1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Hình thành năng lực văn cho học sinh THCS vấn đề then chốt để nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn

34 483 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 245,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nhà trường phổ thông, môn Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, nó có tầm quan trọng đặc biệt trong việc hình thành, giáo dục và phát triển nhân cách đạo đức cho học sinh, bồi dưỡng cho các em những tình cảm thẩm mĩ cao đẹp. “Văn học là nhân học” – học văn là học để làm nguời. Hơn thế, các tác phẩm văn chương trong nhà trường luôn giáo dục con người biết thông cảm, sẻ chia với những người xung quanh, biết quan tâm đến những vấn đề của xã hội, biết bày tỏ những quan điểm và chính kiến của mình trước những thực trạng và các vấn đề của đời sống. Để làm được như vậy thì ngay trong giờ học Ngữ văn ở nhà trường, giáo viên phải là người định hướng cho các em những phương pháp tiếp cận tác phẩm văn học một cách đúng đắn và hiệu quả, giúp các em lĩnh hội nội dung của tác phẩm văn học theo hướng tích cực nhất. Tiếc rằng hiện nay tình trạng các em học sinh không hứng thú với việc học văn, không thích học văn diễn ra khá phổ biến, khiến cho chất lượng môn Ngữ văn giảm sút, thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và giảng dạy môn học. Mấy năm trở lại đây, việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực cũng đã góp phần từng bước nâng cao chất lượng môn Ngữ văn nhưng kết quả còn hạn chế. Với nhiều năm giảng dạy môn Ngữ văn trong chương trình THCS, tôi cũng đã phải trăn trở rất nhiều để tìm ra được phương pháp tốt nhất giúp học sinh cảm thấy ham mê và yêu quý bộ môn hơn. Tôi nhận thấy khi dạy tác phẩm văn chương trong nhà trường THCS, nếu chúng ta chú ý hình thành năng lực văn cho học sinh thông qua các giờ học chính khóa, ngoại khóa thì sẽ giúp các em có hứng thú học văn, yêu thích môn văn, từ đó góp phần nâng cao chất lượng môn Ngữ văn nói chung. Vì thế, tôi chọn nghiên cứu sáng kiến “Hình thành năng lực văn cho học sinh THCS…..” nhằm đưa ra một kinh nghiệm nhỏ được tích lũy trong quá trình giảng dạy của mình. Chúng tôi cho rằng đó là vấn đề then chốt để nâng cao chất lượng môn Ngữ văn.

Trang 1

Hình thành năng lực văn cho học sinh THCS - vấn đề then chốt để nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn

MỤC LỤC

Trang Mục lục 1

Danh sách bảng biểu 3

Báo cáo kết quả nghiên cứu, ứng dụng sáng kiến kinh nghiệm 4

1 Lời giới thiệu 4

2 Tên sáng kiến 4

3 Tác giả sáng kiến 5

4 Chủ đầu tư sáng kiến 5

5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến 5

6 Ngày áp dụng sáng kiến lần đầu 5

7 Mô tả bản chất của sáng kiến 5

A Nội dung sáng kiến 5

Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ 5

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Mục đích nghiên cứu 7

3 Đối tượng nghiên cứu 7

4 Phạm vi nghiên cứu 7

5 Cấu trúc của đề tài nghiên cứu 7

Phần II: NỘI DUNG 8

Chương 1:CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8

1.Cơ sở lý thuyết 8

2 Thực trạng học môn Ngữ văn trong nhà trường THCS hiện nay 9

Trang 2

Chương 2:CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ HÌNH THÀNH VÀ NÂNG CAO

NĂNG LỰC VĂN CHO HỌC SINH THCS 13

1 Năng lực văn cần hình thành cho học sinh THCS 13

2 Một số giải pháp nhằm hình thành và nâng cao năng lực văn cho học sinh THCS 19

Phần III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1 Kết luận 27

2 Kiến nghị Tài liệu tham khảo 28

B Khả năng áp dụng của sáng kiến 30

8 Những thông tin cần được bảo mật( nếu có)

9 Những điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến

10 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến tác giả và theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu, kể cả áp dụng thử (nếu có) theo các nội dung sau:

11 Danh sách những tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu

Trang 3

DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1:Điều tra mức độ hứng thú của học sinh đối với môn Ngữ văn khi chưa

áp dụng sáng kiến

Bảng 2: Khảo sát chất lượng dạy học trước khi áp dụng sáng kiến

Bảng 3: Kết quả khảo sát chất lượng học sinh lớp 8 đầu năm học 2014-2015Bảng 4: Kết quả khảo sát chất lượng học sinh lớp 9 cuối học kỳ I năm học 2015-2016

Bảng 5: Điều tra mức độ hứng thú của học sinh đối với môn Ngữ văn sau khi ápdụng sáng kiến

Trang 4

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

1 Lời giới thiệu:

Trong nhà trường phổ thông, môn Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, nó có tầm quan trọng đặc biệt trong việc hình thành, giáo dục và phát triển nhân cách đạo đức cho học sinh, bồi dưỡng cho các em những tình cảm thẩm mĩ cao đẹp “Văn học là nhân học” – học văn là học để làm nguời Hơn thế, các tác phẩm văn chương trong nhà trường luôn giáo dục con người biết thông cảm, sẻ chia với những người xung quanh, biết quan tâm đến những vấn đề của xã hội, biết bày tỏ những quan điểm và chính kiến của mình trước những thực trạng và các vấn đề của đời sống Để làm được như vậy thì ngay trong giờ học Ngữ văn ở nhà trường, giáo viên phải là người định hướng cho các em những phương pháp tiếp cận tác phẩm văn học một cách đúng đắn và hiệu quả, giúp các em lĩnh hội nội dung của tác phẩm văn học theo hướng tích cực nhất Tiếc rằng hiện nay tình trạng các em học sinh không hứng thú với việc học văn, không thích học văn diễn ra khá phổ biến, khiến cho chất lượng môn Ngữ văn giảm sút, thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu

và giảng dạy môn học Mấy năm trở lại đây, việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực cũng đã góp phần từng bước nâng cao chất lượng môn Ngữ văn nhưng kết quả còn hạn chế Với nhiều năm giảng dạy môn Ngữ văn trong chương trình THCS, tôi cũng đã phải trăn trở rất nhiều để tìm ra được phương pháp tốt nhất giúp học sinh cảm thấy ham mê và yêu quý bộ môn hơn Tôi nhận thấy khi dạy tác phẩm văn chương trong nhà trường THCS, nếu chúng ta chú ý hình thành năng lực văn cho học sinh thông qua các giờ học chính khóa, ngoại khóa thì sẽ giúp các em có hứng thú học văn, yêu thích môn văn, từ đó góp phần nâng cao chất lượng môn Ngữ văn nói chung Vì thế, tôi chọn nghiên cứu sáng

kiến “Hình thành năng lực văn cho học sinh THCS… ” nhằm đưa ra một

kinh nghiệm nhỏ được tích lũy trong quá trình giảng dạy của mình Chúng tôi cho rằng đó là vấn đề then chốt để nâng cao chất lượng môn Ngữ văn.

2 Tên sáng kiến: Hình thành năng lực văn cho học sinh THCS - vấn đề then chốt để nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn

Trang 5

6 Ngày áp dụng sáng kiến lần đầu (hoặc ngày dùng thử) : Tháng 8/ 2014

7 Mô tả bản chất của sáng kiến:

A NỘI DUNG SÁNG KIẾN

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

sẽ vận dụng khả năng này khi giải quyết những vấn đề mà những môn học ấyđặt ra Ngược lại, các môn học khác cũng góp phần giúp học sinh hiểu biết sâurộng hơn về các vấn đề trong đời sống, để các em nâng cao khả năng tư duy củamình

Chất lượng giảng dạy và học tập môn Ngữ văn do nhiều yếu tố chi phối,quyết định: chương trình, sách giáo khoa, giáo án, phương pháp giảng dạy củathầy, ý thức, thái độ học tập của trò Trong đó, đổi mới phương pháp dạy họcđóng vai trò quan trọng Thông qua các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực,giáo viên hướng dẫn cho các em cách tiếp nhận văn học sao cho hiệu quả nhất,nhằm hình thành và nâng cao nâng cao năng lực văn cho các em, đó là vấn đềthen chốt để nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn

1 2 Cơ sở thực tiễn.

Thực tế hiện nay cho thấy, học sinh ở các cấp học phần lớn rất ngại họcvăn, không “mặn mà” lắm với môn Ngữ văn, các em không có lòng yêu thíchvăn chương, không có hứng thú khi học văn Ở THCS, số em thích học văn và

có ý thức phấn đấu để học giỏi văn không nhiều Một số em có năng khiếu vănnhưng cũng không thích tham gia các đội tuyển Văn với lí do học văn đã khó,

Trang 6

viết văn lại càng khó hơn Còn ở THPT, số em chọn học ban KHXH chỉ chiếmkhoảng 20% Quả là một con số không mấy vui.

Chất lượng dạy học văn vì thế cũng là một vấn đề khiến nhiều người quantâm, là một chủ đề thời sự nóng bỏng, thu hút sự chú ý của nhiều nhà văn, nhàbáo, nhà khoa học, nhà giáo và phụ huynh học sinh Chủ đề nêu lên thật đa dạng

và phong phú từ nhiều góc nhìn và trăn trở khác nhau: sự sa sút về chất lượnghọc văn của học sinh; phương pháp dạy học văn chưa hiệu quả, chưa thực sựgây hứng thú cho các em…

Là một giáo viên đã và đang trực tiếp giảng dạy Ngữ văn ở nhà trườngTHCS, tôi cũng thấy rất rõ tình trạng trên và nhận thấy rằng, để giúp các em cóhứng thú hơn với môn học, có lòng yêu thích văn chương thì trước hết chúng taphải có những hiểu biết nhất định về đặc điểm phát triển trí tuệ của học sinh;định hướng những năng lực văn cần hình thành và nâng cao cho các em Khihọc sinh hiểu và biết cách tiếp cận với môn học thì các em mới có sự lưu tâm,muốn khám phá kiến thức mà thầy cô cung cấp; mới cảm thấy bị cuốn hút vàotừng giờ học, lúc đó hiệu quả tiếp nhận môn học mới đạt được

Điều quan trọng và cốt yếu nhất là phải hình thành và rèn luyện cho các

em năng lực học văn ngay từ đầu cấp học THCS, bởi ở cấp học này, các em đã

có những khả năng tư duy logic khá phát triển, nếu chúng ta có phương phápphù hợp nhằm hình thành và nâng cao năng lực văn cho các em thì khi các em

đã có hứng thú, có lòng yêu thích môn học, biết cách học văn có hiệu quả sẽ làtiền đề để các em phát triển những năng lực ấy tốt hơn khi học lên các cấp họccao hơn

Trang 7

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng học sinh trung học cơ sở

4 Phạm vi nghiên cứu

Chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn THCS

Giải pháp nâng cao năng lực văn cho học sinh

5 Cấu trúc của sáng kiến kinh nghiệm

Đề tài bao gồm 3 phần:

Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ

Phần II: NỘI DUNG

Chương 1 Cơ sở lí thuyết và thực trạng của vấn đề nghiên cứu

Chương 2 Các giải pháp để hình thành và nâng cao năng lực văn cho học sinhtrung học cơ sở

Phần III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

PHẦN II NỘI DUNG CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1 Cơ sở lí thuyết

1.1 Đặc điểm sự phát triển trí tuệ của học sinh trung học cơ sở

Muốn rèn luyện năng lực, kỹ năng cho một đối tượng nào chúng ta phải

có những hiểu biết nhất định về đối tượng đó Bởi những khả năng, năng lực đóphải được đối tượng tiếp nhận có đủ “tầm” để hiểu được thì sự áp dụng mới cóhiệu quả Trước khi nghiên cứu năng lực văn cần hình thành cho đối tượng họcsinh trung học cơ sở trong độ tuổi từ 11 đến 14, chúng ta tìm hiểu sự phát triểntrí tuệ của lứa tuổi này, để thấy sự tương thích giữa sự phát triển trí tuệ của họcsinh và những kiến thức kỹ năng cần cung cấp cho các ẹm

1.1.1 Tri giác:

Trang 8

Các em học sinh trung học cơ sở đã có khả năng phân tích, tổng hợp các

sự vật, hiện tượng phức tạp hơn khi tri giác sự vật, hiện tượng Khối lượng trigiác tăng lên, tri giác trở lên có kế hoạch, có trình tự và hoàn thiện hơn

1.1.2 Trí nhớ:

Trí nhớ của học sinh trung học cơ sở cũng được thay đổi về chất Đặcđiểm cơ bản của trí nhớ ở lứa tuổi này là sự tăng cường tính chất chủ định, nănglực ghi nhớ có chủ định được tăng lên rõ rệt, cách thức ghi nhớ được cải tiến,hiệu suất ghi nhớ cũng được nâng cao Các em có nhiều tiến bộ trong việc ghinhớ tài liệu trừu tượng, từ ngữ; có những kĩ năng tổ chức hoạt động tư duy, biếttiến hành các thao tác như so sánh, hệ thống hóa, phân loại nhằm ghi nhớ tàiliệu Kỹ năng nắm vững phương tiện ghi nhớ của thiếu niên được phát triển ở độmức cao, các em bắt đầu biết phương pháp đặc biệt để ghi nhớ và ghi nhớ lại.Tốc độ ghi nhớ và khối lượng tài liệu được ghi nhớ tăng lên Ghi nhớ máy mócngày càng nhường chỗ cho ghi nhớ logic, ghi nhớ ý nghĩa Hiệu quả của trí nhớtrở nên tốt hơn Các em thường phản đối các yêu cầu của giáo viên khi bắt buộchọc từng câu, từng chữ, có khuynh hướng muốn tái hiện bằng lời nói của mình

1.1.3 Tư duy:

Hoạt động tư duy của học sinh trung học cơ sở có những biến đổi cơ bản

Tư duy nói chung và tư duy trừu tượng nói riêng phát triển mạnh là một đặcđiểm cơ bản của hoạt động tư duy ở thiếu niên Các em hiểu các dấu hiệu bảnchất của đối tượng nhưng không phải bao giờ cũng phân biệt được những dấuhiệu đó trong mọi trường hợp Khi nắm khái niệm, các em có khi thu hẹp hoặc

mở rộng khái niệm không đúng mức Ở tuổi các em, tính phê phán của tư duycũng được phát triển, các em biết lập luận, giải quyết vấn đề một cách có căn cứ.Các em không dễ tin như lúc nhỏ, nhất là ở cuối tuổi này, các em đã biết vậndụng lí luận vào thực tiễn, biết lấy những điều quan sát được, những kinhnghiệm riêng của mình để minh họa kiến thức

Như vậy có thể thấy, đặc điểm phát triển trí tuệ của học sinh THCS đãđược nâng lên rõ rệt so với bậc tiểu học Nhất là khả năng tri giác, ghi nhớ, tưduy đã được nâng cao hơn để các em có thể vận dụng những kiến thức mà thầy

cô cung cấp, vận dụng vào việc rèn những kỹ năng, hình thành những năng lựchọc tập cần thiết cho bản thân Đối với môn Ngữ văn, giáo viên có thể thông quagiờ học, đặc biệt là giờ dạy tác phẩm văn học có thể hình thành cho học sinhnhững năng lực văn cần thiết để các em tiếp thu kiến thức tốt hơn, đó cũng là

Trang 9

vấn đề then chốt để nâng cao chất lượng dạy học văn ở trường THCS, tạo tiền đề

cơ bản để các em có khả năng học tốt môn văn sau này

2 Thực trạng học môn Ngữ văn trong nhà trường trung học cơ sở hiện nay 2.1 Thực trạng:

Những năm gần đây, việc đổi mới nội dung chương trình, phương phápdạy học, phương pháp kiểm tra, đánh giá, chúng ta thấy chất lượng dạy và họcmôn Ngữ văn trong nhà trường THCS đã có những thay đổi đáng kể Hầu hếthọc sinh đã có những nhận thức đúng đắn về ý nghĩa và tầm quan trọng của mônhọc Các em hiểu được môn Ngữ văn là môn học công cụ, có mối quan hệ mậtthiết với những môn học khác nên cũng có sự đầu tư nhất định cho môn học

Tuy nhiên, hiện nay vẫn có một bộ phận không nhỏ học sinh không thíchhọc văn, ngại học văn và thờ ơ, hờ hững với môn học này Trong giờ văn, họcsinh còn lười học, không chú ý nghe giảng, không thích đọc văn bản, hầu nhưkhông bao giờ soạn bài ở nhà, bài tập mà giáo viên giao về nhà thường khônghoàn thành, hoặc nếu có làm thì cũng chỉ làm qua loa, đối phó với sự kiểm tracủa thầy cô Các em không có hứng thú học văn mà chỉ coi đây là môn học đểthi cử chứ không chú ý rèn luyện để học cho tốt

Học sinh không biết cách làm văn là một tình trạng khá phổ biến, các em

không biết rung cảm với cái đẹp trong văn chương nghệ thuật, mà đây lại là

điều rất quan trọng trong khi học Ngữ văn Giờ làm văn thì quay cóp, chép trongsách tham khảo những bài văn mẫu, thụ động trong suy nghĩ, sao chép các ý haycủa văn chương một cách máy móc Đến khi vào phòng thi thì cứ chép chỗ nàymột ít, chỗ kia một tí nên tạo nên những bài văn rất ngô nghê, buồn cười

Việc dạy văn trong nhà trường vì thế chưa thực sự gây được hứng thú chohọc sinh Các em thờ ơ lãnh đạm với tác phẩm văn học, dửng dưng trước cái áctàn bạo… Những giờ văn đôi khi chỉ còn là giờ thông tin kiến thức một chiều,khô cứng và nhạt nhẽo

Trong quá trình thu thập tài liệu để viết đề tài này, đầu năm học

2014-2015 chúng tôi đã điều tra mức độ hứng thú của học sinh đối với môn học Đốitượng là học sinh các khối lớp 6, lớp 7 và lớp 8 Chúng tôi đã phát phiếu điều tra

với câu hỏi: Em thấy môn Ngữ văn là môn học như thế nào? Khi học em có thấy hứng thú không? Hãy điền vào phiếu điều tra với mức độ: thích, bình thường, không thích Kết quả thu được như sau:

Trang 10

Tỉ lệ(%)

Sốlượng

Tỉ lệ(%)

Sốlượng

Tỉ lệ(%)

(Bảng 1: Điều tra mức độ hứng thú của học sinh đối với môn Ngữ văn)

Nhìn vào kết quả điều tra chúng ta thấy, tỉ lệ học sinh yêu thích và hứngthú với môn học chưa cao Điều này chắc chắn ảnh hưởng không nhỏ tới kết quảhọc tập của các em

Chúng tôi cũng đã tiến hành khảo sát chất lượng học sinh khối 8 củatrường cuối năm học 2014-2015 Kết quả đạt được như sau:

Học sinhtrung bình

Học sinhyếu

Học sinhkém

178

Số

lượng

Tỉ lệ(%)

Sốlượng

Tỉ lệ(%)

Sốlượng

Tỉ lệ(%)

Sốlượng

Tỉ lệ(%)

Sốlượng

Tỉ lệ(%)

Trang 11

Bên cạnh đó, phải nói đến sự giảm sút về chất lượng nhân văn của họcsinh Môn Ngữ văn là môn học bồi dưỡng cho con người những tình cảm nhânvăn sâu sắc như Chân, Thiện, Mĩ… thế nhưng thái độ lạnh lùng, thờ ơ của họcsinh trước những nỗi đau buồn của con người trong cuộc đời cũng như trong vănchương là điều khiến chúng ta phải suy nghĩ, trăn trở Các em chưa thực sự thấyđồng cảm với những nỗi đau của con người trong cuộc đời, còn vô cảm với nỗibuồn đau của con người trong cuộc sống… Đây không phải là chuyện chữ nghĩavăn chương, ngôn từ mà là vấn đề nhân văn, chất lượng phát triển tình cảm, tâmhồn ở học sinh Điều đáng lo ngại là sự sa sút về nhân văn không còn là hiệntượng lẻ tẻ, thưa thớt mà đã trở thành một thứ tâm lí của không ít học sinh ngàynay Nhiều giáo viên phàn nàn là trước những hành vi cao thượng, xả thân vìnghĩa lớn của những nhân vật anh hùng có học sinh đã không cảm phục mà còngiễu cợt, nhạo báng.

Ngoài sự sút kém về nhân văn thì non yếu về năng lực văn, kĩ năng văncủa học sinh là điều mà ai cũng nhận thấy nhiều năm nay Sự phân cực càngmạnh, chuyện ngồi nhầm lớp càng nhiều, nạn bỏ học ngày càng tăng thì sự sútkém về kiến thức, về kĩ năng không làm cho chúng ta ngạc nhiên

2.2.2 Về phía giáo viên

Một bộ phận không nhỏ học sinh không thích học Ngữ văn và yếu kém vềnăng lực cảm thụ văn chương cũng tác động tiêu cực tới người dạy Một số giáoviên dạy văn đã xuất hiện tâm lí chán nản, buông xuôi, không có động lực đểtrau dồi chuyên môn nên giờ giảng chưa được đầu tư công phu, kỹ lưỡng, chưanhiệt tình cải tiến phương pháp giảng dạy cho đạt hiệu quả

2.2.3 Phụ huynh học sinh

Phụ huynh học sinh nhiều người cũng phàn nàn rằng con em mình khôngthích đọc sách văn học bằng những loại truyện tranh chỉ mang tính giải trí đơnthuần Nhiều phụ huynh thậm chí còn không thích con em mình quá đầu tư vàomôn Ngữ văn vì cho rằng đó không phải là môn học rèn luyện nhiều về trí tuệ,chỉ là môn học thuộc lòng, dành cho những người kém tư duy, khi không họcđược những môn tự nhiên thì mới phải học môn đó

2.2.4 Nội dung chương trình

Mặc dù đã có những cố gắng trong việc giảm tải nội dung bài học, tăngthực hành nhưng nhiều bài học trong chương trình Ngữ văn THCS còn quá dài

Đó là một trong những nguyên nhân khiến người giáo viên không có thời gian

Trang 12

để sử dụng tốt các biện pháp dạy học tích cực như đàm thoại, thảo luận, cho họcsinh thuyết minh, đóng kịch mà phải “chạy” cho kịp bài, hết tiết đúng chươngtrình đề ra Bởi vậy, học sinh chỉ biết nghe và chép một cách máy móc màkhông hiểu hết cái hay, cái đẹp tiềm ẩn trong các bài văn, bài thơ nên các emcảm thấy nhàm chán trong giờ học.

2.2.5 Các nguyên nhân khác

Điều khiến chúng ta không thể không trăn trở là hiện nay có quá nhiềusách tham khảo được vô số các nhà xuất bản (có tên tuổi và không có tên tuổi)tung ra thị trường do món lợi nhuận trước mắt mà không chú ý đến nội dung,chất lượng các bài viết theo hướng sáng tạo trong suy nghĩ Hầu hết các sách nàyđều giải sẵn câu hỏi trong sách giáo khoa, có nội dung na ná như nhau Học sinh

có khi không phải là dốt văn mà là lười học văn bởi đã có những bài văn mẫu cósẵn khiến các em thụ động trong suy nghĩ và chỉ sao chép nó một cách máy móc

đề then chốt để nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn

Chương 2:

CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ HÌNH THÀNH VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC

VĂN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

1 Năng lực văn cần hình thành cho học sinh trung học cơ sở.

1.1 Năng lực văn là gì ?

Theo nhà nghiên cứu Phan Trọng Luận - người có nhiều năm nghiên cứu

về phương pháp giảng dạy văn chương trong nhà trường phổ thông, thì nói đếnnăng lực văn là nói đến năng khiếu văn, hay tài năng văn của mỗi người

Năng lực văn của học sinh trong nhà trường phổ thông cũng có một sựphân chia khá rõ về nhiều phương diện hoạt động: năng lực văn cần cho việclàm văn, cho việc sản sinh một văn bản (nghị luận văn học); năng lực văn chosáng tác thơ văn, năng lực văn cho hoạt động đọc, hoạt động chiếm lĩnh một văn

Trang 13

bản nghệ thuật, một sáng tác văn học, năng lực văn trong việc chiếm lĩnh mộtvăn bản nghị luận văn học, một bài viêt văn học sử hay lí luận văn học của sáchgiáo khoa

Trong nhà trường phổ thông, năng lực cần yếu nhất là năng lực tiếp nhậntác phẩm văn học Có được năng lực này, nếu học sinh phát huy tốt sẽ góp phầntạo hứng thú học tập, muốn tìm hiểu sâu hơn những kiến thức văn học mà thầy

cô cung cấp cho các em

1.2 Những năng lực tiếp nhận văn học cần hình thành cho học sinh trung học cơ sở

Chúng ta đều biết, tác phẩm văn học là một đối tượng nhận thức đặc biệt

vì nó là sản phẩm tinh thần của cá nhân người nghệ sĩ Nó là một tồn tại phi vậtthể thông qua hình tượng thẩm mĩ được vật chất hóa bằng hệ thống tín hiệungôn ngữ nghệ thuật Nhà văn gửi đến cho bạn đọc nhiều cảm xúc mãnh liệtnhất về cuộc sống, về con người dưới ánh sáng của một lí tưởng thẩm mĩ nhấtđịnh Để tiếp nhận tốt một tác phẩm văn học, học sinh cần được hình thành vànâng cao các năng lực chủ yếu sau:

1.2.1 Năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm văn học.

Tác phẩm văn học nào cũng tồn tại qua hệ thống ngôn ngữ vốn là vỏ vậtchất của tác phẩm Con đường đi vào tác phẩm văn học, vào thế giới nghệ thuậtcủa tác phẩm phải bắt đầu từ bước tri giác ngôn ngữ, vốn chỉ là những kí hiệucâm lặng Không có được khả năng tri giác ngôn ngữ của người đọc thì tácphẩm chỉ là một tập hợp những kí hiệu chết, không có linh hồn Chẳng hạn, một

số câu thơ như tuyệt mĩ như :

Long lanh đáy nước in trời

Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

hay:

Dọc bờ sông trắng nắng chang chang

(Mùa xuân chín - Hàn Mặc Tử).

Nếu chưa có sự tác động tri giác của người đọc thì cũng chỉ là những kí nằm

im trên trang giấy Tri giác của người đọc làm cho tác phẩm sống dậy, âm vanglên, phập phồng, cựa quậy… Cho nên, không có được khả năng tri giác ngôn

Trang 14

ngữ nghệ thuật tác phẩm văn học thì học sinh mới nhiều nhất là phát âm lênđược những con chữ rời rạc, vô hồn.

Một học sinh lớp 9 đã đọc câu thơ “Trời Hậu Giang tù và dậy rúc” thành

hai đoạn đứt mạch giữa “tù” và “dậy rúc”, từ “và” được hiểu như một liên từ.Như vậy là học sinh đó làm một công việc phát âm máy móc nhưng chưa tri giácđược ngôn ngữ nghệ thuật của câu thơ

Giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu được, dưới các kí hiệu lànhững biểu tượng, những chuỗi biểu tượng về các sự vật, hiện tượng đời sống,thiên nhiên, con người mà nhà văn đã dựng lên qua ngôn ngữ Học sinh tri giácđược điều đó nhanh hay chậm là dấu hiệu của năng lực văn Giáo viên hướngdẫn để các em đọc sáng rõ, đọc nhanh, đọc trôi chảy một văn bản nghệ thuật vănhọc là rất tốt, nhưng đồng thời phải qua ngôn ngữ nghệ thuật học sinh “đọc”được giọng điệu của nhà văn, các ý ngầm giữa các câu chữ Người ta nói “đọcgiữa các dòng thơ” chứ không phải chỉ giữa các câu thơ là vì thế…

Có khi đọc sáng rõ câu thơ: “Anh dắt em vào cõi Bác xưa” (Tố Hữu)

nhưng chưa đọc được ý ngầm của tác giả Chữ “cõi” trong câu thơ là tất cả cáihồn của bài thơ Nếu không đọc lên được cái hồn, cái từ đó thì vẫn chưa hiểuđược câu thơ giản dị mà huyền diệu này

Hay đọc câu thơ: “Ánh trăng im phăng phắc - Đủ cho ta giật mình” (Ánh

trăng - Nguyễn Duy….) phải cho học sinh thấy: từ “im phăng phắc” là một phépnhân hóa khiến hình ảnh vầng trăng hiện ra như một con người cụ thể, mộtngười bạn, một nhân chứng rất nghĩa tình nhưng vô cùng nghiêm khắc đangnhắc nhở con người đừng quên đi quá khứ Thái độ “im phăng phắc” ấy đủ làmcho con người “giật mình”, nhận ra sự vô tình không đáng có, lãng quên, đángtrách của mình Qua đó, chúng ta thấy, tri giác ngôn ngữ nghệ thuật trong vănbản văn học và nhất là trong câu thơ là một biểu hiện ban đầu của năng lực tiếpnhận, tiếp cận, chiếm lĩnh tác phẩm văn học

1.2.2 Năng lực tái hiện hình tượng

Nhà văn M Gorki kể lại chuyện đọc sách thời thơ ấu của mình Nằm vàomột góc nhà, quên cả ngày lễ Thánh, cậu bé say mê với từng trang sách và nhận

ra các nhân vật đang đi đứng, nói năng, trò chuyện Như vậy là người đọc sách

đã đi từ vỏ ngôn ngữ của tác phẩm để nhận ra thế giới nghệ thuật do tác giả sángtạo nên Muốn cho thế giới nghệ thuật của tác giả hiện hình lên, người đọc phải

có khả năng tái hiện bằng hoạt động tưởng tượng

Trang 15

Có thể nói, tri giác ngôn ngữ là bước đánh thức cánh cửa các kí hiệu củatác phẩm và tưởng tượng tái hiện là bước giúp người đọc nhìn vào thế giới bêntrong của tác phẩm nằm dưới các kí hiệu ngôn ngữ Giống như không có nướcrửa ảnh thì mọi chân dung, hình ảnh chỉ nằm im lìm trên cuộn phim Có tưởngtượng, tái hiện thì thì thế giới nghệ thuật của tác phẩm mới hiện hình với baonhiêu bức tranh nhiều màu, với bao nhiêu con người khác nhau về diện mạo vàtính cách.

Tiếc rằng trong dạy học văn học, nhiều khi chúng ta mới chỉ chú ý đếnkhâu đọc hay phát âm cho đúng mà không chú ý giúp học sinh rèn luyện trítưởng tượng tái hiện Giờ học văn nhạt nhẽo, không lôi cuốn học sinh vì thế giớihình tượng chưa hiện hình trong tưởng tượng của các em Giáo viên chỉ có thểbắt đầu giờ giảng văn khi ít nhất trong đầu óc học sinh đã dựng lên được thế giớinghệ thuật của tác phẩm Năng lực tái hiện tưởng tượng càng phát triển thì họcsinh càng dễ nhận ra được đầy đủ, phong phú và tinh tế mọi cảnh vật, con người

và tình huống trong tác phẩm

1.2.3 Năng lực liên tưởng trong tiếp nhận văn học

Nếu với năng lực tri giác ngôn ngữ và năng lực tái hiện, học sinh mới chỉdựng lên được trong tưởng tượng của mình hình ảnh cuộc sống và con người donhà văn sáng tạo lên thì ở bước hoạt động tiếp theo, giáo viên phải gợi cho họcsinh tưởng tượng làm sao cho hình ảnh đó, thế giới nghệ thuật đó đi được vàothế giới tinh thần của các em Nếu không thì đời sống nghệ thuật được tái hiệntrên vẫn xa lạ, vẫn chưa lay động đến cảm xúc, tư duy của học sinh Nơi cánhcửa này, vai trò của liên tưởng cực kỳ quan trọng Từ gợi ý của nhà văn, thôngqua những chi tiết, những hình ảnh, những con người, những tâm trạng, học sinhvới vốn sống trực tiếp hoặc gián tiếp bắt gặp được ý, lời tâm tình của nhà văn

Khi nhà thơ Phạm Tiến Duật viết: “ Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”, học sinh phải có được những

liên tưởng về tính chất khốc liệt của chiến tranh Nhiệm vụ của giáo viên là làmsao gợi ý được cho học sinh có sự liên tưởng, tưởng tượng để cho các em hiểuthêm những gian khổ, hy sinh của nhân dân ta trong chiến tranh Các em hiểu,cảm nhận được điều kỳ diệu là những chiếc xe không còn nguyên vẹn ấy lại cóthể kiên cường vượt qua mọi bom đạn để ngày đêm thẳng tiến về miền Nam Vàlàm lên điều kì diệu ấy chính là những người lính lái xe, bằng tất cả tư thế ngangtàng, tinh thần, ý chí và nghị lực của mình

Trang 16

Nói tóm lại, liên tưởng là dấu hiệu của việc chuyển thế giới nghệ thuậtcủa tác phẩm vào thế giới tâm linh của người đọc và liên tưởng có định hướng làdấu hiệu ban đầu của trình độ am hiểu tác phẩm Học sinh có năng khiếu cũng làhọc sinh tỏ ra nhạy bén và phong phú về liên tưởng.

1.2.4 Năng lực nhận biết loại thể để định hướng hoạt động tiếp nhận

Khi tiếp nhận một tác phẩm văn học, nếu không ý thức được sự khác biệtgiữa tự sự và trữ tình thì học sinh dễ lạc hướng và việc lĩnh hội một tác phẩm sẽkhông đạt được kết quả như mong muốn Đối với bài thơ trữ tình, không thể coinhẹ, bỏ qua hình tượng cảm xúc, nhân vật trữ tình bởi qua đó, tư tưởng, tình cảm

và cảm xúc của nhà thơ hiện lên rõ nét nhất Cũng như đối với tác phẩm tự sự,yếu tố quan trọng là cốt truyện, nhân vật, các biện pháp xây dựng nhân vật, tìnhhuống truyện, vì đây là yếu tố để nhà văn nêu bật chủ đề, tư tưởng của tácphẩm…

Chẳng hạn, trong truyện ngắn “Làng” của nhà văn Kim Lân, thông quaviệc xây dựng tình huống truyện độc đáo và diễn biến tâm lí của ông Hai, nhàvăn đã thể hiện rất rõ nét cá tính của nhân vật, thể hiện sâu sắc tình cảm yêulàng, yêu nước của ông

Để có được những năng lực nói trên, khi đi vào từng loại cụ thể phải cóđược năng lực nhận diện và có những hiểu biết về loại thể, khả năng vận dụngthi pháp từng loại thể vào việc chiếm lĩnh tác phẩm văn học

1.2.5 Năng lực xúc cảm thẩm mĩ

Thông tin văn học chủ yếu, cơ bản là thông tin thẩm mĩ Những sáng tácvăn học của nhà văn là truyền đến bạn đọc niềm xúc động mãnh liệt nhất củamình Nói như nhà văn Nguyễn Công Hoan, sáng tác là “đánh vào tình cảmngười đọc” Mong muốn cao nhất của người sáng tác là câu văn, lời thơ củamình đến được với bạn đọc

Khi học sinh học tác phẩm văn học, cho dù các em đã tái hiện được mộtphần thế giới nghệ thuật của tác phẩm nhưng trong lòng vẫn dửng dưng, chẳngthấy vui, chẳng thấy yêu, ghét, giận hờn, chẳng phấn khích, lo lắng hay hồi hộp

gì trước cuộc sống con người, cuộc đời hay những vấn đề mà nhà văn đặt ra thì

có thể nói chưa có hoạt động học thực sự Người ta hay nói đến hiện tượng “trơcảm xúc” trong tiếp nhận là một dấu hiệu không lành mạnh, chẳng khác gì hiệntượng vô cảm trong cuộc sống hàng ngày

Trang 17

Để khắc phục điều này, giáo viên phải có hệ thống câu hỏi khơi gợi cảmxúc của học sinh qua những chi tiết, hình ảnh, giúp các em cảm nhận được mộtcách sâu sắc thông điệp mà nhà văn muốn gửi đến bạn đọc trong tác phẩm Đó

có thể là một bài học, là những cảm xúc thẩm mĩ như yêu, ghét, giận hờn haythậm chí là một lời cảnh tỉnh về thái độ sống tiêu cực của con người… Bồidưỡng cho học sinh những xúc cảm thẩm mĩ ấy, tức là giáo viên đã đánh thứcnhững giá trị nhân văn cao đẹp của con người trong học sinh Học sinh hiểuđược điều mà nhà văn muốn gửi đến bạn đọc thì mới có hứng thú học văn, cólòng yêu thích văn chương

1.2.6 Năng lực tự nhận thức

Cái kỳ diệu nhất của văn học chính là ở chỗ, với sức mạnh riêng củamình, văn học thức tỉnh được lương tâm mỗi con người Văn học giáo dục bằngcách trò chuyện, tâm tình thông qua đối thoại ngầm giữa nhà văn và bạn đọc.Nếu học văn mà chỉ để biết cốt truyện, để hiểu thêm, để biết thêm những câuchuyện về cuộc đời con người thì chưa đủ Văn học khác môn khoa học khác ởchỗ nó làm lay động tâm hồn người đọc Như trên đã nói, học văn mà chưa xúcđộng thì chưa phải là học văn Những cảm xúc, đặc biệt là xúc cảm thẩm mĩtrong cảm thụ văn học bao giờ cũng nâng con người lên về tâm hồn, tình cảm vàthẩm mĩ

Chẳng hạn, khi học Truyện Kiều, học học sinh hiểu ra nhiều chuyệntrong cuộc đời có khi các em chưa rõ, đồng thời biết cảm thương cho số phậnbất hạnh của nàng Kiều, biết căm ghét xã hội tàn bạo, bất công đã đẩy người phụ

nữ vào con đường đau khổ Từ sự hiểu và cảm thương ấy đưa đến một sự tựthanh lọc, một sự tự nhận thức, một sự thức tỉnh bên trong con người Văn họclúc ấy mới thực sự đến với con người và hiệu quả học văn như thế mới là hiệuquả cần có Học văn rồi tự nhận thức, tự trau dồi, tự thanh lọc…để tâm hồnmình phong phú hơn, gần gũi với mọi người hơn Đây là năng lực đặc thù củatiếp nhận văn học mà ở nhà trường, nhất là nhà trường phổ thông cần quan tâm,nuôi dưỡng và phát triển cho học sinh Năng lực này cần phải được hình thànhtrong từng giờ học để các em “thẩm thấu” dần, chứ không phải học xong mộtbài học là học sinh có ngay năng lực ấy Khi có được năng lực này là học sinh

đã “lớn” lên về nhận thức và tư tưởng

1.2.7 Năng lực tự đánh giá

Ngày đăng: 13/03/2016, 20:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Trọng Luận (2008). Văn học nhà trường - nhận diện - tiếp cận - đổi mới. Nhà xuất bản Đại học sư phạm. Hà Nội Khác
2. Phan Trọng Luận(2002). Phương pháp dạy học văn. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
3. Nguyễn Thúy Nga (2002). Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh trung học cơ sở. Nhà xuất bản Giáo dục. Hà Nội Khác
4. Trần Đình Sử ( 2002). Mấy vấn đề lí luận tiếp nhận văn học. Nhà xuất bản KHKT. Hà Nội Khác
5. Nhiều tác giả. (2005). Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy sách giáo khoa lớp 9. Vụ Giáo dục Trung học- Bộ Giáo dục và đào tạo. Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w