Ngày 1 ^ 10/2005 Tổng Thổng nước cộng hòa Indonesia cũng ban hành quy định số 65năm 2005 về Uỷ ban quốc gia về xoá bỏ bạo lực đối với phụ nữ, một trong nhrng nhiệm vụ được nêu ra đó là "
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TÂM LÝ • • •
Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC
MÃ S Ò : 60 31 80
Người hướng dẫn khoa học' PGS TRẦN TRỌNG THỦY
Hà Nội, 2007
Trang 2lặ c biệt, tôi xin bày tỏ IÒIĨỊỊ biết ơn sâu sẳc tởi PGS Trần Trọng Thủy - người tíầy đã tận tâm hưởng (lẫn, chỉ báo tỏi troiíỊỊ suốt thời gian làm luận văn.
Tôi xin cảm ơn Tỉt.s Nguyễn Văn Anh - Giám đốc trung tâm CSAGA
di nhiệt tình tạo m ọi điều kiện thuận lợi nhất đế tôi hoàn thành luận văn.• • • • • • •
ịà tôi cũng chân thành cảm ơn các đồng nghiệp noi đây đã giúp đỡ tôi rất riùèu trong suốt quá trình nghiên cứu.
M ột lần nữa tỏi xin chân thành cảm ơn vì nhũng tình cảm vô cùng tít đẹp đỏ.
Hà Nội, ngày 10 tháng 9 năm 2007
Học viên
Phạm Thị Hồng Phirong
Trang 3MỤC LỤC
NỤC LỤC 1
\Ò ĐẦU 3
I.u do chọn dề l à i 3
II Mục đích nghiên cứu: 7
II Nhiệm vụ nghiên cứu: 7
p Đôi tượng, khách thê nghiên cứu 8
V Giới hạn nghiên cứ u 8
V Giả thuyết khoa học: 8
VI Phương pháp nghicn cứ u 9
CHƯƠNG 1: C ơ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ T À I 10
1 >ịch sử nghiên cứu vấn đ ề: 10
1 Tổng quan vấn đề bạo hành trong gia đình trên thế giới và những hoạt đ<ng toàn cầu nhằm xóa bỏ nạn bạo hành với phụ nữ trong gia đình: 10
1.! Một sổ nghiên cứu về bạo hành gia đình và nhận thức về bạo hành gia đìih trên thế g iớ i 13
1 > Nghiên cứu về bạo hành trong gia đình và nhận thức về bạo hành gia đình ở /iệ t N am 18
2.Những vấn đề lý luận liên quan đến đề t à i 24
2 Nhận thức và nhận thức về bạo hành gia đình của những phụ nữ là nạn nhân 24
2.' Bạo hành hay bạo lực (Violence): 26
2.' Bạo hành trên cơ sở giới hay bạo lực chống lại phụ n ữ : 26
2.* Bạo hành trong gia đình và các hình thức của n ó 27
CHƯƠNG 2: TỎ C H Ú C VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u 30
1 Chọn mẫu nghiên c ứ u : 30
2 tá c phương pháp nghiên c ử u 34
2 Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu 34
2.\ Phương pháp phỏng vấn sâu: 36
2 ' Phưong pháp chuyên gia: 36
Trang 421 Phương pháp thống kê toán học: 36
C1ƯƠNG 3: KÉT QUẢ NGHIÊN c ừ u 37
1 Thực trạng nhận thức về bạo hành gia đình của các nạn n h ân 37
] Nhận thức của nạn nhân về các hình thức bạo hành gia dinh 39
I .1 Nhận thức về bạo hành the x ác 41
1 i 2 Nhận thức vồ bạo hành tình d ụ c 43
I I 3 Nhận thức về bạo hành tinh th ầ n 46
1J 4 Nhận thức về bạo hành kinh t ế 52
1 i 5 Nhận thức bạo hành về mặt xã hội 56
1 Nhận thức của nạn nhân về nguyên nhân, hậu quả của bạo hành trong gia đìih 59
1.Ỉ.1 Nhận thức về nguyên nhân bạo hành 61
1.1.2 Nhận thức về hậu quả của bạo h àn h 68
1 Nhận thức của nạn nhân về quyền phụ nữ và sự hỗ trợ của các tổ chức, bai ngành chức năng 81
2.Một số phẩm chát tâm lý ảnh hưởng đến nhận thức về bạo hành gia đình cia người phụ nữ 86
3.Nâng cao nhận thức cho nạn nhân bị bạo hành gia đình thông qua mô hình cái lạc bộ nạn nhân và hình thức tham vấn nhóm sử dụng các hình thức đưa nịhệ thuật vào phát triển của Trung tâm CSA G A 95
1.K-ết luận: 103
2.Khuyến nghị 104
MJC LỤC THAM K H Ả O 106
PFỤ LỤC 109
_2
Phim Thị Hồng Ph U'0Ì1Ị> Nhận íhừc về bạo hành ị>i(i dinh cùa những phụ nữ là nạn nhân.
Trang 5MỞ ĐẨU
I A do chọn dề tài
Trong những năm gần đây, những hành dộng mang tính chất bạo lực
đf với phụ nữ và trẻ em đã trở thành mối quan tâm lo lắng của toàn xã hội,
ru gây ra những hậu quủ nặng I1C cả về tinh thần và thể chất đối với những nil nhân phải hửng chịu Trước năm 1993, phần lớn các chính phủ coi bạo hah với phụ nữ là vấn đề riêng tư giữa các cá nhân (United Nations, 1996) nhrng ngày nay nó được coi là inổi quan tâm chung của toàn nhân loại Xoá
bi mọi hình thức bạo lực vói phụ nữ là một trong những vấn đê được Tuyên
b(' Thiên niên kỷ của Liên Hợp quốc thông qua: "Chổng lại mọi hình ihức
bọ lực đổi với phụ nữ và thực hiện công ước về việc loại bỏ mọi hình thức ptìn biệt đổi x ử với phụ nữ" (Mục 25, Phần V- Nhân quyền, dân chủ và điều
hềih tốt, The United Nations Millennium Declaration) Tại hội nghị thượng đỉih Thế giới vào tháng 9/2005, các nhà lãnh đạo đã cam kết nỗ lực hơn nữa đéloại bỏ tất các các hình thức bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái, điều này
đè hỏi sự thay đổi cho rằng bạo lực đổi với phụ nữ được chấp nhận Ngày
1 ^ 10/2005 Tổng Thổng nước cộng hòa Indonesia cũng ban hành quy định số 65năm 2005 về Uỷ ban quốc gia về xoá bỏ bạo lực đối với phụ nữ, một trong
nhrng nhiệm vụ được nêu ra đó là "nâng cao nhận thức của người dân về
mà hình thức bạo lực đổi với phụ nữ Indonesia cũng như những nỗ lực nhằm ngin chặn, giải quyết và xuá bỏ bạo lực đối với phụ n ữ ”.
Trong mối quan tâm chung đó, hình thức đổi xử bạo lực với phụ nữ ngiy trong gia đình được các chính phủ, các cấp ban ngành, các tổ chức xã
hộ đặc biệt quan tâm Thông qua nhiều diễn đàn quốc tế khác nhau, bạo lực trcng gia đình (hay bạo hành trong gia đình) ngày càng được nhìn nhận như
"nôt sự trở ngại đối với sự bình đẳng, là sự vi phạm không thẻ chấp nhận âiơc đối với nhân phẩm con người" Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra ràng người
gâ' ra bạo hành với phụ nữ trong gia đình nhiều nhất chính là người chồng K(i quỉ khảo sát một số nước trên thế giới đã đưa ra con số như sau: Tại Nhật
3
l*him Thị lion«» IMiincnfi Nhận thúc 1 ò bạo lù in ỉì iỊĨa lỉình cùa những phụ nữ lù nạn nhân.
Trang 6tnng số 796 phụ nữ dược hỏi cho biêt 58% bị chồng bạo hành thân thể, 66%
bị bạo hành tinh thần, 60% bị bạo hành tình dục; Tại Hàn Quốc: trong 707 plụ nữ có 37% bị chồng hành hung; Tại Trung Quốc, năm 2000, có 80% cBng hành hung vợ; Tại Mỹ khảo sát 8000 phụ nữ có 22% phụ nữ trên 18
tuii bị nam giới bạo hành, 1,3% bị bạo hành trong thời gian 12 tháng qua; Tại
Ciiada khảo sát trên cả nưức 12.300 phụ nữ có 29% trên 18 tuổi bị bạo hành (Tv Robin HaaiT, 2004) Một nghiên cứu những người đàn ông đã có gia đìih và họ thừa nhận đã ngược đãi vợ về thế chất: 18- 45% ở Ân Độ (1996), 2(Vo ử Thái Lan (1994), 16% ở Cambodia (1996), 28% ở Mỹ (1986), 41% ởu,anda (1997) [Population Council, 2003] Gần đây nhất, nghiên cứu đầu tiei mang tính toàn cầu về bạo hành đối với phụ nữ trong gia đình được WHO
- ổ chức y tế thế giới- công bổ 11/2005 vừa qua; nghiên cứu này được tiến hồih trong 7 năm với sự tham gia của 24.000 phụ nữ ở châu Phi, châu Á, chiu Âu và châu Mỹ La tinh, bản báo cáo đã chỉ ra rằng 1/6 phụ nữ trên thế giri là nạn nhân của bạo hành trong gia đình, WHO cũng công bố kết quả klảo sát rằng tại một số nước cứ trong 3 người phụ nữ thì có 2 người bị bạo hàìh bởi chồng hay bạn tình Bà Mary Robinson, nguyên cố vấn về nhân
qiyền của Liên Hợp Quốc cho biết: "Neu chủng tôi không tiến hành nghiên
CIU này, chúng tôi thực sự không thể biết vấn đề bạo hành do bạn tình gây ra
đc lun rộng vù trở nên trầm trọng như thể nào".
Trước tình hình trên, một số nước trên thế giới đã ban hành các đạo luật riaig về chống bạo lực trong gia đình Năm 1994, tại Mỹ, tổng thống Bin Cinton đã đưa ra đạo luật về bạo hành trong gia đình, đây là lần đầu tiên chnh phủ liên bang cam kết cho chương trình này 150 triệu đô la để xây dựng
CX chương trình, dự án hỗ trợ phụ nữ; năm 2000 tổng thống lại ký một công
ưcc chống bạo hành trong gia đình giai đoạn 2000- 2005 Các nước như Aistralia, Nhật, Mông cố, Niu- di- lân, Hàn Quốc., đã có đạo luật riêng về bạ) hành trong gia đình
4
Phim Thị IIÔII^ Ph iro'nji A'7/ộn llìửc về bạo hành ịịiu đình cùa những phụ nữ là nạn nhân.
Trang 7Bo hanh trong gia dinh ở Việt Nam cũng được dồ cập dến trong những năm
gn dây và nhanh chỏng trở thành mối quan tâm của cộng dồng, các cấp chính qi/ền địa phương, các to chức đau tranh cho sự tiến bộ của phụ nữ s ổ liệu npiên cứu từ các cuộc nghiên cứu về tình trạng bạo hành phụ nữ tại Việt N.m cũng dưa ra các con sô giật mình: trong tống số các ca về bạo hành gia
đì h 65- 70% là do người chồng bạo hành vợ (Vũ Mạnh Lợi, 1999); trên 40% plụ nữ tham gia cuộc nghiên cứu của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tại 3 tỉ;h Thái Bình, 'T iền Giang và Lạng Sơn năm 2001 cho biết bị chồng đánh
độ hoặc chửi mắng; 25% phụ nữ được phỏng vấn tại Bình Dương báo cáo bị
cBng ngược đãi (Population Council, 2003); 66% các vụ li hôn là do bạo hảih trong gia đình (TS Robin Haarr, 2004)
Tại Việt Nam, tuy chưa có đạo luật riêng về bạo hành gia đình nhưng
đì cỏ nhiều biện pháp hỗ trợ tích cực hiệu quả như dịch vụ bảo vệ, hỗ trợ và
lú hoạch hành động về lĩnh vực này Công ước CEDAW về xóa bỏ mọi hình thrc phân biệt đối xử với phụ nữ được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông
qư ngày 18/12/1979 cũng đã được Việt Nam ký năm 1980 và phê chuẩn năm 19Ỉ2 Việc phê chuấn công ước này tạo ra một hành lang pháp lý trong việc đản báo các quyền bình đẳng của phụ nữ Nước ta cũng đã chuyển hóa các
nộ dung công ước vào pháp luật quốc gia Hiện nay Việt Nam đang trong quá trìih xem xét để xây dựng và ban hành luật về bình đẳng giới Bên cạnh đó, рЫр luật Việt Nam (hiến pháp, luật Hôn nhân- gia đình, luật hình sự ) cũng đâcó những quy định về bảo vệ người phụ nữ như: điều 63 Hiến pháp 1992
qiv định "nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đổi x ử đổi với phụ nữ điều 71
nêi "c3ng dân cỏ quyền bất khả xâm phạm về thân thẻ, được pháp luật bảo
ht về únh mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm Nghiêm cấm mọi hình thrc truy bức, nhục hình, xâm phạm danh dự, nhân phẩm của công dân"
Đi':u 130 Bộ luật hình sự 1999 quy dịnh "người nào dùng vũ lực hoặc cỏ
hàìh X' nghiêm trọng khác cản trở phụ nữ tham gia hoạt dộng ch ín h trị, kinh
5
1’hini Thị IIÔI 1 ỊỊ Иш онц - Nhận lliú r Ví' bạo hành ạiự đình cùa những phụ nữ lù nạn nhân.
Trang 8te khoa học, văn hỏa và xũ hội thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đời / năm hoặc bị phạt í ù từ 3 tháng đến Ị năm ”.
Như vậy, những con số thống kê về tình hình bạo hành ở trên cho thấy một sự háo dộng vê tình trạng ngược đãi đối với phụ nữ trong gia đình và những hệ lụy của nó gây ra Trong diễn đàn về gia đình cấp bộ trưởng khu vực Đông Nam Ả, báo cáo của TS Nguyễn Thiện Trưởng, Phó chủ nhiệm
UBDSGĐTE cho biêt: "Bạo lực gia đình đang gia tăng là một trong những
nguyên nhân chủ yểu dẫn đến tình trạng ly hôn, ly thân và tan vỡ gia đình"
Sự quan tâm của nhà nước cũng đã chỉ ra phần nào một nhận định rằng: Bạo hành trong gia đình là một trong những yếu tố nghiêm trọng góp phần làm hạn chế cơ hội của người phụ nữ trong khi Việt Nam đang trong quá trình tham gia vào khu vực hoá, toàn cầu hoá, kìm hãm sự phát triển đi lên của xã hội nói chung và của người phụ nữ nói riêng
Nhiều nghiên cứu đã khẳng định "Điềm xuất p h á t là làm cho cộng đồng ý
thức được rằng bạo lực không phải là cách có thế chấp nhận được để giải quyết xung đột và tạo ra nhận thức rằng bạo lực trong gia đình là một vấn đề đang tồn tại" (Việt Nam- Bạo lực trên cơ sở giới, World Bank, 11/1999)
Việc tác động đển cộng đồng bao gồm những hoạt động được thực hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, và tác động đến chính nhận thức của bản thân người phụ nữ là một trong những yếu tổ quan trọng Tuy nhiên, trong bối cảnh văn hóa xã hội của Việt Nam những tư tưởng từ thời kỳ phong kiến còn tồn tại dai dắng, việc tác động này cũng gặp nhiều khó khăn bởi người dân trong cộng đồng nói chung và bản thân người phụ nữ từ trước đến nay coi
chuyện " dạy vợ từ thuở bơ vơ mới v ề ” là một điều bình thường và hợp lẽ tự nhiên Bên cạnh đó, những suy nghĩ như "xấu chàng hổ ai", hoặc "đèn nhà ai
nhà nẤy rạng" cho ràng việc bị bạo hành là vấn dề riêng tư trong gia đình
không nên nói ra cúa chính những người phụ nũ' là nạn nhân là một trong những mầm mống nuôi dưỡng và nảy sinh nạn bạo hành trong gia đình Hơn nữa, tủn thân van dề bạo hành gia đình cũng là một vẩn đề khá mới mẻ với đa
6
Phạm Thị l lổiiỊỊ Pillio n^ Nhận thức vỗ bạo hành g ia dinh của những phụ nữ là nạn nhân.
Trang 9S( người dân Việt Nam nói chung, việc nâng cao nhận thức của mọi người về
vái dê này nhìn chung còn chưa dược quan tâm thỏa đáng Đặc biệt với nlừng người phụ nữ có nguy cơ là nạn nhân của bạo hành gia đình thì việc npiiên cứu thực trạng nhận thức của họ là điều hết sức quan trọng đế có thể tìn ra đưực các cách thức can thiệp phù hợp trong cuộc chiến chống lại nạn bạ) hành
Xiất phát từ tình hình thực tế trôn, tôi lựa chọn đề tài "Nhận thửc về bạo hinlì trong gia đình của những người phụ n ữ ìà nạn nhản " nhằm tìm
hi;u nhận thức của những người phụ nữ là nạn nhân của bạo hành gia đình mà n^ười trực tiếp có hành vi bạo hành là những người chồng của họ Từ đó đưa ranhững kết luận và khuyến nghị ban đầu với một số ban ngành chức năng có liúi quan trong việc nâng cao nhận thức của người dân nói chung và người phi nữ là nạn nhân của bạo hành trong gia đình nói riêng; bên cạnh đó, đề xiất một số giải pháp góp phần nhỏ bé trong việc xây dựng các biện pháp đấu trinh và ngăn chặn nạn bạo hành trong gia đình
II Mục đích nghiên cứu:
Tin hiểu thực trạng nhận thức của những người phụ nữ là nạn nhân của bạo hàih trong gia đình, từ đó đưa ra một số kết luận và đề xuất biện pháp nhằm tăig cường sự hỗ trợ của các ban ngành chức năng trong việc nâng cao nhận thrc của người dân nói chung và của người phụ nữ là nạn nhân nói riêng
I I Nhiệm vụ nghiên cứu:
3 Nghiên cứu lí luận: Làm rõ CƯ sở lý luận của đề tài nghiên cứu Cụ thể làn rõ một số khái niệm sau: Nhận thức, bạo hành trong gia đình, nhận thức củi người phụ nữ là nạn nhân của bạo hành trong gia đình
3.2 Nghiên cứu thực tiễn:
- Tiên hành nghiên cứu thực trạng nhận thức của những người phụ nữ là nại nhân của bạo hành trong gia đình
- Đề xuất biện pháp nhằm nâng cao nhận thức người dân và hạn chế tình trạig bạo hành trong gia đình
7
P h im Thị l-lồng l*hITOÌIỊỊ A7lận thức về bạo hành g ia dinh của n h ừ iiịỉp h ụ nữ là nạn nhân.
Trang 10I\ Dối tirọ'nỊỊ, khách thể nghiên cửu
4 Đối tượng nghiên cứu: Nhận thức về bạo hành trong gia đình của những người phụ nữ là nạn nhân
4 Khách thể nghiên cứu:
- 199 phụ nữ là nạn nhân của bạo hành trong gia đình (thông qua 179 hồso*ham vẩn và phỏng vấn trực tiếp 20 người)
- 03 nam giới là thủ phạm gây ra bạo hành trong gia đình
• 03 cán bộ của trung târr tham vấn - Người írực tiếp thani vẩn cho nạnnhìn và thủ phạm của bạo hành Irong gia đình
- 04 cán bộ chính quyền và đoàn thể của địa phương
V.Giói hạn nghiên cứu
5 Giới hạn về nội dung:
Nghiên cứu bạo hành trong gia đình nhưng đề tài chỉ tập trung nghiên CÚI bạo hành của người chồng đối với người vợ
5.1 Giới hạn địa bàn nghiên cứu:
Đctài tiến hành nghiên cứu tại Hà Nội, cụ thể:
- >ghiên cứu trực tiếp: Tại huyện ngoại thành Gia Lâm, nghiên cứu tại hai phrờng Long Biên và Ngọc Thụy Tại quận c ầ u Giấy: 8 phường gồm Nghĩa
IX Dịch Vọng, Yên Hòa, Mai Dịch, Dịch Vọng Hậu, Nghĩa Tân, Quan Hoa, Tring Hòa
- ì^ghiên cứu gián tiếp thông qua hệ thống đường dây tham vấn điện thoại của Tring tâm CSAGA : Các trường hợp nạn nhân của bạo hành trong gia đình
gọ đến từ các quận nội, ngoại thành Hà nội
VI Giả thuyết khoa học:
- Nhận thức của những phụ nữ là nạn nhân về bạo hành gia đình còn hạn ch(, còn cho đó là việc riêng của mỗi gia đình, chưa coi đó là hiện tượng phô biếi cần phải đấu tranh
8
Phím Thị Mồnfi PỈI IKH 1» Nhận thức về hạo hành x ia dinh cùa những phụ nữ là nạn nhân.
Trang 11- Có thê nâng cao nhận thức cho những phụ nữ là nạn nhân của bạo hành gi; đinh thông qua sinh hoạt câu lạc bộ - một hình thức tham vấn có kết quả tốt
VI Phưong pháp nghiên cứu
7 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
- Tun đọc, phân tích, tong họp các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài ngiién cứu Tù' đó xác định nội dung của các khái niệm cơ bản, xây dựng cơ sởlý luận của đề tài nghiên cứu
- l'-ghien cứu, phân tích hồ sơ của nạn nhân bị bạo hành trong gia đinh được lưi trừ tại Trung tâm tham vấn từ 3/2003 đến 11/2005
7.1 Phương pháp phỏng vấn sâu:
- Phỏng vấn sâu 3 thủ phạm
- Phỏng vấn sâu 20 nạn nhân của bạo hành trong gia đình
- Phỏng vấn sâu 4 cán bộ khối chính quyền và các bộ khối đoàn thể tạicác địa bàn nghiên cứu
P l m g vấn sâu 3 cán bộ trung tâm tham vấn trực tiếp và tham vấn qua điện thcại cho nạn nhân của bạo hành trong gia đình
7.3 Phương pháp chuyên gia
Thim khảo ý kiến của 03 chuyên gia đã và đang nghiên cứu về vấn đề liên quin đến bạo hành trong gia đình
7.+ Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phần mềm SPSS để xử lý cáckét quả thu được
9
P hím Thị IIÔHỊÍ, IMiint íi” - A hận /lỉức IV bạo hành ý a dinh cùa những p h ụ nữ lù nạn nhân.
Trang 12CHIJONC 1: CO SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐÈ TÀI 1.1 ịch sử nghiên cứu vấn đề:
1.1 Tống quan vấn đề bạo hành trong gia đình trên thế giói và nhừng hoỉt động toàn cầu nhằm xóa bỏ nạn bạo hành vói phụ nữ trong gia đìrh:
Trong những năm gần đây, vấn đề bạo hành gia đình đã được hiểu biết rộng hơi, điều này đã mang lại những hiệu quả và có được sự thống nhất ngày càrg sâu rộng trên phạm vi quốc tế về nhu cầu giải quyết vấn đề bạo hành gia đìrh Hiệp định loại trừ tất cả các hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ
đã được Đại Hội Đồng Liên Hợp Quổc thông qua khoảng 20 năm trước Hiệp địrh về quyền của trẻ em, và Diễn đàn hành động đã được thông qua tại Hội ng!tị quốc tế về phụ nữ lần thứ 4 tại Bắc Kinh năm 1995 Tất cả những kết qui trên đã cho thấy sự thống nhất trên phạm vi thế giới Nhung tiến trình này điền ra rất chậm chạp vì thái độ cổ hủ và một nguyên nhân khác nữa là do các chiến lược hiệu qưủ về vấn đề bạo lực gia đình vẫn đang bị từ chối K.ểt quả là khoảng từ 20 đến 50% phụ nữ (tỉ lệ này thay đổi theo từng nước) trên toàn thế gici vẫn tiếp tục phải gánh chịu bạo lực gia đình ( Mehr Khan, UMCEF)[34,2|
Hội nghị thế giới về nhân quyền được tổ chức tại Vienna (1993) đã công nhận c.ác quyền của phụ nữ và trỏ em gái là “một phần không thể thiếu của vẩn đề nhản quyền nói chung” Tháng 12 năm 1993 Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thcng qua Tuyên bổ về việc loại trừ nạn bạo hành đổi với phụ nữ Tuyên bố
n à' được xem như là văn kiện quốc tế đầu tiên về nhân quyền để giải quyết mệt cách hiệu quá nạn bạo hành chổng lại phụ nữ Văn bản này trở thành nền táng cho các quy trình pháp lý liên quan
N ă n 1994, Uỷ ban vê nhàn quyên đã chỉ định một chuyên gia báo cáo đâu
ti ên về vấn dề bạo hành chổng phụ nữ của Liên Hợp Quốc, bà có nhiệm vụ
10
P’hïin Thị Hông IMiiK.il” Nhận íhửc V’c hụo hành ỊỊÌa dinh cùa những phụ fìữ lù nụn nhân.
Trang 13phái tích và cung câp các tư liệu về hiện tượng này, và theo dõi các giải trình củí các chính phủ vỗ nạn bạo hành dối với phụ nữ Hội nghị quốc tế lần thứ
tư í Вас Kinh (1995) coi vấn đề loại trừ mọi hình thức bạo hành chổng lại phi nữ là một Irong 12 mục tiêu chiến lược và liệt kê các hành động cụ thể củí các chính phủ , Liền Hiệp Quốc, các tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chíih phủ
Trmg khi bạo hành về giới không được đề cập một cách chi tiết trong Hiệp dim kết năm 1979 về việc loại trừ các hình thức phân biệt đối xử đối với phi nừ (CEDAW), năm 1992 Uỷ ban giám sát việc thực thi hoạt động loại trừ các hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ (CEDAW) đã thông qua Bải kiến nghị chung thứ 19, trong đó có trình bày rõ đó là một dạng phân biệt đối xử mà nó ngăn cản khả năng phụ nữ được hưởng tự do và các quyền con ngiời dựa trên nguyên tắc bình đẳng với nam giới Bản kiến nghị yêu cầu các chíih phủ quan tâm đến vấn đề này khi xem xét lại luật pháp và chính sách củehọ
ThíO Nghị Định Thư không bắt buộc về vấn đề loại trừ các hình thức phân biệ đổi xử đổi với phụ nữ, đã được Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc thông qua tháig 10 năm 1999, các quổc gia phê chuẩn Nghị Định Thư đã xác nhận Uỷ bar nà) có quyền tiếp nhận và xem xét các lời tố cáo từ các cá nhân và các tổ chíc trong phạm vi quyền hạn của nước đó Căn cứ các lời tố cáo đó, Uỷ ban
có hế tiến hành các cuộc điều tra bí mật và yêu cầu chính phủ có hành động
bảc vệ các nạn nhân khỏi bị xâm hại Hiệp định này là một trong những công
cụ lỉể báo vệ nhân quyền, chẳng hạn như Hiệp định chống lại sự tra tấn
Sự loạt động ngày càng mạnh mẽ của cộng đồng thế giới trong vấn đề này đã giủ) cá: quốc gia có sự hiếu biết hơn về các nguvên nhân và hậu quả của nạn bạc hàr.h chống lại phụ nữ và có những bước tiến tích cực, trong đó bao gồm việc cải cách và thay đối luật pháp liên quan đến vấn đề này Một vài khu vực
đã 'vây dựng các h i ệ p định riêng của họ về vấn về này, ví dụ như Hiệp định
1 1
Phạn Thị Нопц lMniOíi” Nhận tliứ c VC bạo hành g ia d inh cùa những phụ nừ lù nạn nhân.
Trang 14ng;n chặn, trừng phạt, và xoá bỏ nạn bạo hành chống lại phụ nừ cúa các nước
Ba Nam Mỹ, Hiệp định cua châu Phi về các quyền công dân và quyền con ngrời, bao gồm Nghị định thư bổ sung về các quyền của phụ nữ
M(l số nước trên the giới có các hoạt dộng tuyên truyền xóa bỏ bạo hành gia đìni do chính những người đàn ông thực hiện với quan điểm rằng đàn ông vừí là xu hướng vừa là cổt lõi giải quyết vấn đề, nói như Michael Food, giảng
viel ĐHQG Australia "Khi nói về vẩn đề bạo hành với phụ nữ thì người đàn
ỏtĩị là trọng túm của vắn đề mà cũng là trọng tâm của giải quyết vẩn đế
- P'om udo là một lố chúc phi chính phủ của Brazin đã tiến hành nhiều dự án ngHên cửu chương trình hành động về vấn đề nam tính và bạo hành phụ nữ ở
thị trấn Favelas Shanty ở Rio de Janeiro Tổ chức thành lập các nhóm tập
trung những nam thanh niên trẻ tuổi thảo luận những hiểu biết và kinh nghiệm của họ về bạo hành với phụ nữ Từ những hoạt động này, họ đã nhận ra vai trò :ủa bình đẳng giới và trử thành những người hoạt động tích cực của dự án
Họ sẽ làm gương cho các thanh niên trẻ khác và có vai trò vận động các thanh niêi khác Các hoạt động đi kèm với phong trào này là các thanh niên trẻ sẽ than gia cuộc thi viết kịch và phim, họ sẽ nói lên tiếng nói của chính họ, kêu gọi những nam thanh niên khác không nên bạo hành với phụ nữ và khuyến khí;h họ can thiệp giúp đờ các nạn nhân mà họ đã chứng kiến bị bạo hành Mụ; tiêu của dự án nhàm chống lại những ảnh hưửng tiêu cực của tính chất nam tính và các chuẩn mực của cộng đồng đến bạo hành trong gia đình (vww.promundo.org.br) [33,6]
- 'Ciiến dịch dải ruy băng màu trắng là lá cờ đàu trong phong trào của nam
gi ớ chổng bạo hành với phụ nữ Chiến dịch này được khởi xướng đầu tiên bải 3 người đàn ông ở Toronto, Canada với mục đích để giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của nam giứi về vấn đề bạo hành với người phụ nữ Chiến dịch kéo dài dến nay dã gàn được một thập kỉ, dần dàn lan rộng toàn Canada và các nước ở châu All, Mĩ La Tinh, châu Ả, sang Mĩ và Australia Cứ vào ngày
12
P h ạ n Thị llônị» IMuioiiji Nhậu ilìức về hạo hành íụci d inh cùa những phụ nữ lù nạn nhân.
Trang 1525/1 1 và ngày 6/12 tât cả nam giới đêu đeo dai ruy băng màu trắng, tham gia VIO các hoạt động của phụ nữ trong cộng đồng Mục tiêu chính của chiến dịch
my là khuyến khích sự tụ nhận thức về bản thân cho nam giới, thúc đẩy và teng cường khôi liên minh nam giới và nữ giới , kêu gọi chính phủ và các cơ qjan hãy lưu tâm dặc biệt đến vẩn dề bạo hành với phụ nữ Chiến dịch Dải
n y băng màu trắng hoạt động một cách hiệu quả bằng việc kết họp với các piương tiện thông tin đại chúng, gây quỹ ủng hộ, tạo ra sự hợp tác chặt chẽ vyi các tô chức phụ nữ vì mục tiêu chung (www.whiteribbon.com).[33,7]
- Hội nghị Quốc Gia nam giói Namibia (NAMEC) hành động chống lại bạo
hanh với phụ nữ dược tổ chức vào tháng 2 năm 2000, kêu gọi tất cả nam giới cung với những ngưừi bạn của mình đoàn kết lại hoạt động chống bạo hành phụ nữ NAMEC được thành lập sau phiên họp với chức năng nâng cao nhận thức của các nam thanh niên về các vấn đề như: nam tính, các moi quan hệ, tình cảm cha mẹ với con cái, lạm dụng tình dục và sức sáng tạo trong một nền văn hoá không có bạo lực tại Namibia NAMEC hoạt động rất tích cực và năng động ở hầu hết các vùng ở Namibia, họ đến các trường học và tổ chức hang loạt cuộc toạ đàm, thảo luận giữa nam giới và nữ giới.[33,8]
1.2 Một số nghiên cửu về bạo hành gia đình và nhận thức về bạo hành gia• o • o • • o
đình trên thế giói
Paula Kantor, một tác giả của Trung tâm nghiên cứu Quốc gia (UCIS) thuộc trường Đại học Bắc Carolina tại Chapel Hill (College o f Arts and Sciences), trong nghiên cứu cúa mình vcVi nhan đề "Bạo lực đổi với phụ nữ: Một vấn đề
toàn cầu" đã đua ra Các lý thuyết về bạo hành gia đình như sau:
Lý thuyết thứ nhất nói về nguyên nhân gây ra bạo hành gia đình tập trung vào những đặc tính của những cá nhân gây ra bạo hành Các nguyên nhân này được xem như có thế loại bỏ được, các vấn đề cá nhân mà thường
13
Phạm Thị Hồnịí Pillion«; - S'liJn Ihức VC' bạo hành ạiu dinh của những phụ nữ lù nạn nhún.
Trang 16bít nguôn từ tâm lý vù xã hội như căng thắng, đói nghèo, thất nghiệp Lý thuyêt này xem bạo hành gia đình như một vấn dề cá nhân, riêng tư Dây là
n ọt cách giải thích hạn chế vì bạo hành gia đình nó xảy ra trên toàn cầu và ở trong mọi nền kinh tế, mọi xã hội, mọi tầng lớp, mọi dân tộc
Lý thuyết thứ hai cho rằng nguyên nhân của bạo hành gia đình là nằm trong hệ thống xã hội Ý tưởng này bị ảnh hưởng bởi mức độ phổ biến và điTỢc chấp nhận rộng rãi của bạo hành gia đình Nội dung chính của lý thuyết này đề cập đến sự bất bình đẳng về quyền lực giữa phụ nữ và nam giới mà đã được hợp pháp hoá trong chế độ gia trưởng Bạo hành gia đình được nhìn nhận trong một bối cảnh xã hội chấp nhận sự hạ thấp vai trò của phụ nữ Các nguyên nhân gây ra bạo hành được giải thích như là một hệ thống hơn là gói gọn trong các mối quan hệ cá nhân bởi vì bạo hành được đặt trong khuôn khổ của các mối quan hệ giữa văn hoá, kinh tế, xã hội, chính trị và các yếu tố trong gia đình, cộng đồng, và nhà nước mà ủng hộ nguyên tắc xã hội mà cho phép bạo hành xảy ra
Trong cả hai lý thuyết trên, gia đình là nơi xảy ra bạo hành Sự khép kín củagia đình khiến cho bạo hành gia đình được giấu kín Các giá trị văn hoá, ở hầuhết các xã hội đó là chế độ gia trưởng, đều nhấn mạnh đến chế độ tự trị củagia đình và điều này đã gây trở ngại cho việc ngăn chặn bạo hành Chế độ giatrưởng hạ thấp vai trò của người phụ nữ và cho rằng đàn ông là người nắmquyền lãnh đạo và ra quyết định trong gia đình Địa vị thấp kém của phụ nữđược hợp thức hoá trong cơ cấu gia đình và bạo hành gia đình được chấpnhận, đàn ông dược có quyền kiểm soát phụ nữ Việc cộng đồng ngầm chấpnhận bạo hành gia đình như một hành vi đặc trưng và hạ thấp vai trò của phụ
nữ thông qua việc không đánh giá cao công việc của họ khiến cho phụ nữ dễ
bị trở thành nạn nhân của bạo hành do họ bị phụ thuộc đàn ông về mặt kinh tế
và xã hội Địa vị kinh tế thấp kém của phụ nữ cũng có liên quan đến sự bấtlire của phụ nữ trong bộ máy nhà nước Sự bất lực này cho phép nhà nước kéo
14
Phạm Thị Hổng Ph U'O'IIJ» Nhận thức vê bạo hành g ia d inh cùa những phụ nữ lù nạn nhân.
Trang 17dài bạo hành gia dinh thông qua việc bỏ qua không xem bạo hành gia đình như là một van dề trong chương trình nghị sự.
Cách giải thích mang tính hộ thống ve bạo hành gia đình được nhận được sự ing hộ rộng rãi Một nghicMi cứu của Levinson đã xác định 4 yểu tố văn hoá Jần đến bạo hành dối với phụ nữ: (1) sự bất bình đẳng về kinh tế và giới tính,2) Bạo hành V C the chất được sử dụng như một giải pháp đế giải quyết xung iột, (3) Đàn ông nắm quyền lãnh đạo và ra quyết định trong gia đình, (4) Những hạn chế về việc ly hôn đổi với phụ nữ
Vlặc dù có nhiều sự ủng hộ cho lý thuyết thứ 2 nhưng lý thuyết thứ nhất tập rung vào nguyên nhân đặc tính cá nhân vẫn không bị bỏ qua Bởi vì không 3hải tất cả những người đàn ông trong xã hội gia trưởng đều có hành vi bạo lành đối với vợ hoặc người thân của anh ta, đây là một cách lý giải bổ sung
;ho trường hợp bạo hành gia đình đối với phụ nữ không phải do hệ thống xã lội Chắc chắn trong mỗi trường hợp bạo hành có sự phối hợp giữa các đặc ính cá nhân và các nguyên tắc xã hội dẫn đến thái độ dung túng cho bạo hành /à việc sử dụng bạo lực Trong khi bạo hành được bào chữa bằng các yếu tổ nan g tính nguyên tắc trong xã hội, nó cũng có mối liên quan tới các yếu tổ lặc tính cá nhân Bản chất phức tạp và nhiều mặt của nguyên nhân gây ra bạo lành đòi hỏi cần phải nghiên cứu thêm [38, 7J
.Xang với hai lý thuyết giải thích về nguyên nhân dẫn đến bạo hành gia đình,
á c giả cũng đưa ra hai chiến lược đế phát triên các chương trình ngăn chặn: Jhiến lược thứ nhất tập trung vào nạn nhân dể tăng cường năng lực cá nhân /à giảm nguy cơ bạo hành Chiến lược thứ hai nhàm vào việc thay đổi môi rường thông qua việc loại bỏ các hệ thống sức mạnh mà các nguyên tắc ủng 'lộ' bạo hành gia đình Một chiến lưực chung kết hợp cả 2 chiến lược trên sẽ dirợc đua ra để các nhà hoạt động căn cứ vào đó sẽ xây dựng một chiến lược
cụ thẻ hơn phù họp với nhu cân hiện tại của địa phưưng 138, 1 11
15
Phiạin Thị Hồnjí lMiu o ìi” Nhận í/iửc VC bạo hành x iu iỉìn h cua những p h ụ nữ là nạn nhân.
Trang 18Một nghiên cứu dirọe tiến hành tại 4 trường đại hục của Anh về việc trẻ em
va những người trẻ tuoi nhạn thức như thể nào về bạo hành gia đình, và các
em phải sống cùng bạo hành thì sẽ đương đầu với nó như thế nào cảm thấy thế nào về nhũng gì các mà các em trải qua Nghiên cứu được tiến hành ở 1.395 trẻ em trong độ tuối từ 8-16 và dã phát hiện ra ràng:
- Phần lớn trẻ em ở trường cap II và chỉ hơn một nửa các em độ tuổi học sinh tiêu học muôn được biết hơn nữa về bạo hành gia đình như: Bạo hành là gì? Làm thê nào đê châm dút nó? Tại sao lại xảy ra bạo hành?
- Trỏ em phải sống cùng với bạo hành có nhiều cách tự vệ khác nhau, từ cách giừ cho bản thân dược an toàn và cố gắng bảo vệ các bà mẹ và các anh chị em của mình đến việc kêu cứu và can thiệp trực tiếp ví dụ như gọi cảnh sát
- Các nhà chuyên môn nói rằng hầu hết các trẻ em phải sống trong cảnh bạo hành đêu từ chối cộng tác với họ, các em hoặc cố tình không đế ý hoặc là không tin vào họ Các em muốn được lắng nghe, được tham dự và đưa ra các quyết định có liên quan đến cuộc sổng của các em Các em muốn được giúp
đữ, được hiêu và có được có cảm giác an tâm, các em cũng muốn được an toàn với mẹ và có những thứ của riêng mình thậm chí là các vật nuôi ở quanh mình
Đây là một nghiên cứu điển hình về quan điểm của trẻ em và những người trẻ tuổi và thấy rằng trẻ em không im lặng hoặc không phải là những nạn nhân thụ động của bạo hành Trỏ em ỏ tất cả các lứa tuối đều có những phản ứng tích cực và có những cách để đối phó với bạo hành, đôi khi các em có những nhận thức và những sáng kiến vượt ra ngoài phạm vi lứa tuổi của các em Nghiên cứu này đã kết luận rằng triển vọng và sự hiểu biết của trẻ em cần được tính đến khi triển khai các chính sách và quy định về y tế, trợ cấp, giáo dục và hộ thông luật hình sự cũng như các dịch vụ chuyên khoa cho phụ nữ
v à trẻ em Sự kiên cường và khả năng mau phục hồi của các em [36,15]
T ạp chí Innoeenti Digest được thực hiện dựa trên các nghiên cứu của Trung tàm nghiên cứu tre em của UNICEF cho tạp chí Digest trước đây về trẻ
16
Phiạm Thị Hồn« PluroìiỊí Nhận lỉiử c về hạo hùnỉỉ g ia dinh của những p hụ nữ lù nạn nhân.
Trang 19em và bạo hành, 'lạp chí Digest là một tạp chí quan tâm đặc biệt đên vân đê bạo hành gia đình Một so bài viết trên tạp chí đà dề câp đến các nguyên nhân dẫn đen bạo hành gia đình:
- Sự mất ổn định của các mô hình kinh tế trong xã hội Các chính sách kinh tế
vĩ mô như các chưưng trình diều chỉnh cơ cấu, toàn cầu hoá, và sự chênh lệch giàu nghèo ngày càng gia tăng do các chính sách này gây ra có liên quan tới mức độ gia tăng của nạn bạo hành ở một vài khu vực, bao gồm Mỹ La Tinh, Châu Phi, Châu Á Trong thời kỳ chuyến đối của các nước Trung Đông, Đông
Âu và Liên Xô cũ, với sự gia tăng đói nghèo, thất nghiệp, sự bần hàn và sự chênh lệch về thu nhập, và sự lạm dụng bia rượu đã dẫn đén tình trạng gia tăng bạo lực nói chung trong xã hội trong đó có cả nạn bạo hành đối với phụ
nữ Những yếu tố này cũng đóng vai trò gián tiếp trong việc làm tăng nguy cơ
bị tốn thương của phụ nữ thông qua việc khuyến khích các hoạt động nguy hiểm, tăng sự lạm dụng rượu, ma tuý, sự tan rã của hệ thống hỗ trợ xã hội và sir phụ thuộc về kinh tế của người vợ vào chồng
- Nguyên nhân về văn hóa: Một số ý thức hệ văn hoá ở các nước phát triển và các nước đang phát triển cung cấp vỏ bọc hợp pháp cho nạn bạo hành đối với phụ nữ Tôn giáo và nhũng tập quán lâu đời đã thừa nhận các hành vi trừng phạt và đánh đập vợ Sự trừng phạt người vợ về mặt thể chất đặc biệt được công nhận do quan niệm cho rằng người chồng có quyền sở hữu đối với người vợ của anh ta Sự kiếm soát của đàn ông đối với tài sản gia đình chắc chắn đặt quyền đưa ra quyết định vào tay họ, điều này dẫn đến sự thống trị và quyền sở hữu của nam giới dối với phụ nữ và các bé gái Khái niệm về quyền
s ở hữu đã hợp pháp hoá quyền kiểm soát tình dục của nam giới đôi với phụ
nữ, trong nhiều bộ luật quy định nhất thiết phải đảm bảo quyền thừa kế theo chế độ phụ hệ Trong nhiều xã hội vấn đề tình dục của phụ nữ cũng bị buộc chặt vào khái niệm danh dự gia đình Các phong tục và tập quán truyền thống trong những xã hội này cho phép giết hại các phụ nữ mà-bị nghi ngờ là làm ô
Phạm Thị Ilồiiịí Pli iroĩiịi - Nhím lliử c vẻ bạo hành ÍỊÌO dinh của những phụ nữ là nạn nhân.
Trang 20ué danh dự cúa gia dinh thông qua việc vi phạm các cấm đoán trong vấn đề tình dục, kết hôn hoặc ly hôn mà không được sự dồng ý của gia đình Với lập luận tương tự, thì danh dự của một cộng đồng dân tộc hoặc xã hội có thế bị ô
ué bởi các hành vi bạo hành tình dục với phụ nữ
- Những chịu đựng trong thời kỳ thơ ấu như phải chứng kiến bạo hành gia đình, bị bạo hành về thân thế và bị lạm dụng tình dục, đã được thừa nhận là các nguyên nhân đặt trẻ em vào tình trạng nguy hiểm Bạo hành có thể được
sừ dụng như công cụ đế giải quyết các mâu thuẫn và nó cũng cướp mất tuối thơ cùa những đứa trẻ mà phải chứng kiến các cách giải quyết mâu thuẫn như vậy
- Việc lạm dụng rượu và các chất gây nghiện khác cũng được lưu ý như là một nguyên nhân kích động hành vi bạo lực và gây gổ của nam giới đổi với phụ nữ và trẻ em
- Sự bị cô lập của phụ nữ ở trong gia đình và trong xã hội cũng được xem như một yếu tố góp phần làm gia tăng bạo hành, đặc biệt nếu những người phụ nữ này ít đưực tiếp xúc với gia đình và các tổ chức ở địa phương
- Thiếu sự bảo vệ của luật pháp, đặc biệt là ở trong phạm vi bất khả xâm phạm của gia đình, là một nguyên nhân chủ yếu làm cho nạn bạo hành đối với phụ vẫn còn tồn tại [34,7]
1.3 Nghiên cứu về bạo hành trong gia đình và nhận thức về bạo hành gia đình Ö’ Viêt Nam
Ở Việt Nam vấn đề bạo hành trên cơ sở giới được quan tâm nghiên cứu từ những năm 90 và được nhiều tổ chức thuộc chính phủ và phi chính phủ đặc biệt quan tâm nghiên cứu vài năm gần dây Và mặc dù chưa có những tài liệu nghiên cứu và số liệu thống kê của cuộc điều tra diện rộng trên địa bàn cả nước về con số thực tế của nạn bạo hành trong gia đình nhưng các kết quả nghiên cứu trong thòi gian gàn đây đă cho thấy bạo hành trong gia đình là hiện tượng có tính phố biến trong mọi tầng lớp dân CU' và xảy ra trên mọi vùng miền và ở hàu hết các tỉnh thành phổ
18
Phạm Thị Hồng Pliirciiị* - Nhận thức 14’ bạo hành g ia d in h cùa những phụ nữ là nạn nhún.
Trang 21I lội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam năm 1997 nghiên cứu về "Thực trụng
tình hình bạo lực doi với phụ nữ trong ịỊÌa đình Việt Nam- Báo cáo kêt quả nghiên cừu sau 8 năm thực hiện Luật hỏn nhân gia đình của Viện Kiểm sát nhân dân" dã cho thấy kết quả điều tra như sau: tại 18/53 tỉnh thành có 11.603
vụ đánh đập hành hạ vự con ( đây không phải là sô liệu toàn diện cho 18 tỉnh
vì có tỉnh chỉ điều tra 6 xã hoặc 1 huyện hoặc chỉ thống kê số vụ đánh vợ) Trong năm 1996 và 4 tháng đầu năm 1997, các ban ngành của 99 phường xã
ở Hà Nội nhận được 1.894 vụ việc yêu cầu giải quyết thì có 512 vụ việc về bạo hành trong gia dinh mà nạn nhân là phụ nữ (chiếm 27%) Cũng trong thời gian này, tại 111 xã phường có 1.748 đương sự tìm đến Hội phụ nữ thì có 633
vụ bạo lực gia đình mà nạn nhân là phụ nữ (chiếm 36%)
Báo cáo nghiên cứu của Lê Thị Phương Mai năm 1998 về bạo lực và hậu quả đối với sức khỏe sinh sản đã đề cập đến hiện trạng bạo hành trong gia
đình ở Việt Nam: "Bạo lực đổi với phụ nữ cỏ thể xảy ra trong nhiều gia đình
và ở mọi tầng lớp xã hội khác nhau" Trong bản báo cáo tác giả đã nêu các
trường hợp bị chồng ngược đãi tại một trung tâm tham vấn tình yêu- hôn nhân- gia đình Những nạn nhân của bạo hành trong gia đình tìm đến trung tâm vì họ không muốn nhờ đến sự can thiệp của chính quyền bởi vì các nhà chức trách nhiều khi coi những xung đột này là vấn đề riêng của gia đình Báo cáo cũng chỉ ra rằng tại Việt Nam đang tồn tại các hình thức bạo hành đối với phụ nữ về cả mặt thể xác, tinh thần và tình dục [17, 15]
TS Lê Ngọc Văn Viện Gia đình và Giới trong bài viết "Vẩn đề giới trong
các nghiên cứu về gia đình" đã thổng kê ra hàng loạt các kết quả nghiên cứu
về bạo hành gia đình trong thời gian qua Nội dung cụ thể:
Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam đưa ra con sổ đáng lo ngại: tỷ lệ phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình dưới nhiều hình thức khác nhau chiếm từ 40-80% sổ ngưừi được phỏng vấn Những thiệt hại về thể chất
và tinh thần do bạo lực uia đình gây ra đối với nạn nhân là vô cùng nghiêm trọng Theo Báo cáo của Bộ Công an, từ năm 1995 dên năm 2000 đã có 106
19
Phạin Thị liổrií» 1’liir ,\!hận ihức YC bạo hành ạia dinh cùa những phụ nữ lù nạn nhân.
Trang 22\ụ á n bạo lực gia dinh dẫn đen chết người Riêng năm 2001, trong số 1 100 vụ giét người trên phạm vi toàn quốc thì có tứi 16% số vụ do người thân trong gib đình giết hại lẫn nhau (Nguyễn Xuân Yêm, 2003)
Nghiên cứu của Vũ Tuấn Huy (2003) ở một số tỉnh thuộc đồng bàng Bắc
bộ cho thấy trong vỏng 12 tháng trước thời điểm diều tra, có 79% hộ gia đình xả' ra ít nhất một lần về một loại hành vi bạo lực giữa vợ và chồng trong gia dìrh Trong các hộ gia đình được điều tra, hình thức bạo lực về tình cảm như [hc ơ iãnh đạm, “chiên tranh lạnh’' là khá phô biển: 53,4% ớ các mức độ khác nhau Tiếp theo là bạo lực về lời nói như lăng mạ hoặc chừi bới xảy ra ở 20%
hộ gia đình Tỷ lệ hộ gia đình có các hình thức bạo lực khác như đe doạ đánh hoác ném đồ vật là 4,3%; đập phá đồ đạc 2,1%; đuổi ra khỏi nhà 1,6% Những hành vi bạo lực mang tính ngược đãi về thân thể như đánh, tát, xô ngã
có ở 5,5% số hộ gia đình
Một nghiên cứu khác ở một xã nông thôn ở đồng bằng Bắc bộ cho thấy có
87’/o số người được hỏi nói rằng ở xóm, thôn, nơi họ sinh sống có hiện tượng bạo lục gia đình, về bạo lực tinh thần có 94,4% người chồng chửi mắng vợ Ngược lại, cứ 3 ngưừi vợ thì có một người chủi mắng chồng (chiếm 33,3%)-
về bạo lực thể chất: 54,4% sổ người được hỏi cho rằng hiện tượng chồng đánh vợ và 8,9% sổ người được hỏi cho biết có hiện tượng vợ đánh chồng (bbàng Bá Thịnh, 2002)
Nghiên cứu "Bạo lực trên cơ sở g ió T (Vũ Mạnh Lợi và đồng nghiệp,
1949) cho thấy hiện tượng ngược đãi về lời nói xảy ra trong khoảng 20% gia đìrh và bạo lực thân thể xảy ra trong khoảng 10% các gia đình ở thành phố
Hc Chí Minh Ở miền Trung, khoảng 50% người chồng có hành vi ngược đãi
về lời nói đối với vợ, tỷ lệ này ở Hà Nội là 10% Có tới 75% người chồng trcng tống số mẫu nghiên cứu có hành vi ngưực dãi về tình cảm đổi với người
vọ và trung bình có 30% phụ nữ bị đánh đập, lạm dụng, cưỡng bức theo nhiều hìrh thức, phần lởn là do những người quen biết, chồng và những người thân trcng gia đình, '[’rong đỏ, có 15% phụ nữ bị chồng đánh, gần 80% bị chồng
20 Phim Thị 1lồng IMiiro'd” Nhân ihửc IV bạo hành iĩia cỉình của пИГпщphụ lĩừ là nạn nhún.
Trang 23mắng chửi, hơn 70% bị chồng bỏ mặc, gần 10% bị chồng cấm đoán các quan
hệ và gần 20% bị chồng cưỡng ép quan hộ tình dục
Một sô nhà nghiên cứu cho lằng trong nhũng năm gần đây mặc dù chất lượng cuộc sông ngây càng được cải thiện, các quyền cơ bản của con người dược tôn trọng hơn nhưng bạo lực gia đình cỏ xu hướng gia tăng (Vũ Mạnh Lợi và đồng nghiệp, 1999; Lê Thị Quý, 2000) Điều đáng quan tâm là bạo lực gia dinh đã trở thành một nguyên nhân chủ yểu dẫn đến tình trạng tan vỡ của gia dinh
Theo số liệu của Гоа án Nhân dân tối cao, trong sổ các nguyên nhân do
“mâu thuẫn gia đình, bị đánh đập ngược đãi” chiếm tỷ lệ cao nhất Năm 2000, trong tổng sổ 51.361 vụ vợ chồng xin ly hôn, nguyên nhân do mâu thuẫn gia đình bị đánh đập ngược đãi là 29.372 vụ (57,18%) Năm 2001 là 29.254 vụ/ tổng số 54.226 (53,9%) Năm 2002 là 18.696 vụ/ 56.487 (33,09%)
Năm 1998, tại Hà Nội và thành phố n ồ Chí Minh, nguyên nhân ly hôn do mâu thuẫn gia dinh, bị đánh đập, ngược đãi chiếm 50% và 64% tổng số vụ ly hôn Còn ở Tây Ninh, từ 1994-1998, nguyên nhân ly hôn này là 86% (Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em, 2002) [28, 17-19]
Một số nghiên cứu được công bố năm 2005 vừa qua về hiện trạng này cũng đưa ra những kết quả như sau:
Theo SAVY (Bộ у tể và cơ quan khác, 2005) thì có 19% thanh niên đã lập gia đình cho biết họ đã từng bị vợ/chồng chửi mắng (trong đó 15% nam và 21% nữ), 18.2% thanh niên đã từng bị vợ/ chồng cấm đoán làm một việc gì
đó (28.8% nam và 12.8% nữ), 4.8% đã từng bị chồng/vợ đánh đập (2.8% nam
và 5.8% nữ) Mặc dù thời gian cuộc sổng vợ chồng của các mẫu khảo sát- từ khi kết hôn đến thời điếm điều tra là rất ngắn nhưng những số liệu trên có thế cho tháy mức dộ nghiêm trọng của hành vi bạo hành đối với phụ nữ ở nước ta hiện nay
Cuộc diều tra về thực trạng bình đắng giới năm 2004- 2005( Trần Thị Vân Anh, 2005) cho thay : có 21.2% phụ nữ cho biết đã từng bị chồng chửi trong
21
Phạm Thị II<)I1<Í 1М11ГОПЦ Nhân líìức vẽ bạo hành g ia dinh của n hữ n g p h ụ nữ lù nạn nhân.
Trang 24] 2 tháng trước khi khao sát, 5.7% phụ nữ cho biết bị chồng đánh và tỷ lệ nam giới cho biết họ cỏ hành vi chửi mắng vọ cũng tương tự [29, 5-6].
Dựa trên các kêt qua nghiên cứu có the phân chia thành hai nhóm nguyên nhân của bạo lực trong gia dinh là nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân gián tiếp Nguyên nhân trực tiếp gồm những mâu thuẫn vợ chồng nảy sinh trong làm ăn kinh tê, nuôi dạy con cái, áp lực sinh con trai, thói quen cờ bạc, lạm dụng rượu, ma tuý, cưỡng ép tình dục, hành vi ngoại tình (Nguyễn Thu Hà,
ỉ 998; Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Trung tâm Nghiên cứu Thị trường
và Phát triến 2 0 0 1) Nguyên nhân giản tiếp là sự bất bình đẳng giới bắt nguồn
từ truyền thống gia trưởng cho phép người đàn ông được đánh vợ và tư tưởng
tự ti, an phận của người vợ chấp nhận hành vi bạo lực của người chồng (Lê Thi, 2001)
Những khuyến nghị nhằm khắc phục bạo lực giới trong gia đình mà các tác giả đã nêu lên qua các công trình nghiên cứu có thế chia thành nhóm Một
là những khuyến nghị nhằm thay đổi nhận thức của gia đình, cộng đồng và xã hội về bạo lực gia đình (Lê Thị Ọuý, 1996; Phạm Kiều Oanh và Nguyễn Thị Khoa, 2003; Bùi Thu nàng, 2001; HLHPNVN và Trung tâm Nghiên cứu Thị trường và Phát triển, 2001) Hai là những biện pháp cụ thể nhằm ngăn chặn hành vi bạo lực trong gia đình (Vũ Mạnh Lợi, 2001; Bùi Thu Hằng, 2001).[29,5-6]
Tuy nhiên những nghiên cứu này thường là nhằm tìm ra thực trạng và nguyên nhân dẫn đến bạo hành trong gia đình tại các địa phương đó để từ đó
có các tác động can thiệp phù hợp v ấn đề nhận thức của người dân về hiện tượng bạo hành trong gia đình chỉ mới như một sự đánh giá hiểu biết ban đầu một cách đơn giản của người dân trong cộng đồng về vấn đề này Các nghiên cứu dưới góc độ tâm lý học về bạo hành trong gia dinh còn tương đối ít ỏi, điếm qua một so nghiên cứu liên quan đến vấn đề này:
Đề tài khóa luận tốt rmhiệp của Phùng Thị Thanh Hương 2004 " Một sổ
yếu tồ tủm lý - Xíl hội dẫn í ('ri hành vi bạo lỉành đ ố i với ph ụ nữ tron g g ia đình"
22
Phạm Tliị Hồng Pliu o ri” - Nhận tlìức vẽ bạo hành í^ia íiình cùa những p h ụ nữ lù nạn nhún.
Trang 25nghiên cứu tại xã An Bồi huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình trên mẫu khách the là 15 phụ nữ là nạn nhân của bạo hành trong gia đình Tác giả đi đến kết luận răng: Các yếu to tâm lý xã hội dẫn đến bạo hành trong gia đình trước hết
là thái dộ không kiên quyết của các bậc cha mẹ nạn nhân trước hành vi bạo hành của người chồng; Bên cạnh đó các mối quan hệ gia đình phức tạp chồng chéo cũng là một trong những nguyên nhân Một số nguyên nhân khác xuất phát từ người chồng hoặc người vự như kinh tế khó khăn, chồng sa vào tệ nạn
xã hội, ngưừi vợ nhận thức hạn chế [ 14, 124]
Năm 2005 đề tài nghiên cứu cua sinh viên Nguyễn Thị Huệ về "Nhận thức
của người dân về hiện tưựMỊ bạo hành đổi với phụ nữ trong gia đình" tại địa
bàn xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa trên 200 khách thể là người dân đã chỉ ra rằng: Phàn lớn người dân hiểu được bản chất của hiện tượng bạo hành nói chung và bạo hành đối với phụ nữ trong gia đình nói riêng Tuy nhiên hầu hết người dân vẫn chưa nhận thức một cách đầy đủ về các hình thức biếu hiện của hiện tượng bạo hành Người dân còn có những cảm xúc, phản ứng trước hiện tượng bạo hành với phụ nữ trong gia đình và phần lớn họ đều có ý thức can thiệp để hạn chế và ngăn chặn hiện tượng này [15,95]
Luận văn thạc sĩ của Trịnh Thị Vân Anh "Thái độ của phụ nữ trước hành
vi bạo lực đổi với phụ nữ trong gia đình" nghiên cứu tại Hà Nội đã đưa ra
một sổ kết luận như sau: Nhìn chung thái độ của phụ nữ trước hành vi bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình chưa thực sự tích cực Có sự khác nhau về từng mặt biểu hiện của thái độ cũng như nội dung cụ thể giữa các nhóm phụ nữ khác nhau nhưng sự chênh lệch không lớn Các trường hợp phụ nữ bị bạo hành đến tham vấn cho thấy họ chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc và điều này dẫn đến những hành vi chưa đúng đắn, kịp thời khi ứng phó với những hành
Trang 26hicu nhận thức của người dân về bạo hành trong gia đình, các khuyến nghị về nâng cao nhận thức của dân cư cộng dồng cũng được đưa ra trong hầu hết các háo cáo Đề tài nghiên cứu của mình, với sự kế thừa các giá trị của các công trình nghiên cứu trước, tôi hi vọng góp một phần nhỏ bé như một tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu về bạo hành trong gia đình sau này.
2 Những vấn đè lý luận liên quan đến đề tài
2.1 Nhận thúc và nhận thức về bạo hành gia đình của những phụ nữ là nạn nhân
Nhận thức là một hoạt động có mục đích Hoạt động này gồm các quá trình khác nhau nhưng đều góp phần tạo ra sự hiếu biết, tạo ra tri thức Cùng với tình cảm, động cơ và ý chí, nhận thức là một mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người
Một số định nghĩa về nhận thức:
- Robert, s Feldman: Nhận thức xoay quanh các quá trình tâm thần cấp cao của con người, bao gồm con người hiếu biết thế giới, xử lý thông tin, phán đoán và ra quyết định, mô tả sự hiểu biết và hiểu người khác ra sao
- Quá trình nhận thúc là quá trình tái tạo hiện thức khách quan trong ý thức hằng trí óc, xuất phát từ thực tiễn xã hội, hướng vào và được chỉnh sửa bởi thực tiễn đó (Meyer Lexikon)
- Nhận thức là những gì được nhận biết hoặc là tri thức có được thông qua
kinh nghiệm cá nhân (Marvin E.Shaw và Philip R Costanzo, Theories o f
Social Psychology, Me Graw - Hill Book Company, 1970, T.173, Theo c w s
24
Phạm Thị llônị* Pini o n ” Nhận liiứ c về hạo hành Ịịia dinh của những phụ nữ là nạn nhân.
Trang 27Hiện nay, tâm lý học nhận thức cố gẳng giải thích các quá trình nhận thức của con người dưới ánh sáng của việc xử lý thông tin và điều chỉnh hành động
Và nó nghiên cứu việc con người chú tâm thu thập, biên đôi, tích lũy và tái hiện tri thức như the nào
Cấu trúc nhận thức:
- /ạ ịo n c (1960): c ấ u trúc nhận thức là một tập hợp có tổ chức những vật tượng trưng mà cá nhân sử dụng đế xác định và phân biệt một đôi tượng hoặc
sự vạt cụ thể ( CWS, 2005)
- Scott (1963) sử dụng thuật ngữ cấu trúc nhận thức để nói về những cấu trúc
mà thành tố của nó bao gồm các ý tưởng có ý thức hoặc tập hợp các ý tưởng của cá nhân và sự nhận thức có ý thức có giá trị liên quan
Cả Zajonc và Scott đều cho rằng cấu trúc nhận thức bao gồm các phần khác nhau, các thành phần này liên quan đến nhau theo một tổ chức tích hợp nhất định Các cấu trúc nhận thức này cho phép cá nhân ứng phó với môi trường phức tạp theo cách thức có ý nghĩa nhất định (Marvin E.Shaw và Philip R
Costanzo, Theories o f Social Psychology, Mc Graw - Hill Book Company,
1970, r 173, Theo cw s 2005)
Như vậy có thể thấy, hoạt động nhận thức là quá trình thu nhận những tri thức chân thật về thế giới khách quan trong quá trình hoạt động thực tiễn xã hội, là quá trình tâm lý phản ánh sự vật hiện tượng xung quanh và bản thân con người trên cơ sở đó con người tỏ thái độ, tình cảm và hành động
Nhận thức giúp con người hiểu biết về sự vật hiện tượng, về thế giới khách quan Nhưng mỗi người cỏ thể đạt được các mức độ nhận thức khác nhau:
- Sự nhận biết: Là mức độ thấp nhất, con người mới chỉ nhận ra vấn đề và nhận biết các dấu hiệu bôn ngoài, chưa có khả năng nhận biết những tình huống cụ thể
- Sự thông hiếu: Là năm dược những thuộc tính bản chât, hiêu được khái niệm của sự vật h i ệ n tượng, biết được các mối liên hệ có tính quy luật của
25
Phạm Tili llồnị» Pliu o iifi - N lìận thúc \'C hạo lìành ịỉia dinh của những phụ nữ lù nạn nhân.
Trang 281 iộn lượng nhưng chưa vận dụng được vào việc giải quyêt tình huông vân đc trong cuộc sống.
- Sự vận dụng: Là khi hiếu rõ nam vững được bản chât các môi liên hệ có tính tuy luật, hiếu rõ ý nghĩa của khái niệm từ đó có the vận dụng các khái niệm
dó vào giải quyết các vấn đề, các tình huống phức tạp trong cuộc sống
Do sự khác nhau về nhận biết, thông hiểu và vận dụng các khái niệm về sự
\ật hiện tượng dẫn đến cùng một sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan nhưng có người Iihận thúc đúng, có nguòi nhận thức sai, có người hiểu rõ vấn
đề nhưng có người lại hiều biết sai lệch, ảo tưởng hoặc không đầy đủ rõ ráng
Nhận thức về bạo hành trong gia đình của người ph ụ nữ là nạn nhân:
Trong nghiên cứu này chúng tôi thống nhất khái niệm nhận thức về bạo hành
gia dinh của những phụ nữ là nạn nhân là: Sự hiểu biết về các biểu hiện của
bạo hành, về nguyên nhân và hậu quả của bạo hành gia đình; đồng thời cũng nắm được một sổ quyền bảo vệ người phụ nữ trước các hành vi bạo hành.
2.2 Bạo hành hay bạo lực (Violence):
Bạo hành hay bạo lực là từ được dịch từ tiếng nước ngoài, vì vậy nhiều văn bản không thống nhất cách gọi Đề tài nghiên cứu sử dụng khái niệm này là bạo hành trong suốt quá trình thực hiện
Bạo hành lờ việc đe dọa hay dùng sức mạnh thể chất, quyền lực đổi với người khác hoặc một nhóm người, một cộng đồng gây ra hoặc làm tăng khả năng gây ra tổn thương, tử vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển, gây ra sự mất mát (World Health Organization, " World report on violence and health"- Sumary, Geneva, 2002.)
2.3 Bạo hành trên CO' sỏ’ giói hay bạo lực chống lại phụ nữ:
Theo định nghĩa được nêu trong Tuyên ngôn về loại trừ nạn bạo lực chổng lại phụ nữ do Đại hội dồng Liên Hợp Ọuốc thông qua năm 1993 thì
bạo lực chống lại phụ nữ là " Bat kỳ hành động hạo lực nào dựa trên cơ sở
giới dẫn đến hoặc có khả nâniỊ dẫn ổ én những tổn thất về thân thê, tình dục, hav tủm lý hoặc những íỉau khỏ của phụ nữ, bao gồm củ sự đe dọa cỏ những
26
Phạm Thị Mổiiịi Phno n” - f\'hận /hức IV bạo hành ÍỊĨU cỉình của những phu nữ lù nạn nhún.
Trang 29hành dộng như vậy, sự cưởng bức hay tước đoạt một cách tùy tiện sự tự do, ciù nó xảy ra ở noi công cộníị hay cuộc sốniỊ riêng tư" (United Nation
1995:73;lJNIFIiM 1998)
Định nghĩa này cỏ phạm vi bao gồm các hành vi bạo hành chống lại phụ nừ trong cuộc sổng riêng tư ( bạo hành gia đình) lẫn các hành vi bạo hành chống lại phụ nữ ở nơi công cộng (bạo hành ngoài gia đình)
Theo nhận định của WHO (Tố chức Y tế thế giới) thì phần lớn bạo hànlì chống lại phụ nữ xảy ra trong gia đình và ngưừi gây ra bạo lìành gần như luôn luôn là nam giới, thường là người chồng/ người tình hoậc chồng cũ/ người tình cũ hay những người đàn ông quen biết của phụ nữ (WHO 1998:5)
Quỹ dân số Liên hợp quốc UNFPA đưa ra định nghĩa mang tính toàn
diện hơn: “ Bạo lực trẽn cơ sở giới là bạo lực giữa nam giới và phụ nữ, trong
đó phụ nữ thưởng lù nạn nhân và điều này bắt nguồn từ các mối quan hệ Cịuyỏn lực bất bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ Bạo lực thường nhằm vào phụ nữ bởi họ là phụ nữ, hoặc ảnh hưởng lởn đến phụ nữ Bạo lực trên cơ sở giới bao gồm nhữriiỊ tổn hại về thân thẻ, tình dục và tâm lỷ ( bao gồm cả sự đe dọa, gảy đau khổ, cưỡng bức, và /hoặc tước đoạt sự tự di xảy ra trong gia đình hoặc cộng đồng), nhưng nỏ không chỉ hạn chế ở dạng này Bạo lực trên
CƯ sở giới bao gồm củ bạo lực do nhà nước gây ra hoặc bỏ qua
2.4 Bạo hành trong gia đình và các hình thức của nó
Bạo hành trong gia đình là khái niệm hẹp hơn khái niệm bạo hành trên cơ sở giới:
Bạo hành troníỊ gia đình là các hành vi bạo hành xảy ra trong phạm vi
g ia đình, đỏ lù sự xâm Ị)hạm và ngược đãi về thân thể, tinh thần hay tình cảm giữa các thành viên trong gia đình Bạo hành tron ạ gia đình là sự lạm dụng quyền lực, một hành động nhằm hăm dọa hoặc đánh đập một người thân rroniỊ iỊĨa đình đê điêu khiên hay kiêm soát m$ười đủ [21,17]
27
Phạm Thị HồnjỊ 1’liuon» Nhận thức 1 ề bạo hành g ia dinh cùa tìhữny; phụ nữ là nạn nhân.
Trang 30M ối liên hệ của cúc tliùiìh viên tronỊỊ ỊỊỈa đình với vấn dè Bạo hành trong ỊỊÌa đình :
- Bạo hành cúa chông dôi với vợ
- Bạo hành của vọ dối với chồng
- Bạo hành của bo mẹ đỏi vứi con củi
- Bạo hành của anh chị em trong gia dinh với nhau
- Bạo hành và môi quan hệ mẹ chông con dâu
- Bạo hành và mối quan hệ mẹ kế con chồng
Trong dề tài này, nghiên cửu nhận thức của những phụ nữ là nạn nhân của bạo hành trong gia đình mà người gây ra hành vi bạo hành là những người chồng
Các hình thúc bạo hàith của người clĩồiiỊỊ đối với người vợ trong gia đình:
Các hình thức người chồng bạo hành vợ thường được chia thành :
- Bạo hành tinh thần là những hành vi nhằm hành hạ tâm lý và những lời nói
sí nhục, de dọa, lãnti cịuCmi, bo rưi khỏng quan tâm Ví dụ: Quát tháo, đe doạ; chửi rủa và nói nhîriiü, lòi xúc phạm den nhân phâm của người phụ nữ, trừng
28
i'll ạ 111 Thị 1 loti” Pillion;’ Nhận thức УС hạt) lìànìì g ia íỉìnìì cua những phụ nữ lù nạn nhân.
Trang 31phạt con cái dể làm mẹ dau đớn Ngoài ra bạo hành tinh thần còn là viộc gán nhãn- gán cho người phụ nữ những từ ngữ thiếu tôn trọng như nói họ ngu ngôc, điên rô, vô dụng, không có giá trị hoặc quy gán cho người phụ nữ không có năng lực làm mẹ, làm người nội trợ làm người phụ nữ bị mất phâm giá, ăn mòn sự tự tin của họ.
- Bạo hành tình duc là sự cưỡng ép, ép buộc người vợ phải làm những việc liên quan đến tình dục trái với mong muốn của họ; bàn luận vê những bộ phận trên cơ thê người phụ nữ, xem phạ nữ clìí nhu là một đôi tượng tình dục Cụ thể bao gồm: Đòi và cưỡng bức giao hợp khi người vợ không muốn, đang mệt mỏi hoặc đang bệnh, đòi và cưỡng bức giao hợp theo những kiểu cách mà người vợ không muốn, không chịu dùng các biện pháp tránh thai theo yêu cầu của người vợ, thục hiện hành động bạo dâm trong khi giao hợp với vợ (Ví dụ: đánh đập, bóp cổ ); hành hạ vợ bằng cách không quan hệ tình dục, chê bai
và miệt thị khả năng tình dục của vợ
- Bạo hành về m ặt xã hội: Bao gồm các dạng như
Cô lập, cách ly: thường xuyên chi' trích và nghi ngờ về gia đình và bạn bè của
vợ, không tin tưởng khi bạn của vợ đến nhà và thường đi lại xung quanh làm
họ không thấy thoải mái Không cho phép vợ có bạn riêng và tìm cách cô lập, cách ly vợ
Kiểm soát chặt ch ẽ: Kiểm soát mọi thứ vợ làm, nói chuyện với ai đi đâu, bóc
thư riêng, lục soát, theo dõi và cho người theo dõi hành vi của vợ, không đế cho vợ có cuộc sống riêng của m ình
Nói xấu vợ: Nhận xét không hay về vợ trong công sở hoặc có những lời nói
khiêu khích trắng trợn đoi với vự nưi công cộng
- Bạo hành kinh tế: Luôn luôn muốn vợ phụ thuộc kinh tế vào mình, tìm mọi
cách không cho vợ di làm, kiem soát tiền, từ chối những quyết định của vợ liên quan đến tài chính, nói vợ là "kẻ ăn bám"
29
Pliạm Tili Ilồiiíi I’ll IĨO'11^ Nhận lliử c vê bạo hành iỊÍa dinh cua những phụ nữ là nạn nhân.
Trang 32CHƯƠNG 2: r ỏ CHÚC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ủ и l.C h ọ n mẫu nghiên cứu:
Các khách thế tham gia vào nghiên cứu của chúng tôi là những cán bộ, chuyên gia của Trung tâm nghiên cứu ứng dụng khoa học vê Giới - Gia đình- Phụ nữ và vị thành niên (CSAGA), và những khách thể liên quan đến hoạt động phòng chống bạo hành gia đình của trung tâm tại hai địa bàn lựa chọn là lìuyện Gia Lâm và quận cầ u Giấy
Vài nét về Trung tâm CSAGA
Ngày 1 tháng 1 năm 1997 đường dây tham vấn Tâm lý - tình cảm 1088 Hà Nội, đường dây tham vấn đầu tiên tại miền Bắc về tâm lý tình cảm được thành lập Ngày 1 tháng 7 năm 2001, đường dây tham vấn này được phát triển lên thành Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng khoa học về Giới - Gia đình - Phụ nữ và Vị thành niên (CSAGA)
- Giới và bạo hành giới là những vấn đề mà CSAGA đặc biệt quan tâm ngay
từ những ngày đầu thành lập khi còn là đường dây tham vấn Với tư cách là một tổ chức phi chính phủ có sứ mệnh “hỗ trợ và giải quyết các vấn đề về giới, gia đình, phụ nữ và trỏ em thông qua nghiên cứu, truyền thông, tham vấn, đào tạo và hỗ trợ cộng đồng”, CSAGA đã thực hiện nhiều hoạt động liên quan đến vấn đề này
-Ngoài ra, hiện nay CSAGA còn đang triển khai các dự án về chống bạo hành trên cơ sở giới trọng tâm là bạo hành trong gia đình tại Hà Nội và các tỉnh Sơn La, Yên Bái, Thái Nguyên, Hưng Yên., và bước đầu đã thu được những kết quả nhát định
Tác giả đã sử dụng các nguồn thông tin cung cấp từ trung tâm CSAGA bao gồm: Số liệu tư ván về tham vấn chống bạo hành gia đình tù' 1997 đến 2005 qua hẹ thống tư van hotline và hệ thống Nhật ký đàm thoại, sổ trao đổi chuyên môn
30
Phạm Thị Hồng Plur 01Щ Nhận thức về bạo hành IỊÌa dinh của những phụ nữ là nạn nhân.
Trang 33Địa bàn nghiên cứu:
- Huyện Gia Lâm là huyện ngoại thành Hà Nội với dân sổ 205.275 người, có tốc độ đô thị hóa nhanh và có nhiều đầu mối giao thông quan trọng như đường sắt, đường bộ và dường hàng không rất thuận tiện cho việc giao lưu kinh tế, chính trị, văn hóa trong nước và quôc tê Huyện Gia Lâm có 35 đơn
vị hành chính gồm 3 1 xã, 4 thị trấn và trên 200 cơ quan Trung ương, Hà Nội với nhiều thành phần kinh tế đóng trên địa bàn Trong đó có 02 xã là xã Long Biên và Ngọc Thụy (tháng 1/2004 xã Long Biên đổi thành phường Long Biên thuộc quận Long Biên, Tp HN) và Trung tâm y tế Gia Lâm (nay là bệnh viện Đức Giang) là các đơn vị được triển khai dự án "Cải thiện chăm sóc y tế với nạn nhân của bạo hành trên cơ sở giới" do quỹ Ford tài trợ, cơ quan thực hiện
là Sở y tế Hà Nội và Trung tâm nghiên cứu ủ n g dụng khoa học về Giới - Gia đình- Phụ nữ và vị thành niên (CSAGA), dự án này được triển khai từ tháng 6/2002 Từ khi dự án được thực hiện, cùng với sự kết hợp của chính quyền địa phương, đã phát hiện các trường hợp bạo hành trong gia đình ngày càng nhiều Trong khuôn khổ hoạt động của dự án, tại thị trấn Đức Giang, một văn phòng tham vấn hỗ trợ cho phụ nữ là nạn nhân của bạo hành trong gia đình được thành lập từ tháng 3/2003, là nơi đón nhận và tham vấn cho hàng trăm trường hợp bạo hành trong gia đình Trong thời gian hoạt động từ tháng 3/2003 đến tháng 7/2005, văn phòng tham vấn đã tham vấn cho 690 lượt khách hàng (464 trường hợp) Các nội dung tham vấn chủ yểu:
Bảng ỉ: Các nội dung tham vẩn chủ yểu của văn phòng tham vẩn Gia Lâm
Trang 34Tại đây, với vai trò là cán bộ tham vấn của Trung tâm CSAGA tôi được tham gia tham vấn trực tiếp cho các chị nạn nhân từ tháng 5/2004 qua đó cũng
dã có các cơ hội đổ gặp gỡ trò chuyện khai thác thông tin từ các chị bị chồng bạo hành Trong tống số 250 trường hợp bạo hành trong gia đình đên tham vẩn ở văn phòng thì có 179 trường hợp thủ phạm gây ra bạo hành là người chồng hoặc các thành vicn trong gia đình chồng trực tiếp gây ra, trong số đó tôi đã trực tiếp thực hiện 17 cuộc tham vấn Tại Gia Lâm chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu 10 chị
Mầu điều tra:
- 03 cán bộ tham vấn tại văn phòng
- 179 hồ sơ của nạn nhân
Trang 353 Sô năm kêt hôn
(Nguỏn: Tác g iả xử lý sỏ liệu theo thông tin cung căp của Trung tâm CSAGA)
- Tại quận Câu Giây:
Quận Cầu Giấy có 8 Phường là Nghĩa Đô, Dịch Vọng, Yên Hòa, Mai Dịch, Dịch Vọng Hậu, Quan Hoa, Nghĩa Tân, Trung Hòa với hơn 100 chi hội phụ nữ, 500 tổ phụ nữ và 10.598 hội viên hội phụ nữ Trưng tâm CSAGA sau khi điều tra khảo sát ban đầu tình hình bạo hành trong gia đình tại đây đã quyết định lựa chọn phường c ầ u Giấy là trọng tâm của việc xây dựng một dự
án dành riêng cho các chị phụ nữ là nạn nhân của bạo hành trong gia đình Mục đích của dự án là tăng cường sự hỗ trợ của các tổ chức xã hội cho các nạn nhân của bạo hành giới góp phần cải thiện đời sổng cho phụ nữ Các hoạt động của dự án tập trung vào nâng cao nhận thức cho cộng đồng về việc chông bạo hành và tham vân miễn phí cho các nạn nhân, bên cạnh đó cũng thành lập ra Câu lạc bộ, tạo một môi trường an toàn, một sân chơi đê các chị phụ nữ là nạn nhân có cơ hội giải tỏa tâm lý, phá vỡ sự im lặng cam chịu của các chị Câu lạc bộ many, tôn Cùng Chia sỏ được bắt đầu ra mắt ngày 05/05/2005, CLB ihựe sự đã là nơi giao lưu, chia sẻ tâm tình của 30 thành
33
Phạm Thị Hồiiị» Pli líO Kiji Nhận thức ve' bạo hành ÍỊÌU dinh của những phụ nữ lù nạn nhân.
Trang 36\icn trong đó 80% là nạn nhân cứa bạo hành trong gia đình, 20% là cán bộ hội phụ nữ quận Độ tuối của các chị từ 35 đến 63, có những chị bị chồng bạo hành trên 20 năm Chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu 10 chị nạn nhân là thành viên của câu lạc bộ này.
Mầu điều tra tại quận c ầ u Giấy như sau:
- 10 nạn nhân
- 01 thủ phạm
- 02 cán bộ chí nil quyên, đoàn thê
Trong thời gian từ 1997 đến 7/2005, tổng số cuộc gọi liên quan đến bạo hànhTrung tâm CSAGA đã tham vấn là 33.724 cuộc Đây ỉà con số thống kê củađường dây tham vấn 1088 phục vụ khách hàng gọi đến từ các quận nội, ngoại thành Hà nội, còn đường dây tham vấn toàn quốc 1900585808 bắt đầu khai trương từ tháng 8/7/2005 thì tính đến 31/7/2005 con số là 112 cuộc gọi về bạo hành, khách hàng của đường dây này gọi đến từ một số tỉnh thành trong cả nước Trong đó, với vai trò là cán bộ tham vấn công tác tại trung tâm từ tháng 9/2003 đến nay tôi cũng đã trực tiếp tham vấn cho một số trường hợp phụ nữ
là nạn nhân của bạo hành trong gia đình
Toàn bộ các cuộc tham vấn này được cập nhật và lưu giữ trong hệ thông dữ liệu thống kê của trung tâm, nội dung các cuộc tham vấn được ghi chép lại trong "Nhật ký đàm thoại", "So trao đổi chuyên môn" Tôi sử dụng các thông tin này như một hệ thống tài liệu thứ cấp để phân tích và có cái nhìn tổng quát
về các vấn đề đang nghiên cứu
2 Các phưong pháp nghiên cứu
2.1 Phuong pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu
Trong 179 hồ SƯ lưu giữ các trường hợp tham vấn cho nạn nhân của bạo hành trong gia đình tại văn phòng tham vấn Gia Lâm, tôi không được trực tiếp tiếp xúc, phỏng vấn 100% các trường hợp mà chi' trực tiếp tham vấn cho
17 nạn nhân nhưng tát cả các ca tham vấn trực tiếp này đều được ghi vào
“Nhật kỷ tham vấn” Nhật ký tham vấn là loại văn bản lưu một số đặc tính
34
Phạm Thị Hồiiịi IMmon^ - ỉ\ ’hận í hức ГС’ bạo hành g ia dinh của những phụ nữ là nạn nhân.
Trang 37nhân khâu học cua người dirợc tham vân và toàn bộ nội dung các thông tin trao doi trong ca tham vấn Ngoài ra, các ca khó và phức tạp được ghi chép
\à o “So trao đối” đe các chuyên viên có điều kiện trao đối, góp ý trong các buôi “sinh hoạt chuyên môn” hàng tháng Khi sử dụng phương pháp phân tích tài liệu bằng kỹ thuật phân tích nội dung thì có thể coi 179 ca tham vấn nói írên như 1 79 cá nhân cự the
Hệ thổng câu hòi đổ tra cứu nội dung và hình thức diễn đạt nội dung trong 179 hồ sư của nạn nhân bị bạo hànli và các câu hỏi đặt ra lồng ghép trong quá trinh tham vấn bao gồm:
ỉ) Nạn nhân bao nhiêu tuỏi?
2) Nghề nghiệp của nạn nhân là gì?
3) Nạn nhân có bao nhiêu con?
4) Thời gian kết hôn? Mối quan hệ hai vợ chồng từ khi kết hôn ra sao?
5) Thời gian bị bạo hành?
6) Hình thức bị bạo hành như thế nào?
7) Nguyên nhân của bạo hành là gì?
8) Hậu quả của bạo hành ra sao?
9) Trong gia đình nạn nhân ai là người được quyểt định về việc chăm sóc dạy
d ỗ con cái, về chi tiêu mua sắm trong gia đình?
10)Hoàn cảnh gia đình chồng? Gia đình nạn nhãn như thế nào?Có các hiểu hiện bạo lực như gia đình riêng của nạn nhân không?
12)Nạn nhân đã có phản ứng gì với tình trạng bị bạo hành của mình chưa?
14) Thái độ của пцит chồng trước- trong vù sau khỉ bạo hành vợ?
15) Thủi độ vù phán ứniỊ của cộng đỏng nói chung và của các ban ngành chức năng nói riêriíỊ khi sụ việc xảy ru?
35
Phạni Thị H ồng Plur О ПД Nhận thức về bạo hành g ia dinh cùa những phụ nữ lù nạn nhân.
Trang 382.2 Phương pháp pliỏnị» vấn sâu:
- Phỏng van sâu 20 nạn nhân của bạo hành trong gia dinh
- Phỏng vấn sâu 04 cán bộ khối chính quyền và các bộ khối đoàn thế tạicác địa bàn nghiên cứu
- Phỏng vẩn sâu 03 cán bộ trung tâm tham vấn trực tiếp và tham vấn quađiện thoại cho nạn nhân của bạo hành trong gia đình
2.3 Phương p h á p chuyên gia:
Chúng tôi tiến hành xin ý kiến đóng góp của 03 chuyên gia về lĩnh vực bạo hành trong gia đình trong quá trình nghiên cứu
2.4 Phương pháp thống kê toán học:
Sử dụng phần mềm SPSS để xử lý các dữ liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu: hệ thống các yếu tố về đặc điểm cá nhân liên quan đến nhận thức của họ như tuối, nghề nghiệp, dân tộc, trình độ; phân trường các nguyên nhân, hậu quả của bạo h à n h
_ 36
Phạm Thị Hồn” IMunm” - Nhận thức về bựo hành lịia dinh cùa những p h ụ nữ lù nạn nhân.
Trang 39CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN c ử u
I Thực trạng nhận thức về bạo hành gia đình của các nạn nhân
Việt Nam dã trải qua hàng nghìn năm dưới chế độ phong kiến và đã bị ảnh hưởng nặng nề những định kiến về giới, sự bất công trong phân biệt đối xử giữa nam và nữ Cho dến ngày nay thì tàn dư đỏ vẫn còn tồn tại mặc dừ đã có nhiêu phong trào đấu tranh cho quyên lợi của người phụ nữ; tư tưởng gia trưởng vẫn ăn sâu trong nếp nghĩ của người đàn ông, và những người phụ nữ thì cũng quen vói sụ chấp nhận mình ỏ' vai tỉò tliứ yếu írong gia đình Không chỉ dư luận xã hội đồng tinh mà nhũng người chồng thấy rằng họ là trụ cột trong gia đình, là người kiếm ra tiền, là người có trọng trách trong gia đình trong việc đảm bảo cho sự tồn tại của gia đình họ, vợ con họ Họ cho rằng cần phải đưa ra các "quy tắc" riêng trong gia đình để đưa gia đình vào nền nếp và
vợ con họ phải có nghĩa vụ phục tùng, vâng lời, trái lại lời họ hay mong muốn của họ thì việc dùng bạo lực để thực thi "quy tắc" là điều khó tránh khỏi Và việc sử dụng các hình thức, các chiến thuật khác nhau để kiếm soát người phụ
nữ khiến cho các hình thức bạo hành phụ nữ rất đa dạng và tinh vi
Trong tổng số 199 trường hợp phụ nữ là nạn nhân bị bạo hành mà chúng tôi nghiên cứu hầu hểt là bị bạo hành nhiều mặt cả về thể xác, tinh thần, tình dục, kiểm soát kinh tế, cấm giao lưu xã hội Chỉ có một số ít các chị không phải chịu đựng bị bạo hành toàn diện tức là có đánh đập nhưng trong quan hệ vợ chồng không cưỡng ép, hoặc chỉ bị chửi bới nhục mạ không kèm theo đánh đập Đa số các nạn nhân bị chồng bạo hành, có những người bị cả gia đình chồng cùng bạo hành Biểu đồ sau đây chỉ ra rõ hơn những thủ phạm gây ra bạo hành:
37
Phạm Thị HồnỊỉ, PluroìiỊ» Nhận thức Yố bạo hành g ia đình cùa n/iữnx phụ nữ lù nạn nhún.
Trang 40Biểu đồ 1: Thủ phạm gây bạo hành
Theo như sự phân chia ở chương 1 thì các hình thức bạo hành được chia thành bạo hành thể xác, bạo hành tinh thần, bạo hành tình dục, bạo hành kinh tế, bạo hành về mặt xã hội Tuy nhiên, các dạng bạo hành nằm lẫn trong nhau, một chị có thể bị bạo hành toàn diện về các mặt vì vậy chủng tôi đã tính toán và đưa ra con số cụ thể như sau:
- 190 trường hợp bị bạo hành thể xác chiếm 95% Các nạn nhân này đều
bị những thương tích hết sức nặng nề như bị chém vào cổ, đánh gãy tay, đau ngực, thâm tím mặt
- 55 trường hợp bị bạo hành tình dục, chiếm tỳ lệ 27.6% Con số này có thể chưa phản ánh được chính xác thực tế bởi chuyện quan hệ vợ chồng vẫn
là vấn đề tế nhị mà nhiều chị xấu hổ không nói ra
- 199 trường hợp, tức là 100% nạn nhân đều bị bạo lực về tinh thần Bởi những nạn nhân bị bạo hành về thân thể bao giờ cũng kèm theo đó là những lời mắng chửi, nguyền rủa cay độc nhằm làm tổn thương sâu sắc cho người phụ nữ
38
Phạm Thị Hồng Phưong - Nhận thức về hạo hành iỊÍa đình cua những phụ nữ lù nạn nhàn