Trong đánh giá tác động của biến đổi khí hậu, các phương pháp thực nghiệm được dùng chủ yếu để xác định tác động của các yếu tố khí hậu và môi trường nhiệt độ, lượng mưa, độ mặn và độ ng
Trang 1chiều của chất đã hòa tan, phân hủy hoặc huyền phù trong lòng dẫn mở dựa trên phương trình để trữ tích luỹ Trong model này bao gồm 2 phương trình: phương trình sai phân riêng phần và phương trình sai phân xác định
- MIKE 11 WQ là mô hình diễn tả những khía cạnh cơ bản về chất lượng nước trong sông của vùng bị ảnh hưởng của các hoạt động của con người Sự giảm sút của ô xy trong nước là kết quả của việc thải chất hữu cơ và khi ni tơ WQ module được kết hợp với AD module, điều này có nghĩa là WQ module dùng để diễn tả quá trình chuyển đổi sinh hoá của các chất trong sông và AD module tính toán quá trình vận chuyển các chất
đó WQ module sẽ giải quyết một hệ thống cặp phương trình diễn tả các quá trình vật lý, các phản ứng hoá học và sinh học trong sông
Với bộ mô hình MIKE tương đối toàn diện, tính năng, hiệu quả truy cập thông tin và giao diện đồ họa sinh động của công nghệ GIS, có thể là sự kết hợp hoàn hảo trong vấn đề thiết kế, quy hoạch và quản lý tổng hợp nguồn nước
Thực tế cho thấy các mô hình toán 1 chiều (1D) đang sử dụng đều được lập trình tính toán khá tốt trong hệ thống sông kênh (kể cả các mô hình trong nước và trên thế giới) Trong thực tế mô hình MIKE11 đã được ứng dụng tính toán cho đồng bằng sông Cửu Long, hạ du sông Đồng Nai Qua quá trình ứng dụng và xem xét nhận thấy mô hình MIKE 11 có một số ưu điểm là năng động, tính toán ứng dụng cho nhiều trường hợp như dòng chảy thuỷ triều, dự báo lũ, cấu trúc thuỷ lực cập nhật thời gian thực tế, vận hành công trình v.v
Hình 2.25 Mô phỏng mạng lưới sông bằng mô hình MIKE11
Trang 2nghiệp tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2050
b Phạm vi và sơ đồ tính
Để tính toán thủy lực và chất lượng nước cho khu vực Đồng Nai, xem xét được đầy đủ các yếu tố liên quan đến kết quả tính toán thì cần lấy vùng nghiên cứu rộng trên toàn lưu vực sông Đồng Nai
Như vậy, vùng để xem xét đánh giá sẽ trải dài từ biên giới Việt Nam – Campuchia đến cửa sông Đồng Nai-Sài Gòn Mặt khác vùng nghiên cứu có liên quan mật thiết tới các khu vực xung quanh Mực nước ngoài sông chính chịu ảnh hưởng mạnh của triều biển Đông, lượng xả của các hồ chứa trong lưu vực, nhu cầu nước của vùng hạlưu Sài Gòn và phụ cận Chính vì những mối liên quan mật thiết của hệthống sông trong và ngoài khu vực do đó trong nghiên cứu này sơ đồ tính được mở rộng sang cả lưu vực sông Đồng Nai, sông Bé… Phạm vi sơ đồ tính từ phía sau đập hồ Dấu Tiếng trên sông Sài Gòn, phía sau chân đập hồ thủy điện Trị An trên sông Đồng Nai, và trên sông Bé tới vị trí dự kiến xây dựng đập hồ Phước Hòa và nơi hợp lưu Bến Đá và Vàm Cỏ Đông trên sông Vàm Cỏ Đông, vị trí cầu Bình Châu trên sông Vàm CỏTây ra tới biển Đông
Sơ đồ thuỷ lực bao gồm 105 nhánh sông, trên các nhánh sông được gắn một số mặt cắt thực đo điển hình sao cho có thể đại diện cho đoạn sông đó làm cho lòng dẫn trong mô hình gần sát với kích thước thực tế của sông trong vùng nghiên cứu
Hình 2.26 Sơ đồ tính toán thủy lực lưu vực sông Đồng Nai
c Các biên tính toán
- Biên lưu lượng: Trong sơ đồ thuỷ lực bao gồm 8 biên lưu lượng thượng lưu trong đó có
3 biên lưu lượng ảnh hưởng lớn tới kết quả của mô hình là: biên lưu lượng tại Trị An,
Trang 3Dầu Tiếng và Phước Hoà Còn lại các biên khác có trị số lưu lượng không đáng kể Ngoài các biên lưu lượng trên, để mô hình mang tính thực tế hơn, chúng tôi đưa thêm 10 biên lưu lượng trên dòng chính Sài Gòn và Vàm Cỏ Khi kiểm định mô hình sẽ sử dụng các số liệu thực đo tại các biên này để kiểm định, trong quá trình tính toán mô phỏng các kịch bản sẽ được sử dụng kết quả từ việc tính toán thủy văn
- Biên mực nước: Lưu vực Sài Gòn - Đồng Nai là 1 lưu vực gần như khép kín với cửa chính đổ ra biển tại Soài Rạp và một số cửa sông nhỏ khác Do vậy bố trí 4 biên mực nước tại các cửa ra và số liệu là mực nước triều cửa Soài Rạp Số liệu biên mực nước được lựa chọn theo kịch bản nước biển dâng để chạy lấy kết quả phân tích lựa chọn
- Số liệu mưa: Lượng mưa tiêu thoát từ các lưu vực đổ vào hệ thống kênh rạch bị ảnh hưởng triều được tính bằng mô hình NAM, dựa trên các kịch bản biến đổi khí hậu đã được xây dựng và lựa chọn ở phần trước
d Mô phỏng tình trạng ngập lụt ở Đồng Nai
Mô phỏng phân tích điều kiện hiện trạng, năm 2013: Căn cứ vào việc phân tích các kết quả điều tra, tài liệu thu thập và dựa trên kết quả từ mô phỏng thủy lực bao gồm mực nước và lưu lượng được truy nhập vào bộ DEM để phân tích tình trạng ngập lụt
Kết quả mô phỏng được đưa lên bản đồ, các khu vực bị ngập chính của tỉnh Đồng Nai chủ yếu là huyện Nhơn Trạch và một phần nhỏ huyện Long Thành
Một số địa phương nằm ở vùng ven sông hạ lưu hồ Trị An đều có nguy cơ ngập lụt, nhưng mức độ và thời gian ngập lụt còn tùy thuộc vào độ cao địa hình của từng nơi Đặc biệt là các vùng của huyện Long Thành: xã Phước Thái; Long Phước Huyện Nhơn Trạch: xã Phước Thiền; Phước An, Phước Khánh, Long Tân và Phú Hữu
Đây là các vùng thấp ven sông, có độ cao mặt đất tự nhiên thấp nhất trung bình là 1.5m,
có nơi độ cao tự nhiên chỉ có 0.6m Thời gian ngập ở các khu vực này thường thì không dài, trong ngày chỉ có những khoảng nhất định mà thời gian duy trì mực nước triều cao (Khoảng từ 2 - 3 giờ) và thời gian triều cường cho một đợt cũng chỉ 3-4 ngày Do vậy mức độ thiệt hại cũng không lớn
Việc mô phỏng đánh giá tình trạng ngập lụt không chỉ do thủy triều, mực nước dâng mà phần rất quan trọng còn chịu ảnh hưởng của việc quản lý, vận hành khai thác các công trình ở thượng lưu Để đánh giá ở mức độ chi tiết cụ thể chúng tôi đề nghị nghiên cứu ở một đề tài khác Trong phạm vi của đề án, chúng tôi tạm coi việc vận hành các công trình
ở thượng lưu như hiện trạng
Đối với các kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng sẽ được mô phỏng và phân tích ở các nội dung sau
Trang 4nghiệp tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2050
Hình 2.27 Hiện trạng ngập lụt ở Đồng Nai
Trang 5d Mô phỏng tình trạng xâm nhập mặn ở Đồng Nai
Cũng như mô phỏng đánh giá tình trạng ngập lụt, việc đánh giá tình trạng xâm nhập mặn
ở Đồng Nai phụ thuộc rất nhiều yếu tố
Ở điều kiện hiện trạng, chúng tôi đánh giá dựa hiện trạng xâm nhập mặn dựa trên kết quả điều tra thực tế, tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu và dựa vào kết quả phân tích từ mô hình thủy lực và chất lượng nước Kết quả cho thấy:
Hiện tượng xâm nhập mặn thường xảy ra trong điều kiện nước biển dâng cao (triều cao) đồng thời dòng chảy trên sông, mực nước trong nội đồng thấp, chủ yếu xảy ra vào các tháng 3, tháng 4 và tháng 5 hàng năm Với đặc điểm tự nhiên thuận lợi, như lòng sông sâu, độ dốc thấp, biên độ triều lớn, nước mặn từ biển theo dòng triều xâm nhập rất sâu trên sông về phía thượng lưu, đặc biệt là trong các tháng giữa và cuối mùa khô (tháng 3-tháng 5) Mặn xâm nhập sâu trong mùa kiệt xẩy ra đồng thời với mùa khô không mưa kéo dài gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân vùng hạ lưu Đối với hiện tượng xâm nhập mặn, diễn biến của dòng chảy từ thượng lưu đóng vai trò quan trọng Chính sự thay đổi lưu lượng thượng lưu theo mùa đã quyết định ranh mặn trong mùa lũ và kiệt trên các triền sông Không những thế, sự nhạy cảm của mặn với lưu lượng thượng lưu còn thể hiện cả ở năm có mùa kiệt nhiều hay ít nước Sự dao động ranh xâm nhập mặn do thay đổi dòng nguồn lớn hơn nhiều so với các nguyên nhân khác như
sự biến đổi của thủy triều, gió chướng hay mưa hạ lưu
Hình 2.28 Đẳng trị mặn tại khu vực phía Nam tỉnh Đồng Nai – 2013
Trang 6nghiệp tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2050
Ở điều kiện hiện trạng tự nhiên, trên sông Đồng Nai, độ mặn mặn 1 g/l trung bình hàng năm có thể lên đến cầu Đồng Nai (cách khoảng 117 km từ cửa sông), mặn 0,3 g/l có thể lên đến Biên Hòa và mặn 0,1 g/l có thể vượt qua trạm bơm Hóa An vài km
Hồ Trị An có tác động đến chế độ mặn trên sông Đồng Nai rất lớn Các kết quả khảo sát mặn trong những năm qua cho ta thấy ranh mặn 4 g/l đã bị đẩy lùi xuống hạ lưu 20-25
km (phía trên khu vực Cát Lái từ 3-5 km) và mặn 1 g/l luôn dưới Long Tân (cách Bến Gỗ
Hình 2.29 Diễn biến độ mặn từ phà Cát Lái đến – Cầu Hoá An
Cùng với mực nước biển dâng gây ngập lụt ở các huyện ở gần biển ảnh hưởng bởi thủy triều, là sự thay đổi chế độ dòng chảy ở các sông ở vùng hạ lưu, xâm nhập mặn vì thế cũng có những thay đổi ranh giới mặn
Hàm lượng Cl- nước sông Thị Vải
V-
N-ST 2-R
V-
N-ST 3-R
V-
N-ST 4-R
V-
N-ST 5-R
Hình 2.30 Diễn biến độ mặn từ hợp lưu sông Thị Vải
Theo số liệu điều tra, phân tích thì tình hình diễn biến xâm nhập mặn trên sông Đồng Nai
từ Phà Cát Lái – huyện Nhơn Trạch – đến cầu Hoá An vẫn ở mức nhỏ hơn 0,01 mg/lít, cách xa giới hạn cho phép đối với cột A2 là 400 mg/lít Độ mặn vào đến phà Cát Lái trong năm 2010 cũng mới chỉ ở mức 5,07mg /lít
Trang 7Bảng 2.22: Diện tích (km 2 ) của các nồng độ mặn hiện trạng của tỉnh
STT Vùng mặn Diện tích (km 2 ) Địa điểm
1 1 ‰ - 2‰ 10,40 Một phần của các xã:
- Các xã: Xã Phú Đông, Phước Khanh, Vĩnh Thanh, Phước Thạnh, Long Thọ, Hiệp Phước của huyện Nhơn Trạch
- Các xã Long Phước, Long An của huyện Long Thành
- Các xã Phước Thái của huyện Long Thành
Trên sông Thị Vải: Qua kết quả quan trắc cho thấy hiện tượng xâm nhập mặn của sông Thị Vải diễn ra rất phức tạp, độ mặn lên đến 29‰ tại khu vực hợp lưu sông Thị Vải và sông Gò Gia Càng về phía thượng lưu mực độ xâm nhập giảm nhưng vẫn ở mực cao (tại khu vực thuộc khu vực xã Long Thọ có giá trị thấp nhất cũng lên tới 14,8 ‰ - năm 2009) Tương ứng với hàm lượng Cl- dao động trong khoảng 9.000 đến 17.600 mg/l, so với quy chuẩn cho phép tất cả các khu vực đều vượt từ 15 đến 29 lần Đến quý 4/2010 hiện tượng xâm nhập mặn giảm rõ ràng, cụ thể: tại khu vực xã Long Thọ giá trị độ mặn giảm còn 2‰ vào tháng 10, tại vị trí hợp lưu là 21,8‰
Đối với các kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng sẽ được mô phỏng và phân tích ở các nội dung sau của báo cáo
Trang 8nghiệp tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2050
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
ĐẾN NGÀNH NÔNG NGHIỆP TỈNH ĐỒNG NAI
3.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ CÁCH TIẾP CẬN ĐÁNH GIÁ
3.1.1 Xác định đối tượng đánh giá
Ở Việt Nam, Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã làm cho thiên tai ngày càng gia tăng về số lượng, cường độ và mức độ ảnh hưởng, ảnh hưởng rất lớn đến nhiều hoạt động sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội Trong đó lĩnh vực chịu tác động mạnh mẽ nhất, và dễ dàng nhận thấy do BĐKH đó là ngành nông nghiệp, thuỷ lợi, thuỷ sản, diêm nghiệp, lâm nghiệp, an ninh lương thực; các vùng đồng bằng và dải ven biển do mực nước biển dâng, người nghèo ở vùng nông thôn, đòi hỏi chúng ta phải có chương trình, kế hoạch hành động cụ thể nhằm ứng phó kịp thời
Ngành nông nghiệp và PTNT tỉnh Đồng Nai quản lý 5 lĩnh vực chính là: nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, thuỷ lợi và hạ tầng nông thôn có liên quan tới cuộc sống của trên 65% dân số trên địa bàn, trong đó lại tập trung phần lớn người nghèo - đối tượng chịu ảnh hưởng của BĐKH nhiều nhất
Đề án này chúng tôi sẽ tập trung đánh giá ở các đối tượng sau:
- Đánh giá tác động đến nông nghiệp và an ninh lương thực
- Đánh giá tác động đến lĩnh vực chăn nuôi
- Đánh giá tác động đến lĩnh vực lâm nghiệp
- Đánh giá tác động đến lĩnh vực thuỷ sản
- Đánh giá động đến lĩnh vực thuỷ lợi, tài nguyên nước
- Đánh giá tác động đến hạ tầng và phát triển nông thôn
Về thời điểm đánh giá tác động của BÐKH đến các lĩnh vực sẽ đuợc thực hiện ở các mốc thời gian 2020, 2030 và 2050 dựa trên kết quả chạy mô hình xây dựng kịch bản BÐKH
và nuớc biển dâng cho Ðồng Nai kết hợp với các kịch bản phát triển các lĩnh vực của ngành nông nghiệp
3.1.2 Quan điểm và cách tiếp cận đánh giá
Theo Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02 tháng 12 năm 2008 thì việc xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các Bộ, ngành và địa phương Để xây dựng thành công các kế hoạch hành động, cần phải thực hiện một số nội dung công việc quan trọng gồm: Đánh giá tác động và khả năng tổn thương do biến đổi khí hậu và xác định các giải pháp ứng phó phù hợp
Trang 9Việc nghiên cứu xây dựng chương trình hành động ứng phó với biến đổi khí hậu cho ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Nai xuất phát từ nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến ngành nông nghiệp
Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến ngành nông nghiệp là việc xác định các ảnh hưởng do biến đổi khí hậu Ngoài các ảnh hưởng bất lợi từ biến đổi khí hậu còn có thể có các ảnh hưởng có lợi, là cơ hội để chuyển sang chế độ thích nghi với điều kiện mới, động lực thúc đẩy một nền kính tế ít các-bon, giảm thiểu lượng khí nhà kính thải ra môi trường Người ta đã phát hiện ra rằng, giảm thiểu ô nhiễm có thể tiết kiệm được nhiều chi phí khác Ngoài ra, những hạn mức mang tính cưỡng chế về lượng khí thải còn có thể kích thích khoa học công nghệ phát triển từ đó, tạo ra nhiều cơ hội việc làm và của cải hơn
Quá trình biến đổi khí hậu, nước biển dâng là quá trình tiệm tiến Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu trong tương lai nên được thực hiện theo các kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng khác nhau và các kịch bản phát triển kinh tế xã hội khác nhau Ở đây xem xét kịch bản phát triển ngành nông nghiệp ở các thời điểm định hướng tới 2050
Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu cần được cập nhật khi các kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng được cập nhật hoặc khi có các điều chỉnh quan trọng về chiến lược, chính sách, kế hoạch, quy hoạch phát triển ngành và phát triển kinh tế xã hội của địa phương Trong đề án này sẽ được phân tích đánh giá dựa trên kịch bản biến đổi khí hậu cập nhật tại thời điểm công bố năm 2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Phạm vi của đề án nghiên cứu này là lập kế hoạch cho ngành nông nghiệp, thuộc cấp tỉnh nên cách tiếp cận đánh giá theo vùng địa lý tùy thuộc vào vùng đối tượng như lưu vực sông và theo ngành để đánh giá
Về mặt tổng thể, đối với một tỉnh/thành đánh giá tổng thể cho toàn bộ địa bàn đã được thực hiện trước, do sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức thực hiện gồm: “Dự án đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho tỉnh Đồng Nai đến năm 2100” và “Dự án tổng thể về ứng phó biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2010-2015, định hướng đến 2020” vào năm 2011 Dựa trên cơ sở của các dự án tổng thể này, đề án sẽ đánh giá chuyên sâu cho ngành nông nghiệp trong tỉnh với các yếu tố có khả năng dễ bị tổn thương nhất dưới tác động của biến đổi khí hậu
Việc đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đến ngành nông nghiệp trong đề án này có sự tham gia của người dân địa phương, các nhà khoa học và các chuyên gia nghiên cứu ở các lĩnh vực liên quan đánh giá và đóng góp thông qua công tác phỏng vấn, lấy ý kiến chuyên gia, họp hội thảo
Về kịch bản để xem xét đánh giá ở đây mang quy mô địa phương một vùng, kế hoạch
Trang 10nghiệp tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2050
hành động của đề án mang tính trung hạn (định hướng đến 2050) và theo khuyến nghị của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì sẽ tập trung chủ yếu vào kịch bản phát thải trung bình (B2) Các kịch bản phát thải thấp (B1) và cao (A1F1) sẽ sử dụng để tham khảo và đánh giá bổ sung ở một số khía cạnh cần lưu ý xem xét kỹ càng thêm
Việc đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đến ngành nông nghiệp là một phần nội dung của đề án “Nghiên cứu xây dựng chương trình hành động ứng phó với biến đổi khí hậu Ngành Nông nghiệp tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2050” Quá trình xem xét đánh giá và thực hiện chúng tôi có tham khảo cách thức tổ chức thực hiện theo tài liệu hướng dẫn “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu
và xác định các giải pháp thích ứng” được Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường (IMHEN) xây dựng với sự tài trợ của Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP)
3.2 PHƯƠNG PHÁP VÀ CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ
3.2.1 Các phương pháp chung
Theo tài liệu hướng dẫn “Ðánh giá tác động của biến đổi khí hậu và xác định các giải pháp thích ứng” do Viện Khoa học Khí tuợng Thủy văn và Môi truờng (IMHEN) xây dựng có thể nhóm thành các phương pháp cơ bản như: Các phương pháp đánh giá tác động và khả năng dễ bị tổn thương của biến đổi khí hậu bao gồm các phương pháp định tính và định lượng Các phương pháp này có thể được chia thành 4 nhóm chính là các phương pháp thực nghiệm, các phương pháp ngoại suy, nghiên cứu sử dụng các trường hợp tương tự và phương pháp chuyên gia
Các phương pháp được mô tả cụ thể như sau:
3.2.1.1 Nhóm phương pháp thực nghiệm
Phương pháp thực nghiệm thường được dùng trong các nghiên cứu y học, vật lý, hóa học, sinh học Đây là các phương pháp chuẩn để kiểm tra các giả thuyết hay đánh giá quá trình, nguyên nhân và ảnh hưởng thông qua việc làm thí nghiệm trực tiếp
Trong đánh giá tác động của biến đổi khí hậu, các phương pháp thực nghiệm được dùng chủ yếu để xác định tác động của các yếu tố khí hậu và môi trường (nhiệt độ, lượng mưa,
độ mặn và độ ngập do nước biển dâng v.v…) đến các đối tượng nghiên cứu (năng suất cây trồng, nguy cơ dịch bệnh, v.v…)
Về ứng dụng của phương pháp thực nghiệm trong đánh giá tác động do biến đổi khí hậu:
- Nghiên cứu ảnh hưởng của khí hậu và thành phần không khí lên cây trồng và giống trong phòng thí nghiệm cho cây ngắn ngày, cây lâu năm, sâu hại, dịch bệnh
- Nghiên cứu ảnh hưởng của khí hậu (nhiệt độ) và thành phần không khí (khí nhà kính) lên chất lượng nước, chuỗi thức ăn của hệ sinh thái
Trang 11- Nghiên cứu ảnh hưởng của khí hậu lên các đặc tính của đất thổ nhưỡng như mức độ phân hủy bùn, hoạt động của vi sinh vật, tan rửa chất dinh dưỡng
- Nghiên cứu ảnh hưởng của khí hậu lên các đặc tính của vật liệu xây dựng như độ bền, tính giữ nhiệt (liên quan đến tiết kiệm năng lượng)
Ưu điểm: Phương pháp thực nghiệm có thể cung cấp thông in để kiểm định các mô hình
dự báo tác động của biến đổi khí hậu lên môi trường tự nhiên
Hạn chế: Phương pháp thực nghiệm chỉ thích hợp với các lĩnh vực và đối tượng mục tiêu
có quy mô nhỏ, phạm vi tác động nhỏ và môi trường của tác động có thể kiểm soát được Ứng dụng trong đề án: Qua phân tích các ưu nhược điểm như trên, với điều kiện thực tế trong đề án với phạm vi rộng, xét đến nhiều yếu tố và điều kiện khác nhau của lĩnh vực
nông nghiệp nên không sử dụng phương pháp thực nghiệm trong đề án này
3.2.1.2 Nhóm phương pháp ngoại suy các số liệu lịch sử
Trong phương pháp này người ta sử dụng các mô hình toán để dự đoán những tác động trong tương lai bằng cách ngoại suy các số liệu quan trắc trong quá khứ
Dựa trên các chuỗi số liệu từ quá khứ đến hiện tại được đưa ra phân tích tính quy luật cùng các điều kiện, yếu tố ảnh hưởng được coi là các điều kiện biên để dự báo và đánh giá Nhóm phương pháp này có thể diễn toán bằng các hàm số, phương trình toán học và trong điều kiện công nghệ thông tin phát triển như hiện nay thì công cụ hỗ trợ đắc lực cho phương pháp này là các phần mềm mô phỏng bằng máy tính rất hiệu quả
Việc sử dụng các mô hình toán (hay còn gọi là các mô hình mô phỏng) được thực hiện theo 4 bước là chọn mô hình thích hợp, kiểm tra nhu cầu dữ liệu, phát triển mô hình, chạy
mô hình và phân tích kết quả
Đối với đề án này chúng tôi sử dụng để phân tích đánh giá từ các chuỗi số liệu trong quá khứ như nhiệt độ, mưa, nước biển dâng bằng các phần mềm như NAM, MIKE11 Tính toán nhu cầu nước và cân bằng nước bằng CROPWAT, WEAP ngào ra cũng sử dụng một số phần mềm khác để đối chức
3.2.1.3 Nhóm phương pháp nghiên cứu sử dụng các trường hợp tương tự
Phương pháp này sử dụng số liệu của các trường hợp tương tự ở một khu vực khác để đánh giác tác động của biến đổi khí hậu lên đối tượng đang xem xét
Có 4 loại nghiên cứu tương tự thường được dùng là:
- Sự kiện lịch sử tương tự,
- Xu hướng lịch sử tương tự,
- Khu vực khí hậu hiện tại tương tự, và
- Khu vực khí hậu tương lai tương tự
Trang 12nghiệp tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2050
Phương pháp này trong đề án được sử dụng để đánh giá về mặt định tính các tác động của điều kiện biến đổi khí hậu đến nhóm các đối tượng có ảnh hưởng đến điều kiện sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi, năng suất, tình hình dịch bệnh, nguy cơ cháy rừng và tính
đa dạng dinh học của hệ sinh thái dựa trên các phân tích và các điều kiện xảy ra tương
tự ở các vùng địa lý, đối tượng và hệ sinh thái trên thế giới và trên lãnh thổ Việt Nam
3.2.1.4 Nhóm phương pháp chuyên gia
Phương pháp này tập hợp các ý kiến và đánh giá của các chuyên gia về tác động của biến đổi khí hậu lên đối tượng đang xem xét Các ý kiến và đánh giá của các chuyên gia được tập hợp từ các tài liệu nghiên cứu, các báo cáo đánh giá hoặc các cuộc họp chuyên gia
Ví dụ: Ngày 12/11/2010, Ban chỉ đạo Chương trình hành động thích ứng với biến đổi khí hậu ngành Nông nghiệp và PTNT (gọi tắt là Ban chỉ đạo biến đổi khí hậu) đã tổ chức hội thảo lấy ý kiến từ những đơn vị thực hiện Chương trình hành động ưng phó với biến đổi khí hậu của Bộ Nông nghiệp và PTNT nhằm hoàn thiện bản Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của ngành giai đoạn 2011-2015, tầm nhìn đến 2050 Tại hội thảo này, các ý kiến của các chuyên gia tư vấn và các đơn vị liên quan đã được đưa ra, trao đổi
và tổng hợp để bổ sung vào bản dự thảo kế hoạch hành động Sau cuộc tham vấn này, Ban chỉ đạo biến đổi khí hậu tiếp tục tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan quản lý nhà nước
và cơ quan ngoài Bộ nhằm sớm hoàn thành dự thảo (Nguồn: Bộ Nông nghiệp & PTNT)
3.2.2 Lựa chọn phương pháp để đánh giá từng lĩnh vực trong đề án
Nông nghiệp là lĩnh vực nhạy cảm đối với các yếu tố khí hậu như nhiệt độ, số ngày nắng, lượng mưa, v.v… Vì vậy biến đổi khí hậu tác động rất lớn đến nông nghiệp Các ảnh hưởng trực tiếp bao gồm các tác động đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, vật nuôi, thủy hải sản, thời vụ gieo trồng, làm tăng nguy cơ lây lan sâu bệnh, dịch bệnh làm ảnh hưởng đến sinh sản, tăng trưởng của gia súc, gia cầm, thủy hải sản, cây trồng, làm giảm năng suất đánh bắt thủy hải sản, gây ra các thiệt hại về cơ sở vật chất, phương tiện sản xuất, đánh bắt của ngành nông nghiệp
Trang 13Đơn vị thực hiện: Cơ sở 2 – Đại học Thủy lợi Trang 93
Bảng 3.1 Các phương pháp đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến lĩnh vực trồng trọt
Nhiệt độ tăng
Cây trồng Thay đổi loại cây trồng truyền thống tại địa
phương, gia tăng vùng cây trồng nhiệt đới - Khảo sát và thống kê
- Quan trắc và đánh giá chất lượng mùa
vụ
- Mô hình toán để xem xét các yếu tố khí hậu
Năng suất cây trồng
Làm giảm năng suất cây trồng do dịch bệnh có điều kiện phát triển, nhu cầu nước cho cây trồng tăng trong khi nguồn nước bị hạn chế do hạn hán
Số ngày nắng thay đổi Mùa vụ Làm thay đổi thời vụ
Lượng mưa gia tăng &
nước biển dâng
- Thống kê và quan trắc, thí nghiệm
Năng suất cây trồng
Gây thiệt hại và giảm năng suất do mưa lớn thất thường xảy ra vào thời điểm ra hoa - kết quả, hay do ngập úng
- Thống kê
- Lượng hóa chi phí Năng suất bị suy giảm do đất và nước bị nhiễm
mặn Làm gia tăng dịch bệnh, sâu hại ảnh hưởng lớn đến năng suất cây trồng
Các hiện tượng khí hậu
Trang 14nhìn đến năm 2050
Đơn vị thực hiện: Cơ sở 2 – Đại học Thủy lợi Trang 94
Bảng 3.2 Các phương pháp đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến lĩnh vực chăn nuôi
Nhiệt độ tăng
Giống, loài
Nhiệt độ gia tăng ảnh hưởng đến khả năng thích nghi của vật nuôi, thay đổi thói quen sinh sản
Nghiên cứu thực nghiệm về giống và khả năng chịu nhiệt/hạn
Đánh giá tương tự Năng suất
Gia tăng nguy cơ dịch bệnh, gây thiệt hại lớn, giảm năng suất chăn nuôi
Lượng mưa gia tăng & nước
Năng suất chăn nuôi
Giảm vùng lương thực cho gia súc, giảm
Gia tăng dịch bệnh trong gia súc, gia cầm, tăng khả năng lan truyền dịch bệnh Thí nghiệm và lượng hóa chi phí
Các hiện tượng khí hậu cực
đoan khác: Bão, áp thấp nhiệt
đới…
Năng suất chăn nuôi
Bão và lũ lụt gây thiệt hại lớn trong chăn nuôi, làm giảm năng suất hoặc giảm số lượng
Đánh giá và dự báo thiệt hại
Cơ sở hạ tầng chăn nuôi
Phá hoại hay làm hư hỏng chuồng trại chăn nuôi
Trang 15Đơn vị thực hiện: Cơ sở 2 – Đại học Thủy lợi Trang 95
Bảng 3.3 Các phương pháp đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến lĩnh vực thủy sản
Nhiệt độ tăng
Giống, loài
Thay đổi trong sự phân bố sinh cảnh cho các loài cụ thể, đặc biệt là sự thay đổi trong cấu trúc và chức năng quần thể cá
Khảo sát và thống kê Nguy cơ mất các hệ sinh thái nhạy cảm với
nhiệt độ Thay đổi trong tính hiện hữu của sinh cảnh
do sự gia tăng những dòng hải lưu chính
Năng suất nuôi, đánh bắt
Thay đổi môi trường sống của tảo và các vi sinh vật gây ảnh hưởng đến chế độ dinh dưỡng của nguồn nước gây ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng thủy sản
- Thống kê và lượng hóa chi phí
- Đánh giá tác động của nhiệt độ đến các thời kỳ tăng trưởng của các loài thủy hải sản
Năng suất suy giảm do dịch bệnh tăng trong điều kiện nhiệt độ cao, do các loài thủy sinh
bị chết khi các đợt nắng nóng kéo dài
Lượng mưa gia tăng & nước
biển dâng
Giống, loài
Mất sinh cảnh do sự thay đổi chế độ mưa ảnh hưởng đến khối tích nguồn nước (theo mùa hoặc trong năm)
Quan sát và thống kê
Năng suất nuôi/ đánh bắt
Thay đổi nồng độ nước, nhất là độ mặn của nước biển
Khảo sát và nghiên cứu thực địa, quan trắc chất lượng nước
Mất hoặc thay đổi vị trí luồng cá
Lũ lụt làm thất thoát thủy sản nuôi trong các hồ ao
Cơ sở hạ tầng, phương tiện
Ao hồ, bờ đầm, kênh dẫn nước…phục vụ nuôi trồng thủy sản bị phá hoại
Tàu thuyền, thiết bị nuôi trồng và đánh bắt
bị hư hỏng
Trang 16nhìn đến năm 2050
Đơn vị thực hiện: Cơ sở 2 – Đại học Thủy lợi Trang 96
Mực nước biển dâng
Diện tích nuôi thủy sản
Nước mặn xâm nhập làm giảm các vùng thủy sản nước ngọt
Khảo sát và nghiên cứu thực địa, quan trắc chất lượng nước
Mất những vùng đất ngập nước ven biển và sinh thái cửa sông do sự thay đổi dòng chảy
và mực nước biển
cạnh tranh mới hay lối sống ăn thịt
Các hiện tượng khí hậu cực
đoan khác: Bão, áp thấp nhiệt
đới…
Năng suất và cơ sở hạ tầng nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản
Gây thất thoát thủy hải sản nuôi trồng trong các ao hồ, đầm…
Thống kê, đánh giá và dự báo thiệt hại
Tàn phá, làm hư hỏng các cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy hả sản, làm mất hoặc hư hỏng tàu thuyền và các thiết bị đánh bắt khác…
Trang 17Đơn vị thực hiện: Cơ sở 2 – Đại học Thủy lợi Trang 97
Bảng 3.4 Các phương pháp đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến lĩnh vực lâm nghiệp
Nhiệt độ tăng
Tính đa dạng
Thay đổi trong sự phân bố sinh cảnh cho các loài cụ thể, đặc biệt là sự thay đổi trong cấu trúc và chức năng quần thể cá
do sự gia tăng nhiệt độ
Năng suất khai thác
Thay đổi môi trường, khó thích nghi làm cây cối khó phát triển - Đánh giá tác động của nhiệt độ đến các
thời kỳ tăng trưởng của các loài Năng suất suy giảm do cháy rừng khi các
đợt nắng nóng kéo dài
Diện tích rừng Nguy cơ cháy rừng làm giảm diện tích rừng
Lượng mưa gia tăng Giống, loài
Mất sinh cảnh do sự thay đổi chế độ mưa ảnh hưởng đến khối tích nguồn nước (theo mùa hoặc trong năm)
Quan sát và thống kê
Các hiện tượng khí hậu cực
đoan khác: Bão, áp thấp nhiệt
đới…
Đa dạng sinh học, khả năng khai thác
Mất nơi cư trú của động thực vật làm giảm
báo thiệt hại Giảm khả năng khai thác sản phẩm từ rừng
Trang 18nhìn đến năm 2050
Đơn vị thực hiện: Cơ sở 2 – Đại học Thủy lợi Trang 98
Bảng 3.5 Các phương pháp đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến lĩnh vực tài nguyên nước
- Mô hình toán lan truyền chất
- Mô hình thủy lực
Tăng nguy cơ đầm lầy hóa các lưu vực và phát sinh các loại khí độc do tảo tăng trưởng nhanh hơn
Phương pháp GIS chồng lấp bản đồ để phân vùng ảnh hưởng
- Phương pháp đánh giá chất lượng nước theo chỉ số chất lượng nước WQI
- Phương pháp phân vùng ảnh hưởng theo WQI
Dòng chảy mặt và dòng chảy ngầm
Thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước, chế độ thủy văn và các chu trình vật lý khác
Mô hình toán về tương quan giữa lượng mưa & nhiệt
độ và lưu lượng dòng chảy cho lưu vực
Nhu cầu sử dụng nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất
Nhu cầu sử dụng nước gia tăng trong khi trữ lượng
nước có thể bị suy giảm
Khảo sát tại hộ gia đình và các cơ sở sản xuất và các đối tượng sử dụng khác; thống kê các số liệu từ công
ty cấp nước
- Phân tích dự báo về nhu cầu sử dụng nước
Lượng mưa gia
tăng
Trữ lượng
Mô hình thủy văn
Mô hình dự báo biến đổi dòng chảy mặt và nước ngầm Chất lượng nước
Ô nhiễm nguồn nước có thể bị lan rộng do mưa quá lớn gây ngập úng
Các mô hình thống kê y tế cộng đồng
Xây dựng các bản đồ ngập lụt kết hợp mô hình toán
Trang 19Đơn vị thực hiện: Cơ sở 2 – Đại học Thủy lợi Trang 99
Mô hình dự báo biến đổi dòng chảy mặt và nước ngầm
Mô hình dự báo bùn cát và phân tích địa mạo Phương pháp lập bản đồ ngập lụt
Chất lượng nước
Tăng xâm nhập mặn trên sông
và các nguồn nước ngầm
Mô hình dự báo nhiễm mặn,
- Mô hình biến đổi chất lượng nước sông Mức độ ô nhiễm nguồn nước
tăng do ngập lụt trên diện rộng
Hệ sinh thái thủy sản
Nhiễm mặn có nguy cơ làm phá hủy hệ sinh thái thủy sản nước ngọt
trên các sông Mô hình dự báo biến đổi dòng chảy
Chất lượng nước
Mực nước tại các ao hồ, sông thấp do hạn hán dẫn đến tăng nồng độ ô nhiễm Các mô hình dự báo chất lượng nước và xâm nhập mặn Xâm nhập mặn gia tăng do hạn
hán gia tăng
Trang 20nghiệp tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2050
3.3 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN NGÀNH NÔNG NGHIỆP
3.3.1 Các yếu tố cơ bản tác động, ảnh hưởng đến ngành nông nghiệp theo kịch bản biến đổi khí hậu
Các yếu tố cơ bản xuất phát từ kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng có thể gây ảnh hưởng tác động đến ngành nông nghiệp đã được phân tích xây dựng và mô phỏng dựa trên các kịch bản, mô hình toán để tính toán ngay từ chương 2
Để tiện theo dõi và làm cơ sở để đánh giá chúng tôi có thể thống kê tóm tắt các yếu tố cơ bản này với nội dung như sau:
3.3.1.1 Chế độ nhiệt
Với các kịch bản biến đổi khí hậu, nhiệt độ trên địa bàn tỉnh hàng năm nói chung là tăng lên (so với thời kỳ nền 1990) từ 0,3 đến 0,380C vào năm 2020, từ 0,4-0,580C vào năm
2030, 0,5-0,840C vào năm 2040 và từ 0,6-1,180C vào năm 2050 tùy theo mỗi kịch bản
Xu hướng phân bố giảm dần từ Đông-Bắc xuống Tây-Nam và tương ứng theo các kịch bản đến năm 2050 như sau:
Hình 3.1 Phân bố nhiệt độ trung bình năm 2050
Trang 21Bảng 3.6 Chế độ tăng nhiệt độ theo kich bản biến đổi khí hậu ( 0 C)
Năm 2020 2030 2040 2050 2020 2030 2040 2050 2020 2030 2040 2050 12-02 0,33 0,44 0,55 0,66 0,35 0,49 0,67 0,885 0,36 0,54 0,79 1,11
03-05 0,35 0,47 0,58 0,7 0,37 0,525 0,71 0,94 0,38 0,58 0,84 1,18
06-08 0,33 0,43 0,54 0,65 0,34 0,48 0,66 0,87 0,35 0,53 0,78 1,09
09-11 0,3 0,4 0,5 0,6 0,32 0,445 0,61 0,805 0,33 0,49 0,72 1,01
3.3.1.2 Chế độ mưa
Sự thay đổi lượng mưa theo thời gian tính theo % so với thời kỳ nền (năm 1990) cho thấy
về mùa mưa tăng từ 1,15 – 9,33%, về mùa khô giảm đi từ 1,65 – 12,48% tùy theo mỗi kịch bản Với sự thay đổi này sẽ gây nhiều bất lợi cả trực tiếp và gián tiếp cho tất cả các lĩnh vực của ngành nông nghiệp: khô hạn, úng ngập, xói mòn và nhiều diễn biến phức tạp khác
Hình 3.2 Phân bố lượng mưa trung bình năm 2050
Trang 22nghiệp tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2050
Bảng 3.7 Thay đổi lượng mưa theo kịch bản biến đổi khí hậu (%)
2030 (%)
2040 (%)
2050 (%)
2060 (%)
2070 (%)
Để đánh giá, chúng tôi phân tích bài toán bằng phần mềm MIKE11 như đã giới thiệu ở chương 2 với các giả thiết như mưa, mực nước biển dâng như kịch bản biến đổi khí hậu, các công trình điều tiết ở thượng nguồn hoạt động tương ứng với điều kiện cực đoan của biến đổi khí hậu, thời điểm tính toán là đỉnh triều tháng 10 Sau khi tính toán và dùng phương pháp chập bản đồ để đánh giá mức độ ngập lụt như sau:
Bảng 3.9 Tình trạng úng ngập ở Đồng Nai theo kịch bản biến đổi khí hậu
Tỷ lệ %
so với cả tỉnh
Diện tích (km2)
Trang 23Hình 3.3 Mô phỏng tình trạng ngập lụt do nước biển dâng năm 2050
3.3.1.4 Hạn hán
Hạn hán là hiện tượng lượng mưa thiếu hụt nghiêm trọng kéo dài, làm giảm độ ẩm trong không khí và hàm lượng nước trong đất, suy kiệt dòng chảy sông suối, hạ thấp mực nước ao hồ, mực nước trong các tầng chứa nước dưới đất gây ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây trồng, làm môi trường suy thoái, cháy rừng Nếu không
có giải pháp để khắc phục giảm nhẹ thì sẽ có nguy cơ hoang hóa cao
Trong nông nghiệp cần hiểu rộng hơn là sự tác động qua lại giữa nước tự nhiên với nhu cầu sử dụng nước của con người Hạn hán có tác động mạnh mẽ đến môi trường, kinh tế, chính trị xã hội và sức khoẻ cộng đồng Hạn hán là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, bệnh tật thậm chí là chiến tranh do xung đột nguồn nước
Hạn hán tác động đến môi trường như hủy hoại các loài thực vật, các loài động vật, quần
cư hoang dã, làm giảm chất lượng không khí, nước, làm cháy rừng, xói lở đất Các
Trang 24nghiệp tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2050
tác động này có thể kéo dài và không khôi phục được Ngoài ra hạn hán làm giảm năng suất cây trồng, giảm diện tích gieo trồng, giảm sản lượng cây trồng, chủ yếu là sản lượng cây lương thực Tăng chi phí sản xuất nông nghiệp, giảm thu nhập của lao động nông nghiệp
Khác với các loại hình thiên tai khác, hạn phát triển chậm và thường chỉ được phát hiện khi con người đã ít nhiều bị ảnh hưởng bởi hạn Cho đến nay người ta chưa tìm được mô hình hoặc một công nghệ dự báo hạn có độ chính xác mong muốn
mà mới chỉ phác họa được một vài căn cứ khoa học quan trọng giúp ích cho việc cảnh báo hạn
Trên thực tế, hạn hán trên địa bàn tỉnh Đồng Nai không tuân theo một quy luật nào rõ ràng Hạn cũng có thể xảy ra ngay trong mùa mưa Tuy nhiên, cũng có thể thấy rằng hạn hán thường xảy ra trong mùa khô khi mà mưa không xảy ra trong một thời gian dài Ngày nay, theo đánh giá của nhiều chuyên gia thì hiện tượng biến đổi khí hậu đã và đang xảy ra gây ra những tác động đối với các hoạt động phát triển kinh tế xã hội Những dự báo của biến đổi khí hậu cho thấy các hiện tượng cực đoạn thời tiết có xu hướng tăng hơn thì hạn xảy ra nghiêm trọng hơn Chính những điều này cho thấy việc chuẩn bị chiến lược phòng chống hạn hán là việc làm rất cần thiết
Trong khuôn khổ của đề án này, chúng tôi tạm phân chia ra làm 3 loại hạn để dự báo một cách định tính các tác động đến ngành nông nghiệp của tỉnh gồm: (1) Hạn khí tượng do biến đổi khí hậu làm cho các yếu tố khí tượng như độ ẩm, mưa, nhiệt độ mang chiều hướng cực đoan gây ra hạn; (2) Hạn nông nghiệp thể hiện sự mất cân bằng giữa khả năng đáp ứng của tự nhiên so với nhu cầu sử dụng nước cho ngành nông nghiệp và (3) Hạn thuỷ văn do suy giảm các yếu tố thủy văn dòng chảy thủy văn gây ra hạn
Qua phân tích đánh giá tổng hợp từ các nguyên nhân như trên (3 loại hạn) và tính toán cân bằng nước cho ngành nông nghiệp thấy:
+ Hạn hán xảy ra chủ yếu vào vụ Đông Xuân, đây là vụ canh tác có lượng mưa (mùa khô) không đáng kể Trong điều kiện biến đổi khí hậu, các yếu tố khí tượng và thủy văn diễn biến theo chiều hướng tiêu cực làm cho nguy cơ xảy ra hạn ngày càng khốc liệt hơn + Qua phân tích từ các số liệu thống kê hàng năm về tình trạng hạn hán cho thấy các nguyên nhân cơ bản gây ra hạn ở Đồng Nai gồm có lượng mưa năm giảm (đạt 85-90% lượng mưa trung bình nhiều năm), lượng mưa mùa khô hoặc lượng mưa mùa mưa giảm, mực nước sông giảm, thiếu nước tưới, nhiệt độ tăng và mùa mưa muộn 20-25 ngày + Theo kết quả số liệu về tình hình hạn hán 16 năm (1998 - 2013) thì có 7 năm xảy ra hạn hán, ước tính thiệt hại từ hạn hán hàng năm hàng trăm tỷ đồng, xảy ra trên diện tích hàng nghìn héc ta
Trang 25Hình 3.4 Các vùng hạn, thiếu nước sản xuất nông nghiệp ở Đồng Nai
+ Ngoài các đặc điểm trên, hạn còn có nguyên nhân chủ quan như: Sử dụng nước không hợp lý, tự phát thay đổi cơ cấu cây trồng, dịch chuyển mùa vụ, nhân dân gieo trồngvụ Đông Xuân vượt quá khả năng nguồn nước phục vụ của công trình thủylợi, dẫn đến hạn hán hoặc quản lý, điều tiết, phân phối nước trong khu tưới ở các công trình thủy lợi không hợp lý, một số nơi xảy ra hạn cục bộ
Bảng 3.10 Diện tích đất nông nghiệp có nguy cơ hạn
Cây ăn
Hàng năm
Lâu năm
Cây ăn trái
Huyện Tân Phú 37.538 24.151 7.923 5.464 188 121 40 27 Định Quán 51.921 25.816 18.540 7.565 260 129 93 38
Trảng Bom 30.400 15.883 10.958 3.559 152 79 55 18
TX Long Khánh 18.668 4.561 7.753 6.355 93 23 39 32 Xuân Lộc 49.556 24.306 19.580 5.670 248 122 98 28
Trang 26nghiệp tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2050
Tình trạng xâm nhập mặn luôn đi đôi với nước biển dâng cao, tuy nhiên còn phụ thuộc vào các yếu tố xả lũ và vận hành các công trình trên hệ thống kênh, sông Tương ứng trên các kịch bản về nước biển dâng, điều kiện phát triển quy hoạch Chúng tôi chạy mô hình
và phân tích các kết quả xâm nhập mặn chỉ xảy ra ở khu vực phía Nam của tỉnh như một phần huyện Nhơn Trạch, phần nhỏ huyện Long Thành và Tp Biên Hòa
Diễn biến mặn ở phương án hiện trạng và các phương án biến đổi khí hậu được mô tả như hình 3.5 và bảng 3.11 như sau:
Hình 3.5 Đẳng trị mặn tỉnh Đồng Nai đến năm 2050
Trang 27Bảng 3 11 Diễn biến diện tích (km 2 ) mặn theo nồng độ tỉnh Đồng Nai
4 ‰ 56,38 57,27 62,72
Một phần của các xã: Phước Khanh, Vĩnh Thanh, Phước An của huyện Nhơn Trạch; Phước Thái của huyện Long Thành
B2
2-4 ‰ 12,85 12,92 13,12
Một phần của các xã: Phước Khanh, Vĩnh Thanh, Phước An, Long Thọ của huyện Nhơn Trạch; Long Phước, Phước Thái của huyện Long Thành
4 ‰ 56,87 57,69 61,88
Một phần của các xã: Phước Khanh, Vĩnh Thanh, Phước An của huyện Nhơn Trạch; Phước Thái của huyện Long Thành
A1F1
2-4 ‰ 12,93 12,97 13,22
Một phần của các xã: Phước Khanh, Vĩnh Thanh, Phước An, Long Thọ của huyện Nhơn Trạch; Long Phước, Phước Thái của huyện Long Thành
4 ‰ 56,95 57,83 61,95
Một phần của các xã: Phước Khanh, Vĩnh Thanh, Phước An của huyện Nhơn Trạch; Phước Thái của huyện Long Thành
3.3.1.6 Modul dòng chảy
Sự phân hóa chế độ mưa theo không gian đã kéo theo sự phân hóa dòng chảy khá sâu sắc trên địa bàn tỉnh Lượng mưa trung bình năm trên toàn tỉnh là 2.133 mm, tương ứng với môđun dòng chảy vào khoảng 36 l/s/km2, ứng với lớp dòng chảy vào khoảng 1.145 mm, đạt hệ số dòng chảy 0,5 là loại có dòng chảy lớn nhất miền Đông nam bộ Theo sự phân
bố tiểu vùng mưa, ta cũng có 3 tiểu vùng với đặc trưng dòng chảy khác nhau như: tiểu vùng phía Bắc có môđun dòng chảy bình quân lớn hơn 36,3 l/s/km2 nhưng tiểu vùng Nam quốc lộ 1 thì môđun dòng chảy chỉ khoảng 30 l/s/ km2
Theo thời gian dòng chảy cũng bị phân hóa mạnh mẽ Mùa lũ từ tháng VI đến tháng XI xuất hiện sau mùa mưa khoảng 2 tháng, chiếm 80% tổng lượng dòng chảy năm Mùa kiệt thường bắt đầu từ tháng XII năm trước đến tháng V, VI năm sau chiếm 20% tổng lượng dòng chảy năm
Bảng 3.12 Đặc trưng thống kê dòng chảy năm thiết kế tại các trạm trên s Đồng Nai
(Km2)
Qo (m3/s)
Mo (l/s/Km2)
Yo (mm)
Tà Lài 8850 298,6 33,7 1064 2358 0,45 0,15 296,2 266,4 243,1 229,7
Tà Pao 2000 75,7 37,9 1194 2457 0,49 0,18 74,8 65,9 58,9 54,9 Trị An 14025 497,7 35,5 1119 2369 0,47 0,15 493,7 443,9 405,1 382,7
Lá Buông 264 8,2 31,0 977 2180 0,45 0,25 8,0 6,8 5,7 5,2 Trong mùa lũ, đại bộ phận các khu vực cho lũ cao nhất vào tháng VIII, IX Khu vực
Trang 28nghiệp tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2050
thượng Đồng Nai thường cho lũ cao nhất vào tháng X, XI Module dòng chảy lũ bình quân tháng vào khoảng 60-80 l/s.km2 cho các lưu vực lớn và 100-150 l/s.km2 cho các lưu vực nhỏ Module đỉnh lũ trung bình là vào khoảng 0,2-0,5 m3/s.km2 cho các lưu vực lớn và 0,8-1,2 m3/s.km2 cho các lưu vực nhỏ
Bảng 3.13 Modul dòng chảy và lưu lượng mùa lũ trên lưu vực Đồng Nai
(km2)
Qlnbq (m 3 /s)
Mlnbq (m 3 /s.km 2 )
Qlnmax (m 3 /s)
Mlnmax (m 3 /s.km 2 )
Qlnmin (m 3 /s)
Mlnmin (m 3 /s.km 2 )
Bảng 3.14 Modul dòng chảy mùa lũ trên lưu vực Đồng Nai
Trang 293.3.2 Tác động của biến đổi khí hậu đến trồng trọt
Biến đổi khí hậu hiện nay được coi là một thách thức lớn đối với cuộc sống của con người và môi trường, không chỉ tác động riêng tới một quốc gia, một khu vực, mà tác động đến toàn cầu BĐKH với các hệ lụy như mực nước biển dâng, nhiệt độ toàn cầu tăng, các hiện tượng thời tiết cực đoan ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống của con người
và sự phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp Các loại hiểm họa tự nhiên xảy ra với tần suất, cường độ, tính bất định ngày càng gia tăng, gây tổn thất lớn về người và tài sản, đặc biệt là cộng đồng dân cư nông thôn, nơi mà sinh kế phụ thuộc nhiều vào nguồn tài nguyên thiên nhiên và khí hậu
Sản xuất nông nghiệp là một trong những ngành dễ bị tổn thương nhất dưới tác động của biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan Các ảnh hưởng trực tiếp bao gồm các tác động đến sinh trưởng, năng suất cây trồng, thời vụ gieo trồng, làm tăng nguy cơ lây lan sâu bệnh, dịch bệnh Trong đánh giá, chúng tôi dựa vào các kịch bản biến đổi khí hậu và quy hoạch trong tương lai, chủ yếu tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm như sau:
- Nguy cơ giảm diện tích đất nông nghiệp do sự gia tăng ngập lụt, hạn hán, sạt lở và xói mòn làm ảnh hưởng đến khả năng canh tác
- Nguy cơ giảm năng suất, giá trị sản phẩm cây trồng, do diễn biến phức tạp của sâu bệnh, dịch hại và các hiện tượng thời tiết cực đoan
3.3.2.1 Tác động đến diện tích canh tác
a Giảm diện tích do ngập lụt và nhiễm mặn
Qua việc tính toán chạy các kịch bản thủy triều, nước biển dâng, phân tích dựa trên các yếu tố địa hình và các yếu tố liên quan khác cho thấy diện tích canh tác nông nghiệp bị ngập chủ yếu là ở các địa bàn các xã: Phú Hữu, Đại Phước, Long Tân, Phú Hội, Phước Khanh, Vĩnh Thanh, Phước An, Long Thọ của huyện Nhơn Trạch; các xã Tam Phước, An Phước, Long Phước, Phước Thái của huyện Long Thành; một phần rất nhỏ ở huyện Vĩnh Cửu, huyện Trảng Bom và thành phố Biên Hòa
Cây
Ăn trái Tổng
Cây hàng năm
Lâu năm
Cây
Ăn trái
Trảng Bom 30.400 15.883 4.377 11.506 10.958 3.559 912 476 131 345 329 107 Long Thành 27.585 10.375 4.400 5.975 15.617 1.593 1.672 1.193 506 687 296 183 Nhơn Trạch 11.457 10.095 4.764 5.331 420 942 1.890 1.666 786 880 69 155 Vĩnh Cửu 19.502 14.202 7.623 6.579 2.335 2.965 1.950 1.420 762 658 234 297
Tp Biên Hòa 2.596 1.872 638 1.234 337 387 130 94 32 62 17 19
Tổng 91.540 52.427 21.802 30.625 29.667 9.446 6.555 4.849 2.218 2.632 944 761
Trang 30nghiệp tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2050
Xét trên phạm vi toàn tỉnh, diện tích đất nông nghiệp bị ngập không ảnh hưởng lớn đến tổng diện tích đất nông nghiệp Tuy nhiên khi xét ở khía cạnh địa phương (từng huyện) lại cần thiết có kế hoạch sinh kế cho người dân khi gặp những điều kiện mất đất
So sánh diện tích đất nông nghiệp bị ngập qua các năm 2020, năm 2030, năm 2050 theo kịch bản biến đổi khí hậu Đồng Nai (kịch bản trung bình)
Bảng 3.16 Các loại đất bị ngập và nhiễm mặn theo các năm (ha)
(>4 ‰) Năm
b Nguy cơ giảm diện tích do đất bạc màu, rửa trôi và xói mòn
Theo tài liệu điều tra, đánh giá tài nguyên đất theo phương pháp FAO/UNESCO của viện Nông hóa Thổ nhưỡng, tỉnh Đồng Nai có 10 nhóm đất khác nhau:
Bảng 3.17 Phân loại đất tỉnh Đồng Nai
3 Đất đỏ 95.389 16,26 TX.Long Khánh, Thống Nhất, Trảng
Bom, Xuân Lộc, Cẩm Mỹ, Định Quán
4 Đất phù sa 27.929 4,76 Nhơn Trạch, Long Thành, Vĩnh Cửu,
10 Nhóm đất loang lổ 139 0,02 Bắc Vĩnh Cửu, Tân Phú
Trang 31Nguồn: Sở TN-MT Đồng Nai
- Nhóm đất xám có diện tích 235,605ha, chiếm 39,8% diện tích toàn tỉnh, tập trung nhiều ở Vĩnh Cửu, Xuân Lộc, Trảng Bom, Long Thành, Nhơn Trạch, Biên Hòa Trong nông nghiệp, đất xám có khả năng thích nghi với nhiều loại cây, nhưng do đất nghèo dinh dưỡng và dễ bị trôi Vì vậy, đây là loại đất dễ bị tác động khi biến đổi khí hậu xảy ra, đất
dễ bị thay đổi thành phần và mất dinh dưỡng do mưa lớn, xói mòn, ngập úng làm suy giảm khả năng canh tác nông nghiệp Vì vậy, cần chú ý các biện pháp cải tạo, bồi dưỡng đất
- Nhóm đất đen có diện tích 131.604ha, chiếm 131.604ha, chiếm 22,3% diện tích toàn tỉnh phân bố tập trung ở Xuân Lộc, Định Quán, Thống Nhất, Tân Phú Đất có hàm lượng dinh dưỡng cao nhưng do địa hình bị chia cắt mạnh, có nhiều đá lẫn và đá lộ đầu, tầng canh tác nông nên phần lớn diện tích này đang được sử dụng trồng chuối và cây hàng năm nhưng không có khả năng cơ giới hóa và tỷ lệ sử dụng rất thấp
- Nhóm đất phù sa có diện tích 27.929ha, chiếm 4,7% diện tích toàn tỉnh Đây là loại đất
có hàm lượng dinh dưỡng khá cao, giàu mùn, đạm, kali nhưng nghèo lân, phân bố chủ yếu trên địa hình thấp, thường bị nhiễm phèn và một phần bị nhiễm mặn, khả năng sử dụng tùy thuộc vào mức độ mặn Do đó khi biến đổi khí hậu xảy ra với các biểu hiện khô hạn, sự xâm nhập mặn và ngập úng sẽ có ảnh hưởng đến diện tích đất được sử dụng đối với loại đất này
- Nhóm đất Gley có diện tích 26.758ha, chiếm 4,5% diện tích toàn tỉnh, phân bố ở địa hình thấp, khả năng tiêu nước kém thuộc các huyện Tân Phú, Vĩnh cữu, Long Thành, Biên Hòa, Nhơn Trạch Biến đổi khí hậu với biểu hiện lượng mưa gia tăng sẽ gây hạn chế đến diện tích canh tác sử dụng loại đất này
- Nhóm đất đỏ có diện tích 95.389ha, chiếm 16,2% diện tích toàn tỉnh, tập trung ở Xuân Lộc, Định Quán, Thống Nhất, Long Khánh, Tân Phú Đây là loại đất tốt nhất trên địa bàn tỉnh, có khả năng thích nghi với nhiều loại cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả có giá trị kinh tế cao
- Ngoài 5 nhóm đất nêu trên, địa bàn tỉnh có 5 nhóm đất khác nhưng quy mô phân bố không lớn và phân bố rải rác: đất nâu, đất tầng mỏng, đất đá bọt, đất cát, đất loang lổ
Về độ dốc ở tỉnh Đồng Nai có một số loại đất dốc với tỷ trọng như sau:
+ Độ dốc cấp I (0 - 30): 207.489 ha; chiếm 35,12% DTTN toàn tỉnh
+ Độ dốc cấp II (3 - 80): 183.506 ha; chiếm 31,06% DTTN toàn tỉnh
+ Độ dốc cấp III (8 - 150): 42.914 ha; chiếm 7,26% DTTN toàn tỉnh
+ Độ dốc cấp IV (15 - 200): 9.092 ha; chiếm 1,54% DTTN toàn tỉnh
+ Độ dốc cấp V (20 - 250): 14.892 ha; chiếm 2,52% DTTN toàn tỉnh
+ Độ dốc cấp VI (>250): 10.586 ha; chiếm 1,79% DTTN toàn tỉnh
Trang 32nghiệp tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2050
Như vậy với trên 66% diện tích có độ dốc < 80, có thể khẳng định: đất ở Đồng Nai tương đối bằng phẳng, đây là điều kiện khá thuận lợi để đưa các giải pháp thâm canh trong nông nghiệp như cơ giới hóa nông nghiệp, ứng dụng công nghệ cao, sản xuất theo quy trình thực hành nông nghiệp tốt…Tuy nhiên với độ dốc cấp II (3-80) chiếm đến 183.506 ha canh tác chủ yếu là cây trồng cạn, nếu bề mặt không được phủ kín, do hạn hán, thiếu nước, chặt phá rừng đốt nương rẫy kèm theo điều kiện dòng chảy mặt tăng do lượng mưa về mùa mưa tăng cao sẽ có nguy cơ xói mòn, mất chất dinh dưỡng trong đất, làm cho đất cằn cỗi bạc màu
c Giảm diện tích do chuyển đổi đất nông nghiệp
Theo kế hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của tỉnh, diện tích đất nông nghiệp có xu hướng giảm xuống, trong khi diện tích các loại đất khác tăng lên
Các số liệu về chuyển đổi sử dụng đất nông nghiệp sang mục đích khác do các nguyên nhân liên quan đến thay đổi chu kỳ mùa màng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai vẫn chưa được tiến hành nên chưa thể lượng hóa được mức độ tác động cụ thể của biến đổi khí hậu đến
tỷ lệ chuyển đổi đất nông nghiệp Tuy nhiên, tỷ lệ chuyển đổi diện tích đất nông nghiệp sang các loại đất khác thường bị chi phối chủ yếu bởi quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội hơn là các yếu tố khí hậu Vì vậy, mức độ tác động của biến đổi khí hậu đến tiêu chí này rất ít
Bảng 3.18 Hiện trạng và kế hoạch sử dụng đất tỉnh Đồng Nai (ha)
Đất nông nghiệp 468.576 432.622 416.982 Đất phi nông nghiệp 121.250 157.886 173.589
Nguồn: Sở TN-MT Đồng Nai
d Giảm diện tích do hoang hóa
Như đã phân tích về tình trạng hạn hán ở Đồng Nai cho thấy việc thiếu nước sản xuất trong nông nghiệp, nhiệt độ gia tăng, giảm độ ẩm, suy kiệt dòng chảy và các điều kiện cực đoan khác của biến đổi khí hậu làm cho tình trạng hạn hán và hậu quả của hạn hán đối với nông nghiệp càng khốc liệt Về diện tích sản xuất có nguy cơ hoang hóa cao Qua phân tích các số liệu thống kê về hạn xảy ra trong các năm từ 1998 đến 2013 cùng với các diễn biến cực đoan của biến đổi khí hậu theo các kịch bản đã mô phỏng cho thấy diện tích xảy ra hạn hán ngày càng gia tăng, nguy cơ hoang hóa đất sản xuất nông nghiệp Đối với yếu tố này khó để lượng hóa một cách chính xác vì còn phụ thuộc rất nhiều yếu
tố khác như quản lý vận hành công trình thủy lợi, trình độ thâm canh và canh tác Do đó chúng tôi phân tích dựa vào các điều kiện phát triển sản xuất như quy hoạch, chế độ vận hành các công trình thủy lợi như hiện tại Do đó các chỉ số thống kê để mang tính cảnh
Trang 33báo nguy cơ như sau:
Bảng 3.19 Diện tích đất nông nghiệp có nguy cơ hoang hóa
Huyện thị
Đất nông nghiệp (ha)
3.3.2.2 Tác động đến năng suất và chất lượng sản phẩm
Cây lương thực: Hai loại cây lương thực được gieo trồng chủ yếu trên địa bàn tỉnh là lúa
và bắp, tập trung tại một số huyện: Tân Phú, Định Quán, Xuân Lộc, Vĩnh Cửu, Nhơn Trạch
Theo Niên giám thống kê Đồng Nai 2011, năng suất lúa, bắp có xu hướng tăng lên qua các năm giai đoạn 2006 – 2010, trong khi diện tích có xu hướng giảm xuống qua các năm Như vậy, tính đến thời điểm hiện tại, năng suất cây lương thực chủ lực trên địa bàn tỉnh nhìn chung có sự biến đổi theo chiều hướng tích cực
Hình 3.7Biểu đồ năng suất và sản lượng lúa tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2006-2010
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Đồng Nai, 2011
Trang 34nghiệp tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2050
Hình 3.8 Biểu đồ năng suất và sản lượng bắp tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2006 - 2010
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Đồng Nai, 2011
Theo kịch bản kịch bản BĐKH, tổng diện tích đất trồng lúa và cây hàng năm bị ngập là 3,63 km2, diện tích ngập chiếm tỷ lệ thấp so với tổng diện tích đất trồng trọt của tỉnh nên nhìn chung trên phạm vi toàn tỉnh dự đoán năng suất cây lương thực chủ lực không có sự biến động nhiều do ngập lụt
Theo kịch bản kịch bản BĐKH, thay đổi của nhiệt độ so với nhiệt độ nền dao động khoảng 0,32 – 0,350C, dự kiến vẫn chưa ảnh hưởng nhiều đến năng xuất cây trồng của tỉnh Tuy nhiên, theo Viện lúa quốc tế (IRRI), nếu nhiệt độ tăng 10C, năng suất lúa, bắp
sẽ giảm 10% Như vậy, theo kịch bản biến đổi khí hậu Đồng Nai kịch bản B2 năm 2060, khoảng tăng nhiệt độ so với nhiệt độ nền dao động từ 1,015 – 1,11 tương ứng với năng suất lúa sẽ giảm khoảng 4,649tạ/ha và bắp khoảng 5,913 tạ/ha trong điều kiện không có biện pháp ứng phó Ngoài ra biến đổi khí hậu còn là nguyên nhân gia tăng hiện tượng thời tiết cực đoan gây thiệt hại đến năng suất cây trồng, sự gia tăng nhiệt độ và lượng mưa còn ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu tưới tiêu trong nông nghiệp từ đó có ảnh hưởng gián tiếp đến năng suất cây trồng
Biến đổi khí hậu có thể là nguyên nhân gây gia tăng sâu bệnh trên địa bàn tỉnh, đây là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất cây trồng Tuy nhiên, các số liệu về thiệt hại do sâu bệnh trong điều kiện khí hậu thay đổi cho đến hiện tại chưa được thống kê đầy
đủ nên chưa thể đánh giá tác động cụ thể của biến đổi khí hậu đến năng suất cây trồng thông qua tác động đến sự tăng giảm sâu bệnh trên cây trồng
Cây công nghiệp: Với điều kiện đất đai, khí hậu thuận lợi, Đồng Nai được đánh giá là tỉnh có nhiều tiềm năng lớn trong việc phát triển cây công nghiệp Các loại cây công nghiệp chủ lực trên địa bàn tỉnh bao gồm: cà phê, cao su, tiêu, điều
Trang 35Theo Niên giám thống kê Đồng Nai 2011, năng xuất cây công nghiệp có xu hướng tăng lên qua các năm 2006 – 2010
Hình 3.9 Năng suất cây công nghiệp giai đoạn 2006 -2010
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Đồng Nai, 2011
Theo kịch bản kịch bản BĐKH , diện tích cây công nghiệp bị ngập trên địa bàn tỉnh là 1,09ha, chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng diện tích trồng cây công nghiệp Do vậy, sự suy giảm năng suất cây công nghiệp dưới tác động của biến đổi khí hậu do sự giảm diện tích thấp
Sự gia tăng nhiệt độ có ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của các loại cây công nghiệp do mỗi loài cây có ngưỡng chịu đựng với nhiệt độ nhất định Tuy nhiên, theo kịch bản kịch bản BĐKH, thay đổi của nhiệt độ so với nhiệt độ nền dao động khoảng 0,32 – 0,350C, dự kiến vẫn chưa ảnh hưởng nhiều đến năng xuất cây trồng của tỉnh Ngoài ra, biến đổi khí hậu còn là nguyên nhân gia tăng hiện tượng thời tiết cực đoan gây thiệt hại đến năng suất cây trồng, sự gia tăng nhiệt độ và lượng mưa còn ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu tưới tiêu trong nông nghiệp từ đó có ảnh hưởng gián tiếp đến năng suất cây trồng
Tình hình sâu bệnh trên địa bàn tỉnh có thể diễn biến phức tạp dưới tác động của biến đổi khí hậu Tuy nhiên, các số liệu về xu hướng biến động, địa bàn phân bố của sâu bệnh do các yếu tố khí hậu và hiện tượng thời tiết cực đoan và số liệu diện tích, sản lượng cây lương thực thiệt hại do sâu bệnh trong điều kiện khí hậu thay đổi cho đến hiện tại chưa được thống kê đầy đủ nên chưa thể đánh giá tác động cụ thể của biến đổi khí hậu đến năng suất cây trồng thông qua tác động đến sự tăng giảm sâu bệnh trên cây trồng Do vậy, chưa thể đánh giá cụ thể tác động của biến đổi khí hậu đến năng suất cây trồng bằng phương pháp định lượng nhưng thông qua các phân tích trên có thể đánh giá định tính là biến đổi khí hậu có tác động đến năng suất cây trồng ở mức trung bình
Trang 36nghiệp tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2050
3.3.3 Tác động của biến đổi khí hậu đến chăn nuôi
Tỷ trọng ngành chăn nuôi đang có xu thế tăng nhanh trong cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Nai; nếu năm 2005 chăn nuôi chỉ chiếm 31,34% thì đến năm 2010 tỷ trọng này
là 38,06% và đến năm 2012 lên đến 39,01%
Chăn nuôi ngày càng có vị trí, vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp và tăng trưởng kinh tế cũng như thu nhập của người dân tỉnh Đồng Nai; điều này càng được được thể hiện rõ hơn khi so sánh với các tỉnh vùng Đông Nam bộ và ĐBSCL cho thấy, Đồng Nai luôn là tỉnh có tỷ trọng chăn nuôi cao nhất
3.3.3.1 Mục tiêu phát triển lĩnh vực chăn nuôi ở Đồng Nai
Căn cứ Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 cúa Chính phủ (Quvết định số 10/2008/QĐ-TTg ngày 16/01/2008) và tình hình thực tế chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, xác định mục tiêu phát triển chăn nuôi tỉnh Đồng Nai như sau:
a Đến năm 2015
- Tổng đàn heo 1.700.000 con; đàn heo nái khoảng 228.000 con Sản lượng thịt 287.000 tấn/năm Chăn nuôi trang trại chiếm 70%
- Đàn gà 12.800.000 con Chăn nuôi trang trại chiếm 90%
- Số lượng.trang trại được công nhận an toàn dịch bệnh 450 cơ sở (xây dựng mới), chứng nhận VietGAHP: 30 cơ sở
- Xây dựng được 4 chuỗi sản phẩm:
Chuỗi sản phẩm thịt heo an toàn;
Chuỗi sản phẩm thịt gà an toàn;
Chuỗi sản phẩm trứng gà an toàn
Chuỗi gà sống (cơ sở chăn nuôi gà được chứng nhận VietGAHP nông hộ tại các vùng GAHP do dự án Lifsap đầu tư - Chợ truyền thống Dầu Giây có khu vực kinh doanh, giết
mổ bán thủ công gà sống riêng; đạt điều kiện vệ sinh thú y)
- 100% sản phẩm chăn nuôi tham gia chuỗi sản phẩm an toàn truy xuất được nguồn gốc
b Đến năm 2020
Tổng đàn heo 2.000.000 con, đàn heo nái khoảng 245.000 con Sản lượng thịt khoảng 377.000 tấn/năm Chăn nuôi trang trại chiêm trên 80%
Đàn gà 15.000.000 con Chăn nuôi trang trại chiếm trên 95%
Số lượng trang trại được công nhận an toàn dịch bệnh 780 cơ sở (trong đó xây dựng mới:
330 cơ sở) Chứng nhận VietGAHP: 150 cơ sở (trong đó có 120 cơ sở mới)
Duy trì và phát triển 4 chuỗi sản phẩm an toàn đã xây dựng được từ năm 2015
- 100% sản phẩm chăn nuôi tham gia đề án truy xuất được nguồn gốc
Trang 373.3.3.2 Các tác động của biến đổi khí hậu đến lĩnh vực chăn nuôi
a Tác động của BĐKH đến vật nuôi
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến dịch bệnh của vật nuôi Để chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa biến đổi khí hậu và dịch bệnh vật nuôi là điều không dễ và nhiều khi không cần thiết Nhiều nghiên cứu quy nạp rằng biến đổi khí hậu là nguyên nhân quan trọng dẫn đến dịch bệnh trên vật nuôi Các kết quả nghiên cứu cho thấy dịch dịch bệnh xảy ra trên trâu
và lợn ngày càng nhiều hơn, đặc biệt trong những năm gần đây, thâm chí dịch bệnh xảy
ra trên cả gia súc đã được tiêm phòng Khi nhiệt độ tăng sẽ hỗ trợ cho việc lan truyền mần bệnh, thay đổi lượng mưa cũng có thể ảnh hưởng rộng đến sự di chuyển dịch bệnh trong những năm ẩm ướt Trong khi đó người nghèo không có khả năng tiếp cận được với các dịch vụ thú y dẫn đến bùng nổ dịch bệnh trên vật nuôi và kết quả tăng tỷ lệ chết gia súc, gia cầm
Thêm vào đó khi dịch bệnh diễn ra, thị trường quay lưng lại với sản phẩm chăn nuôi Điều này them một lần nữa gây thiệt lại lớn cho người chăn nuôi, đặc biệt là nông dân nghèo có hoạt động chăn nuôi là những người có các hoạt động sinh kế dễ bị tổn thương nhất do BĐKH
Một trong những tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất chăn nuôi là thay đổi sự có sẳn nguồn thức ăn cho chăn nuôi Nhiệt độ xuống thấp hoặc tăng cao đều làm giảm diện tích đồng cỏ cho chăn nuôi gia súc nhai lại và giảm năng suất cây trồng cung cấp lương thực cho gia súc dạ dày đơn Nhiệt độ thấp làm khan hiếm nguồn thức ăn cho vật nuôi đồng thời làm giảm khả năng đề kháng của cơ thể, tăng nguy cơ mắc bệnh từ đó gây chết vật nuôi Nhiệt độ tăng vào mùa hè dẫn đến nhu cầu nước cho vật nuôi tăng lên rõ rệt, trong khi đó nguồn nước cung cấp không được đáp ứng một cách đầy đủ Biến đổi khí hậu có thể làm giảm khả năng sinh trưởng và sản xuất của vật nuôi như giảm tăng trọng, sinh sản và sản xuất sữa thông qua giảm chất lượng thức ăn và tăng nhiệt độ xung quanh
b Ảnh hưởng trực tiếp của biến đổi khí hậu và môi trường đến chăn nuôi
Các thảm họa thiên nhiên như hạn hán lụt lội đang tăng lên cũng là mối đe dọa cho chăn nuôi Các thảm họa này có thể làm chúng ta mất đi một số lượng lớn các giống gia súc quý hiếm, giảm đa dạng sinh học Trái đất nóng lên cũng làm tăng stress nhiệt ở gia súc, gia cầm
Sự thay đổi các yếu tố khí hậu dẫn đến sự thay đổi về nguồn thức ăn, đồng cỏ, đất đai và nguồn nước Gia súc, gia cầm thiếu nước, thiếu thức ăn dẫn đến hạn chế sự phát triển Biến đổi khí hậu phát sinh và lây lan các loại dịch bệnh chủ yếu như: H5N1, H7N9, tai xanh, lở mồm long móng… Ở Đồng Nai tình hình dịch bệnh vật nuôi tuy đã được khống chế, những vẫn tiềm ẩn và có nguy cơ tái phát, nhất là các dịch cúm gia cầm, dịch heo tai xanh, dịch bệnh lở mồm long móng,… Dịch bệnh hại vật nuôi gây rủi ro lớn nhất đối với
Trang 38nghiệp tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2050
nhà chăn nuôi đã phải gánh chịu, thậm chí đến mức buộc phải tuyên bố phá sản
- Đàn heo các huyện có quy mô lớn gồm: Xuân Lộc, Thống Nhất, Trảng Bom, Cẩm Mỹ, Vĩnh Cửu, Long Thành, Định Quán… Trong điều kiện biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng đến nguồn thức ăn do thu hẹp phạm vi sản xuất nông nghiệp, gia tăng các dịch bệnh như tai xanh, lở mồm long móng… Các dịch bệnh này hiện đang diễn biến phức tạp, đặc biệt dễ lây lan, khó kiểm soát trong điều kiện biến đổi khí hậu như nóng ẩm gia tăng, lụt lội và hạn hán Các cơ sở chăn nuôi có thể phải tăng vốn, chi phí năng lượng và duy trì cho hệ thống thôn gió, làm mát, làm nóng và kiểm soát sự thoát hơi nước Nhu cầu đối với quản
lý chuồng trại được cải thiện trong các trường hợp biến đổi khí hậu làm tăng chi phí
- Đàn gà toàn tỉnh có 10,687 triệu con phân bố chủ yếu ở huyện Trảng Bom, Xuân Lộc, Thống Nhất, Vĩnh Cửu, Long Thành, Định Quán, Cẩm Mỹ và thị xã Long Khánh Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu nên thời tiết thay đổi bất thường, nếu mật độ chăn nuôi cao, môi trường chăn nuôi sẽ ô nhiễm, các ổ dịch cũ sẽ là nguy cơ bùng phát dịch bệnh Nắng nóng kéo dài, nhiệt độ gia tăng về mùa khô, tăng lượng mưa về mùa mưa ngoài việc gây ra dịch bệnh thì mưa lũ, gió bão còn tàn phá về chuồng trại chăn nuôi gây chết
và giảm quy mô đàn đặc biệt ở các huyện dễ tập trung lũ quét, lũ ống, ngập lũ ở các huyện như Trảng Bom, Định Quán, Xuân Lộc, Vĩnh Cửu, Cẩm Mỹ và thị xã Long Khánh…
- Đàn bò hiện khoảng 68.324 con; trong đó, bò sữa 1.757 con Bò thịt phân bố tập trung nhiều nhất ở huyện Xuân Lộc 27.170 con còn lại nằm rải rác ở các địa phương khác chiếm tỷ trọng nhỏ 2,8 - 9,34% Đàn bò sữa nuôi tập trung ở các xã: An Phước, Lộc An thuộc huyện Long Thành; xã Tam Phước và các phường Trảng Dài, Tân Phong thuộc thành phố Biên Hòa; xã Bắc Sơn thuộc huyện Thống Nhất Biến đổi khí hậu cực đoan làm giảm sản lượng và chất lượng thức ăn chăn nuôi, đặc biệt là các nguồn thức ăn tự nhiên như đồng cỏ cho chăn nuôi gia súc nhai lại và giảm năng suất cây trồng cung cấp lương thực cho gia súc dạ dày đơn, khan hiếm nguồn thức ăn cho vật nuôi đồng thời làm giảm khả năng đề kháng của cơ thể, tăng nguy cơ mắc bệnh từ đó gây chết vật nuôi Một
số nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học ở Mỹ cho rằng độ ẩm tăng làm giảm lượng sữa ở bò sữa, đặc biệt về mùa hè nhiệt độ tăng kèm theo điều kiện ẩm ướt có thể giảm tới 50% so với điều vùng khí hậu mát mẻ, khô thoáng
- Đàn thủy cầm (vịt, ngan, ngỗng ) 650 ngàn con, phân bố ở các địa phương có nhiều nguồn nước và sản xuất lúa như: huyện Tân Phú (192 ngàn con chiếm 29,53%), Định Quán (131 ngàn con, chiếm 20,15%), Vĩnh Cửu (81,4 ngàn con, chiếm 12,52%), Nhơn Trạch (71 ngàn con, chiếm 10,92%)… hiện nay đa số vẫn còn hình thức nuôi vịt thả đồng hoặc nhốt ở kênh, rạch Đây là môi trường dễ dẫn đến tình trạng nhiễm bệnh cúm trên đàn vịt, rất dễ làm lây lan mầm bệnh
Trang 39Tóm lại đàn gia súc, gia cầm ở Đồng Nai phân bố phần lớn ở các huyện Trảng Bom, Xuân Lộc, Thống Nhất, Cẩm Mỹ, Tân Phú, Định Quán, Vĩnh Cửu, Long Thành; sự phân
bố này là khá hợp lý cho ở thời điểm hiện tại; tuy nhiên, trong tương lai, khi các huyện Long Thành, Trảng Bom và Thống Nhất phát triển mạnh các khu công nghiệp và đô thị cần phải di dời ra các huyện xa hơn để vừa bảo vệ tốt môi trường cho các khu công nghiệp đô thị, vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao do có thể tận dụng nguồn thức ăn sẵn có trong tự nhiên và sản phẩm phụ của ngành trồng trọt
Bảng 3.20 Đánh giá định tính tác độgn biến đổi khí hậu đến chăn nuôi
động
lượng thấp
giản diện tích
cơ sở chăn nuôi, đồng cỏ, thức ăn… Ghi chú : - Không tác động hoặc ít tác động,
+ Có ảnh hưởng ; ++ rất ảnh hưởng
c Ảnh hưởng gián tiếp của biến đổi khí hậu và môi trường đến chăn nuôi
Do biến đổi khí hậu và môi trường toàn cầu, các hệ sinh thái cũng sẽ thay đổi Sự thay đổi này bao gồm thay đổi về đất đai, nguồn nước, thức ăn, đồng cỏ, hệ động thực vật, vi sinh vật Chăn nuôi sẽ bị ảnh huởng của thay đổi khí hậu và môi trường bởi nhiều cách trong đó có việc tăng tỷ lệ bệnh tật ở gia súc, tăng giá các loại thức ăn chăn nuôi do mở rộng nhanh chóng diện tích trồng các cây làm nhiên liệu sinh học đã ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên đất trên hành tinh dung cho sản xuất thức ăn và do đó ảnh hưởng đến cung cấp lương thực thực phẩm và giá cả của thức ăn chăn nuôi , nước dùng cho chăn nuôi ngày càng trở nên khan hiếm
Quan hệ giữa vật chủ và các tác nhân gây bệnh thay đổi, nhiều bênh mới và nguy hiểm xuất hiện Biến đổi khí hậu đã làm tăng áp lực cho chăn nuôi bởi vì số lượng bệnh, đặc biệt là các bệnh mới và nguy hiểm ngày càng tăng Trong hoàn cảnh mới chỉ có những kiểu gen kháng bệnh hoặc ít mẫn cảm với bệnh sẽ có nhiều cơ hội để tồn tại và phát triển Ngoài ra thay đổi từ đồng cỏ C3 ôn đới sang đồng cỏ C4 nhiệt đới và tang diện tích các cây bụi trên đồng cỏ đã được dự báo trước Sự thay đổi này sẽ làm giảm chất lượng cỏ
d Đóng góp của chăn nuôi trong biến đổi khí hậu và môi trường
Chăn nuôi chiếm 70% đất nông nghiệp và 30% diện tích không có băng giá của hành
Trang 40nghiệp tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2050
tinh, tạo ra 40% GDP của nông nghiệp toàn cầu, đóng góp đáng kể đến biến đổi khí hậu,
ô nhiễm môi trường Nhu cầu toàn hành tinh về các sản phẩm chăn nuôi sẽ tăng gấp đôi trong nửa đầu thế kỷ 21 do tăng dân số Trong thời gian này khí hậu trái đất cũng sẽ có thay đổi lớn
An ninh lương thực vẫn là ưu tiên số 1 ở các nước đang phát triển và chăn nuôi đóng vai trò chủ đạo ở phần lớn các nứơc này Chúng ta vì thế cần khoa học chăn nuôi chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về sản phẩm chăn nuôi an toàn về môi trường và
xã hội Cũng cần xem lại xem các phát hiện mới nhất về thay đổi khí hậu và ảnh hưởng của nó đến chăn nuôi cũng như vai trò của chăn nuôi trong biến đổi khí hậu và làm thế nào để giảm đóng góp của chăn nuôi đến thay đổi khí hậu, làm thế nào các hệ thống chăn nuôi có thể đáp ứng đựơc với thay đổi khí hậu và cái gì nên là các ưu tiên trong nghiên cứu chăn nuôi trong bối cảnh mới
Vai trò của chăn nuôi trong chu kỳ N và C, đến thay đổi khí hậu liên hệ chặt chẽ đến ảnh hưởng của chăn nuôi đến sử dụng đất như đất chăn thả (đồng cỏ) đất trồng cây thức ăn gia súc (thức ăn xanh và tinh) Khi xem xem xét cả chu kỳ sản xuất hàng hóa khí thải nhà kính từ chăn nuôi đóng góp làm trái đất nóng lên là 18%, hay gần một phần năm khí thải nhà kính khí thải nhà kính từ chăn nuôi lớn hơn khí thải từ xe hơi và các phương tiện giao thông khác, chăn nuôi đóng góp 9% (CO2), 37 % CH4 và 65% N2O tổng khí thải nhà kính Lượng N2O sẽ còn tăng lên nữa trong các thập kỷ tới vì đồng cỏ đang đươc mở rộng tối đa ở hầu khắp các vùng của thế giới vì chăn nuôi đang mở rộng, cần nhiều đất sản xuất thức ăn hơn Ở hầu hết các loại đất nông nghiệp kể cả đồng cỏ thu cắt, bón phân nitơ, hoặc phân và chất thải gia suc có chứa N sẽ kích thích bốc tháot N2O Có ba loại khí thải nhà kính là CO2, methan (CH4), và nitrous oxide (N2O) Trong khi người ta chú
ý nhiều đến CO2, methan (CH4) và nitrous oxide (N2O) có tiềm năng gây hiệu ứng nhà kính lớn hơn rất nhiều so với CO2 Nếu coi một g CO2 là một đơn vị (hay đương lượng
CO2) gây hiệu ứng nhà kính (làm nóng khí quyển và trái đất) thì tiềm năng gây hiệu ứng nhà kính của một g methan (CH4) và 1 g nitrous oxide (N2O) là 23 và 296 đương lượng
CO2 Chăn nuôi có vai trò đáng kể làm trái đất nóng lên và là một trong những đe dọa lớn cho môi trường toàn cầu
Vì số lượng gia súc tăng, khí thải nhà kính cũng sẽ tăng theo Tăng số lượng gia súc, tăng
số trang trại nuôi gia súc tập trung đã làm tăng khí thải nhà kính từ chăn nuôi và từ chất thải (phân) của gia súc Công nghệ chăn nuôi phát triển, nhiều trang trại chăn nuôi công nghiệp tập trung xuất hiện, phân thải ra từ các trang trại này nhiều hơn lượng phân cần thiết cho trồng trọt, dẫn đến tích tụ phốt pho, nitơ và các chất gây ô nhiễm khác trong đất, nước ngầm, sông hồ, biển Nhốt một số lượng lớn gia súc ga cầm trong chuồng làm tăng các vấn đề về môi trường và là một trong 2 hoặc 3 yếu tố quan trọng nhất của chăn nuôi đóng góp vào những vấn đề môi trường nghiêm trọng nhất CO2 từ chăn nuôi chủ yếu từ