị tại bệnh viện
Hà Đông năm 2014
3 Mô tả một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của NCSC cho người bệnh tai biến mạch máu não đã điều trị tại bệnh viện Hà Đông năm 2014
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Thông tin chung về tai biến mạch máu não
1.1 Định nghĩa tai biến mạch máu não
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tai biến mạch máu não là các thiếu sót thần kinh xẩy ra đột ngột với các triệu chứng khu trú hơn là lan tỏa Các triệu trứng tồn tại quá 24h hoặc người bệnh tử vong trong 24h, loại trừ nguyên nhân do chấn thương sọ não [5, 11]
1.2 Phân loại theo lâm sàng
Tai biến mạch máu não gồm 2 thể chính:
Thể thứ nhất: nhồi máu não (thiếu máu não cục bộ, nhũn não): Huyết khối động mạch, tắc mạch não, nhồi máu não ổ khuyết
Thể thứ hai: Xuất huyết não (chảy máu não): Chảy máu trong nhu mô não, chảy máu não tràn máu não thất thứ phát, chảy máu não thất nguyên phát, chảy máu dưới nhện, chảy máu sau nhồi máu
Ngoài ra, một số tác giả cũng xét tới nhóm thiếu máu não thoáng qua Về tần xuất các thể lâm sàng, các kết quả khác nhau giữa các thông kê Theo hiệp hội Thần kinh học các nước Đông Nam Á, nhồi máu não chiếm tỷ lệ 65,4%, chảy máu não là 21,3%, xuất huyết dưới nhện là 3,1% [12] Theo Trần Văn Chương Nghiên cứu phương pháp phục hồi chức năng vận động cho người bệnh liệt nửa người do tai biến mạch máu não thì xuất huyết não chiếm 22,7% và thiếu máu não cục bộ chiếm 77,3% [2]
1.3 Biểu hiện lâm sàng tai biến mạch máu não
Tai biến mạch máu não có nhiều biểu hiện lâm sàng khác nhau tùy theo nguyên nhân và mức độ chảy máu [1], [19] Triệu chứng lâm sàng của tai biến mạch máu não thường biểu hiện theo 2 giai đoạn:
Giai đoạn khởi phát: Thường đột ngột do người bệnh ngã vật và hôn mê nặng ngay Một số trường hợp bắt đầu bằng nhức đầu dữ dội, ý thức thu hẹp, sau 1-2 giờ chuyển sang giai đoạn toàn phát
Giai đoạn toàn phát: Do có những tổn thương thực thể của hệ thần kinh nên người bệnh có những triệu chứng sau:
Trang 15- Rối loạn ý thức: Tinh thần lơ mơ, u ám, bán hôn mê hoặc hôn mê nông, hôn
mê sâu, co giật
- Rối loạn ngôn ngữ: Nói khó (tai biến mạch máu não nhẹ) hoặc không nói
được (tai biến mạch máu não nặng)
- Rối loạn cơ tròn: Đái ỉa không tự chủ
- Rối loạn bó tháp: Liệt nửa người trái hay phải do tổn thương não bên đối
diện (dấu hiệu Babinski, Hoffmam)
- Rối loạn thần kinh thực vật và rối loạn trung tâm điều hòa thân nhiệt: Vã mồ
hôi, tăng tiết đờm dãi, sốt cao hoặc hạ thân nhiệt, rối loạn nhịp tim, huyết áp dao động
- Dấu hiệu tổn thương thần kinh sọ não: Méo mồm, nhân trung lệch, sụp mi,
lác mắt, khó nuốt hoặc nuốt bị sặc, có thể giãn đồng tử
- Dấu hiệu màng não: Cổ cứng (+) Kerning (+)
1.4 Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ của tai biến mạch máu não
Theo WHO có nhiều nguyên nhân gây ra tai biến mạch máu não, ba nguyên
nhân chủ yếu, đứng hàng đầu là nguyên nhân do xơ vữa động mạch rồi đến tăng huyết áp, tiếp đó là nguyên nhân nghẽn mạch do cục huyết từ tim lên (viêm nội mạc nhiễm khuẩn, hẹp hai lá, rối loạn nhịp tim), các bệnh gây rối loạn đông máu và một
số bệnh nội khoa khác[5, 26]
Các yếu tố nguy cơ của tai biến mạch máu não: Gồm các yếu tố nguy cơ không thay đổi được (Độ tuổi, giới tính, chủng tộc, tiền sử gia đình và điều kiện địa lý) Yếu tố thay đổi được (hút thuốc lá, bệnh tiểu đường, sử dụng các chất gây nghiện, các tổn thương về tinh thần )[11] Theo Nguyễn Văn Triệu, tại ba bệnh viện tỉnh Hải Dương, các yếu tố nguy cơ gặp trên người bệnh tai biến mạch máu não là: tăng huyết áp tâm thu 75,7%, tăng huyết áp tâm trương 71,2%, tăng đường máu 27%, bệnh tim 6,5%, tăng cholesterol máu 5,9%, béo phì 1,8%, uống rượu 1,8%[27] Theo Đào Hữu Đường thống kê trong 5 năm tại bệnh viện Lão khoa Trung ương, các người bệnh tai biến mạch máu não gặp các yếu tố nguy cơ sau: 79,1% tăng huyết áp, 60,4% có rối loại lipid máu, 11,9% đái tháo đường, 18,8% có tiển sử tai biến mạch máu não [8]
Trang 161.5 Di chứng của tai biến mạch máu não
1.5.1 Hậu quả của tai biến mạch máu não
Tai biến mạch máu não là bệnh lý nặng nề, diễn biến phức tạp Ngoài việc gây nên tỷ lệ tử vong cao, nếu sống sót cũng để lại nhiều di chứng, khiếm khuyết, giảm chức năng và tàn tật, ảnh hưởng lớn cho xã hội, gia đình và chính bản thân người bệnh Chi phí cho tai biến mạch máu não vô cùng lớn như ở Hoa Kỳ, mỗi năm chi 7 tỷ đôla cho tai biến mạch máu não Sau khi ra viện, chi phí cho mỗi người bệnh tại cơ sở PHCN là 19 đô la, tổng chi phí 1 năm cho tai biến mạch máu não là 17 tỷ đôla [18]
Theo tổ chức y tế thế giới, có từ 1/3 đến 2/3 người bệnh sống sót sau tai biến mạch máu não mang tàn tật vĩnh viễn Người bệnh tai biến mạch máu não thuộc loại đa tàn tật vì ngoài khả năng giảm vận động, người bệnh còn nhiều di chứng khác kèm theo như rối loạn giao tiếp ngôn ngữ, rối loạn cảm giác[2]
1.5.2 Các biến chứng thường gặp:
Loét do đè ép:
Loét hình thành trên tổ chức gần xương của cơ thể khi người bệnh nằm hoặc ngồi lâu ép lên vùng đó Người bệnh tai biến mạch máu não đa phần bị liệt nửa người nên thường ít thay đổi được tư thế, nằm bất động lâu ngày, vì vậy loét ép rất
dễ xẩy ra
Ngoài ra trên những người bệnh này, khả năng vệ sinh kém (nhất là những người bệnh đại tiện không tự chủ), khả năng ăn uống kém nên càng tạo điều kiện cho loét xuất hiện Các vị trí hay gặp đối với loét là: Vùng xương cùng cụt, mấu chuyển lớn, vùng ụ ngồi, xương gót chân, khuỷu tay, gáy, mắt cá chân
Teo cơ:
Hiện tượng teo cơ xuất hiện do người bệnh nằm lâu hoặc do mất thần kinh chi phối Đối với người bệnh tai biến mạch máu não, người bệnh phải tập co cơ chủ động để tránh teo cơ Những người bệnh liệt hoàn toàn thì việc tập vận động thụ động chỉ giúp duy trì độ dài của cơ và tránh kết dính khớp Đề phòng teo cơ có hiệu quả, phải kích thích bằng dòng điện
Cứng khớp (Tình trạng co rút cơ, mô mềm):
Trang 17Tình trạng co ngắn cơ và mô mềm làm hạn chế tầm vận động của khớp, gây
ra biến dạng khớp ở tình trạng gấp hoặc duỗi xoay, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng vận động đi lại cũng như việc thực hiện các hoạt động tự chăm sóc hàng ngày của người bệnh Thông thường, sau 6 tuần bất động thì có tới 70% người bệnh bị cứng khớp Vì vậy, cần phải tập luyện hàng ngày để tránh cứng khớp cho người bệnh
Nhiễm trùng:
Người bệnh tai biến mạch máu não thường gặp hai loại nhiễm trùng Nhiễm trùng phổi do nằm lâu, đặc biệt trên người bệnh có rối loạn tri giác Nhiễm trùng tiết niệu do người bệnh nằm lâu và có rối loạn tri giác phải đặt sonde tiểu Việc chăm sóc sẽ giúp hạn chế tỷ lệ nhiễm trùng trên
Các biến chứng tim mạch:
Thường gặp tụt huyết áp tư thế, ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch chi dưới, huyết khối tĩnh mạch Các vấn đề này cũng do người bệnh nằm lâu và ít vận động
Ngoài ra người bệnh cũng gặp biến chứng bán trật khớp vai, loãng xương
1.6 Chăm sóc PHCN của người bệnh tai biến mạch máu não
Người bệnh tai biến mạch máu não cần được sự chăm sóc ngay từ phút đầu tiên bị bệnh bởi tai biến mạch máu não có thể ngay lập tức ảnh hưởng đến tri giác
hô hấp, vận động, nặng có thể ảnh hưởng đến tính mạng của người bệnh Chăm sóc người bệnh tai biến mạch máu não là khác nhau, tùy vào giai đoạn và tình trạng của bệnh Các giai đoạn gồm: giai đoạn cấp, giai đoạn phục hồi và giai đoạn di chứng Giai đoạn cấp người bệnh thường nằm viện Khi tình trạng ổn định người bệnh được ra viện (thường là giai đoạn hồi phục và giai đoạn di chứng) người bệnh tiếp tục được hỗ trợ chăm sóc tại nhà [1, 4, 20]
Chăm sóc PHCN dựa vào cộng đồng: Là hình thức người tàn tật được
chăm sóc PHCN tại địa phương, nơi họ sinh sống với sự tham gia của người bệnh, gia đình, nhân viên y tế cơ sở và cộng đồng Hình thức chăm sóc này đem đến rất nhiều ưu điểm như: Giá thành thấp, đáp ứng được nhu cầu cho nhiều người bệnh (khoảng 85% người tàn tật), chất lượng phục hồi chức năng cao (vì đáp ứng được nhu cầu xã hội của người tàn tật nói chung và người tai biến mạch máu não nói
Trang 18riêng) Hiện nay, chăm sóc PHCN dựa vào cộng đồng được coi là chiến lược phát triển cộng đồng về lĩnh vực PHCN, bình đẳng phúc lợi và hội nhập xã hội của người tàn tật [4, 20]
Qui trình chăm sóc người bệnh tai biến mạch máu não được Bộ Y tế quy định và ban hành để các cơ sở y tế áp dụng[25] Ở giai đoạn cấp, chăm sóc điều dưỡng nhằm đạt các mục tiêu sau: Theo dõi và kiểm soát các chức năng sống, đảm bảo dinh dưỡng, đề phòng các thương tật thứ cấp, đưa người bệnh thoát khỏi tình trạng bất động càng sớm càng tốt, kiểm soát các yếu tố nguy cơ Ở giai đoạn hồi phục, mục tiêu của chăm sóc là: Phục hồi chức năng vận động cho người bệnh, đề phòng và điều trị các biến chứng (thương tật thứ cấp), dinh dưỡng hợp lý, kiểm soát các yếu tố nguy cơ đề phòng bệnh tái phát [20]
Người bệnh tai biến mạch máu não thuộc loại đa tàn tật, có thể cần chăm sóc phục hồi chức năng ở nhiều mặt: Vận động, ngôn ngữ, tâm lý, làm việc trong đó chức năng vận động được quan tâm nhiều nhất và sớm nhất Việc chăm sóc phục hồi chức năng có tác động tốt đến khả năng phục hồi của người bệnh tai biến mạch máu não Các nghiên cứu của Nguyễn Văn Triệu, Nguyễn Văn Lý, Phạm Thị Mỹ Luật và nhiều tác giả khác đều cho kết luận: Người bệnh được chăm sóc phục hồi chức năng thì hồi phục tốt hơn [15, 16, 27]
1.6.1 Nhu cầu chăm sóc của người bệnh tai biến mạch máu não
Để tìm hiểu những nhu cầu chăm sóc cho người bệnh tai biến mạch máu não,
ta có thể dựa trên những nhu cầu cơ bản của con người đã được tác giả Maslow đưa
ra với năm mức độ từ thấp đến cao [19]:
- Nhu cầu về thể chất: Là những nhu cầu cần được đáp ứng tối thiểu để duy trì sự
sống như: Oxy, thức ăn, nước uống, bài tiết, vận động, ngủ nghỉ ngơi
- Nhu cầu an toàn và được bảo vệ: Nhu cầu thiết yếu để che trở bảo vệ như quần
áo, nhà ở
- Nhu cầu về giao tiếp: Mỗi cá nhân dù khỏe mạch hay bệnh tật đều mong mỏi
tình cảm của bạn bè, làng xóm, gia đình
- Nhu cầu được tôn trọng: Người bệnh cần được chăm sóc ân cần và thân mật,
niềm nở, muốn được người khác lắng nghe tâm tư nguyện vọng của mình
Trang 19- Nhu cầu tự hoàn thiện: Nhu cầu tự hoàn thiện và khẳng định bản thân của người
bệnh
Hay theo Virginia Henderson, thành phần chăm sóc cơ bản gồm 14 yếu tố:
- Đáp ứng nhu cầu về hô hấp: người chăm sóc phải đánh giá sự thở bình thường
hay bất thường, tìm nguyên nhân để giải quyết và đáp ứng nhu cầu ngay cho NB (cho thở oxi, đặt tư thế thích hợp )
- Đáp ứng nhu cầu về ăn uống: người chăm sóc cần giúp đỡ NB ăn đủ lượng
calo/ngày và thực hiện chế độ ăn theo đúng bệnh, an toàn vệ sinh thực phẩm Nếu tình trạng bệnh không thể ăn được đường miệng thì cần thực hiện các biện pháp đưa dinh dưỡng vào cơ thể để đảm bảo năng lượng cho NB
- Giúp đỡ NB trong sự bài tiết (dịch bài tiết từ trong cơ thể): người chăm sóc cần
phải theo dõi sát dịch tiết của NB về số lượng, tính chất, màu sắc để đánh giá và can thiệp đáp ứng đúng nhu cầu khi bị bất thường
- Giúp đỡ NB về tư thế, vận động và tập luyện: người chăm sóc cần giúp NB các
tư thế mà họ yêu cầu, hướng dẫn và hỗ trợ NB vận động, luyện tập
- Đáp ứng nhu cầu ngủ và nghỉ
- Giúp NB mặc và thay quần áo
- Giúp NB duy trì thân nhiệt: Nếu thân nhiệt người bệnh bất thường, cần phải tìm
rõ nguyên nhân để giải quyết
- Giúp NB vệ sinh cá nhân hằng ngày: Tùy theo tình trạng bệnh nặng hay nhẹ, nếu
bệnh nặng (hôn mê, gãy xương, sau mổ,…) người chăm sóc cần thực hiện tắm gội, thay quần áo, thay ga trải giường cho NB hằng ngày tại giường
- Giúp NB tránh được các nguy hiểm trong khi nằm viện: Tránh để NB ngã, bị
các tai biến trong điều trị, chăm sóc như: nhầm lẫn NB, nhầm thuốc, sót dụng cụ khi mổ, nhiễm khuẩn khi thực hiện kỹ thuật, lây chéo…
- Giúp NB trong sự giao tiếp: người chăm sóc thường xuyên gần gũi, tiếp xúc NB
với thái độ niềm nở thân mật
- Giúp NB thoải mái về tinh thần, tự do tín ngưỡng
- Giúp NB lao động, làm một việc gì đó để tránh mặc cảm là người vô dụng
Trang 20- Giúp NB trong những hoạt động vui chơi giải trí: Khi tình trạng bệnh cho phép,
người chăm sóc giúp đỡ họ thực hiện để đáp ứng nhu cầu
- Giúp NB có kiến thức về y học: người chăm sóc cần cung cấp thông tin có liên
quan đến bệnh, hướng dẫn chế độ ăn, theo dõi thuốc điều trị và tai biến của thuốc, giáo dục sức khỏe cho người Người bệnh tai biến mạch máu não thường gặp những rối loạn về tri giác và các dấu hiệu sinh tồn cùng với liệt vận động
Vì vậy, người bệnh tai biến mạch máu não cần chăm sóc để đảm bảo tư thế đúng, chăm sóc về hô hấp, chăm sóc về dinh dưỡng, chăm sóc về cơ xương khớp, chăm sóc đại tiện, chăm sóc tiết niệu, chăm sóc loét và phòng chống loét Tại Việt Nam, thông tư 07 của Bộ y tế đã nêu chăm sóc sức khỏe người bệnh trong bệnh viện bao gồm hỗ trợ, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mỗi người bệnh nhằm duy trì hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt, ăn uống, bài tiết, tư thế, vận động, vệ sinh cá nhân, ngủ nghỉ, chăm sóc tâm lý, hỗ trợ điều trị và tránh các nguy cơ từ môi trường bệnh viện cho người bệnh [21] Như vậy, hoạt động chăm sóc chủ yếu là đáp ứng hỗ trợ các nhu cầu mà người bệnh không thể tự thực hiện được, đáp ứng được
Nguyên tắc điều dưỡng hay chăm sóc xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu cho người bệnh Khi bị bệnh tật, ốm yếu người bệnh không tự đáp ứng đợc các nhu cầu hàng ngày cho chính mình nên cần đến sự hỗ trợ của người điều dưỡng nói riêng và người chăm sóc nói chung Nhu cầu của con người vừa có tính đồng nhất, vừa có tính duy nhất nên người chăm sóc cần có những chăm sóc riêng biệt phù hợp với người bệnh
3.2 Nhu cầu phục hồi chức năng của người bệnh tai biến mạch máu não
Phục hồi chức năng là chuyên ngành áp dụng các biện pháp Y học, kỹ thuật phục hồi, giáo dục học, xã hội học nhằm làm cho người tàn tật có thể thực hiện được tối đa những chức năng đã bị giảm hoặc mất do khiếm khuyết và giảm chức năng gây nên giúp cho người tàn tật có thể sống độc lập tối đa, tái hòa nhập xã hội,
có cơ hội bình đẳng và tham gia vào các hoạt động xã hội Tai biến mạch máu não gây ra đa tàn tật gồm tàn tật về vận động, cảm giác, giác quan, ngôn ngữ Phục hồi chức năng phải quan tâm tới tất cả các tàn tật này, giúp người bệnh có thể tự đi lại được, tự phục vụ mình, độc lập tối đa trong sinh hoạt, hòa nhập được với gia đình
Trang 21và xã hội, tham gia các hoạt động xã hội Người liệt nửa người do tai biến mạch máu não nếu không được tiến hành PHCN sẽ phát triển nhiều biến chứng và tỉ lệ tử vong cao trong năm đầu, sống lệ thuộc và tàn tật càng ngày càng nặng lên Nếu được PHCN tốt thì hầu hết người bệnh bị tai biến mạch máu não có thể tự đi lại được, tự phục vụ mình được, không lệ thuộc hoặc chỉ cần hỗ trợ một phần [3]
2 Thực trạng nhu cầu chăm sóc PHCN ở người bệnh tai biến mạch máu não
Để biết được nhu cầu chăm sóc của mỗi người bệnh tai biến mạch máu não, người chăm sóc cần căn cứ vào tình trạng thực tế của người bệnh Đã có một vài nghiên cứu quan tâm đến nhu cầu chăm sóc và thực tế đáp ứng cho người bệnh tai biến mạch máu não trong các giai đoạn
Nghiên cứu của Prevo AJ trên 43 người bệnh tai biến mạch máu não cho thấy 30 người bệnh không tự lăn sang bên liệt được ở ngày thứ 30 sau tai biến mạch máu não, mặc dù sự phục hồi về vận động khá khó khăn nhưng người bệnh có chức năng độc lập trong sinh hoạt hàng ngày khá tốt [33]
Tác giả Nguyễn Thị Như Mai nghiên cứu trên 164 người bệnh tại bệnh viện lão khoa Trung ương ở giai đoạn người bệnh bắt đầu xuất viện cho thấy người bệnh
có nhu cầu chăm sóc 92,7%, nhu cầu chăm sóc cơ xương khớp nhiều nhất 92,7%, chăm sóc về nuôi dưỡng 36%, chăm sóc về loét và phòng chống loét 48,8%, chăm sóc về tiết niệu 36,6%, chăm sóc về hô hấp 53,6%, chăm sóc về tư thế đúng 56,1%, nhu cầu chăm sóc PHCN là 89,6%, nhu cầu về sinh hoạt hàng ngày cao nhất 67,7% , giao tiếp là 55,5%, vận động là 59,1% [17]
Tác giả Nguyễn Thị Huệ nghiên cứu trên 90 người bệnh tại khoa thần kinh bệnh viện Bạch Mai cho thấy, ở giai đoạn sớm của bệnh, 4,4% NB có loét, 30,0%
NB có nhiễm trùng phổi, 17,8% NB nhiễm trùng tiết niệu, 10% teo cơ, không có
NB cứng khớp và bán trật khớp vai Người bệnh đa số chưa được đáp ứng nhu cầu chăm sóc[13]
Kết quả nghiên cứu của tác giả Đỗ Mạnh Hùng tại khoa PHCN Bệnh viện Bạch Mai trên 250 người bệnh cho thấy, có 4% người bệnh có nhu cầu PHCN thấp, 31,2% có nhu cầu PHCN trung bình và 12,4% có nhu cầu PHCN mức độ cao
Trang 22Trong đó có 95,6% người bệnh có nhu cầu PHCN vận động, 44,4% có nhu cầu PHCN về ngôn ngữ, giao tiếp
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Lý thực hiện trên 217 người bệnh tại khoa thần kinh bệnh viện Bạch Mai năm 2005, kết quả cho thấy có 16,1 % người bệnh có nhu cầu chăm sóc phục hồi chức năng về vận động khi vào viện và khi ra viện tỉ lệ này là 26,7%, tỉ lệ người bệnh rối loạn cơ tròn khi vào viện là 10,1% và khi ra viện là 3,2%, tỉ lệ người bệnh có rối loạn ngôn ngữ khi nhập viện là 78,8% và khi ra viện là 46,5% [16]
Tác giả Hoàng Ngọc Thắm tiến hành nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Đăk Lăk năm 2012 trên 87 NB giai đoạn cấp cho thấy: 62,1 % NB có nhu cầu chăm sóc da, 100% có nhu cầu chăm sóc ăn uống, 12,7% có nhu cầu chăm sóc tiết niệu, 95,4% cần chăm sóc đúng tư thế và 98,9% có nhu cầu chăm sóc vận động [22]
Theo tác giả Lê Thị Thảo tiến hành nghiên cứu trên 102 người bệnh tại cộng đồng quận Ba Đình, Hà Nội, sau tai biến mạch máu não có 80,4% người bệnh có nhu cầu chăm sóc PHCN tại cộng đồng mặc dù người bệnh đã trở về cộng đồng trên
có kiến thức đạt về nội dung chăm sóc da và chăm sóc ăn uống Những nội dung khác như chăm sóc đường tiểu/bàng quang, chăm sóc hô hấp, chăm sóc phòng ngừa táo bón, chăm sóc phòng ngừa tắc mạch, chăm sóc tư thế đúng, chăm sóc luyện tập/vận động chỉ đạt khoảng 70% Đặc biệt, chỉ có 67,2% có kiến thức đạt về tổn thương thứ cấp, là những biến chứng mà người bệnh tai biến mạch máu não thường gặp phải nếu không được chăm sóc sớm và đúng Kết quả này xảy ra là do có tới ¾
Trang 23các điều dưỡng viên chưa từng được tập huấn về chăm sóc PHCN cho người bệnh TBMMN và hướng dẫn kỹ thuật từ các kỹ thuật viên Bên cạnh đó, các nội dung tập huấn cho điều dưỡng viên thì còn khá sơ sài, chưa đi sâu vào kiến thức và kỹ năng thực hiện các nội dung chăm sóc PHCN cho người bệnh
Về đáp ứng cho nhu cầu chăm sóc phục hồi chức năng ở người bệnh tai biến mạch máu não Trong nghiên cứu của tác giả Hoàng Ngọc Thắm cho thấy, các nội dung mà người bệnh được điều dưỡng viên đáp ứng nhu cầu cao nhất bao gồm: dùng đệm chống loét và giữ vệ sinh, rửa, thay băng vết loét (chiếm tỷ lệ 92,3% và 100%); có 61,5% người bệnh được điều dưỡng viên giúp giữ da khô ráo, 50% được
vệ sinh da hàng ngày, 60,8% được giúp xoay trở 2 giờ/lần
Tuy nhiên, bên cạnh việc đáp ứng các nhu cầu về chăm sóc da cho người bệnh thì các đáp ứng nhu cầu khác cho người bệnh của người điều dưỡng viên còn hạn chế Trong đó, có 92,9% NB không được ĐDV hướng dẫn cách xoay trở, vận động đúng khi có ống sonde; 94,2% số NB không được điều dưỡng viên hướng dẫn
là nên cho ăn/uống từ từ, từng lượng nhỏ, tránh ép NB vì có thể gây nghẹn/sặ; gần 2/3 người bệnh chưa được ĐDV đáp ứng nhu cầu vỗ rung lồng ngực; 31 NB (chiếm 86,1%) trong số người bệnh có nhu cầu không được đáp ứng về nhu cầu cần được nhắc nhở nên uống nhiều nước
Kết quả nghiên cứu còn cho thấy 78,2% NB có nhu cầu được hướng dẫn nên
ăn thức ăn dễ tiêu, tăng thêm chất xơ thì có đến 36,8% không được ĐDV hướng dẫn trong quá trình nằm viện.Trong nghiên cứu có 54,1% không được ĐDV đáp ứng đủ
về nhu cầu tăng cường vận động để phòng táo bón 63,2% NB có nhu cầu được hướng dẫn xoa bóp theo khung đại tràng, thì 98,2% NB không được ĐDV đáp ứng
Về phòng tránh liệt: có 10% BN được đáp ứng nhu cầu được chỉ dẫn vị thế nằm đúng trên giường Không có NB nào được điều dưỡng viên đáp ứng đầy đủ nhu cầu được luyện tập-vận động tay chân hai bên trong 13,8% NB có nhu cầu Trong khi còn 1/4 số lượng NB không được chăm sóc và 3/4 được chăm sóc chưa đầy đủ Về đáp ứng nhu cầu được hướng dẫn/hỗ trợ vận động để tuần hoàn lưu thông, có 45,7% NB được chăm sóc tốt [22]
Trang 24Kết quả này xảy ra là do trong giai đoạn đầu đột quỵ của người bệnh thì điều dưỡng viên chỉ tập trung vào vấn đề cấp cứu và tập trung vào người bệnh, thực hiện theo y lệnh của bác sỹ, và chỉ thực hiện được một vài chăm sóc cơ bản cho người bệnh như phòng ngừa loét ép hoặc hút đờm giãi để tránh ứ tắc đường hô hấp, còn chiều sâu về chăm sóc PHCN cho người bệnh thì điều dưỡng viên thực hiện là chưa tốt Ngoài ra, chỉ có 1/3 điều dưỡng viên nhận được những chấn chỉnh, nhắc nhở từ việc kiểm tra, giám sát của điều dưỡng trưởng khoa, phòng của bệnh viện Bên cạnh
đó, chỉ có 6% điều dưỡng viên nhận được những dụng cụ, trang thiết bị cần thiết phục vụ công tác chăm sóc PHCN cho người bệnh TBMMN, do đó ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc người bệnh của các điều dưỡng viên
4 Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của NCSC về chăm sóc PHCN cho người bệnh tai biến mạch máu não tại cộng đồng
Trong những năm qua, đã có một vài nghiên cứu được tiến hành nhằm xác định các yếu tố có liên quan đến kiến thức, thực hành về chăm sóc PHCN tại nhà của NCSC nhưng chưa nhiều, đại đa số là nghiên cứu về tình hình bệnh tật và nhu cầu về PHCN Tuy nhiên, có thể thấy rằng, các yếu tố như trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thu nhập, mối quan hệ với người bệnh, mức độ tự tin khi thực hiện công tác chăm sóc PHCN tại nhà, tiếp cận nguồn thông tin về chăm sóc PHCN, những hỗ trợ của dịch vụ y tế hay các khó khăn gặp phải trong quá trình chăm sóc PHCN có ảnh hưởng đến thực hành chăm sóc PHCN cho người bệnh của NCSC và có ảnh hưởng đến chất lượng cũng như kết quả chăm sóc phục hồi cho người bệnh
Đặc điểm nhân khẩu học của NCSC: Theo kết quả nghiên cứu kiến thức của
điều dưỡng viên về chăm sóc PHCN cho NB tai biến mạch máu não giai đoạn cấp của tác giả Hoàng Văn Thắm cho thấy, có sự khác biệt về kiến thức của các nhóm điều dưỡng viên, trong đó kiến thức của nhóm điều dưỡng viên trẻ là khá cao: nhóm
có thời gian công tác từ 0-5 năm là 46,2% và nhóm từ 6-10 năm là 19,4% Hai nhóm còn lại có tỷ lệ đạt thấp: nhóm trên 15 năm là 7,5%, đặc biệt nhóm từ 11-15 năm là 0% Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có sự khác biệt về kiến thức của các nhóm điều dưỡng viên với trình độ học vấn khác nhau, trong đó tỷ lệ đạt về kiến thức của nhóm điều dưỡng viên có trình độ chuyên môn là sơ cấp, trung cấp là
Trang 2573,6% và của nhóm cao đẳng, đại học là 71,4% Tuy nhiên, do cỡ mẫu nhỏ nên các mối liên quan này là chưa có ý nghĩa thống kê (p>0,05)
Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đăng Tấn về công tác chăm sóc PHCN tại nhà cho người bệnh tâm thần nặng ở Cầu Giấy năm 2006 chỉ ra rằng,
có mối liên quan giữa loại bệnh tật của người bệnh với thực hành chăm sóc PHCN tại nhà của NCSC Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên quan giữa nghề nghiệp của NCSC với thực hành chăm sóc PHCN tại nhà, trong đó nhóm NCSC hiện làm nội trợ hoặc hưu trí có thực hành chăm sóc PHCN tại nhà là cao nhất với tỷ lệ 42,9%, cao hơn 2,6 lần so với nhóm buôn bán, lao động tự do (16,4%) và cao hơn 3,5 lần so với nhóm cán bộ, công chức (12,1%) (p<0,05)
Bên cạnh đó, theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Anh Tuấn cũng cho thấy,
có mối liên quan giữa trình độ học vấn của người chăm sóc với chăm sóc PHCN, cũng như mối quan hệ giữa người chăm sóc với người được chăm sóc cũng có mối liên quan với thực hành chăm sóc PHCN tại nhà
Kiến thức của NCSC: Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đăng Tấn về
công tác chăm sóc PHCN tại nhà cho người bệnh tâm thần nặng ở Cầu Giấy năm
2006 chỉ ra rằng, có mối liên quan giữa việc tìm hiểu kiến thức về chăm sóc người bệnh với thực hành chăm sóc PHCN tại nhà cho người bệnh Trong đó, những người có tìm hiểu kiến thức về bệnh thì thực hành chăm sóc PHCN cho người bệnh
là cao hơn 4,5 lần so với những người không tìm hiểu kiến thức về bệnh (p<0,05)
Có mối liên quan giữa quan điểm về sự cần thiết PHCN cho người bệnh của gia đình với thực hành chăm sóc PHCN tại nhà cho người bệnh của NCSC, trong đó những gia đình có quan điểm cần thiết phải PHCN tại nhà thì người bệnh được chăm sóc PHCN cao gấp 4,1 lần so với những gia đình có quan điểm không cần thiết (p<0,05) Có mối liên quan giữa việc nhận thức về tầm quan trọng của việc PHCN tại nhà và thực hành chăm sóc PHCN tại nhà cho người bệnh, trong đó nhóm cho rằng việc PHCN tại nhà cho người bệnh là quan trọng thì việc thực hành chăm sóc PHCN cho người bệnh cao gấp 4,2 lần so với nhóm cho rằng việc này là không quan trọng (p<0,05)
Trang 26Mức độ tự tin trong việc thực hiện chăm sóc: Theo kết quả nghiên cứu kiến
thức của điều dưỡng viên về chăm sóc PHCN cho NB tai biến mạch máu não giai đoạn cấp của tác giả Hoàng Văn Thắm cho thấy, mức độ tự tin của các điều dưỡng viên khi thực hiện các bước chăm sóc theo quy trình điều dưỡng là không cao, chỉ
có 38,3% điều dưỡng viên tự tin về khả năng đánh giá tình hình người bệnh, 30% tự tin về khả năng xác định các nhu cầu cần chăm sóc PHCN cho người bệnh, 35,8%
tự tin về khả năng lựa chọn các nhu cầu ưu tiên và lên kế hoạch chăm sóc PHCN cho người bệnh đột quỵ, 38,8% điều dưỡng viên tự tin về khả năng thực hiện các nội dung chăm sóc PHCN cụ thể
Tiếp cận thông tin về chăm sóc PHCN cho người bệnh TBMMN: Theo kết
quả nghiên cứu của Nguyễn Đăng Tấn về công tác chăm sóc PHCN tại nhà cho người bệnh tâm thần nặng ở Cầu Giấy năm 2006 cho thấy, có mối liên quan giữa việc được tập huấn và được hướng dẫn về cách chăm sóc người bệnh với thực hành chăm sóc PHCN tại nhà cho người bệnh Trong đó, những người đã được tập huấn thì thực hành chăm sóc PHCN cho người bệnh cao gấp 4,4 lần so với những người chưa được tập huấn (p<0,05); những người được hướng dẫn về cách chăm sóc người bệnh thì thực hành chăm sóc PHCN tại nhà cao hớn gấp 2,5 lần so với những người không được hướng dẫn (p<0,05),
Những hỗ trợ mà NCSC nhận được từ y tế địa phương: Theo kết quả nghiên
cứu kiến thức của điều dưỡng viên về chăm sóc PHCN cho NB tai biến mạch máu não giai đoạn cấp của tác giả Hoàng Văn Thắm cho thấy, các hỗ trợ của bệnh viện đối với điều dưỡng viên trong việc chăm sóc PHCN cho người bệnh tai biến mạch máu não là chưa cao Trong đó, chỉ có 26,9% điều dưỡng viên cho biết đã được tập huấn về chăm sóc PHCN cho người bệnh tai biến mạch máu não và hướng dẫn tại chỗ về kỹ thuật từ kỹ thuật viên PHCN Có 35,8% và 34,3% điều dưỡng viên nhận được sự giám sát hỗ trợ của điều dưỡng trưởng của khoa, phòng điều dưỡng bệnh viện Đặc biệt, chỉ có 6% cho biết được cung cấp dụng cụ, trang thiết bị cần thiết phục vụ cho việc chăm sóc PHCN cho người bệnh
Những khó khăn và mong muốn hỗ trợ của NCSC: Theo kết quả nghiên cứu
kiến thức của điều dưỡng viên về chăm sóc PHCN cho NB tai biến mạch máu não
Trang 27giai đoạn cấp của tác giả Hoàng Văn Thắm cho thấy, các điều dưỡng viên cho biết
họ vẫn còn gặp những khó khăn trong công tác chăm sóc PHCN cho người bệnh như: chưa biết đánh giá nhu cầu cần chăm sóc PHCN cho người bệnh (29,9%); thiếu kiến thức về chăm sóc PHCN cho người bệnh (26,9%); thiếu tự tin khi chăm sóc PHCN vì kỹ thuật chưa thành thạo (40,3) Điều này có thể ảnh hưởng phần nào đến kiến thức, thực hành về chăm sóc PHCN cho người bệnh TBMMN
Việc xác định mối liên quan đến kiến thức, thực hành phục hồi chức năng tại nhà của người chăm sóc chính sẽ giúp cho công tác phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng có được những can thiệp tích cực và hiệu quả hơn; từ đó mang lại những lợi ích quan trọng và thiết thực đối với người bệnh
5 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
Hà Đông là một quận mới được thành lập của Hà Nội với dân số là 257.139 người, được chia thành 17 phường Hệ thống y tế quận Hà Đông gồm một trung tâm
y tế, 2 phòng khám đa khoa và 17 trạm y tế phường [6, 7] Theo số liệu điều tra ban đầu của nhóm nghiên cứu , toàn quận có khoảng 485 người bệnh tai biến mạch máu não đã từng đến điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Đông, bao gồm chủ yếu là người cao tuổi, hiện đang sống tại cộng đồng Các chương trình y tế trên địa bàn đã được triển khai Tuy nhiên chương trình chăm sóc cho người tàn tật nói chung và người bệnh tai biến mạch máu não nói riêng chưa có được sự quan tâm đặc biệt, cũng như chưa có nghiên cứu nào về thực trạng nhu cầu chăm sóc phục hồi chức năng tại nhà cho người bệnh sau tai biến mạch máu não ở Hà Đông Để góp phần vào việc đánh giá thực trạng nhu cầu và thực tế đáp ứng nhu cầu chăm sóc phục hồi chức năng tại nhà cho người bệnh tai biến mạch máu não ở quận Hà Đông, đánh giá kiến thức của người chăm sóc phục hồi chức năng tại nhà cho người bệnh tai biến mạch máu não nhằm đưa ra những khuyến nghị phù hợp, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này
Trang 28KHUNG LÝ THUYẾT
BN được chăm sóc PHCN tại nhà
- Chăm sóc luyện
tập - vận động
Nhu cầu của BN cần được chăm sóc PHCN
tại nhà
- Nhu cầu chăm sóc da
- Nhu cầu chăm sóc ăn uống
- Nhu cầu chăm sóc đường tiểu, bàng
quang
- Nhu cầu chăm sóc hô hấp
- Nhu cầu chăm sóc phòng ngừa táo bón
- Nhu cầu chăm sóc phòng ngừa tắc
mạch, chăm sóc tư thế đúng
- Nhu cầu chăm sóc luyện tập - vận động
Các yếu tố của người chăm sóc
- Đặc điểm nhân khẩu học: tuổi, giới tính,
trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời gian
bắt đầu chăm sóc tới nay, mối quan hệ
với người bệnh
- Những hỗ trợ mà người chăm sóc nhận
được từ y tế địa phương
- Nguồn thông tin và những nội dung
thông tin được tiếp cận liên quan đến
bệnh
- Những khó khăn và mong muốn hỗ trợ
của người chăm sóc
- Mức độ tự tin trong việc thực hiện các
chăm sóc cho NB
-
Kiến thức của người chăm sóc
- Hiểu biết chung về các nhu cầu PHCN
chăm sóc NB tai biến mạch máu não
- Hiểu biết về tầm quan trọng của chăm
sóc PHCN cho NB
- Những hiểu biết cụ thể, bao gồm: chăm
sóc da, chăm sóc ăn uống, chăm sóc
đường tiểu, bàng quang, chăm sóc hô
hấp, chăm sóc luyện tập - vận động…
Trang 29CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
- Người bệnh tai biến mạch máu não đã từng điều trị tại bệnh viện đa khoa Hà Đông, hiện đang sinh sống tại quận Hà Đông và có nhu cầu chăm sóc PHCN
- NCSC cho người bệnh tại gia đình
* Tiêu chuẩn lựa chọn
- Người chăm sóc chính có khả năng giao tiếp được
- NCSC đồng ý tham gia nghiên cứu
- NB đồng ý tham gia (trong trường hợp họ có khả năng giao tiếp) Trường
hợp NB không có khả năng giao tiếp thì sự đồng ý của NCSC là đủ
- Những người bệnh đang ở trạng thái có người chăm sóc và cần người chăm
sóc
* Tiêu chuẩn loại trừ
- Người bệnh (có khả năng giao tiếp)/NCSC từ chối tham gia nghiên cứu
2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm: Thực hiện tại 17 phường ở quận Hà Đông – TP Hà Nội, năm 2015
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 3 năm 2015 đến tháng 7 năm 2015
3 Thiết kế nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
4 Cỡ mẫu và chọn mẫu
* Cỡ mẫu: Nghiên cứu nhằm ước lượng tỷ lệ người bệnh được đáp ứng nhu cầu
chăm sóc PHCN tại nhà , do đó sử dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ như sau:
Trang 30p = 50% (vì chưa có nghiên cứu nào về thực hành chăm sóc PHCN cho
người bệnh tai biến mạch máu não tại cộng đồng nên ước tính tỷ lệ là 50%)
Z: ứng với α = 0,05 thì Z =1,96
d: sai số cho phép 0,08
Thay vào công thức ta tính được cỡ mẫu n = 150, ước lượng khoảng 10-15%
từ chối phỏng vấn và làm tròn số được cỡ mẫu (n) là 170 người bệnh
o Bước 2: Tính khoảng cách mẫu theo công thức k = N/n = 485/170 = 2,85
o Bước 3: Lấy lần lượt theo khoảng cách mẫu k = 2 từ BN đầu tiên của danh sách cho đến khi đủ số lượng ĐTNC như bước 1 Khi đi điều tra, phát hiện thấy người bệnh không có nhu cầu chăm sóc PHCN thì sẽ được thay thế bởi người kế tiếp phía dưới trong danh sách Trong trường hợp người này cũng không có nhu cầu, sẽ chọn người kế tiếp bên trên trong danh sách Cứ như thế cho đến khi tìm được đối tượng có nhu cầu PHCN và đồng ý tham gia nghiên cứu
o Bước 4: Tiến hành điều tra theo danh sách đã chọn
- Để tìm hiểu kiến thức về chăm sóc người bệnh tai biến mạch máu não của NCSC cùng một số yếu tố liên quan: Tương ứng với mỗi người bệnh bị tai biến mạch máu não được chọn tham gia nghiên cứu, phỏng vấn người chăm sóc chính của người bệnh đó
- Trong trường hợp NCSC từ chối trả lời thì sẽ không phỏng vấn và chuyển sang người bệnh kế tiếp trong danh sách đã chọn Những đối tượng đi vắng hoặc không trả lời phỏng vấn được ở thời điểm phỏng vấn thì sẽ được phỏng vấn vào thời điểm khác Những đối tượng sau khi đến tiếp cận trên 3 lần vẫn không thể gặp mặt
để phỏng vấn được bỏ qua
Trang 315 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
- Xác định nhu cầu chăm sóc PHCN của người bệnh tai biến mạch máu não:
sử dụng bảng kiểm quan sát cho đối tượng người bệnh tai biến mạch máu não (chi
tiết tại phụ lục 2)
- Mô tả kiến thức của NCSC cùng một số yếu tố liên quan tới chăm sóc phục hồi chức năng tại nhà cho người bệnh tai biến mạch máu não: ĐTV sử dụng bộ câu
hỏi phỏng vấn cho đối tượng NCSC (chi tiết tại phụ lục 3)
- Xác định thực tế đáp ứng của NCSC về chăm sóc phục hồi chức năng tại nhà cho người bệnh tai biến mạch máu não: ĐTV sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn cho đối
tượng NCSC (chi tiết tại phụ lục 2)
- Bộ câu hỏi và bảng kiểm quan sát được xây dựng dựa trên Thông tư số
07/2011/TT-BYT (Về việc hướng dẫn công tác chăm sóc NB), đồng thời có tham
khảo một số bộ công cụ trong các nghiên cứu về chăm sóc người bệnh tai biến mạch máu não đã được tiến hành trước đây [17] , [22], [24] Bộ công cụ được thử nghiệm trước khi tiến hành thu thập số liệu Sau giai đoạn thử nghiệm, bộ câu hỏi và bảng kiểm quan sát sẽ được chỉnh sửa và hoàn thiện
6 Các biến số nghiên cứu
Các biến số trong nghiên cứu bao gồm 5 nhóm biến số chính dựa theo khung
lý thuyết, và được xây dựng dựa trên việc tham khảo thông tư 07 của Bộ y tế về việc chăm sóc PHCN cho người bệnh TBMMN [21], và nghiên cứu của Hoàng Ngọc Thắm về nhu cầu chăm sóc PHCN cho người bệnh TBMMN [22] đồng thời phù hợp với đối tượng cũng như đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu 1: Mô tả nhu cầu chăm sóc PHCN cho NB: phần này bao gồm
các thông tin về nhu cầu chăm sóc da, chăm sóc ăn uống, chăm sóc đường tiểu, bàng quang, chăm sóc hô hấp, chăm sóc phòng ngừa táo bón, chăm sóc phòng ngừa tắc mạch, chăm sóc tư thế đúng, chăm sóc luyện tập - vận động
Mục tiêu 2: Kiến thức, thực hành chăm sóc PHCN tại nhà cho người bệnh tai biến mạch máu não của NCSC
- Kiến thức về chăm sóc PHCN cho người bệnh tai biến mạch máu não của
NCSC bao gồm các kiến thức của NCSC về bệnh TBMMN và kiến thức về 8 nội
Trang 32dung chăm sóc PHCN theo nhu cầu của người bệnh bao gồm chăm sóc da, chăm sóc ăn uống, chăm sóc đường tiểu, bàng quang, chăm sóc hô hấp, chăm sóc phòng ngừa táo bón, chăm sóc phòng ngừa tắc mạch, chăm sóc tư thế đúng và chăm sóc luyện tập vận động
- Thực hành chăm sóc PHCN tại nhà cho người bệnh tai biến mạch máu não
của NCSC: bao gồm thực hành của NCSC về 8 nội dung chăm sóc PHCN theo nhu cầu của người bệnh bao gồm chăm sóc da, chăm sóc ăn uống, chăm sóc đường tiểu, bàng quang, chăm sóc hô hấp, chăm sóc phòng ngừa táo bón, chăm sóc phòng ngừa tắc mạch, chăm sóc tư thế đúng và chăm sóc luyện tập vận động
Mục tiêu 3: Mô tả các yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành đáp ứng nhu cầu chăm sóc PHCN tại nhà cho người bệnh tai biến mạch máu não: bao
gồm: Đặc điểm nhân khẩu học của NCSC, người bệnh, loại bệnh tật của người bệnh tai biến mạch máu não, kiến thức của NCSC về bệnh TBMMN
Những thông tin chi tiết hơn về các biến số nghiên cứu, định nghĩa biến,
phân loại và cách thu thập được trình bày cụ thể tại Phụ lục 1
7 Các khái niệm, thước đo và tiêu chuẩn đánh giá
7.1 Các khái niệm
Chăm sóc PHCN: là trả lại các khả năng cho người tàn tật hay giúp họ xử trí tốt hơn với tình trạng tàn tật của mình trong khi ở nhà và ở cộng đồng.[14]
Người chăm sóc chính: Là người thường xuyên chăm sóc người bệnh hàng
ngày như: vệ sinh cá nhân, tắm rửa, cho ăn, di chuyển, vận động… ( thời gian và
công việc chăm sóc người bệnh chiếm nhiều nhất trong số những người chăm sóc)
7.2 Tiêu chuẩn đánh giá
Để đánh giá nhu cầu của người bệnh cũng như kiến thức và thực hành về chăm sóc PHCN cho NB tai biến mạch máu não trong phạm vi đề tài, chúng tôi tham khảo nghiên cứu của tác giả Hoàng Ngọc Thắm [22] và quy ước như sau:
- Phần nhu cầu chăm sóc: bao gồm 8 nhu cầu chăm sóc PHCN của người bệnh Với mỗi nội dung chăm sóc PHCN, nếu người bệnh có 1 nhu cầu sẽ được đánh giá là có nhu cầu về nội dung đó Tương tự với nhu cầu chung về chăm sóc
Trang 33PHCN, khi người bệnh có 1 trong 8 nhu cầu chăm sóc PHCN sẽ được đánh giá là có nhu cầu chăm sóc PHCN
- Phần kiến thức: bao gồm 2 nhóm kiến thức:
+ Nhóm kiến thức chung về bệnh: bao gồm kiến thức về biến chứng, nguyên nhân gây biến chứng, các nội dung cần chăm sóc PHCN cho người bệnh của
NCSC, bao gồm các câu hỏi từ câu A1 đến câu A3 Mỗi câu hỏi sẽ có các
phương án trả lời, và với mỗi câu trả lời đúng sẽ được 1 điểm và giá trị phân
vị 75% sẽ được sử dụng làm điểm cắt, trong đó những đối tượng có tổng điểm kiến thức bằng hoặc cao hơn điểm cắt được đánh giá là có kiến thức đạt, những người có tổng điểm kiến thức dưới điểm cắt được đánh giá là có kiến thức không đạt
+ Nhóm kiến thức về chăm sóc PHCN cho người bệnh theo nhu cầu chăm sóc: bao gồm 8 nhóm kiến thức về nhu cầu chăm sóc, bao gồm các câu hỏi từ A4 đến A11 Với mỗi kiến thức về nhu cầu chăm sóc cho người bệnh, NCSC được đánh giá là có kiến thức đầy đủ khi có kiến thức đầy đủ về các nhu cầu
mà người bệnh cần chăm sóc, những đối tượng khác được đánh giá là có kiến thức chưa đầy đủ
+ Kiến thức chung của NCSC theo nhu cầu chăm sóc của người bệnh bao gồm kiến thức của cả 8 nhu cầu chăm sóc và được tính bằng tỷ lệ giữa tổng điểm kiến thức chung trên tổng nhu cầu chăm sóc của người bệnh Nếu NCSC có tỷ lệ điểm kiến thức trên nhu cầu bằng hoặc cao hơn 75% (0,75) được đánh giá là có kiến thức đạt, những người có tổng điểm kiến thức trên tổng số nhu cầu nhỏ hơn 75% được đánh giá là có kiến thức không đạt
- Phần thực hành bao gồm 8 nội dung về thực hành chăm sóc PHCN
+ Với mỗi nội dung thực hành về nhu cầu chăm sóc cho người bệnh, NCSC được đánh giá là có thực hành đạt khi có thực hành đầy đủ về các nhu cầu mà người bệnh cần chăm sóc, những đối tượng khác được đánh giá là có thực hành chưa đầy đủ
+ Phần thực hành chung của NCSC theo nhu cầu chăm sóc của người bệnh bao gồm thực hành của cả 8 nhu cầu chăm sóc và được tính bằng tỷ lệ giữa
Trang 34tổng điểm thực hành chung trên tổng nhu cầu chăm sóc của người bệnh Nếu NCSC có tỷ lệ điểm thực hành trên nhu cầu bằng hoặc cao hơn 75% (0,75) được đánh giá là có thực hành đạt, những người có tổng điểm thực hành trên tổng số nhu cầu nhỏ hơn 75% được đánh giá là có thực hành không đạt
8 Quản lý và phân tích số liệu
8.1 Quản lý số liệu
- Sử dụng phần mềm epidata để nhập liệu Kiểm tra ngẫu nhiên 5% số liệu đã nhập và đối chiếu với số liệu gốc Sau khi nhập liệu, bộ số liệu được chuyển sang SPSS để phân tích Trước khi phân tích, số liệu sẽ được làm sạch bằng cách kiểm tra các thông tin hợp lệ, trùng lặp và xử lý các số liệu bị thiếu
8.2 Phương pháp phân tích số liệu
- Sứ dụng phần mềm SPSS 16.0 để phân tích số liệu bao gồm 2 phần
- Phần mô tả các thông tin chung về người bệnh, người chăm sóc chính, nhu cầu chăm sóc PHCN tại nhà, kiến thức, thực hành về chăm sóc PHCN tại nhà cho người bệnh bị tai biến mạch máu não của những người chăm sóc chính
- Phần phân tích sẽ sử dụng các kiểm định χ2 để phân tích và kiểm định mối liên quan giữa kiến thức, thực hành chăm sóc PHCN cho người bệnh tại nhà của người chăm sóc chính với các yếu tố: đặc điểm nhân khẩu học của NCSC, bệnh tật của người bệnh, những kiến thức về bệnh TBMMN của NCSC
9 Vấn đề đạo đức nghiên cứu
- Nghiên cứu này được triển khai sau khi thông qua Hội đồng đạo đức của trường Đại học Y tế công cộng
- Nội dung nghiên cứu phù hợp, được Ban giám đốc TTYT quận Hà Đông –
Trang 35- Mọi thông tin cá nhân về ĐTNC được giữ kín, số liệu của nghiên cứu chỉ nhằm mục đích phục vụ cho nghiên cứu, kết quả nghiên cứu được đề xuất sử dụng vào mục đích nâng cao sức khỏe cho cộng đồng, không sử dụng cho mục đích khác
- Kết quả nghiên cứu được phản hồi tới ban lãnh đạo TTYT quận Hà Đông khi nghiên cứu kết thúc, giúp làm cơ sở cho các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc PHCN cho NB tai biến mạch máu não nói riêng, cho toàn bộ NB có nhu cầu chăm sóc PHCN tại nhà nói chung
10 Sai số của nghiên cứu, biện pháp khắc phục
- Sai số do công cụ thu thập số liệu: Để hạn chế sai số này, bộ câu hỏi sau khi được thiết kế sẽ được tiến hành điều tra thử trên địa bàn quận để kiểm tra tính logic, nhất quán, sự phù hợp về ngôn ngữ, văn hóa của địa phương Các công cụ sau khi điều tra thử sẽ được chỉnh sửa cho phù hợp trước khi điều tra chính thức
- Sai số do kỹ năng phỏng vấn của ĐTV Bên cạnh đó, nghiên cứu tiến hành tập huấn kỹ cho ĐTV trước khi thu thập số liệu, đồng thời lựa chọn các ĐTV có kinh nghiệm trong điều tra và kinh nghiệm chuyên môn trong chăm sóc người bệnh Đồng thời, trong quá trình thu thập số liệu, NCV sẽ giám sát và hỗ trợ ĐTV chặt chẽ
- Sai số chọn mẫu: Để khắc phục sai số này, nghiên cứu nêu rõ tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ ra khỏi nghiên cứu và áp dụng tiêu chuẩn này để xây dựng khung mẫu nhằm tránh các trường hợp đối tượng không thể tham gia vào nghiên cứu có tên trong danh sách mẫu Bên cạnh đó, trước khi tiến hành điều tra, NCV sẽ tìm hiểu về thời gian phù hợp với đối tượng để tiến hành phỏng vấn
Trang 36CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu:
Bảng 3 1 Thông tin chung về người bệnh
Bảng 3 2 Phân bố theo thông tin về bệnh tật
Bên liệt
Chi liệt
Liệt cả chi trên và chi dưới 141 90,4
Loại tai biến
mạch máu não
Trang 37Theo kết quả từ bảng 3.2 ở trên cho thấy, 59,6% người bệnh bị tai biến lần đầu và 40,4% người bệnh bị tai biến lần thứ 2 trở lên Trong đó, 90,4% người bệnh
bị liệt cả trên và dưới, với tỷ lệ 51,9% liệt bên trái và 40,4% bị liệt bên phải, chỉ có 28,8% người bệnh bị rối loạn cơ tròn Có 51,9% người bệnh bị xuất huyết não, 17,3% bị nhồi máu não, và 30,8% là không rõ loại tai biến
Bảng 3 3.Thông tin chung của người chăm sóc chính
Trang 38Theo kết quả từ bảng 3.3 ở trên cho thấy, những người chăm sóc chính cho người bệnh tai biến mạch máu não thuộc nhóm tuổi trên 40 tuổi (78,8%), và là con cái hoặc vợ/chồng của người bệnh với tỷ lệ lần lượt là 46,2% và 48,1% Tỷ lệ người chăm sóc chính có trình độ học vấn THPT là cao nhất (30,8%), tỷ lệ có trình độ học vấn dưới tiểu học chiếm tỷ lệ thấp nhất (7,7%) Hầu hết đối tượng nghiên cứu đã chăm sóc PHCN cho người bệnh trên 24 tháng (55,8%), tỷ lệ đối tượng chăm sóc người bệnh dưới 6 tháng chiếm tỷ lệ thấp (11,5%) Hơn ½ (51,9%) đối tượng nghiên cứu là lao động tự do hoặc buôn bán, các đối tượng là cán bộ, công chức chiếm tỷ lệ thấp (17,3%)
3.2 Nhu cầu chăm sóc PHCN tại nhà của người bệnh tai biến mạch máu não
Bảng 3 4 Nhu cầu chăm sóc da và đường tiểu, bàng quang
Nhu cầu chăm sóc da
Nội dung chăm sóc đường tiểu, bàng quang
Theo kết quả nghiên cứu từ bảng 3.4 cho thấy, có 100% người bệnh có nhu cầu chăm sóc da và chăm sóc đường tiểu, bàng quang Trong đó, có trên 90% người bệnh có nhu cầu giữ da khô ráo và vệ sinh da hàng ngày, tỷ lệ người bệnh có nhu cầu giữ vệ sinh, rửa thay băng cho vết loét chiếm tỷ lệ thấp nhất (15,4%) Bên cạnh
Trang 39đó, 100% người bệnh có nhu cầu được uống đủ 2 lít nước mỗi ngày, 96,2% người bệnh mong muốn được vệ sinh bộ phận sinh dục hàng ngày, và 72,7% người bệnh
có sử dụng sonde có nhu cầu giữ sonde tiểu đúng khi xoay trở, vận động
Bảng 3 5 Nhu cầu chăm sóc ăn, uống và phòng ngừa táo bón
Nội dung chăm sóc ăn, uống
Nội dung chăm sóc phòng ngừa táo bón
Theo kết quả bảng 3.5 cho thấy, có 100% người bệnh có nhu cầu chăm sóc phòng ngừa táo bón và 98,1% có nhu cầu chăm sóc ăn uống Trong đó, có 96,2% người bệnh có nhu cầu được ăn uống với chế độ ăn phù hợp với bệnh, 69,2% có nhu cầu được chăm sóc ăn uống để tránh nghẹn, sặc Bên cạnh đó, có 98,1% người bệnh mong muốn được ăn thức ăn dễ tiêu, thêm chất xơ để phòng ngừa táo bón, 84,6% người bệnh mong muốn được tập thói quen đại tiện đúng giờ và 38,5% người bệnh mong muốn được chăm sóc phòng ngừa táo bón bằng cách xoa bóp theo khung đại tràng
Bảng 3 6 Nhu cầu chăm sóc hô hấp và phòng ngừa tắc mạch
Nội dung chăm sóc hô hấp
Trang 40Nhu cầu chung 156 100
Nội dung chăm sóc phòng ngừa tắc mạch
Số liệu từ bảng 3.7 cho thấy, có 100% người bệnh có nhu cầu chăm sóc hô hấp và chăm sóc phòng ngừa tắc mạch Trong đó, có trên 90% người bệnh có nhu cầu được tăng cường vận động hàng ngày, trong khi đó tỷ lệ đối tượng có nhu cầu được tập thở hay vỗ rung lồng ngực là thấp hơn, với tỷ lệ đều là 32,7% Bên cạnh
đó, hầu hết người bệnh đều mong muốn được tăng cường vận động để phòng ngừa tắc mạch, trong đó bao gồm vận động tay chân liệt và tay chân không liệt
Bảng 3 7 Nhu cầu chăm sóc tư thế đúng và luyện tập – vận động
Nội dung chăm sóc tư thế đúng
Nội dung chăm sóc luyện tập – vận động
Theo số liệu bảng trên cho thấy, có 100% người bệnh có nhu cầu chăm sóc luyện tập – vận động và 94,2% có nhu cầu chăm sóc tư thế đúng Trong đó, có 42,3% người bệnh mong muốn được chăm sóc về vị thế nằm đúng trên giường; 92,3% có nhu cầu tập đi; 50% và 51,9% có nhu cầu tập ngồi và tập đứng