Tuy nhiên đó chưa phải là một cuộc hát phường vải nguyên bản, bởi hoạt cảnh ấy đã được nghệ thuật hóa, dùng đến các thủ pháp ước lệ, cách điệu, tượng trưng theo kiểu sân khấu, đưa cả làn
Trang 1LẠI BÀN VỀ PHƯƠNG CÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ
ĐẶC SẮC CỦA DÂN CA HÒ, VÍ, GIẶM Nhạc sĩ Thanh Lưu ()
PHẦN 1
MẤY NÉT KHÁI QUÁT VỀ DÂN CA HÒ, VÍ, GIẶM
Từ xa xưa, Nghệ Tĩnh là phên dậu, là biên giới phía Nam của Quốc gia Đại Việt
Trong tiến trình lịch sử, nơi đây đã hình thành hai vùng văn hoá dân gian (cả vật thể và phi vật thể) mang sắc thái riêng cùng song song tồn tại Đó là văn hoá dân gian các dân tộc thiểu số, sống rải rác khắp miền Tây rộng lớn và văn hoá dân gian của người Việt (dân tộc kinh), sống ở miền trung du, đồng bằng và ven biển Trong kho tàng văn hóa dân
gian ấy, thì dân ca Hò Ví Giặm là loại hình tiêu biểu, mang sắc thái bản địa rõ nét nhất,
được xem như một thứ đặc sản văn hóa quý báu của quê hương xứ Nghệ
Quê hương, chẳng những là một không gian địa lí với những núi sông biển trời, gốc
đa giếng nước, hay một bề dày lịch sử với những dấu tích bi thương và oai hùng qua những thử thách gian nan chống chọi với thuỷ - hỏa - đạo - tặc, mà còn là những khúc dân ca mộc mạc ân tình, mênh mang mà sâu lắng, đằm thắm mà dung dị, nó gắn bó với ta suốt cuộc đời, qua bao thăng trầm lịch sử Dầu cho vật đổi sao dời, dầu phải đi xa nơi chân trời góc bể, nhưng mỗi khi nghe những âm điệu gần gũi thân quen ấy nơi quê nhà vang vọng, hẳn trong sâu thẳm cõi lòng ta lại trào lên bao nỗi niềm thương nhớ, với những kí ức xa xăm ngọt bùi cay đắng Phải chăng dân ca là tinh hoa của đất mẹ, là hồn nước là tình quê
Để xây dựng một nền văn nghệ mới Việt Nam đậm đà tính dân tộc, nhất thiết phải coi trọng việc sưu tầm, nghiên cứu và phát huy nguồn văn hóa văn nghệ dân gian nói chung, dân ca nói riêng Việc này phải được tiến hành khẩn trương, bởi vì dân ca chỉ tồn tại đồng thời với sự tồn tại của các nghệ nhân dân gian, mà phần lớn những nghệ nhân đó đều đã ở vào tuổi "xưa nay hiếm" đang gần đất xa trời, nếu không kịp thời khai thác thì e rằng vốn cổ quý báu ấy sẽ đi theo các cụ về thế giới bên kia, vậy là ta vô tình mắc lỗi với cha ông, mắc lỗi với cả con cháu sau này
Ý thức được điều đó, nhiều thập kỉ qua, các nhà nghiên cứu VHDG nói chung, dân ca
xứ Nghệ nói riêng như: Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao, Thái Kim Đỉnh, Trần Hữu Thung, Lê Hàm, Đào Việt Hưng, Lê Quang Nghệ, An Thuyên, Hoàng Thọ đã có nhiều đợt điền dã khắp các miền quê Nghệ Tĩnh để sưu tầm khai thác Riêng Đoàn Dân ca tỉnh, ngay
từ khi mới thành lập, hầu hết các diễn viên và nhạc công đều đã thực hiện chế độ "3 cùng" với các nghệ nhân dân gian, cùng ăn + cùng ở + cùng học hát, học múa, học đàn trong nhiều đợt điền giã, có những đợt "nằm vùng" suốt hơn 3 tháng liền Nhiều tư liệu quý sưu tầm khai thác được, qua nghiên cứu phân tích hệ thống hoá, ta có thể khái quát lại dân ca xứ Nghệ có mấy thể loại hát sau đây:
I Thể hát ví
Nguyên trưởng đoàn kịch hát Nghệ Tĩnh
Trang 2Ví có những làn điệu tiêu biểu như: ví đò đưa, ví phường vải, ví phường cấy, ví
phường võng, ví phường chè, ví trèo non, ví mục đồng Ví thuộc thể ngâm vịnh, theo
phương pháp phổ thơ dân tộc (lục bát, song thất lục bát, lục bát biến thể ) Ví thường là hát
tự do, không có tiết tấu từng khuôn nhịp, người hát có thể co dãn một cách ngẫu hứng Âm điệu cao thấp ngắn dài có khi còn tuỳ thuộc vào lời thơ (ca từ) bằng hay trắc, ít từ hay nhiều
từ Tình điệu (tính biểu cảm) thì tùy vào môi trường hoàn cảnh, không gian thời gian và tâm
tính của người hát Âm vực của Ví thường không quá một quãng 8 Đặc tính chung của ví là trữ tình, nghe trang trải mênh mang sâu lắng, xao xuyến bâng khuâng, ân tình tha thiết Tuy
vậy, vẫn có loại Ví ghẹo và Ví mục đồng nghe dí dỏm hài hước, nghịch ngợm hồn nhiên tươi trẻ
II Thể hát giặm
Giặm là thể hát nói, bằng thơ ngụ ngôn (thơ / vè 5 chữ), nói cách khác thì Giặm là thơ
ngụ ngôn / vè nhật trình được tuyền luật hoá Giặm có những làn điệu như: giặm kể, giặm
cửa quyền, giặm ru, giặm vè, giặm nối, Khác với Ví, Giặm là thể hát có tiết tấu rõ ràng,
có phách mạnh phách nhẹ, có nhịp nội nhịp ngoại Thông thường một bài giặm có nhiều khổ hát, mỗi khổ có 5 câu (câu 5 điệp lại câu 4), mỗi câu có 5 từ (không kể phụ âm đệm) Tuy vậy, cũng có những bài giặm / vè không phân khổ rõ ràng, mà cứ hát một lèo, có khi đến hàng chục hàng trăm câu, và mỗi câu cũng không nhất nhất 5 chữ mà có thể là 4 chữ hoặc 6,
7 chữ (do lời thơ biến thể) Đặc tính chung của giặm là tự sự, tự tình, kể lể khuyên răn phân
trần bày giải, cũng có khi dí dỏm khôi hài châm biếm trào lộng, hoặc trữ tình giao duyên
III Thể Hò
Hò có những làn điệu như: hò dô, hò khoan, hò dật, hò đầm đất, hò xeo gỗ, hò trên
sông, hò tình tang Điệu thức Hò thường mang màu sắc trưởng với quãng 4 đúng đặc trưng
nghe rất sáng và khỏe Khúc thức Hò thường kết cấu hai đoạn, đoạn I cho người "xướng" tự do
theo thể thơ dân tộc, đoạn II cho tập thể "xô" bằng các âm hò dô khoan, theo tiết tấu đều, tạo
nên xung lực mạnh mẽ trong lao động, đấy là hình thức “nhất hô bách ứng" rất có hiệu quả
Đặc tính chung của hò là mô phỏng các nhịp điệu lao động Tuy vậy, vẫn có khi là hò hài
hước và cả hò trữ tình giao duyên
IV Các thể hát khác
Ngoài 3 thể hát nêu trên, dân ca xứ Nghệ còn có những điệu hát khác như: Hát ru,
hát đồng giao, hát sắc bùa, hát cầu đồng, tế lễ, hát báo ân, làn dọc, làn tiên, ngâm thơ, lẩy Kiều, hát xẩm, hát ca trù, hát Tuồng - Chèo Các thể hát này chỉ một số ít làn điệu có
nguồn gốc Nghệ, còn phần nhiều là xuất xứ từ các vùng miền khác du nhập vào đây, qua sự
giao thoa trong thời gian dài dần dần được Nghệ hóa ít nhiều, do vậy mà gọi là "hệ lai"
Nhìn chung hệ lai rất phong phú về chủng loại, đa dạng về kết cấu điệu thức, âm sắc có nhiều nét mới lạ
V Môi trường và tính chất diễn xướng
Qua tìm hiểu và nghiên cứu về không gian môi trường và tính chất diễn xướng ta có thể
khẳng định rằng: Dân ca xứ Nghệ là một hình thái Văn hóa dân gian, chứ không hẳn là một
hình thái nghệ thuật dân gian Nó có những tính năng đặc sắc sau đây:
1 Hát gắn với không gian và môi trường lao động khi cấy cày gặt hái, đắp đập
đào mương, chăn trâu cắt cỏ (môi trường đồng quê); tung chài kéo lưới, chèo chống
Trang 3thuyền bè, đánh bắt hải sản (môi trường sông nước); đốn củi đốt than, bứt tranh, kéo gỗ, bóc măng, làm rẫy , (khai thác lâm sản, môi trường rừng núi); quay tơ dệt vải, đan lát, làm thủ công mỹ nghệ (môi trường xóm thôn)
2 Hát mang tính du hý vào những dịp hội hè tết nhất đình đám, hoặc những đêm
trăng thanh gió mát bạn bè giao du thưởng ngoạn, thi thố tài năng ứng tác văn chương chữ nghĩa
3 Tính giao duyên giữa những lứa đôi trai gái để thổ lộ tâm tình, để gửi gắm
niềm thương nỗi nhớ, để kén chọn trai tài gái đảm, tìm bạn trăm năm
4 Tính tự tình, nghĩa là mượn câu hát để bộc lộ nội tâm, những nỗi niềm sâu kín,
những uẩn khúc cuộc đời, những mảnh tình dang dở, những số liếp long đong …
5 Tính tự sự, tức là dùng hình thức kể vè để thuật lại những sự việc xẩy ra trong
làng ngoài xã, hoặc kể về một sự tích, một giai thoại nào đó, hoặc muốn biểu dương người tốt việc tốt, hay là phê phán những thói hư tật xấu, hoặc là để biểu thị sự bất bình
xã hội, lên án lũ cường quyền áp chế…
6 Tính chất tâm linh, tức là hát trong thờ cúng, tế lễ, cầu vong, cầu đồng, phù
thuỷ bắt quyết, làm chay làm đàn
7 Tính giáo huấn, thông qua câu hát để dạy bày khuyên nhủ người đời về những điều
hay lẽ phải, về thuần phong mỹ tục, về đạo lý nhân nghĩa, về tôn sư trọng đạo, về tứ đức tam tòng, về lệ làng phép nước, về ái quốc trung quân, về anh hùng nghĩa khí…
8 Tính hành nghề (mưu sinh) đối với các phường trò chuyên nghiệp hoá, hoặc ở
các gánh hát ca trù, các ông xẩm hát rong và các ông thầy cúng
9 Tính đa dùng, nghĩa là nó giàu tính biểu cảm, cùng một cốt nhạc (một làn điệu)
có thể chuyển tải được rất nhiều nội dung văn học, nhiều đối tượng miêu tả, nhiều sắc thái tình cảm Đây có lẽ là một đặc tính nổi trội của dân ca Hò, Ví, Giặm
10 Tính phổ cập, hầu như khắp mọi miền quê, ai ai cũng có thể hát được
VI Bảo tồn và phát triển dân ca xứ Nghệ
- Về bảo tồn Hàng chục năm qua chúng ta đã sưu tập hầu hết các làn điệu dân ca,
sau đó đã in ấn nhiều tập bản phổ để lưu lại cho các đời sau; đã phổ biến truyền dạy dân ca trên đài PTTH; mở các lớp học dân ca trong toàn ngành giáo dục, tổ chức các cuộc thi hát dân ca giữa các nhà trường; đã tổ chức các Hội diễn đàn và hát dân ca trong toàn tỉnh; thành lập nhiều câu lạc bộ dân ca ở cơ sở; mở các khóa đào tạo diễn viên dân ca chuyên nghiệp tại trường VHNT và tại Nhà hát dân ca; thu in và phát hành rộng rãi nhiều băng đĩa CD - VCD các chương trình dân ca Tuy nhiên những tập bản phổ đã in cũng như những đĩa CD - VCD đã phát hành thường bao gồm nhiều thể loại dân ca, trong đó có cả hát ru, hát sắc bùa, hát đồng giao, hát xẩm, hát ca trù, hát tuồng chèo và cả hát cải biên, các đĩa CD, VCD ấy đều
có nhạc đệm cho thêm phần hấp dẫn Nay nếu lập hồ sơ đệ trình UNESCO thì nên in một tập bản phổ trong phạm vi Hò, Ví, Giặm thôi Song song với bản in đó, cũng nên thâu một đĩa
CD gồm những làn điệu Hò, Ví, Giặm tiêu biểu nguyên gốc y như xưa, không nhạc đệm
Để bảo tồn không gian văn hóa này, một mặt cần duy trì và phát tri ển các câu lạc
bộ dân ca cơ sở trong toàn tỉnh, mặt khác cần phục dựng lại nguyên dạng các hình thức diễn xướng dân gian trên sông nước, trên ruộng đồng, trên núi non , trong thôn xóm và
trong nhà Chẳng hạn như: tổ khúc hò lao động (hò đắp đê, hò bơi thuyền trên sông, hò
Trang 4xeo gỗ, hò đi đường…), cảnh hát ví giao duyên, cảnh hát giặm xẩm, hát giặm ru (Mẹ giòng than thở cùng con), hát giặm kể (Phụ tử tình thâm), đặc biệt là hát phường vải, một
hình thức diễn xướng rất đặc sắc Ngày xưa hát phường vải không hẳn là để khoe giọng các “ca sĩ”, cũng không phải để khoe nhạc điệu hay, cái chính là để thử tài đối đáp, thi thố tài năng ứng tác văn chương chữ nghĩa kiến thức điển tích giữa đôi bên trong cuộc hát Vả lại trai thanh gái lịch đi hát phường vải phần là do nhu cầu tìm hiểu “đối tác” để trao đổi tâm tình kết bạn giao duyên Bởi vậy mà nó có sức lôi cuốn đến kỳ lạ, chỉ có vài làn hát đơn điệu thôi, thế mà họ đối đáp với nhau thâu đêm suốt sáng vẫn không nhàm chán Nói về phường vải, năm kia Nhà hát dân ca Nghệ An cũng đã d ựng diễn hoạt cảnh
“Đêm trăng phường vải” xem rất hấp dẫn, được Đài PTTH Nghệ An đem d ự thi PTTH toàn quốc và đã được tặng giải vàng Tuy nhiên đó chưa phải là một cuộc hát phường vải nguyên bản, bởi hoạt cảnh ấy đã được nghệ thuật hóa, dùng đến các thủ pháp ước lệ, cách điệu, tượng trưng theo kiểu sân khấu, đưa cả làn hát cải biên vào, đưa cả tốp múa tập thể vào, đưa phông cảnh vẽ cây đa bến nước bờ đê vào, đưa cả trang phục biểu diễn sân khấu bắt mắt vào, nội dung đối đáp chưa thật sắc sảo, tuần tự các chặng hát cũng chưa thật sống động logic Tóm lại “Đêm trăng phường vải” chỉ là một tiết mục nghệ thuật trình diễn đã được cải biên Nếu muốn đệ trình UNESCO thì ta nên phục dựng lại cảnh hát phường vải nguyên xi y như xưa ở một không gian thực, hát thô không nhạc đệm, không
tô vẽ màu mè gì cả Để làm được điều đó trước hết cần một kịch bản gốc thật chuẩn, sau đấy sẽ tiến hành dàn dựng một cách tỉ mỉ công phu , do những người thật am hiểu lối hát này chỉ đạo
Thiết nghĩ dân ca Nghệ Tĩnh có những cái hay cái độc đáo về nhiều phương diện, song cũng có những mặt hạn chế, chẳng hạn như: các làn điệu hơi trùng lặp na ná nhau, khúc thức quá đơn giản, nhạc điệu thiếu trẻ trung sôi nổi bão liệt, trong diễn xướng thì thiếu sự kết hợp giữa dân ca với dân nhạc và dân vũ Tuy nhiên, sức sống dân ca không chỉ nhìn vào số lượng làn điệu nhiều hay ít, khúc thức và điệu thức phức tạp hay giản
đơn, điều cốt yếu là ở tính năng biểu cảm của nó Chính nhờ lối cấu trúc mở rất đặc sắc
nên dân ca Hò, Ví, Giặm hàm chứa một tiềm năng to lớn cho sự khai thác ứng dụng rộng rãi So sánh với dân ca các vùng miền khác như Quan họ hay Lý Nam bộ chẳng hạn, mỗi điệu hát chỉ có một lời ca duy nhất Còn Hò, Ví, Giặm thì có vô số ca từ trên một làn điệu Điều đó nói lên tính năng biểu cảm đa sắc thái của nó Cũng do tính năng đặc sắc ấy
mà mấy chục năm qua hò ví giặm đã được khai thác phát triển rất phong phú và đa d ạng
(sẽ đề cầp ở mục dưới)
- Về phát triển, ta có thể điểm qua 3 cách thức kế thừa và phát triển sau đây:
a Ngoài cách dùng nguyên xi các làn điệu cổ, chúng ta còn khai thác ứng dụng các hình
thức "bình cũ rượu mới" Nghĩa là từ làn điệu gốc rồi soạn lời mới có nội dung hiện thực,
phản ánh cuộc sống sôi động phong phú và hào hùng của nhân dân ta, bằng các tiết mục đơn
ca, đối ca, tốp ca, hoạt ca, hoạt cảnh Chẳng hạn như Ngô khoai tranh đấu, Chiếc xe đầu, Trước lúc lên đường, Giặt áo bên phà Bến Thủy, Thần sấm ngã, Áo xanh càng thắm áo nâu càng bền, Dâng Người câu ví làng Sen, Đẹp lắm quê mình, Hành hương về quê Bác, Xứ Nghệ quê tôi, Vững một niềm tin,
Trang 5b Phát triển thành ca khúc mới, tức là lấy chất liệu Hò, Ví, Giặm rồi phát triển thành
những ca khúc mang hơi thở và nhịp sống hiện đại Ta có thể kể ra hàng loạt những ca
khúc nổi tiếng được đông đảo công chúng ưa thích như: Xa khơi, Đào công sự, Chào em
cô gái Lam Hồng, Cô dân quân làng Đỏ, Câu hò trên đất Nghệ An, Tiếng hát sông Lam , Trông cây lại nhớ đến Người, Từ làng Sen, Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác, Năm anh em trên một chiếc xe tăng, Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò xứ Nghệ, Lời Bác dặn trước lúc
đi xa, Khúc tâm tình người Hà Tĩnh, Người đi xây hồ Kẻ Gỗ, Hương cau vườn Bác, Về hội làng Sen, Ân tình xứ Nghệ, Mời bạn về thăm xứ Nghệ quê tôi
c Phát triển bằng hình thức sân khấu hóa (dân ca kịch) Qua hàng chục năm nghiên
cứu và thể nghiệm, với hàng chục vở lớn nhỏ, đủ các thể loại bi - hài - hùng như : Không phải tôi, Khi ban đội đi vắng, Cô gái sông Lam, Đầu bến sông, Hoa đất, Trắng hoa mai,
Vụ án kỳ lạ, Đốm lửa núi Hồng Đến vở Mai thúc Loan (1985), kịch hát dân ca Nghệ
Tĩnh đã nghiễm nhiên trở thành một thành viên mới trong đại gia đình kịch hát dân tộc Việt nam Từ đó đến nay đoàn dân ca Nghệ An (và Hà Tĩnh) lại tiếp tục dàn dựng nhiều
vở nổi tiếng khác Chính từ cái nôi dân ca này đã nẩy nở nhiều nghệ sĩ tài năng, trong đó
có những NSƯT như: Song Thao, Xuân Năm, Đức Duy, Hồng Năm, Danh Cách, Đình Bảo, Tiến Dũng, Lệ Thanh, Hồng Lựu, Minh Tuệ, An Phúc,…
Như vậy, rõ ràng dân ca Hò, Ví, Giặm đã có bước phát triển về chất, đó là sự chuyển hoá từ hình thức ca hát dân gian, đến ca nhạc chuyên nghiệp, rồi ca kịch sân khấu Chúng ta đều biết rằng dân ca thuần tuý thường chỉ tồn tại trong môi trường diễn xướng dân gian, nhưng khi đưa dân ca vào kịch tức là đi vào mâu thuẫn xung đột, buộc dân ca phải chuyển tải một nội dung lớn hơn, sâu sắc hơn, đa dạng tính cách hơn, nhiều tâm trạng phức tạp hơn, tầm tư tưởng lớn hơn Để biểu đạt được những điều đó thì trước hết
phải sân khấu hoá dân ca, bởi khi đó Hát là hành động, là nội tâm, là tính cách của nhân vật Do yêu cầu nội tại của kịch, nếu ta chỉ giới hạn trong mấy làn điệu cổ thì không thể
nào đáp ứng được tính đa dạng của sân khấu, do vậy ngoài việc ứng dụng các làn điệu gốc, còn phải sáng tạo thêm nhiều "làn điệu" mới (đa dùng hoặc chuyên dùng) mang âm hưởng Hò, Ví, Giặm, cấu trúc theo khúc thức "mở" dân gian, lời hát theo các thể thơ dân tộc Trong quá trình thể nghiệm, một loạt làn điệu cải biên ra đời rất có hiệu quả như:
Giận mà thương, Hát khuyên, Đại thạch, Tứ hoa, Xẩm thương, Xẩm chợ, Một nắng hai sương, Tình sâu nghĩa nặng, Em giữ lời nguyền, Khóc cha, Cuộc đời nổi trôi, Ai cứu chàng (biểu đạt tâm trạng); các điệu: Con cóc, Xoay xở, Lập lờ, Lập loè, Đi rao, Đèo bòng, Khen Thầy tài, To gan, Uất ức, Bướm say hoa, Chồng chềnh, Lòng vả lòng sung (khắc họa tính cách); hoặc như: Vào hội đông xuân, Đứng thẳng người lên, Gốc lúa quầng trăng, Cha ơi ngồi dậy mà xem, Hỡi công nông binh, Hò vượt sông (gây không
khí sôi nổi hào hùng) Có thể nói các làn điệu mới sáng tạo bổ sung đã phần nào thỏa mãn được những đòi hỏi cấp thiết của công cuộc sân khấu hoá dân ca xứ Nghệ, qua sàng lọc của thời gian, nhiều làn điệu đã trở thành "bài tủ" không thể thiếu trong các vở diễn
Tuy vậy, nhìn chung dung lượng các làn hát cải biên đều ở dạng tiểu điệu thiếu độ dài
cần thiết, một số bài chưa đậm đà sắc thái dân gian
Có điều tôi vẫn băn khoăn hình như lâu nay các ê kíp làm vở chưa thật sự quan tâm đến thể nghiệm học thuật, mà chỉ bằng lòng với những gì có sẵn, trong khi những
Trang 6thành tố tạo nên kịch chủng này như: Cấu trúc vở, phương pháp diễn xuất, rồi vũ đạo, mỹ
thuật, ngữ âm, nhạc đệm… đều đang mày mò tìm kiếm chưa định hình Ngay như việc
làm sao sáng tạo cho được một cách nói lối thay cho nói thường cũng chưa có Tôi rất
thông cảm cho Nhà hát về những bất cập ấy, chẳng qua cũng là vì lực bất tòng tâm Do
thiếu tác giả và đạo diễn “ruột” nên thường phải lấy các vở kịch nói có sẵn của tác giả
TW rồi lồng điêụ dân ca vào, xong mời đạo diễn TW dàn dựng chớp nhoáng theo kiểu
kịch nói pha ca, tuy họ rất tài giỏi nhưng không phải đạo diễn nào cũng hiểu hết tính đặc
thù của kịch hát Nghệ Tĩnh, do đó họ không thể chú tâm đến việc thể nghiệm học thuật
Thiết nghĩ Sở và Nhà hát c ần đầu tư công sức trí tuệ tài năng nhiều hơn nữa cho công
cuộc sân khấu hóa dân ca xứ Nghệ, nhằm tạo ra những giá trị mới đích thực, đáp ứng nhu
cầu thưởng thức ngày càng cao của công chúng
PHẦN 2
SỰ CHUYỂN HOÁ TỪ DÂN CA ĐẾN KỊCH HÁT NGHỆ TĨNH
I BA GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH KỊCH HÁT NGHỆ TĨNH
Nghiên cứu về nguồn gốc hình thành kịch hát Nghệ Tĩnh ta có thể phân ra ba giai
đoạn chyển hoá: Từ manh nha (tiền đề) - đến yếu tố sân khấu (tiền kịch) - đến thực thể
sân khấu (thành hình kịch chủng mới nhưng chưa hoàn thiện)
1- Cái gọi là manh nha (tiền đề sân khấu) có từ trong cấu trúc làn điệu, trong nhạc tính
dân ca và trong diễn xướng dân gian
- Về cấu trúc, Dân ca Nghệ Tĩnh thuộc loại cấu trúc mở, khúc thức không định hình
chốt chặt, giản đơn về cao độ và tiết tấu, nhiều làn hát tự do tương tự như là vỉa, sử, nói
lệch (ở trong chèo), hoặc như nói lối, bạch, xướng, nam (ở trong tuồng) Do đặc điểm cấu
trúc này mà người hát có thể co giãn một cách linh hoạt khi kết hợp với ngữ khí ngữ điệu,
các động tác hình thể (vũ đạo) để biểu đạt các sắc thái tình cảm và tính cách nhân vật
- Về nhạc tính, Dân ca Nghệ Tĩnh vừa đượm đà chất trữ tình (bâng khuâng sâu lắng,
tha thiết ân tình) ở trong các điệu ví, vừa giàu chất tự sự (Tự thuật, kể chuyện, phân trần
bày giải) ở trong các điệu giặm vè, vừa có tính chất khoẻ khoắn, vui nhộn hài hước ở
trong các điệu hò
- Về diễn xướng dân gian, Dân ca Nghệ Tĩnh có thể kể ra mấy loại diễn xướng sau:
+ Hát có lề lối, như hát phường vải chẳng hạn, từ hát chào hát hỏi, đến hát đối đáp,
sau đó là hát mời, hát xe kết, và cuối cùng là hát tiễn
+ Hát tự sự, tức là thông qua hình thức giặm vè để kể lại một sự việc, một sự kiện
xẩy ra trong làng ngoài xã, hoặc kể về một giai thoại, một sự tích nào đó, người kể (hát
nói) thường biểu thị thái độ khen chê rõ ràng
+ Hát tự tình (hát nội tâm), nghĩa là mượn câu hát để bộc lộ nỗi lòng sâu kín, những
uẩn khúc cuộc đời, những bất công oan trái
+ Hát nhà nghề (chuyên nghiệp hoá) Đó là các gánh hát ca trù, các ông thầy cúng,
các ông Xẩm hát rong
+ Hát gắn với môi trường lao động, khi thuyền ngược thuyền xuôi, khi quăng chài
kéo lưới, khi đắp đập đào mương, cấy cày, gặt hái, khi kéo gỗ, bứt tranh, bóc măng, đốn
củi
Trang 7Như vậy ta thấy dân ca Nghệ Tĩnh tự thân đã chứa đựng những yếu tố sân khấu rồi Nói cách khác thì tính sân khấu ở dân ca Nghệ Tĩnh đã vốn có tự thân trong cấu trúc, trong nhạc tính và trong diễn xướng dân gian Đó chính là tiền đề cho việc sân khấu hoá
2 Yếu tố sân khấu tiền kịch, đó là sự chuyển hoá phức hợp từ diễn xướng dân gian
đến trình diễn nghệ thuật, như các hình thức kể vè, đối ca, hoạt ca, hoạt cảnh bên lửa trại sân đình hội quán trong những năm kháng chiến chống Pháp, rồi phát triển mạnh vào thập kỷ 60 (TKXX) với những: "Chiếc xe đầu", "Ngô khoai tranh đấu", "Hỏi ai quan trọng", "Thần sấm ngã", "Áo xanh áo nâu ", "Giặt áo bên phà Bến thuỷ", "Trước lúc lên đường"
3 Thực thể sân khấu, đó là sự chuyển hoá phức hợp mang tính tổng thể từ hình thức
trình diễn tiền kịch đến hình thức sân khấu ca kịch (nhưng chưa hoàn chỉnh) Quá trình này bắt đầu từ vở "Chiếc cày ông Tư" (1961), sau đó phát triển mạnh trong phong trào văn nghệ quần chúng với các vở như: "Con mương thuỷ lợi" của Thế Phiệt, "Cà phê phẫn nộ" của Văn Huệ, "Quyết không trở về", "Đi hay ở", "Bảo vệ nông", "Không phải tôi" của Nguyễn trung Giáp, "Khi ban đội đi vắng" của Nguyễn Trung Phong v.v Về sau này đã có hàng chục vở trên sân khấu chuyên nghiệp
Như vậy, quá trình ba giai đoạn chuyển hoá từ ca hát dân gian thuần tuý đến sân khấu
kịch hát Nghệ Tĩnh cũng chính là quá trình chuyển hoá phức hợp từ hình thái văn hoá
dân gian đến hình thái nghệ thuật sân khấu Tuy nhiên từ thực thể sân khấu này cho
đến khi định hình kịch chủng còn phải trải qua quá trình thực nghiệm công phu lâu dài,
song rõ ràng đây là một sự vật mới (góc độ triết học), một hiện tượng mới (góc độ văn hóa - xã hội học), một loại hình sân khấu mới (góc độ nghệ thuật học) đã ra đời mang
đặc trưng riêng của nó
Như trên đã trình bày, sự chuyển hoá từ dân ca đến kịch hát là sự chuyển hoá từ hình thái này đến hình thái khác, mang tính đột phá nhảy vọt, là sự biến đổi về chất Đấy là sản phẩm của lịch sử xã hội, chứ không phải là sản phẩm của một khối óc cá nhân nào
Nó là của nhân dân, do nhân dân vì nhân dân Nó vận hành và phát triển theo quy luật mang tính khách quan Vậy quy luật ấy là gì?
Nghiên cứu về sự hình thành và phát triển các loại hình kịch hát dân tộc nói chung, kịch hát Nghệ Tĩnh nói riêng, ta thấy rằng quá trình diễn tiến của nó thường chịu sự tác động của mấy quy luật cơ bản sau đây:
1 Chúng ta biết rằng cuộc sống bao giờ cũng chứa đầy mâu thuẫn (tức là chứa đầy tính kịch) Quá trình vận động của cuộc sống cũng chính là quá trình giải quyết mâu thuẫn để tồn tại và phát triển không ngừng Mà đối tượng phản ánh của nghệ thuật lại là cuộc sống muôn hình vạn trạng Thế nhưng nghệ thuật ca hát thuần tuý lại không trình bày, không phân tích, không lý giải được nguồn gốc của mâu thuẫn, quá trình mâu thuẫn
và cách thức giải quyết mâu thuẫn đó Chỉ có nghệ thuật sân khấu với phương thức biểu hiện đặc thù, mới có khả năng miêu tả (phản ánh) được cuộc sống như vậy Rõ ràng tính quy luật ở đây là cái được phản ánh (cuộc sống) quy định (đề ra) cái phản ánh (nghệ thuật
sân khấu) Suy ra thì đấy là một dạng thức của phạm trù nội dung (cuộc sống) quyết định hình thức (loại hình nghệ thuật)
Trang 82 Cuộc sống con người có hai nhu cầu cơ bản, đó là nhu cầu về vật chất và nhu cầu
về tinh thần Nhu cầu ở mỗi người, mỗi lúc, mỗi nơi là hữu hạn, nhưng nhu cầu chung của con người là vô hạn Cuộc sống của con người tự đề ra nhu cầu và rồi con người lại phải tìm cách tạo ra cái để đáp ứng, để thoả mãn nhu cầu đó Ví như: Con người cần có
ăn, có ở, có mặc, do vậy con người phải lao động để tạo ra cái ăn, cái ở, cái mặc Nhu cầu vật chất ấy không chỉ dừng lại ở một mức độ nhất định, mà nó đòi hỏi càng ngày càng cao hơn Về đời sống tinh thần cũng vậy, nhu cầu thẩm mỹ của con người không chỉ dừng lại ở ca dao, thơ Đường luật, chuyện ngụ ngôn, mà cần có cả thơ hiện đại tự do phóng khoáng hơn, rồi truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết Không chỉ dừng lại ở dân
ca, dân nhạc, dân vũ, mà cần cả ca kịch, nhạc kịch, vũ kịch Như vậy tính quy luật ở đây
là từ nhu cầu thẩm mỹ nghệ thuật mà đẻ ra các loại hình loại thể nghệ thuật Đó là một
dạng thức của quy luật cung - cầu
3 Tìm hiểu về các loại hình kịch hát dân tộc ta thấy rằng không một kịch chủng nào được hình thành một cách ngẫu nhiên và tức thời hoàn thiện cả Nó đều trải qua một quá trình vận động tự thân, đấy là quá trình kế thừa và sáng tạo, kế thừa cái đã có, sáng tạo cái cần có Đó cũng là quá trình vừa khẳng định vừa phủ định, khẳng định cái đích thực
nó, phủ định cái không phải là nó Sân khấu là nghệ thuật tổng hợp và mang tính nguyên hợp, do đó quá trình hình thành cũng chính là quá trình chuyển hoá phức hợp từ thấp đến cao, từ nông đến sâu, từ thô đến tinh, từ đơn diện đến đa diện Lấy sân khấu chèo chẳng hạn, từ dân ca đồng bằng và trung du Bắc bộ, đến dân ca - chèo, rồi đến sân khấu chèo là một quá trình chuyển hóa như vậy Tìm hiểu về sân khấu Tuồng, sân khấu Cải lương, sân khấu ca kịch Bài chòi, ca kịch Huế cũng đều diễn tiến như vậy Rõ ràng tính quy luật ở
đây là sự chuyển hóa từ dân ca đến ca kịch là sự chuyển hoá phức hợp - tự thân - tất yếu - mang tính quá trình
4 Nghiên cứu về đặc trưng của sân khấu dân tộc, ta thấy đều có những điểm chung
nhất như là: phương pháp tư duy nghệ thuật (triết học và mỹ học), phương thức biểu hiện (kết cấu tự sự, thủ pháp cách điệu, ước lệ, tượng trưng, mô hình hoá ) Những điểm chung đó chính là do sự tác động qua lại, tiếp thu lẫn nhau, bổ trợ cho nhau trong quá trình hình thành và phát triển Quá trình này diễn ra nhanh hay chậm, tự giác hay không
tự phát còn tuỳ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể Nếu ở một xã hội mang tính chất công
xã nông thôn khép kín, với lại trước đó chưa có một loại chủng sân khấu nào định hình (hoàn thiện) thì quá trình chuyển hoá tự nhiên rất chậm chạp, như sân khấu Tuồng, Chèo chẳng hạn (gần một ngàn năm) Nhưng nếu trong điều kiện và hoàn cảnh lịch sử thuận lợi, mà trước đó đã có những loại chủng sân khấu hoàn thiện rồi thì nó sẽ tác động rất mạnh đến sự hình thành và phát triển các loại hình sân khấu sau, như ca kịch cải lương,
ca kịch Huế, kịch hát Bài chòi chẳng hạn (chỉ độ dăm bảy chục năm thôi), ở đây ta cũng cần lưu ý thêm là loại hình sân khấu nào ra đời sau thì thường có tính hiện đại hơn, năng động hơn và dễ thích ứng môi trường cuộc sống mới hơn, nó không hay câu nệ bởi quy
cách lề lối bài bản khuôn mẫu một cách máy móc Như vậy tính quy luật ở đây là một mặt nó chịu sự tác động qua lại giữa các loại hình sân khấu dân tộc, mặt khác chịu sự tác động của hiện thực lịch sử xã hội cụ thể, bởi nhân sinh quan và thế giới quan của chủ thể sáng tạo (như là tư duy, tâm lý, đạo đức, thẩm mỹ, bản sắc )
Trang 9III ĐẶC ĐIỂM, KHÓ KHĂN, THUẬN LỢI TRONG QUÁ TRÌNH SÂN KHẤU HÓA DÂN CA
Như chúng ta đã biết, sự hình thành và phát triển các chủng loại sân khấu truyền
thống như Tuồng Chèo đã phải trải qua quá trình tiệm tiến rất lâu dài Đó là quá trình vừa cộng lại vừa trừ, nghĩa là vừa sáng tạo vừa thanh lọc, vừa khẳng định vừa phủ định, quá trình này diễn ra tuy rất chậm chạp nhưng lại rất chân xác về bài bản, lề lối và phong cách, với những nguyên tắc có tính bền vững Dĩ nhiên sân khấu trruyền thống có những
ưu điểm căn bản, có nhiều cái hay cái đẹp vĩnh cửu, là niềm tự hào của dân tộc ta Tuy vậy nó cũng có những mặt hạn chế, đó là tính trì trệ, thiếu năng động Trong khi cuộc sống xã hội đã có những đổi thay căn bản, sự đổi thay có tính bùng nổ "một ngày bằng 20 năm" thì sân khấu truyền thống lại tỏ ra bất lực lúng túng, không theo kịp cuộc sống, không phát huy được thế mạnh sở trường Điều đó cắt nghĩa vì sao ngày nay lớp trẻ thường ít say mê với sân khấu truyền thống Đối với kịch hát Nghệ Tĩnh, chỉ mới được hình thành và phát triển trong mấy thập niên gần đây, quá trình chuyển hoá đang rất vội
vã, nó diễn tiến hết sức mau lẹ đến mức hình như không thấy tính quá trình Do sự phát triển mang tính nhảy vọt ấy cho nên sự kế thừa thì chưa được bao nhiêu mà sự sáng tạo thì đang quá vội vàng, chưa được thử thách nhiều trong thực tiễn, chưa đủ thời gian để củng cố thanh lọc bổ sung, do đó cũng chưa tạo nên được phong cách đặc thù và ngôn ngữ riêng một cách hoàn chỉnh Tóm lại đặc điểm lớn nhất của quá trình sân khấu hoá
dân ca Nghệ Tĩnh là sự chuyển hoá mang tính nhảy vọt, quá trình tiệm tiến không lâu dài,
do đó gặp phải nhiều khó khăn phức tạp Nếu như cái khó của Tuồng Chèo hiện nay là ở chỗ phải điều chỉnh phải thanh lọc phải bổ sung cái vốn có như thế nào cho dễ dàng thích nghi với môi trường xã hội mới, để có đủ khả năng phản ánh hiện thực cuộc sống đương đại, nghĩa là phải trừ nhiều hơn cộng Còn ở kịch hát Nghệ Tĩnh thì phải sáng tạo cho được những cái cần có mà chưa có, nghĩa là phải cộng nhiều hơn trừ, mà ở đời tìm cái thiếu bao giờ cũng khó hơn bớt cái thừa Tuy vậy, vì nó là sản phẩm của xã hội mới, do
đó nó có những lợi thế mà xưa kia Tuồng Chèo không có được Những ưu thế đó là:
- Nó là sản phẩm được sinh ra trong thời đại mới nên nó có khả năng phản ánh hiện thực mới, phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội và phù hợp với nhu cầu thưởng thức của công chúng đương đại Do đó nó dễ dàng thích nghi với môi trường xã hội, và được xã hội quan tâm tạo điều kiện chăm sóc cho nó chóng trưởng thành
- Là loại hình sân khấu sinh sau đẻ muộn nên kịch hát Nghệ Tĩnh được tiếp thu kế thừa những tinh hoa của nền sân khấu dân tộc
- Quá trình phát triển kịch hát Nghệ Tĩnh diễn ra đồng thời với sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại trên thế giới và sự giao lưu quốc tế rộng rãi, nên nó có điều kiện tiếp nhận những thành tựu văn minh vật chất cũng như văn minh tinh thần và văn minh nghệ thuật của thế giới để bổ trợ cho mình những thứ cần thiết mà xưa kia không thể có được
IV XỬ LÝ HỌC THUẬT TRONG QUÁ TRÌNH THỰC NGHIỆM
Quá trình tạo dựng kịch hát Nghệ Tĩnh cũng chính là quá trình giải quyết những
vấn đề học thuật vô cùng phức tạp khó khăn và mới mẻ Vấn đề đặt ra là:
Trang 10Kịch hát Nghệ Tĩnh thuộc loại hình sân khấu nào? Kịch tự sự hay kịch Drame? Theo dòng ca kịch truyền thống hay ca kịch hiện đại? Xử lý về làn điệu, vũ đạo, mỹ thuật sân khấu ra làm sao? Chuẩn mực hóa và cách điệu hóa phương ngữ như thế nào? v.v… Nói đến học thuật thì có lẽ còn nhiều vấn đề nữa, nhưng ở đây chỉ nêu ra chừng đó thôi cũng đã thấy bề bộn và rối rắm lắm rồi Lý giải cho được những vấn đề đó quả không đơn giản chút nào
- Trước hết cần xác định nó thuộc dòng sân khấu nào?
Theo chúng tôi thì về phương pháp tư duy nghệ thuật và phương thức biểu hiện cũng như thủ pháp mô tả thì kịch hát Nghệ Tĩnh thuộc dòng sân khấu kịch hát dân tộc Tuy nhiên vì nó được hình thành trong xã hội mới cho nên nó chứa đựng những yếu tố hiện đại, nó có quyền tiếp nhận những thành tố của sân khấu hiện đại tự do phóng khoáng hơn, không câu nệ gò bó, máy móc khi những yếu tố hiện đại đó hài hóa được với dòng nghệ thuật của nó Như vậy một mặt, phải truyền thống hoá hiện đại, mặt khác phải hiện đại hóa truyền thống, có như vậy thì mới phát huy được tính năng động trong phản ánh hiện thực mới một cách chân thực, sâu sắc và đa dạng
- Về cấu trúc, như chúng ta đã biết, mỗi loại hình sân khấu đều có cách thức cấu trúc
riêng, thông qua đó mà xử lý các thành tố phức hợp của nghệ thuật sân khấu Bởi lẽ cuộc sống vô cùng phong phú và phức tạp, với chằng chịt các mối dây liên hệ, nhưng một khi
đã phản ánh vào tác phẩm nghệ thuật, thì ngoài phương pháp tư duy logic, tư duy hình tượng, khái quát hóa và điển hình hóa còn phải biết đứng ở góc độ đặc trưng và sở trường cũng như ngôn ngữ biểu hiện riêng của kịch chủng đó mà khai thác chất liệu sống, nhằm phát huy được tối đa thế mạnh sở trường, hạn chế được sở đoản của loại hình sân khấu ấy, làm cho tác phẩm không những có giá trị về tư tưởng mà còn có giá trị về thẩm
mỹ nghệ thuật Chẳng hạn như cấu trúc kịch nói rất khác với kịch hát truyền thống, ngay như Tuồng và Chèo cũng đều là sân khấu tự sự, nhưng cấu trúc của Tuồng và Chèo vẫn
có những đặc thù riêng Còn đối với Kịch hát Nghệ Tĩnh thì hiện nay chủ yếu vẫn là cấu trúc theo sân khấu tự sự truyền thống, song thấp thoáng vẫn thấy bóng dáng kịch Drame
lẻn vào ở lớp này lớp kia, màn này màn nọ
- Về phương pháp diễn xuất (phương pháp mô tả) Mục đích của chúng ta là tạo dựng
một loại hình sân khấu kịch hát Nghệ Tĩnh theo hướng kịch hát dân tộc, vậy trước hết phải tiếp thu tính tổng thể ở sân khấu kịch hát tự sự truyền thống, đó là sự kết hợp đồng thời một cách hài hòa nhất quán giữa các thành tố của sân khấu như: ngôn ngữ (phát âm / nói), thanh nhạc (hát), vũ đạo (động tác hình thể) và diễn xuất để thể hiện cái tâm lý bên trong của nhân vật, hay để bàn luận một sự kiện, hoặc là để chỉ về không gian thời gian Nói đến nghệ thuật sân khấu thì tính ước lệ, cách điệu và tượng trưng là thế mạnh sở trường, nó không những không làm giảm tính hiện thực mà còn tăng thêm tính thẩm mỹ, tránh được tự nhiên chủ nghĩa Đó là nghệ thuật hiện thực ước lệ tinh tế và thi vị Tuy nhiên đôi khi nội dung kịch đòi hỏi sự thể hiện phải chân xác hơn thì có thể ứng dụng thủ pháp diễn xuất hiện thực tâm lý Tóm lại là phải xuất phát từ nội dung mà có sự cân nhắc chọn lựa những thủ pháp biểu hiện thích hợp, nhằm tạo được hiệu quả sân khấu tối đa Hiệu quả đó là tính tư tưởng, tính thẩm mỹ, là sự hài hòa giữa hình thức và nội dung, là
sự nhất quán về phong cách