ở châu Mỹ đã tồn tại nhiều nến văn hoá của người Anh điêng với chữ viết tượng hình, vối những phong tục tập quán dược sử dụng như pháp luật của các vương quỗc, xã hội phân ra giai cấp tầ
Trang 1Phần III
I4CH SỞ 38 QUỐC GIA
VÀ VÙNG LẢNH THỔ CHẰU MỸ
Trang 3TỔNG QUAN LỊCH SỞ CHẦU MỸ
Trước thế kỷ thứ XV, người châu Á, châu Âu chỉ mới biết có ba châu lục trên thế giới, đó là châu Á, châu Âu và châu Phi Năm 1492 trong một chuyến thám hiểm, Cơristốp Côlômbô đã tìm ra châu lục mới nhưng ông lại nhầm là An
Độ Năm 1503, Amerigô Vetspuxi khẳng định đây là một châu lục mới Ông đã tiến hành khảo sát, vẽ bản đồ và từ
đó châu lục mới mang tên châu Mỹ (America)
Châu Mỹ là châu lục lớn thứ ba trên thế giới Diện tích toàn châu khoảng 42.604.117km2, dân số khoảng 577 triệu người Châu Mỹ được chia thành ba phần: Bắc Mỹ bao gồm ba quốc gia: Canada, Hoa Kỳ và Mêhicô, diện tích khoảng 21.266.095km2, dân số khoảng 306 triệu người Như mắt xích nối trong chuỗi xích, bảy nưốc vùng Trung
Mỹ nối lục địa Bắc Mỹ với Nam Mỹ Diện tích bảy nước Trung Mỹ khoảng 523 177km2 vối dân số hơn 27 triệu người Nam Mỹ có diện tích khoảng 17.832.OOOkm2, dân số khoảng 246 triệu người, trong đó Braxin chiếm một nửa dân số toàn Nam Mỹ Toàn châu lục có 38 nước Nhưng căn cứ theo ngôn ngữ người ta thường chia châu Mỹ thành hai khu vực: Bắc Mỹ gồm Canada và Hoa Kỳ chủ yếu dùng Anh ngữ, từ Mêhicô trỏ xuống mũi cực nam sát với
Trang 4eo biển Magienlãng được gọi là khu vực Mỹ Latinh vì sử dụng ngôn ngữ Latinh của Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha Khu vực Mỹ Latinh có diện tích 21 triệu krrr dân sô là
271 triệu người
Người ta không thể tìm thấy ở châu Mỹ một dấu vết nào chứng tỏ đây là một trong những cái nôi của loài người Nhưng có những bằng chứng cho thấy sụ tồn tại của con ngưòi và động vật ỏ đây đã tàn lụi từ hàng nghìn năm nay Những bằng chứng này không nối liền với nền văn hoá châu Mỹ cho đến thời tiền C.Côlômbô Cho nên người ta ngã theo giả thuyết cách đây khoảng 2.500 năm
cư dân châu Á đã di cư đến sinh sông ở Bắc Mỹ ở khu vực
Mỹ Latinh, cư dân bản địa lâu đời là người Anh điêng (da đỏ) vối nhiều sắc tộc khác nhau, trước khi C.Côlômbô khám phá ra "Tân thế giới", toàn châu lục có khoảng 60 triệu người Anh điêng Họ có một nền văn hoá lâu đòi Nhiều thế kỷ trưốc công nguyên công xã nguyên thuỷ của người da đỏ tan rã, ở nhiểu nơi hình thành quốc gia và nhà nước đạt trình độ văn hoá cao, như nhà nưốc của người Maya, Inca, Adơtéchca, Xapôtêca, Misơlêca Trong các nhà nước đó đã có một bộ máy quyển lực từ trên xuống dưối mang tính chất quân chủ chuyên chê sơ khai hay là cộng hoà quý tộc Nhà nước của ngưòi Adơtéchca bao gồm toàn bộ Mêhicô Họ đã xây dựng thành phố Mêhicô là một trong những thành phố lón nhất thòi bấy giò Vằo thế kỷ thứ X, ngưòi Inca xây dựng một đế chế trải dài từ Côlômbia đến tận Chilê Người Anh điêng xây dựng được những nển văn hoá rực rỡ ở khu vực Trung Mỹ, khu vực quanh Caribe, khu vực dãy Anđơ Đó là nển văn hoá
Trang 5Teotihuacan mà nét tiêu biểu là những kim tự tháp, những thành phố tôn giáo Khi Teotihuacan suy tàn thì nền văn hoá Toltec thay thế Người Toltec đả để lại niên lịch và những kí hiệu chữ Mixlôát ghi ngày tháng Trong vương quốc của họ có những kim tự tháp để thò cúng, còn dưới đáy đặt thi hài của những người quá cố vĩ đại, có sân vận động chơi bóng ném, hẳn họ là một tộc người ham thích thể thao; có những thành phố vối những toà nhà lộng lẫy: có hệ thống sô' đếm hoàn hảo Khi văn hoá Toltéc suy tàn thì văn hoá Adơtéch thay thê và ngự trị rất lâu dài ở Trung Mỹ Năm 1325, người Adơtéchca xây dựng lại thành phố Mêhicô to lớn và lộng lẫy nhất so với các thành phố đương thòi Họ xây dựng được một bộ máy quyền lực mang đặc trưng riêng Trong vương quốc, nông nghiệp và thương nghiệp đểu phát triển Đây là một xã hội chiếm hữu nô lệ mà sự phân giai tầng như những bậc thang trong xã hội Kim tự tháp của họ chồng cao đến mười một tầng với kỹ thuật chạm khắc đá điêu luyện Vương quốc
đã có chữ viết, có lịch đại bằng đá cho thấy quan niệm của- người Adơtéchca về thế giới vũ trụ Họ thò những vị thần theo quan điểm nhị nguyên luận (đối nhau)
Trên bò Đại Tây Dương vịnh Mêhiccô còn tìm thấy dấu vết nển văn hoá Olmec mà biểu trvtng là những pho tượng lốn bằng đá khốĩ vối một trình độ điêu khắc tuyệt vời Nền văn hoá Tolonac nở rộ từ thế kỷ thứ V đến thế kỷ thứ XI Kim tự tháp của họ mang tính dặc sắc có khoét
365 cái hốc ở bốn mặt tượng trưng cho 365 ngày trong một năm Phía bắc nển văn hoá Tolonac tồn tại nền văn hoá Huaxtec gần gũi vối nển văn hoá Maya với những tượng
Trang 6đá được xử lý như những tượng đắp nổi, đồ gốm bao giờ cũng có quai Đỉnh cao nhất của văn hoá Anh điêng là nền văn hoá Maya Một nhà khảo cổ học đã nói đúng rằng Maya là Hy Lạp của "Tân thế giới" Ngày nay Maya còn khoảng 7 triệu người, sử dụng 20 ngôn ngữ Cách ngày nay khoảng 2000 năm họ đã có lịch sử gắn với lịch sử châu
Mỹ Họ có hệ thống chữ tượng hình phức tạp, có 60% ký hiệu được các nhà khoa học giải mã Đồ gốm của họ có những nghệ thuật riêng về chiết tự Họ xây dựng những thành phố làm trung tâm nhà nước của họ như những nhà nước thành bang kiểu Aten, Xpác ở Hy Lạp Đây không phải là những nhà nước chuyên chế mà giống như nhà nước cộng hoà quý tộc với cấu trúc xã hội được chia thành bốn giai tầng Số học phát triển và việc tính toán thiên văn học của họ chính xác kỳ lạ Họ là tác giả của việc phát minh ra số 0, tác giả của lịch tôn giáo Tdônkin-độc lập với lịch đại mặt trời Nghệ thuật kiến trúc mang tính tôn giáo tuyệt vời nhất của đương thời với kiểu kiến trúc được phân
ra khu cung điện và khu nhà thờ tạo nên một kiến trúc tổng thể Nghệ thuật điêu khắc mang tính hiện thực Người Maya có quan niệm vũ trụ gồm mười tầng xếp chồng lên nhau Đối với người Maya có rất nhiều thần tồn tại bên ngoài thế giới con người, vì thế việc thò cúng là vô cừng phức tạp và phải được tuân thủ một cách nghiêm ngặt Giống như những tộc người Anh điêng khác, người Maya cũng quan niệm nhị nguyên luận về thế giối vũ trụ.Khu vực miền nam Mêhicô còn lại dấu vết của nển văn hoá Dapôtec và Mixtee với biểu trưng chế tạo đồ mỹ nghệ bằng vàng, một thứ hiếm thấy ở nển văn hóa Anh
Trang 7điêng kể cả văn hoá cao và phong phú của ngưồi Maya Ngoài ra biểu trưng văn hoá của họ còn phải kể đến những tượng vũ công đắp nổi, các tấm bia viết chữ tượng hình; các toà nhà lớn xây theo hình bậc thang hùng vĩ Nển văn hóa này tồn tại ở châu Mỹ sáu thế kỷ đầu công nguyên Miền tây Mêhicô còn có các nền văn hoá Colima, Taraxca nổi tiếng với nghệ thuật luyện kim và tinh tế trong nghệ thuật trang trí gốm.
Nển văn hoá quanh khu vực Caribê có niên đại 2130 năm trưốc công nguyên và có tới bốn nền văn hoá kế tục nhau tồn tại: văn hóa Cônle, Vecgua, Chiriqui và Bañen Hiện vật còn lại của các nền văn hoá này còn lại phong phú gồm đồ gốm, đá, vàng, đá quý, đồ trang trí bằng xương, bằng đá quý có dát vàng nhiều màu sắc rực rd Nển
văn hoá ở quần đảo Ảngti thì phát triển nhất ỏ Puéctôricô
và ở Haiti mà chủ nhân là tộc người Tano Họ là những nghệ nhân điêu khắc tài giỏi Gọ khắc đồ gỗ và đồ đá dễ dàng như nhau, những chuỗi vòng đá mỗi viên có ba mũi rất độc đáo Các điệu múa nghi lễ trong cưới xin, trong ma chay rất uyển chuyển, hay những trò chơi bóng đểu rất phổ biến ỏ các làng của người Tano
ở bờ biển vùng Caribê khoảng 3000 năm trước công nguyên, người Anh điêng đã định cư với nền kinh tế trồng trọt và chăn nuôi Đồ gốm ở đây có niên đại lâu đời và phong phú Gốm của nển văn hoá Vênêxuêla mang màu
đỏ trên nển trắng có niên đại 1000 năm trước công nguyên Khu vực núi Ảngđơ thuộc Pêru và Bôlivia là văn hoá của người Inca Người Inca có một hệ thống tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp hoàn hảo Vào thế kỷ thứ VI,
Trang 8các tộc người ở Pêru đã có được những phương tiện để phát
triển một cách hoàn thiện, họ có một nền kiến trúc đồ sộ.• • * • • các nghề dệt gôm luyện kim đã có tay nghề cao vê kỹ
thuật và các loại hình trang trí đẹp phong phú Ngưòi
Inca không chỉ biết dệt vải mà còn biết dệt thảm trang trí
hình người, chim, cá và hoa lá Năm 1925 ở nghĩa địa
Caracat người ta đã tìm thấy ngôi mộ có 420 xác ướp cùng
vói rìu đá xương thú vật, đậu ngô bông, lạc vải quấn
xác ướp dài tới 30m, có cả áo mặc kiểu chăn choàng Người
ta tìm thấy thành phố Tiahuanacô đạt đỉnh cao của nển
vãn minh Pêru, là một trung tâm tôn giáo của người Anh
điêng Cũng tìm thấy cánh cửa mặt trời nổi tiếng Người
Inca xây dựng được một đế chế, một cơ cấu chính quyển
chặt chẽ từ trung ương đến địa phương, một xã hội phân
chia ra ba giai tầng: quý tộc, nhân dân và nô lệ Chế độ một
vỢ một chồng được thi hành nghiêm ngặt và đã có sự trao
đổi hàng hoá Người Inca theo tôn giáo đa thần nhưng
trong đó có một thần khai hoá tối cao thần Huiracôcha
cũng là thần Mặt trời Từ đó người Inca có rất nhiều lễ hội
quanh năm
ở Côlômbia có nền văn hoá cự thạch thuộc thế kỷ thứ
VI trước công nguyên, những đển thờ xây bằng những
khối đá ỉớn vói những bức tường đá khổng ỉồ mà chủ nhân
là người Chibcha Họ còn có nghề dệt vải và kim hoàn Tôn
giáo có nhiều nghi lễ trong đó có nghi ỉễ dùng người làm
vật hiến sinh tế thần Các nền vồn hoá lớn ở Trung Mỹ đã
lan toả và tạo nên nền văn hoá ở tây-tây nam châu Mỹ
như văn hoá ở các vùng Achentina, Chilê Tiếp đến nển
văn hoá Amadôn tràn ngập những đồ gốm đặc sắc được
Trang 9trang trí bằng khắc, rạch, khảm hay tô màu vối hình dạng
vô cùng phong phú
Như vậy thời cổ trung dại ở châu Mỹ đã tồn tại nhiều nến văn hoá của người Anh điêng với chữ viết tượng hình, vối những phong tục tập quán dược sử dụng như pháp luật của các vương quỗc, xã hội phân ra giai cấp tầng lớp, thiết chê chính trị quân chủ hoặc có thể là cộng hoà quý tộc tôn giáo theo quan niệm nhị nguyên luận và đa thần giáo, nhiều bộ tộc của người Anh điêng đã tiến những bước dài trên con đường vào xã hội văn minh Họ đã để lại một nền văn hoá vật thể phi vật thể phong phú đa dạng, tài năng đáng kinh ngạc Các nền văn hoá trên mảnh đất này thay thế kê thừa, ảnh hưởng nhau Rất nhiều nền văn hoá đã mất đi ngược lại có một số nền văn hoá đang phát triển cho đến khi người châu Âu tối Sự sụp đổ của các nền văn hoố này thật là kỳ lạ vì nó diễn ra quá nhanh chống,
vì con số những kẻ châu Âu tới chinh phục không đông Để dập tắt được truyền thống đã có từ hàng nghìn năm chỉ cần vài chục năm và một số ít kẻ xâm lược Đó là điểu kỳ• • • V
bí nhất của lịch sử các dân tộc Anh điêng
Ngày 3-8-1492, Cơristốp Côlômbô dẫn đầu một đoàn
ba chiếc tàu Caraven cùng 90 thuỷ thủ rời Tây Ban Nha
đi vào Đại Tây Dương Ngày 12-10-1492, C.Côlômbô tới được vùng biển Caribê và đến Cu Ba nhưng ồng lại nhầm
vùng đất này là Tây Ân Độ, người địa phương ở đây được
ông gọi là Indian (này An Độ) C.Côlômbô còn tiếp tục thám hiểm ba lần châu lục mới vào các năm 1493, 1498,
1502 và phát hiện thêm nhiểu lãnh thổ khác Năm 1506, ông chết trong cảnh nghèo túng ôm nỗi băn khoăn không
Trang 10rõ về vùng đất mà ông đặt chân tới Gần như cùng thời gian với C.Côlômbô nhà hàng hải Vetspuxi Amergô đã bốn lần thám hiểm vùng đất này vào các năm 1497, 1499,
1501, 1503 và ông đi đến kết luận đây là châu lục mới V Amerigô công bố một cuốn sách và bản đồ vùng đất mới
Từ đó châu lục mới mang tên châu Mỹ (America) Sau chuyến đi của C.Côlômbô và của V Amerigô, các nước châu Âu bắt đầu cuộc xâm lược và cướp bóc châu lục này
mà đi tiên phong là Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha Cu Ba
là nơi đầu tiên bị Tây Ban Nha chiếm làm thuộc địa Từ căn cứ này, Tây Ban Nha tiến hành chiến tranh chiếm hầu hết các khu vực Trung Mỹ, Nam Mỹ Bồ Đào Nha chiếm nước rộng lốn nhất Nam Mỹ là Braxin Cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc kéo dài 50 năm Trong chiến tranh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha đã gây ra những tội ác khủng khiếp, giết hại hàng chục triệu dân bản xứ người Anh điêng, tàn phá nền văn hoá, cướp bóc của cải vàng bạc Tây Ban Nha giết hại một triệu ngưòi Anh điêng ỏ vùng biển Caribê, phá trụi thành phố Mêhicô cổ kính, những kim tự tháp thể tích không kém những kim tự tháp
Ai Cập bị san bằng chỉ còn nền móng Khi C.Côlômbô đặt chân tối châu Mỹ, có khoảng 60 triệu người Anh điêng sống trên lãnh thổ này Vậy mà, chỉ trong thòi gian ngắn phần lớn cư dân đã bị giết hại trong chiến tranh, số còn lại
bị cưỡng bức lao động kiểu nô lệ trong các đồn điền, hầm
mỏ và chết dần chết mòn, số ít còn lại bị dồn lên núi rừng hoang vu để thực dân châu Âu cướp ruộng đất phì nhiêu của họ Từ 60 triệu người suốt 500 năm sau con số ấy không gia tăng mà chỉ còn 40 triệu người trên khắp châu
Trang 11lục Con số trên cho thấy người Anh điêng bị tiêu diệt một cách khủng khiếp như thế nào.
Vùng Bắc Mỹ ngày nay thuộc Canada bị Anh và Pháp cùng xâm lược, cuối cùng Anh làm chủ toàn bộ vùng đất này Năm 1603, Anh đặt chân lên vùng Viẽcghima, đến năm
1675 thành lập ở đây 13 bang thuộc địa Bắc Mỹ và thiết lập
ở đây chế độ phong kiến để thống trị bóc lột Vào cuôi thế kỷ thứ XVIII, Tây Ban Nha đã chiếm xong khu vực Mỹ Latinh (trừ Braxin là thuộc địa của Bồ Đào Nha) Tây Ban Nha chia thuộc địa thành bốn vùng gọi là bốn Phó vương quốc: Phó vương quốc Tân Tây Ban Nha bao gồm Mêhicô và một phần Trung Mỹ; Phó vương quốc Tân Granada gồm Côlômbia, Panama, Vênêxuêla và Êcuađo; Phó vương quốc Lapla ta gồm Áchentina, Urugoay, Paragoay và Bôlivia Phó vương quốc Pêru gồm Pêru và Chilê
Trên khắp lục địa, thực dân Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha thiết lập chế độ phong kiến để áp bức Chúng kết hợp kiểu bóc lột phong kiến, tư bản với nô lệ để bóc lột một cách tàn bạo Chúng cưốp đoạt ruộng đất để lập những đồn điển trồng cà phê, ca cao, mía, chuối và biến người da
đỏ thành nô lệ, buộc lao động cưỡng bức cho đến chết trong các đồn điển hầm mỏ Khi nô lệ da đỏ chết dần, thực dân châu Âu phát minh ra cái nghề buôn nô lệ da đen từ châu Phi sang thay thế Nghề buôn này kéo dài suốt từ thế kỷ thứ XVI đến thế kỷ thứ XIX, vì lãi một chuyến buôn lên đến 1000% Suốt ba thế kỷ thực dân châu Âu đưa được 20 triệu người da đen từ châu Phi sang châu Mỹ sau khi đã giết chết 40 triệu người trong khi săn bắt và đưa họ vượt Đại Tây Dương
Trang 12Cùng trong những thê ký đó, người châu Âu da trắng
vì những lý do chính trị, kinh tế nghèo khổ lý do tôn giáo lần lượt di cư sang "Tân thê giới" nhiều đợt hàng chục triệu người qua nhiều thê kỷ Cho nên trên từng quốc gia
ỏ châu Mỹ hay trên toàn lục địa là nơi hội tụ những chủng tộc lớn và những nền văn hoá của các chủng tộc Sống lâu với nhau, các chủng tộc hoà huyết với nhau, các nền văn hoá đan xen hoà hợp nhau Châu Mỹ dần dần hình thành một châu lục đa sắc tộc những quốc gia đa sắc tộc, một nền văn hoá đa dạng do kết hợp các yếu tố văn hoá người
Âu, người Phi và người Anh điêng Các ngôn ngữ châu Âu được sử dụng rộng rãi ở châu Mỹ Tiếng Anh tiếng Pháp được dùng rộng rãi ở Bắc Mỹ (Canađa, Hoa Kỳ) Tiếng Tây Ban Nha được sử dụng từ Mêhicô trở xuống cực nam, Braxin sử dụng tiếng Bồ Đào Nha thuộc ngữ hệ Latinh nên được gọi là khu vực Mỹ Latinh Thiên chúa giáo và đạo Tin Lành cũng được du nhập vào châu Mỹ theo vết chân của người châu Âu
Ngoài bị bóc lột, người dân châu Mỹ còn phải làm lao dịch, nộp nhiều thứ thuế phi lý Bên cạnh viên toàn quyền
là một bộ máy đàn áp khổng lồ như quân đội, nhà tù, cảnh sát, bọn chủ đồn điển, chủ mỏ, cai ký đốc công tạo nên một chế độ độc tài đè nặng lên đầu người dân lương thiện Tất
cả quyển lực chính trị, quản lý nằm trong tay bọn thực dân chính quấ: Toàn thể nhân dân kể cả người Criôlô (người da trắng sinh trưởng ở thuộc địa) cũng không được tham gia vào bộ máy nhà nước Nạn phân biệt chủng tộc, nòi giống đối vối người da đen, ngưòi Anh điêng rất trầm trọng Nhà thò Kitô giáo là công cụ nô dịch tinh thần đối
Trang 13với nhân dân châu Mỹ Châu Mỹ hình thành và tồn tại hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa các dân tộc và bọn ngoại bang thống trị; mâu thuẫn giữa toàn dân với chê độ phong kiến thuộc địa Đế giải quyết những mâu thuẫn trên, châu Mỹ phải tiến hành hai cuộc cách mạng: cách mạng dân tộc và cách mạng dân chủ tư sản Mặc dù chính quốc ra sức kìm hãm sự phát triển kinh tê tư bản tư nhân của thuộc địa, nhằm biến thuộc địa thành nơi tiêu thụ hàng hoá cung cấp nguyên liệu, nhân công rẻ mạt cho chính quốc, nhưng kinh tê tư bản và quan hệ sản xuất tư bản ở thuộc địa vẫn phát triển Trên cơ sỏ đó giai cấp tư sản thuộc địa ra đời và họ sẽ là giai cấp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và cuộc cách mạng tư sản lật đổ chê độ phong kiến trong tương lai.
Thuộc địa của Anh ở Bắc Mỹ là nơi đi tiên phong mở đầu cho cơn bão táp cách mạng ở châu Mỹ Năm 1773, dưới sự lãnh đạo của giai cấp tư sản Mỹ đứng đầu là Gioócgiơ Oasintơn, nhân dân Mỹ đã tiến hành cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc Năm 1783, chiến tranh kết thúc vối sự thắng lợi của nhân dân Mỹ Nước Anh thất bại phải thừa nhận Mỹ là quốc gia độc lập Hợp chúng quốc Hoa Kỳ ra đời đánh dấu thời kỳ sụp đổ của hệ thống thuộc địa ở châu lục Cách mạng Mỹ thắng lợi vói
bản Tuyên ngôn độc lập khẳng định những quyển cơ bản
của con ngưòi, quyền của dân tộc đã tác động to lớn đến cuộc đấu tranh trong khu vực Mỹ Latinh
Từ năm 1524 đến năm 1801, người da đen và người Anh điêng ở Mêhicô đã liên tục bạo động chống chính quyền Ỏ Braxin năm 1630, nô lệ liên tục khởi nghĩa và thành lập
Trang 14nước Cộng hoà Pamarét tồn tại tói năm 1697 mới bị đàn áp thất bại Năm 1870, người Anh điêng ở Pêru khởi nghĩa nhằm phục hồi đế chế Inca Khởi nghĩa kéo dài hai năm mới bị dập tắt Tám vạn quân khởi nghĩa bị Tây Ban Nha hành quyết Năm 1781, khởi nghĩa ỏ Tân Tây Ban Nha, năm 1787 khởi nghĩa ở Vênêxuêla Năm 1790, người da đen
ỏ Haiti khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Tuxanh Luvectua giành được thắng lợi vào năm 1803, lật đổ ách thống trị của Tây Ban Nha, thành lập nước cộng hoà độc lập đầu tiên ở khu vực Mỹ Latinh Haiti trở thành căn cứ địa cho cuộc đấu tranh của toàn khu vực Mỹ Latinh sau này
Năm 1810, khi quân đội Pháp dưới thời Hoàng đế Napôlêông I tiến hành chiến tranh xâm lược châu Âu và chiếm đóng Tây Ban Nha đã ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Mỹ Latinh Cách mạng trỏ thành một cao trào rộng lớn suốt từ Mêhicô đến Kitô, Bôgôt, Áchentina, Vênêxuêla, Paragoay, Urugoay Chính quyển thuộc địa bị lật đổ, nhiều nước cộng hoà được thành lập như nền Cộng hoà Vênêxuêla năm 1811 Nhưng cuộc giao chiến lần này của Mỹ Latinh bị thất bại Sau khi Napôlêông I sụp đổ năm 1814, chính quốc Tây Ban Nha thoát khỏi sự chiếm đóng của quân Pháp, Tây Ban Nha rảnh tay phản công đàn áp cách mạng ở thuộc địa và dìm phong trào Mỹ Latinh trong biển máu Những lãnh tụ ưu
tú của phong trào như Misenhi Đangô, Khôsê Môrêlôxơ hy sinh, Ximôn Bôliva phải chạy ra nước ngoài Tuy thất bại nhưng cuộc tấn công rộng lớn kéo dài từ năm 1810 đến năm 1814 của nhân dân Mỹ Latinh làm cho chế độ thông trị của Tây Ban Nha lung lay tận gốc rễ Bản thân chính
Trang 15quốc Tây Ban Nha cũng đang trên con đường suy yếu trưốc làn sóng cách mạng tư sản đang dâng lên trong nưốc mạnh mẽ và ở các thuộc địa• 9 •
Bắt đầu từ năm 1816 một cao trào cách mạng mới dâng lên bắt đầu từ thắng lợi của cách mạng Áchentina Cũng trong năm đó, Ximôn Bôliva từ Haiti đem quân đổ
bộ giải phóng Vênêxuêla, Bôliva, Êcuađo Năm 1819, Ximôn Bôliva thành lập Cộng hoà Colombia Năm 1822, ông đem quân đánh bại quân đội Tây Ban Nha và giải phóng toàn bộ Colombia Năm 1826, Ximôn Bôliva đánh bại quân Tây Ban Nha ỏ thượng Pêru, giải phóng thượng Pêru, thành lập nước cộng hoà mang tên Bôlivia Năm
1821, Mêhicô giành được độc lập Năm 1818, dưới sự lãnh đạo của Xan Máctin, Chilê được giải phóng và thành lập nước cộng hoà ở Braxin dưới sức mạnh đấu tranh của nhân dân, năm 1822 Prêđô hoàng tủ của Bồ Đào Nha nhiếp chính ở Braxin tuyên bố thuộc địa độc lập khỏi chính quốc Năm 1823, quân đội Bồ Đào Nha rút khỏi Braxin Sau mười năm đấu tranh liên tục (1816-1826), khu vực Mỹ Latinh giành được độc lập, hàng loạt quốc gia mới ra đời, chỉ trừ có Cu Ba và Puéctôricô Như vậy trong lịch sử nhân loại, sau Hà Lan ở châu Âu, châu Mỹ cũng là nơi đi tiên phong trong phong trào giải phóng dân tộc, đập tan ách nô dịch thực dân, giành độc lập dân tộc
Sau khi giành được độc lập, Hoa Kỳ còn phải tiến hành cuộc nội chiến từ năm 1861 đến năm 1865 để chống lại các bang ly khai miền nam, xóa bỏ chế độ nô lệ đồn điền giải phóng nô lệ, tạo điểu kiện cho chủ nghĩa tư bản Mỹ phát triển hơn nữa Nội chiến kết thúc với sự thắng lợi của tư
Trang 16sản công nghiệp miền bắc tạo tiền đề chính trị cho chủ nghĩa tư bản Mỹ phát triển mạnh mẽ Lý do chính trị cùng với yếu tố tận dụng được những thành tựu công nghệ cuối thế kỷ thứ XVIII và của thế kỷ thứ XIX, tận dụng được nhân lực, trí tuệ toàn thế giới và sự giàu có của đất Mỹ, cuối thế kỷ thứ XIX, Mỹ đã vươn lên thành cường quốc số một vể kinh tế Mỹ bắt đầu mở rộng bành trưống lãnh thổ
Từ 13 bang khi vừa độc lập lãnh thổ Mỹ đã lên 50 bang Chủ nghĩa tư bản Mỹ tiến lên đế quốc chủ nghĩa bắt đầu bành trướng xâm lược khắp thế giới, trong đó trước hết Mỹ nhòm ngó khu vực Mỹ Latinh giàu có gần kể vói Mỹ Cùng với Mỹ, các cường quốc tư bản Tây Âu như Anh và Đức cũng bắt đầu xâm nhập vào Mỹ Latinh Vào giữa thế kỷ thứ XIX, Anh đầu tư mạnh vào các nước Nam Mỹ Từ đó cho đến hết Chiến tranh thế giới thứ nhất Anh chiếm ưu thế tuyệt đốỉ đầu tư bóc lột khu vực Mỹ Latinh Pháp và
Mỹ chỉ có ảnh hưởng ở một số nước Thế lực của Đức ở khu vực đứng sô' hai sau Anh, trội hơn Mỹ Đức công khai nói lên sự cần thiết phải chiếm lấy khu vực Mỹ La tinh Trước tình hình đó, Mỹ thực hiện chính sách bành trướng xâm
Mỹ đưa ra chủ nghĩa Mơnru vói khẩu hiệu “châu Mỹ của người Mỹ” để gạt bỏ các đối thủ châu Âu, độc chiếm khu vực Năm 1825, Mỹ chiếm Puéctôricô của Tây Ban Nha Năm 1846, Mỹ buộc Panama nhượng cho nhiều quyền lợi ỏ kênh đào Năm 1845, Mỹ chiếm một nửa lãnh thổ Mêhicô Năm 1898, Mỹ gây chiến tranh với Tây Ban Nha để chiếm thuộc địa của quốc gia phong kiến già yếu này Chiến tranh kết thúc với sự thống lợi của Mỹ Mỹ chiếm Cu Ba thuộc
Trang 17địa của Tây Ban Nha, chìa khoá để xâm nhập vào Trung- Nam Mỹ Với thủ đoạn sức mạnh quân sự kết hợp vối sức mạnh kinh tế, văn hoá, Mỹ đã thực hiện chủ nghĩa thực dân mới lập nên những chính phủ thân Mỹ, thông qua các chính phủ này để thống trị bóc lột nhân dân Mỹ Latinh nà không cần xâm lược trắng trỢn.
Vào cuối thế kỷ thứ XIX đầu thế kỷ thứ XX, các nước
Mỹ Latinh vẫn tồn tại tàn dư phong kiến, nô lệ, nông dân nghèo nàn lại bị trại chủ và địa chủ chiếm đoạt ruộng đất Nông dân chiếm 70% dân số khu vực Mỹ Latinh nhưng 75% số hộ không có ruộng đất Bọn đại địa chủ và các công ty lũng đoạn chiếm 0,3% dân số nhưng chiếm tới 65% đất đai cày cấy Nhà thờ cũng chiếm một lượng đất đai không nhỏ Công thương nghiệp phát triển chậm chạp, không đồng đều giữa các quốc gia và phụ thuộc vào chủ nghĩa tư bản Mỹ Công nhân, nông dân bị bóc lột nặng
nề, vô cùng cực khổ, viên chức, công chức đòi sống điêu đứng Trong khi đó tài nguyên Mỹ La tinh rất giàu có, có thể nuôi sống hàng tỷ người thì 200 triệu dân nơi giàu có
ấy vẫn trong nghèo khổ về vật chất, bị áp bức về tinh thần,
về chính trị
Công nhân Mỹ latinh bao gồm nhiều dân tộc: ngưòi châu Âu, ngưòi da đen, người Anh điêng, người lai Đầu thế kỷ thứ XX, công nhân đã lập các tổ chức nghiệp đoàn
và các hội tương tế Chủ nghĩa Mác được truyền bá vào phong trào công nhân Mỹ Latinh Họ sử dụng phương pháp đấu tranh đình công, bãi công và tổng đình công đòi tăng lương, giảm giò làm, cải thiện điểu kiện lao động, đòi bảo hiểm xã hội Phong trào nông dân đã phối hợp với
Trang 18phong trào công nhân Từ năm 1902 đến năm 1916 nổ ra cuộc chiến tranh nông dân ở Braxin nhưng bị đàn áp nông dân Mỹ Latinh lập ra những tổ chức của mình như Hội nông dân Áchentina thành lập năm 1912 ở Mêhicô bùng nổ cuộc cách mạng tư sản năm 1910-1917 lật đổ chê
độ độc tài Điát, làm lung lay địa vị thống trị của bọn địa chủ và tư bản độc quyển
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào đấu tranh của nhân dân Mỹ Latinh lan rộng hầu khắp châu lục, diễn ra dưới nhiều hình thức Bãi công của công nhân Chilê tháng 7-1955 có tới 1.200.000 người tham gia Nông dân nổi dậy vũ trang khỏi nghĩa đòi ruộng đất Tháng 3-
1947, nông dân bạo động ở Panama, Pêru, Vênêxuêla Họ còn tiến hành đấu tranh nghị trường, thông qua tuyển cử đưa các lực lượng dân chủ lên nắm chính quyền nhằm thực hiện những chính sách có lợi cho nhân dân lao động, như ở Chilê năm 1970 liên minh cánh tả thắng lợi trong tuyển cử quốc hội, Agienđê lên làm tổng thống, ở Cu Ba kết hợp đấu tranh chính trị rộng lớn ở đô thị với đấu tranh
vũ trang ở nông thôn lật đổ chế độ độc tài thân Mỹ Batista năm 1959 Cách mạng Cu Ba thành công đã giáng một đòn chí mạng vào chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ
Vì thế cùng với Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ỏ Việt Nam, Cách mạng Cu Ba là một trong ba cuộc cách mạng điển hình thời kỳ hiện đại
Các quốc gia Mỹ latinh là một khối thống nhất, chung một hệ ngôn ngữ Latinh, các chủng tộc giống nhau, tương đồng vể văn hoá, phong tục tập quán Tất cả tạo nên một
Trang 19truyền thống liên kết, có quan hệ mật thiết trong cuộc đấu tranh củng như trong đối mặt với những vấn đề lịch sử Lịch sử châu Mỹ từ thê kỷ thứ XVI đến nay là lịch sử đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân Châu Mỹ đã góp phần xứng đáng làm thay đổi của bộ mặt thế giới, góp phần vào bước đi lên trong tiến trình lịch sử nhân loại.
Trang 20Cộng hoà Áchentina REPUBLIC OF ARGENTINA
Cộng hoà Áchentina nằm ở phía đông nam châu Mỹ giáp Đại Tây Dương, Bôlivia, Braxin, giữa Chilê và Ưrugoay Diện tích 2.766.000km2, dân sô' khoảng 37.200.000 người trong đó người da trắng gốc chầu Âu chiếm 85% dân số, còn lại là người lai và người Anh điêng (da đỏ) Ngôn ngữ chính là tiếng Tầy Ban Nha 93% cư dân theo Thiên chúa giáo Dân số thành thị chiếm 86,2% dân cư, dân số nông
thôn chiếm 13,8% Thủ đô là Buênốtairét có khoảng
10.900.000 người Áchentina là nước có nển kinh tế phát triển Đất nước có nhiều khoáng sản Nông nghiệp, sản xuất rượu nho là những ngành trụ cột của nển kinh tế quốc dân Tổng sản phẩm quốc dân GDP đạt 285.473 triệu USD Tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người là 7.724 USD Đồng Pêxô là đơn vị tiền tệ của nước Cộng hoà Áchentina
Ngưòi dân bản địa và sống lâu đòi trên lãnh thổ Áchentina là ngưòi da đỏ-Anh điêng Inca Trước thế kỷ thứ XV, công xã thị tộc tan rã và nhà nước đã hình thành
để vào thế kỷ thứ XV Áchentina đã là một bộ phận của
đế chế Inca Đế chế Inca đã hình thành vào thế kỷ thứ
Trang 21XIII đến thế kỷ thứ XV lãnh thổ của quốc gia này đã trải
dài từ Côlômbia cho tới Chilê Đế chế Inca đã có nền văn
hoá rực rõ khiến người châu Âu khi tới xâm lược đã rất
đỗi ngạc nhiên
Năm 1492, Cristốp Côlômbô đã tìm ra châu Mỹ mỏ
đường cho thực dân châu Âu xâm lược châu lục này mà đi
tiên phong là Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha-hai cường quốc
phong kiến ở châu Âu khi đó
Năm 1516, người Tây Ban Nha đến sông Plata mỏ đầu
cho cuộc xâm lược Áchentina Cuộc xâm lược Mỹ Latinh
và Áchentina của Tây Ban Nha được tiến hành suốt nửa
thế kỷ vối việc cướp bóc vàng bạc, tàn phá nền văn hoá
của ngưòi da đỏ, tiêu diệt họ và dồn s ố dân còn lại vào
miền núi cao rừng sâu Đến đầu thế kỷ thứ XIX, Tây Ban
Nha hoàn thành viêc xâm lươc Áchentina, về măt hành* * 7 * chính đặt quốc gia này nằm trong Phó vương quốc Laplata
của Tây Ban Nha bao gồm Áchetina, Urugoay, Paragoay
Pêru và Chilê
Tây Ban Nha đã thiết lập ở Áchentina chế độ phong
kiến để thống trị, đàn áp, bóc lột một cách khốc liệt tàn
bạo Chúng lập những đồn điển rộng lớn buộc ngưòi Anh
điêng và sau đó là đưa người da đen từ châu Phi sang bóc
lột theo kiểu nô lệ Áchentina củng là nơi hàng chục triệu
người châu Âu, đặc biệt là người Tây Ban Nha tới định cư
nhiều đợt qua nhiểu thập kỷ Toàn thể nhân dân không
được hưởng quyền dân chủ và chính trị kể cả người da
trắng và người lai Criôlô Nhân dân Áchentina mâu thuẫn
gay gắt và căm thù chế độ thuộc địa, đã liên tục vùng dậy
đấu tranh nhằm lật đổ chế độ thống trị của Tây Ban Nha
Trang 22Phong trào càng trở nên mạnh mẽ vào năm 1810 khi Tây Ban Nha bị Napôlêông I đánh bại và bị quân Pháp chiếm đóng Trong thời gian này, các nước trong Phó vương quốc Laplata đã thành lập được chính phủ ở Buênốtairét Nhưng nội bộ trong Phó vương quốc Laplata không thống nhất, lại xung đột với nhau Năm 1811, quân đội của chính phủ Buênốtairét bị quân đội Uruguay đánh bại Năm 1814, Napôlêông I sụp đổ lần thứ nhất PhécnanđôVII trở về cầm quyển ỏ Tây Ban Nha và phục hồi quyền lực ỏ Áchentina, tăng cường bóc lột đàn áp nhưng Tây Ban Nha vẫn không thiết lập được quyền thống trị ở Laplata như trưốc đây Năm 1816, phong trào giải phóng dân tộc ở Áchentina phát triển thành cao trào Cuộc khởi nghĩa vũ trang bắt đầu từ năm 1810 đến năm 1816 thì hoàn toàn thắng lợi Đại hội Cutuman (bắc Áchentina) tuyên bô' thành lập một quốc gia độc lập bao gồm các nước trong Laplata Năm 1817, Giôsê đơ Xanmactin đánh bại quân đội Tây Ban Nha ỏ biên giới Chilê, bảo vệ được nhà nưốc Áchentina non trẻ Năm 1826, chính phủ độc lập đầu tiên
ban hành, sự phân lập ở các tỉnh được xoá bỏ, quyền lực của chính quyển trung ương được xác lập trên toàn lãnh thổ Áchetina khi đó mới thực sự trở thành một quốc gia thống nhất
Những năm 80 của thế kỷ thứ XIX, Áchentina bước vào thời kỳ phồn vinh cho đến đầu thế kỷ thứ XX thì bị lôi cuốn vào cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929-1933 Năm
1946, lãnh tụ của phái bình dân Gioăng Pêrôn đã trúng cử tổng thống vì hứa hẹn sẽ cải thiện đòi sống nhân dân lao
Trang 23động khi tranh cử Nhưng những chính sách kinh tê của ông đểu thất bại Năm 1955, G.Pêrôn bị cuộc đảo chính quân sự lật đổ, Năm 1973, ông lại quay lại nắm quyền được một năm thì qua đòi I saben-vợ Tổng thống G.Pêrôn cũng là Phó Tổng thống lên cầm quyền Năm 1976, Isaben
bị cuộc đảo chính quân sự lật đổ Giới quân sự cầm quyền
đã thực hiện chính sách khủng bố những người ủng hộ phái bình dân Tháng 4-1982, Tổng thống Gantiêri ra lệnh tấn công đảo Foóclen đang bị quân Anh chiếm giữ Tháng 6-1982, quân Anh phản công chiếm lại đảo Năm 1983, chính phủ dân sự lên nắm quyền Năm 1996, Áchentina bị thâm hụt ngân sách trầm trọng và đến năm 2001 thì lâm vào cuộc khủng hoảng, kinh tế giảm sút, thất nghiệp lên tới hai triệu người, nạn quan liêu tham nhũng hoành hành, nợ nước ngoài tăng lên khủng khiếp, tình hình chính trị xã hội bất ổn định, nhân dân biểu tình lan ra « ♦ • 7 toàn quốc, nạn cưốp phá hỗn loạn, các chính phủ thi nhau sụp đổ, tình trạng khẩn cấp được ban hành
Ngày 2-1-2002, Tổng thống Đuácđô Đuhanđô đã thả nổi đồng Pêxô so với đồng Đôla Mỹ để cứu vãn nền kinh
tế Chính phủ mối đang cô' gắng ổn định tình hình để vực dậy nền kinh tế của đất nước
Năm 1853, Cộng hoà Áchentina ban hành hiến pháp, sửa đổi năm 1994, thiết chế chính trị là nhà nước cộng hoà tổng thống Tổng thống là người đứng đầu nhà nưóc do nhân dân bầu cử theo chế độ đại cử tri (600 đại cử tri) Quốc hội gồm hai viện nắm quyển lập pháp, thượng viện
có 72 thữợng nghị sĩ do Hội đồng hàng tỉnh bầu ra, nhiệm
kỳ sáu năm, hai năm bầu lại một phần ba số thượng nghị
Trang 24sĩ Hạ viện có 254 hạ nghị sĩ do nhân dân bầu cử, nhiệm
kỳ bốn năm, hai năm bầu lại một nửa số hạ nghị sĩ Chính phủ do tổng thống đứng đầu nắm quyển hành pháp Toà
án tốỉ cao nắm quyển tư pháp
Cơ cấu lãnh thổ là nhà nước Liên bang gồm 23 bang là khu vực hành chính, một khu dân tộc và một khu thủ đô.• ' w • *
Chế độ chính trị đa đảng
Cộng hoà Áchetina là thành viên của Liên hợp quốc,
Tổ chức các nước châu Mỹ, Tổ chức mậu dịch tự do Mỹ
La tinh
Quốc khánh ngày 25-5-1810
Quan hệ ngoại giao vói Việt Nam cấp đại sứ ngày 25- 10-1973
Trang 25ra còn có người Anh, Bồ Đào Nha, Arập Ngôn ngữ chính
là tiếng Anh Đa sô' cư dân theo đạo Tin Lành Cư dân đô thị chiếm 50%, cư dân nông thôn chiếm 50% Thủ đô Xanhgiôn khoảng 36.000 người Nông nghiệp và du lịch là hai ngành trụ cột của nền kinh tế quốc dân Tổng sản phẩm quốc dân GDP đạt 689 triệu USD, tổng sản phẩm quốc dan tính theo đầu người là 10.373 USD Đồng Đôla Caribê là đơn vị tiền tệ của quốc gia này
Năm 1492, Cristốp Côlồmbô nhà hàng hải người Italia làm việc cho triều đình Tây Ban Nha đã tìm ra châu Mỹ Năm 1493, C.Côlômbô tìm ra đảo Ảngtigoa nhưng người Tây Ban Nha chưa kịp nhòm ngó tới thì người Anh đã tới xâm lược Năm 1632, Ảngtigoa thành thuộc địa của Anh Năm 1661, Bácbuđa cũng trở thành đất lệ thuộc Vương quốc Anh Năm 1940, Anh đã nhượng cho Mỹ một phần
Trang 26lãnh thổ Ảngtigoa và Bácbuđa để Mỹ xây dựng căn cứ không quân và hải quân Vào những năm 60 của thế kỷ
XX, trong xu thê sụp đổ của hệ thống thuộc địa trên thê giới, năm 1967 Anh trao cho Ảngtigoa quyển tự trị và được coi là một quốc gia liên kết với Anh Năm 1981, Ăngtigoa
và Bácbuđa giành được độc lập, thành lập nhà nước Ăngtigoa và Bácbuđa
Năm 1981, Ãngtigoa và Bácbuđa ban hành hiến pháp, thiết chế chính trị là nhà nước quân chủ nghị viện Hoàng
đế Anh là người đứng đầu nhà nước trên danh nghĩa thông qua một viên toàn quyền làm đại diện Quốc hội gồm hai viện nắm quyền lập pháp, thượng viện có 17 thượng nghị sĩ Hạ nghị viện có 17 hạ nghị sĩ do nhân dân bầu cử, nhiệm kỳ năm năm Chính phủ do thủ tướng đứng đầu nắm quyền hành pháp Thủ tướng do toàn quyền thay mặt Nữ hàng Anh bổ nhiệm lãnh tụ đảng chiếm đa sô' ở hạ viện Toà án tối cao nắm quyển tư pháp
Cơ cấu lãnh thổ là nhà nước đơn nhất gồm sáu giáo xứ
và hai giáo khu là đơn vị hành chính
Chế độ chính trị đa đảng
Nhà nước Ăngtigoa và Bácbuđa là thành viên của Liên hợp quốc, Tổ chức các nước châu Mỹ, Khối Liên hiệp vương quốc Anh và các quốc gia độc lập
Quốc khánh ngày 1-11-1981
Trang 27Aruba ARUBA
Aruba là một quốc đảo nằm trên vùng biển Caribê thuộc châu Mỹ Latinh, ở về phía bắc Vênêxuêla Diện tích 193km2, dân số khoảng 70.000 người trong đó 80% là người da trắng, 20% là người các dân tộc Anh điêng Tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha được dùng rộng rãi, 82% cư dân theo đạo Thiên chúa Thủ đô là Báccađera Lọc dầu và du• «
lịch là hai ngành kinh tế chính của Abura Tổng sản phẩm quốc dân GDP đạt 1.730 triệu USD, tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người là 24.850 USD Đồng Florin Aruba là đơn vị tiền tệ của nước Cộng hoà Aruba
Chủ nhân lâu đời của hòn đảo Aruba là người Anh điêng thuộc sắc tộc Caiquơtiôsê Qua quá trình phát triển
và sinh sống lâu dài cư dân ở đây đã tạo nên nền văn hoá độc đáo mang bản sắc văn hoá Caribê Năm 1499, thuyền trưởng người Tây Ban Nha Alôdd Ogiétđa đã tìm ra hòn đảo Tây Ban Nha đã chiếm và cai trị đảo này Năm 1634,
Hà Lan đã đánh chiếm đảo này của Tây Ban Nha Năm
1882, Aruba được sáp nhập vào thuộc địa Tây An của Hà Lan Năm 1845, thuộc địa Tây An của Hà Lan đổi là Angti
Trang 28thuộc Hà Lan Năm 1854, Hà Lan trao cho thuộc địa♦ 7 * * Ảngti quyển bình đẳng với chính quốc về kinh tế, xã hội, pháp luật và văn hoá nhưng vẫn nằm dưới quyền cai trị của Hà Lan Năm 1986, Aruba giành được quyền tự trị trong khuôn khổ của Hà Lan.
Năm 1986, Aruba thông qua hiến pháp, thiết chê chính trị là nhà nước quân chủ nghị viện Hoàng đê của
Hà Lan là người đứng đầu nhà nước thông qua một viên toàn quyền làm đại diện Toàn quyền có nhiệm kỳ sáu năm Quốc hội một viện nắm quyển lập pháp gồm 21 nghị
sĩ được nhân dân bầu cử, nhiệm kỳ bốn năm Chính phủ
do thủ tướng đứng đầu nắm quyền hành pháp Thủ tướng
do quốc hội bổ nhiệm, nhiệm kỳ năm năm
Cơ cấu lãnh thổ là một bộ phận tự trị của lãnh thổ
Hà Lan
Quốc khánh ngày 18-3 (ngày sinh của Hoàng đế Hà Lan đương quyền)
Trang 29Năm 1492, Cristốp Côlômbô đã tìm ra châu Mỹ và đã đặt chân tới Bahama, Tây Ban Nha đã chiếm quốc đảo này làm thuộc địa Từ đó, những dòng ngưòi châu Âu đã tối định cư tại đây trong nhiều thập kỷ, người da đen châu Phi cũng được đưa tới lao động nô lệ trên các đồn điển
Trang 30trồng bông Năm 1629, Tây Ban Nha mất Bahama vào tay thực dân Anh Năm 1834, Anh phải tuyên bô thủ tiêu chê
độ nô lệ ở quốc đảo Năm 1973, Anh trao trả độc lập cho Bahama Bahama độc lập nhưng nằm trong Khối Liên hiệp vương quốc Anh và các quốc gia độc lập
Năm 1973, Bahama ban hành hiến pháp, thiết chế chính trị là nhà nước quân chủ nghị viện Nữ hoàng Anh
là người đứng đầu nhà nước Bahama thông qua một viên toàn quyền làm đại diện Quốc hội hai viện nắm quyền lập pháp Thượng viện gồm 16 thượng nghị sĩ, hạ viện gồm 40
hạ nghị sĩ được toàn dân bầu cử, nhiệm kỳ năm năm Chính phủ do thủ tướng đứng đầu nắm quyền hành pháp Thủ tưóng do toàn quyền bổ nhiệm Toà án tối cao nắm quyển tư pháp
Cơ cấu lãnh thổ đơn nhất gồm 21 khu vực hành chính trực thuộc trung ương
Bahama là thành viên của Liên hợp quốc, Tổ chức các nước châu Mỹ, Khối Liên hiệp vương quốc Anh và các quốc gia độc lập
Quốc khánh ngày 10-7-1973
Trang 31Bácbađất BARBADOS
Bácbađốt là một nước hải đảo nằm trong quần đảo Ảngti biển Caribê thuộc châu Mỹ Diện tích 430km2, dân số275.000 người trong đó 91% là ngưòi da đen, còn lại là người gốc châu Âu Ngôn ngữ chính là tiếng Anh Đa số cư dân theo Anh giáo, cư dân đô thị chiếm 64,3%, nông thôn chiếm 35,7% Thủ đồ là Bretgiơtao có 120.000 người, sản xuất đường và du lịch là hai nguồn thu chính của Bácbađốt Tổng sản phẩm quốc dân đạt 2.641 triệu USD, tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người là 9.619 USD Đồng Đôla Bácbađốt là đơn vị tiền tệ của quốc gia này
Năm 1492, Cristốp Côlômbô đã tìm ra châu Mỹ mở đầu cho Tây Ban Nha xâm nhập châu Mỹ Năm 1518, các nhà hàng hải Tây Ban Nha đã tìm thấy đảo Bácbađốỉt và chiếm cứ đảo này Sau khi Tây Ban Nha suy yếu, thế kỷ thứ XVII người Anh đã đến lập đồn điền trồng mía, đưa
/Igưòi da đen châu Phi về đây bóc lột theo kiểu nô lệ Năm
1625, Bácbađốt thành thuộc địa của Anh Năm 1834, chế
độ nô lệ bị thủ tiêu nhưng hoàn cảnh khổ nhục của người
da đen vẫn hông được cải thiện Những năm 30 của thế kỷ
Trang 32thứ XIX người da đen đã đấu tranh mạnh mẽ để giải phóng dân tộc Năm 1861, Anh phải trao quyền tự trị cho Bácbađốt Năm 1966, Bácbađốt tuyên bố là một quốc gia độc lập nằm trong Khối Liên hiệp vương quốc Anh và các quốc gia độc lập.
Năm 1966, Bácbađôt ban hành hiến pháp, thiết chế chính trị là nhà nưốc quân chủ nghị viện Nữ hoàng Anh
là người đứng đầu nhà nước Bácbađốt thông qua một viên toàn quyền làm đại diện Quốc hội hai viện nắm quyển lập pháp Thượng viện có 21 thượng nghị sĩ Hạ viện gồm 28
hạ nghị sĩ do nhân dân bầu cử, nhiệm kỳ năm năm Chính phủ do thủ tướng đứng đầu nắm quyển hành pháp Thủ tướng do toàn quyển bổ nhiệm Toà án tối cao nắm quyển
tư pháp
Cơ cấu lãnh thổ đơn nhất gồm 11 giáo xứ
Bácbađốt là thành viên của Liên hợp quốc, Tổ chức các nưóc châu Mỹ, Cộng đồng Caribê, hệ thống kinh tê Mỹ Latinh, Khối Liên hiệp vương quốc Anh và các quốc gia độc lập
Quốc khánh ngày 30-11-1966
Quan hệ ngoại giao vói Việt Nam ngày 25-8-1995
Trang 33Bécmuyđa BERMUDA
Bécmuyđa là một nước hải đảo gồm 360 đảo ở tây bắc Đại Tây Dương thuộc châu Mỹ trong đó 20 đảo có người ỏ Diện tích 53km2, dân số 36.000 người trong đó 60% là người gốc châu Phi, còn lại là người gốc châu Âu Ngôn ngữ chính là tiếng Anh Cư dân theo đạo Tin Lành và đạo Thiên chúa Thủ đô là Hamintơn khoảng 16.000 người Du lịch là ngành kinh tế chính của Bécmuyđa, mang lại 60% ngoại tệ cho nước này Tổng sản phẩm quốc dân GDP đạt 1.300 triệu USD, tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người là 22.540 USD Đồng Đôla Bécmuyđa là đơn vị tiền
tệ của quốc gia này
Năm 1515, người Tây Ban Nha đã đặt chân lên quần đảo Bécmuyđa và chiếm quần đảo làm thuộc địa Năm
1864 khi Tây Ban Nha suy yếu, thực dân Anh chiếm quần đảo Người châu Âu, người Anh đã di cư tới quần đảo trong nhiều thập kỷ Người Anh cũng đã đưa người da đen
từ châu Phi tới để bóc lột kiểu nô lệ trong các đồn điền Ngày 27-3-1941, một hiệp định được ký giữa Anh và Mỹ, theo đó Anh cho phép Mỹ xây dựng căn cứ hải quân và
Trang 34không quân ở Bécmuyđa, chiếm 1/10 diện tích của nước này Năm 1967, Bécmuyđa được trao trả độc lập nhưng vẫn nằm trong Khối Liên hiệp vương quốc Anh
Năm 1967, Bécmuyđa ban hành hiến pháp, thiết chế chính trị là nhà nưóc quân chủ nghị viện Nữ hoàng Anh
là hoàng đế của Bécmuyđa, người đứng đầu nhà nước thông qua một viên toàn quyền làm đại diện Quốc hội hai viện nắm quyền lập pháp Thượng viện có 11 thượng nghị
sĩ do toàn quyển bố nhiệm Hạ viện có 40 hạ nghị sĩ do nhân dân bầu cử Chính phủ do thủ tướng đứng đầu nắm quyển hành pháp Thủ tướng do toàn quyển chỉ định Toà
án tối cao nắm quyển tư pháp
Cơ cấu lãnh thổ đơn nhất
Chế độ chính trị đa đảng
Trang 35Bôư viA
Cộng hoà Bôlivià nằm ở trung tâm lục địa Nam Mỹ, giáp Paragoay, Pêru, giữa Braxin và Chilê Diện tích 1.098.591km2, dân số 8.200.000 ngưòi, trong đó 50% là ngưòi Anh điêng, 30% là người lai, còn lại là người da trắng Ngôn ngữ chính là tiếng Tây Ban Nha 93,5% cư dân theo đạo Thiên chúa, còn lại theo đạo Tin Lành Dân
số thành thị chiếm 57,7%, nông thôn chiếm 42,3% Thủ đô
là Lapát khoảng 1.100.000 người Nông nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu của Bôlivia, trong đó xuất khẩu mía và bông Tổng sản phẩm quốc dân GDP đạt 8.409 triệu USD Tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người là 1.100 USD Đồng Pêxô Bôlivia là đơn vị tiền tệ của nước Cộng hoà Bôlivia
Từ giữa thế kỷ thứ X đến khi bị ngưòi Tây Ban Nha
xâm lược, Bôlivia nằm trong lãnh thổ của đế chế Inca của
người Anh điêng, đế chế này trải dài từ nam Côlômbia cho đến Chilê Quốc gia Inca đã có trình độ văn hoá phát triển rực rõ khiến người châu Âu sau này khám phá ra cũng phải kinh ngạc Hiện nay, trên mảnh đất từ Côlômbia đến
Cộng hoà Bôlivia REPUBLIC OF BOLIVIA
Trang 36Chilê, dấu tích văn hoá của người Inca vẫn còn dậm nét
Đó là di tích của một số thành cổ, đền đài vói lối kiến trúc* 7
quy mô, điêu khắc độc đáo ở biên giới giữa Chilê và Bôlivia còn nhiều di tích của những công trình kiến trúc
cổ xưa bằng đá rất đồ sộ
Năm 1492, Cristốp Côlômbô phát hiện ra châu Mỹ mở đường cho thực dân châu Âu xâm lược thống trị châu lục này Đê chê Inca bị Tầy Ban Nha chinh phục Theo cách chia đơn vị hành chính của Tây Ban Nha, Bôlivia nằm trong Phó vương quốc Laplata bao gồm Áchentina, Urugoay Paragoay
và Bôlivia Tây Ban Nha cũng thiết lập chế độ phong kiến
ỏ Bôlivia để cai trị và bóc lột Chúng lập nên những đồn điển rộng lớn buộc người da đỏ, bản xứ, người da đen từ châu Phi sang lao động theo chế độ nô lệ để bóc lột, người châu Âu cũng từng đợt di cư sang Cũng như toàn châu
Mỹ, Bôlivia cũng là nơi tập trung những chủng tộc và hội
tụ những nển văn hoá lớn trên toàn thế giới Nhân dân Bôlivia đã kiên cường đấu tranh chống Tây Ban Nha để giải phóng dân tộc Vào những năm đầu của thê kỷ thứ XIX, Bôlivia có nhiều cơ hội thuận lợi cho phong trào giành độc lập Năm 1808, Tây Ban Nha bị quân Pháp chiếm đóng Biến cố này ỏ chính quốc đã làm cho nển
thống trị của Tây Ban Nha ở Bôlivia lung lay Năm 1816,
Ximôn Bôliva người anh hùng dân tộc Mỹ Latinh đã chuẩn bị lực ỉượng ở nưốc ngoài đổ bộ và giải phóng một loạt các nước Mỹ latinh Năm 1822, từ Êcuađo, Ximôn Bôliva đã tiến về và đánh bại quân đội Tây Ban Nha ỏ miển thượng Pêru Ngày 6-8-1825, Bôlivia tuyên bố độc lập và thành lập nước cộng hoà Năm 1826, đội quân
Trang 37chiếm đóng cuối cùng của Tây Ban Nha bị bao vây ỏ pháo đài Kaliao buộc phải đầu hàng Bôlivia được giải phóng hoàn toàn Đất nước được độc lập nhưng nền chính trị Bôlivia không ổn định, về đối ngoại lại gây xung đột vối các nước láng giềng trong khu vực Năm 1879-1883, Bolivia cùng Pêru gây chiến vối Chilê năm 1903 gây xung đột quân sự với Braxin, chiến tranh với Chacô, những năm 1928-1930, 1933-1935 xung đột vối Paragoay Tháng 7-
1938 Bolivia ký một hiệp ước hoà bình với các nước láng giềng, thì xung đột mới chấm dứt
Những năm cuối thế kỷ thứ XIX đầu thế kỷ thứ XX, tư bản Anh, Mỹ, Đức xâm nhập mạnh mẽ vào Bolivia Những năm 30 của thế kỷ XX, phong trào du kích nổi lên mạnh chông chế độ độc tài quân sự Năm 1982, Bolivia mới có được chính phủ dân sự Năm 1997, ông Huygô Banxơ lên làm Tổng thống cố gắng dân chủ hoá đất nước, thu hút vốn đầu tư của nước ngoài để phát triển kinh tế
Năm 1994, Cộng hoà Bolivia ban hành hiến pháp mới, thiết chế chính trị là nhà nước cộng hoà tổng thống Tổng thống là người đứng đầu nhà nước do nhân dân bầu cử, nhiệm kỳ năm năm (một nhiệm kỳ) Quốc hội hai viện nắm quyền lập pháp Thượng viện có 27 thượng nghị sĩ,
hạ viện gồm 130 hạ nghị sĩ do nhân dân bầu cử, nhiệm kỳ năm năm Chính phủ do tổng thống đứng đầu nắm quyển hành pháp Toà án tối cao nắm quyển tư pháp
Cơ cấu lãnh thổ đơn nhất gồm 9 khu vực hành chính trực thuộc trung ương
Chế độ chính trị đa đảng
Trang 38Cộng hoà Bôlivia là thành viên của Liên hợp quốc, Tố chức các nước châu Mỹ, Hệ thông kinh tế Mỹ Latinh, tố chức mậu dịch tự do Mỹ Latinh
Quốc khánh ngày 6-8-1825
Quan hệ với Việt Nam ngày 12-2-1987
Trang 39Bêlidơ BELIZE
Belidơ nằm trên bờ biển phía đông Trung Mỹ, giáp Mêhicô, Goatêmala, biển Caribê Diện tích 23.000km2 Dân
số 250.000 người đa số là người lai Âu-Phi, ngoài ra còn có người Anh điêng, người Ấn Độ, người Trung Quốc Ngôn ngữ chính là tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha 62% cư dân theo đạo Thiên chúa 46,6% cư dân sống ở đô thị, 53,4% cư dân sống ở nông thôn Thủ đô là Benmôpan khoảng 7.000 người Du lịch là ngành kinh tế quan trong của Bêlidơ Tổng sản phẩm quốc dân GDP đạt 797 triệu USD, tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người là 3.200 USD Đồng Đôla Bêlidơ là đơn vị tiển tệ của nưóc Cộng hoà Bêlidơ
Người Maya, một sắc tộc của người Anh điêng là chủ nhân của lãnh thổ Bêlidơ Vào thế kỷ thứ XVI-XVII, người Tây Ban Nha và người Anh đã lần lượt đặt chân tối xâm lược Bêlidơ và hai nước đã xung đột khi tranh giành quyền kiểm soát Bêlidơ Cuốỉ cùng người Anh đã giành được quyển lực ở đây và năm 1862 Bêlidơ là thuộc địa của Hônđurát thuộc Anh Năm 1964, Anh phải trao cho Bêlidơ
Trang 40quyển tự trị đối nội Năm 1981, Bêlidơ tuyên bô độc lập nhưng nằm trong Khối Liên hiệp vương quốc Anh.
Năm 1981, Bêlidơ ban hành hiến pháp, thiết chê chính trị là nhà nước quân chủ nghị viện Nữ hoàng Anh
là người đứng đầu nhà nước thông qua một viên toàn quyền làm đại diện Quốc hội hai viện nắm quyển lập pháp Thượng viện có 8 thượng nghị sĩ do toàn quyền Anh
bổ nhiệm Hạ viện gồm 28 hạ nghị sĩ do nhân dân bầu cử nhiệm kỳ năm năm Chính phủ do Thủ tưống đứng đầu nắm quyền hành pháp Thủ tưống là lãnh tụ đảng chiếm
đa số trong hạ viện Toà án tối cao nắm quyền tư pháp
Cơ cấu lãnh thổ đơn nhất gồm sáu khu hành chính trực thuộc trung ương
Chế độ chính trị đa đảng
Bêlidơ là thành viên của Liên hợp quốc, Cộng đồng Caribê, Khối Liên hiệp vương quốc Anh và các quốc gia độc lập
Quốc khánh ngày 21-9-1981
Quan hệ ngoại giao vối Việt Nam ngày 4-1-1995