1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THPT HIỆN NAY

79 516 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 9,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Mô hình TPACK Teachnological pedagogical content knowledge - Kiếnthức nội dung, phương pháp và công nghệ đưa ra cách nhìn tổng quát về ba dạng cơbản của kiến thức mà một giáo viên

Trang 1

ĐỀ DẪN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THPT HIỆN NAY

Hồ Sĩ Nhật Nam PHT Trường THPT Hòa Bình

1.Đặt vấn đề

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của đất nước, nền giáo dục Việt Namnói chung và giáo dục đại học nói riêng, đã có những bước phát triển đáng kể Tuy nhiên,

để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đòihỏi giáo dục phổ thông cần có sự đổi mới toàn diện và sâu sắc

Để đào tạo ra lớp người đáp ứng được yêu cầu đó, đổi mới phương pháp dạy học(PPDH) theo hướng phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của HS (phương pháp dạyhọc tích cực) là cấp thiết hiện nay Một công cụ hỗ trợ đắc lực cho phương pháp dạy họctích cực là công nghệ thông tin (CNTT) một phương tiện dạy học hiện đại, hữu ích vàhiệu quả trong dạy học

Công nghệ thông tin và truyền thông có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển xã hộinói chung và giáo dục nói riêng

2 Tác động của CNTT và truyền thông đối với giáo dục

2.1 Thay đổi mô hình giáo dục

Theo cách tiếp cận thông tin, tại “Hội nghị Paris về GDĐH trong thế kỷ 21” do UNESCO tổchức có tổng kết 3 mô hình giáo dục:

Mô hình Trung tâm Vai trò người học Công nghệ cơ bản

Truyền thống Người dạy Thụ động Bảng/TV/Radio

Trong các mô hình đã nêu, mô hình “tri thức” là mô hình giáo dục hiện đại nhất,hình thành khi xuất hiện thành tựu mới quan trọng nhất của CNTT và truyền thông làmạng Internet Mô hình mới này đã tạo nên nhiều sự thay đổi trong GD

2.2 Thay đổi chất lượng giáo dục

- CNTT ứng dụng trong quản lý, giúp các nhà quản lý nắm bắt trạng thái của hệ thốngmột cách nhanh chóng, chính xác, đáng tin cậy Thêm nữa, các hệ hỗ trợ quyết định trợ giúpthêm cho các nhà quản lý kịp thời ra được các quyết định quản lý chính xác, phù hợp

- CNTT ứng dụng trong dạy học giúp cho nhà giáo nâng cao chất lượng giảng dạy,người học nắm bài tốt hơn, Ngoài ra, internet cũng trợ giúp cho người học trong việc tra cứu,tìm hiểu, cập nhật tri thức và tự kiểm tra bản thân, làm cho chất lượng nâng cao thêm

- CNTT ứng dụng trong kiểm định đánh giá chất lượng, giúp cho công tác kiểm địnhđược toàn diện, kết quả khách quan và công khai

2.3 Thay đổi hình thức dạy học

Công nghệ thông tin và truyền thông phát triển đã tạo nên những thay đổi lớn vềgiáo dục và đào tạo Nhiều hình thức dạy học mới đã xuất hiện

Trang 2

- Dạy học từ xa: Hiện nay, có nhiều thuật ngữ để mô tả như: Giáo dục mở, giáo dục từ

xa, dạy từ xa, học từ xa, đào tạo từ xa hoặc giáo dục ở xa…

- Dạy học từ xa tương tác (interactive/synchronous) tức là người dạy và người học

có tương tác qua lại, trao đổi thông tin, kiểm tra thông tin thông qua các phương tiệntruyền thông tin

- Dạy học từ xa không tương tác (non- interactive/synchronous) tức là người dạy và

người học không có mối tương tác trao đổi thông tin với nhau Các thông tin (tri thức) được đặtsẵn trong các kho tài nguyên thông tin, người học chủ động nghiên cứu nắm bắt

- Dạy học trực tuyến: Học tập trực tuyến (Online Learning) là một loại hình học

3 Vai trò CNTT trong dạy học

- Lâu nay, với kiểu dạy học bảng đen phấn trắng là chủ yếu, lối dạy chay ngự trịnhà trường phổ thông đã khiến việc dạy học trở nên đơn điệu, khô khan, nhàm chán, khókhơi dậy hứng thú, tính tích cực chủ động sáng tạo trong học tập của học sinh Nó đã làmcho việc dạy học thiếu tính hấp dẫn, các em khó hiểu bài, không say mê trong học tập dẫn đến HS chán học, một phần không nhỏ bắt nguồn từ việc dạy chay Vơi sự có mặtCNTT đem lại công nghệ trong dạy học một sinh khí mới: hiện đại, hấp dẫn, góp phầnđưa công nghệ dạy học thoát khỏi sự thô sơ, khô khan đơn điệu thời trung cổ CNTT làcông cụ “mầu nhiệm” có tiềm năng to lớn, có thể giúp tiết dạy đạt hiêu quả cao, học sinhtiếp cận tri thức không còn mơ hồ, chung chung, trừu tượng mà các em có thể nhìn thấytri thức trong vóc dáng hình thể sinh động của nó, có thể quan sát được các hiện tượng lý– hóa mà mắt thương không thể nhìn thấy, như sự vật hiện tượng, sự kiện lịch sử, địa lý,văn hóa thể thao ở những thời điểm và không gian cách xa

- CNTT là khâu đột phá đưa PPDH vào quĩ đạo sử dụng sức mạnh của công cụhiện đại chuyển tải khối lượng kiến thức lớn, phát huy tính tích cực chủ động trọng họctập của học sinh Nếu phát huy thế mạnh, nhất là E-Learning – dạy học qua mạng, thìCNTT sẻ có hiệu quả to lớn trong việc thục đẩy tinh thần tự học của học sinh Internet lànguồn tri thức không lồ Qua đó, việc học tập không chỉ dừng lại ở nhà trường mà còn tiếnhành một cách chủ động tích cực, sáng tạo ở nhà của học sinh, đem lại một phương pháp họcmới hiệu quả Như vậy CNTT là mũi nhon đột phá, trong việc đổi mới PPDH của GV vàPPH của học sinh theo tinh thần phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của HS, đảm bảovai trò chủ thể của người học trong quá trình nhận thức

4 Những tồn tại sử dụng CNTT trong dạy học hiện nay

Trang 3

- Việc lạm dụng CNTT trong dạy học dẫn đến tiết học quá tải, nên óc sáng tạo họcsinh bị bóp nghẹt, thầy trò quay cuông trong các hiệu ứng âm thanh, mầu sắc, hình ảnh,học sinh không theo dõi kịp, không ghi được bài nên về nhà khó ôn bài.

- Tiết học lệ thuộc vào CNTT làm cho kiến thức nặng tính sách vở, xa rời thực tếcuộc sống

- Một số GV khi ứng dụng CNTT lấn át trí tưởng tượng phong phú của học sinh,

“qui đồng” tất cả tâm hồn, suy nghĩ, tượng tượng của người học, một số hiệu ứng làm mờlòa nội dụng bài học, một vài hình hình ảnh không chuẩn xác làm cho học sinh hiểu saikiến thức hoặc hiểu meo mó hình tượng văn học

5 Tổ chức triển khai và quản lý ứng dụng CNTT

Việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin ở trường thường gặp rất nhiều khókhăn Ngoài khó khăn về tài chính, cơ sở vật chất, trình độ công nghệ thông tin của cán

bộ nhân viên, còn có các khó khăn khác như nhận thức của cán bộ, giáo viên và học sinh,

sự quan tâm, ủng hộ của các cấp, của chính quyền

Để tổ chức triển khai và quản lý ứng dụng CNTT có hiệu quả, lãnh đạo nhà trường,Tổ trưởng các tổ chuyên môn cần chú trọng một số vấn đề sau đây:

- Truyên truyền, vận động, định hướng, giúp đỡ và bồi dưỡng kiến thức một cách

cụ thể để nâng cao nhận thức, kiến thức về công nghệ thông tin cho cán bộ, GV và HS

- Làm cho giáo viên, cán bộ nhân viên nhà trường thấy rõ tầm quan trọng của việcứng dụng công nghệ thông tin đối với sự phát triển của nhà trường, vai trò trách nhiệmcủa mỗi người trong việc ứng dụng công nghệ thông tin Tạo được sự thống nhất về chủtrương, kế hoạch trong toàn nhà trường

- Mạnh dạn thể nghiệm các mô hình ứng dụng CNTT nhằm rút ra các kinh nghiệm,chỉ ra được hiệu quả trong lĩnh vực này

Trang 4

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC TÍCH CỰC

CHO BỘ MÔN TIN HỌC THPT

Giáo viên: Trần Thị Kim Hoa

Tổ Vật lý – CN – Tin học – THPT Hòa Bình

I SỰ CẦN THIẾT ỨNG DỤNG CNTT TRONG DẠY HỌC CỦA BỘ MÔN TIN

Mục đích của quá trình dạy học là quá trình truyền thụ tri thức từ người dạy đếnngười học, làm cho học sinh nắm vững hệ thống những tri thức phổ thông cơ bản, hiệnđại, phù hợp với thực tiễn nước ta về tự nhiên, xã hội và tư duy, đồng thời rèn luyện chohọc sinh hệ thống kĩ năng, kĩ xảo tương ứng Để truyền đạt tri thức đến cho học trò,người giáo viên sử dụng nhiều phương pháp khác nhau nhằm đem lại hiệu quả cao nhất Mộttrong những giải pháp quan trọng là đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) theo hướng pháthuy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh (phương pháp dạy học tích cực)

Một công cụ hỗ trợ đắc lực cho phương pháp dạy học tích cực là công nghệ thôngtin (CNTT) CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩthuật hiện đại Ngày nay, việc ứng dụng CNTT vào dạy học là nhu cầu cấp thiết trongdạy học nói chung, dạy học bộ môn tin học nói riêng Với môn Tin học, việc ứng dụngCNTT vào dạy học lại càng cần thiết hơn vì nó giúp giáo viên có thể cung cấp, giới thiệucho học sinh nhiều nguồn thông tin khác nhau để học sinh tự tìm ra tri thức cho bản thân

và cũng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh

II CƠ SỞ LÝ LUẬN

Vấn đề ứng dụng CNTT trong giáo dục được Đảng và Nhà nước rất coi trọng, yêucầu đổi mới PPDH có sự hỗ trợ của các phương tiện kĩ thuật hiện đại là điều hết sức cầnthiết Các Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Chính phủ, Bộ Giáo dục – Đào tạo đãthể hiện rõ điều này, như:

- Chỉ thị số 29/2001/CT-BGD&ĐT ngày 30/7/2001 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục vàĐào tạo về việc tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trongngành giáo dục giai đoạn 2001 – 2005 nêu rõ “CNTT là phương tiện để tiến tới một xãhội hóa học tập”, nhưng “giáo dục và đào tạo phải đóng vai trò quan trọng bậc nhất thúcđẩy sự phát triển của CNTT ”

- Chỉ thị số 55/2008/CT-BGDĐT ngày 30/9/2008 về tăng cường giảng dạy, đào tạo

và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2008 – 2012

- Công văn 4937/BGDĐT-CNTT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫnthực hiện nhiệm vụ công nghệ thông tin năm học 2010 - 2011

- Thông tư số 08/2010/TT-BGDĐT ngày 01/03/2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục

và Đào tạo quy định về sử dụng phần mềm tự do mã nguồn mở trong các cơ sở giáo dục

- Điều 28 của Luật giáo dục sửa đổi (2005) nêu rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.”

Trang 5

III THỰC TRẠNG VIỆC ỨNG DỤNG CNTT TRONG DẠY HỌC CỦA BỘ MÔN TIN HỌC TRƯỜNG THPT HÒA BÌNH

+ Máy chiếu: 5 máy cho toàn trường

+ Chưa có phòng chức năng riêng nên việc sử dụng các phương tiện dạy học cònhạn chế Khi muốn dạy học ứng dụng CNTT, GV phải tháo và lắp máy chiếu tại lớphọc mình dạy Dẫn đến việc ứng dụng CNTT trong dạy học chưa được sử dụng mộtcách thường xuyên, liên tục trong quá trình dạy học Giáo viên dạy học sử dụngCNTT trong các tiết hội thảo, hội giảng, tiết thanh tra hay tiết chuyên đề là chủ yếu

- Phần lớn giáo viên rất ngại việc sử dụng CNTT trong dạy học vì thiết kế một bàigiảng điện tử công phu đạt hiệu quả trong các giờ học, đòi hỏi phải mất nhiều thờigian chuẩn bị Do đó, các bài giảng điện tử thông thường được download từ mạnginternet về chỉnh sửa hoặc tự thiết kế và chủ yếu là trình chiếu nội dung bài học, chấtlượng chưa cao, chưa phát huy được điểm mạnh của CNTT Có rất ít những giáo ánđược tích hợp Multimedia, các tư liệu cần thiết cho mỗi bài giảng

IV BIỆN PHÁP ỨNG DỤNG CNTT TRONG DẠY HỌC TÍCH CỰC CHO BỘ MÔN TIN HỌC THPT

1 Phương pháp dạy học tích cực

Phương pháp dạy học tích cực (PPDH tích cực) là một thuật ngữ rút gọn, đượcdùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huytính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học PPDH tích cực hướng tới việc hoạtđộng hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vàophát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tínhtích cực của người dạy Do đó, PPDH tích cực không phải là một PPDH cụ thể nào,

mà bao gồm nhiều PPDH, hình thức tổ chức và kĩ thuật dạy học khác nhau, nhằmtăng cường sự tham gia của người học, tạo điều kiện phát triển tối đa khả năng họctập, năng lực giải quyết vấn đề của người học Từ đó đem lại niềm say mê, hứng thútrong học tập và nghiên cứu cho người học

Các dấu hiệu đặc trưng của PPDH tích cực:

Trang 6

* Dạy học thông qua các tổ chức hoạt động của HS và chú trọng rèn luyện

phương pháp tự học

* Tăng cường hoạt động học tập của mỗi cá nhân, phân phối với hợp tác

* Dạy và học tích cực quan tâm chú trọng đến hứng thú của người học, nhu cầu

và lợi ích của xã hội

* Dạy và học coi trọng hướng dẫn tìm tòi

* Kết hợp đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò

2 Công nghệ thông tin trong dạy học tích cực

Ứng dụng CNTT vào dạy học là một quá trình thường xuyên, liên tục theo từnggiai đoạn, từ việc tiếp cận công nghệ, bồi dưỡng kĩ năng Các giáo viên đã được tậphuấn về CNTT cần phải hiểu rằng đạt được kĩ năng CNTT, điều đó có nghĩa khôngnhững giáo viên mà người học cũng cần phải biết cách làm việc với các phương tiện

và công nghệ Một yếu tố quan trọng khác là tập huấn về phương pháp sử dụngCNTT trong dạy & học Bồi dưỡng kĩ năng cũng như bồi dưỡng về mặt phương pháp

là những yếu tố bắt buộc của quá trình phát triển chuyên môn liên tục để có thể tự tin

sử dụng CNTT trong dạy học Tất nhiên giáo viên cần có hiểu biết sâu sắc về nộidung họ đang giảng dạy

Theo Mô hình TPACK (Teachnological pedagogical content knowledge - Kiếnthức nội dung, phương pháp và công nghệ) đưa ra cách nhìn tổng quát về ba dạng cơbản của kiến thức mà một giáo viên cần có để ứng dụng CNTT vào việc dạy học củamình: kiến thức công nghệ (TK), kiến thức phương pháp (PK) và kiến thức nội dung(CK), cũng như mối quan hệ và tương tác giữa chúng

Mô hình TPACKMột giáo viên có khả năng kết hợp được cả ba dạng cơ bản của kiến thức trong dạyhọc sẽ đạt được kết quả cao trong giảng dạy

3 Biện pháp ứng dụng CNTT trong dạy học tích cực

3.1 Công cụ soạn bài tập thực hành & luyện tập

Mục đích của thực hành và luyện tập là giúp người học ghi nhớ thông tin Nó làmột dạng bài tập tự động Trong hoạt động thực hành và luyện tập, các câu hỏi được đưa

ra, người học trả lời và phần mềm cung cấp đáp án và phản hồi

Hoạt động thực hành và luyện tập có thể được sử dụng trong các bài dạy môn tinhọc ở các gia đoạn khác nhau của quá trình dạy học:

Trang 7

Giớ thiệu bài học mới: định hướng cho các em vào một vấn đề cụ thể của bài học,

từ đó kích thích trí tò mò, tập trung hơn của học sinh vào bài giảng

Sử dụng trong giờ học: các bài tập thực hành & luyện tập ngắn có thể cung cấpngay cho giáo viên phản hồi về sự tiếp thu kiến thức của học sinh

Ôn tập và đánh giá kết quả học tập: kiểm tra kiến thức đã học, củng cố kiến thứccủa từng bài, từng chương của môn tin Phương pháp này hỗ trợ giáo viên kiểm tra kiếnthức và kĩ năng của học sinh vào đầu giờ học và so sánh với kết quả cuối giờ học Kiểmtra trắc nghiệm là một công cụ nhanh chóng và dễ sử dụng để đánh giá học sinh có đạtđược một mục tiêu cụ thể nào không Các câu hỏi trắc nghiệm nên điều chỉnh sao chokhông sáo mòn, thiết kế đa dạng

Các bài tập thực hành & luyện tập có thể tạo bằng các phần mềm ứng dụng như:

MS PowerPoint hay các phần mền chuyên biệt: Hot Potatoes, Violet hoặc ExE Learning(Adobe Presenter, Adobe Captivate, iSpring Presenter, Lecture Maker…) cho phép tạocác bài tập khác nhau như bài tập ô chữ, câu đố, bài tập sắp xếp, bài tập điền khuyết, bàitập trắc nghiệm, v.v

Một số ví dụ:

+ Bài tập ô chữ (Mạng máy tính – tin học 10): phần mềm MS PowerPoint

+ Bài tập tương tác (Kiểu xâu – tin học 11): phần mềm Adobe Presenter

+ Bài tập kéo thả (Làm việc với bảng – tin học 10): phần mềm Violet

3.2 Công cụ trình chiếu

Trang 8

Trình chiếu là một trong những tiết kế thúc đẩy công nghệ phổ biến nhất vì thiết kếnày có thể hỗ trợ hướng dẫn trực tiếp và các phương pháp giảng dạy Chương trình trìnhchiếu hỗ trợ giáo viên cũng như học sinh dễ dàng tiếp cận ý tưởng mới qua thông tin trựcquan Nó là công cụ hỗ trợ giáo viên chuyển tải thông điệp.

Trình chiếu có thể sử dụng trong các phần khác nhau của bài giảng, với các mụcđích khác nhau:

Để giới thiệu các bài học mới: một hoạt động khởi động, thông báo cho học sinhmục tiêu của bài học, để nhớ lại bài học cũ

Giúp người học đạt được kiến thức mới: giới thiệu các khái niệm mới, hướng dẫnhọc tập, cung cấp thông tin phản hồi

Ôn tập và đánh giá kết quả học tập: củng cố kiến thức của học sinh, tổng quan hóabài học và để tổng kết

Một số lưu ý khi sử dụng trình chiếu:

+ Có thể tạo ra sự quá tải về thông tin, dẫn đến quá tải về mặt thời gian và cuốicùng là người học trở nên bị động

+ Đôi khi các yếu tố trực quan của bài trình chiếu trở nên quan trọng hơn nội dung

và hoạt động học tập Có một số giáo viên thường trú trọng bài trình bày trông như thếnào hơn là học sinh tích cực học tập như thế nào

+ Để tăng hiệu quả của trình chiếu và tránh cho học sinh bị động, giáo viên cầnphải xây dựng nhiều hoạt động đa dạng song song với trình chiếu

+ Chú ý đến: thời gian trình chiếu, màu sắc cho trang trình chiếu, font chữ và sizechữ phải phù hợp, hạn chế số lượng chữ trên mỗi trang chiếu, không nên sử dụng quánhiều hiệu ứng để tránh làm sao lãng sự tập trung của học sinh vào nội dung chính

Một số phần mềm trình chiếu phổ biến: MS PowerPoint hoặc các phầnmềm/chương trình mã nguồn mở (Open Impress từ bộ Open Office)

3.3 Công cụ tạo sơ đồ tư duy

Sơ đồ tư duy là một hình thức “ghi chép” đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự

tư duy tích cực, nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung,

hệ thống hóa kiến thức của một chủ đề, các cách giải một dạng bài tập,…

Sơ đồ tư duy có thể được tạo ra bằng nhiều cách khác nhau:

+ Cách truyền thống: dùng bút chì, bút màu, giấy bìa, phấn màu, bảng đen,…+ Ứng dụng công nghệ thông tin: các phần mềm ứng dụng MS PowerPoint, MSWord hay các phần mềm chuyên biệt Freemind, Inspiration hay iMindMap

Sơ đồ tư duy là một sơ đồ rất mở, không yêu cầu tỉ lệ Khi sử dụng giáo viên có thểthêm hoặc bớt đi các nhánh Cùng một chủ đề, nhưng mỗi người có thể “thể hiện” sơ đồ

tư duy theo cách riêng thông qua dùng màu sắc, hình ảnh, cụm từ diễn đạt Do đó, sửdụng sơ đồ tư duy sẽ phát huy được tối đa năng lực sáng tạo của người dạy và người học

Đối với môn tin học giáo viên có thể vận dụng sư đồ tư duy để hỗ trợ dạy học cácdạng bài tìm hiểu kiến thức mới, bài ôn tập, củng cố, hệ thống hóa kiến thức cho học sinhsau mỗi bài học, mỗi chương hay học kì

GV có thể hướng dẫn cho học sinh sử dụng sơ đồ tư duy trong hoạt động dạy học, như:

Trang 9

+ Tìm hiểu nội dung chủ đề mới: giáo viên cung cấp chủ đề cho học sinh, yêu cầucác em liệt kê các ý tưởng quanh chủ đề đó.

+ Để học sinh tiếp thu kiến thức: giáo viên yêu cầu các em thống kê, hệ thống cácvấn đề cơ bản mà các em vừa được học bằng sơ đồ tư duy giúp các em củng cố bước đầu,khắc sâu trọng tâm bài học

+ Để kiểm tra đánh giá kết quả học tập: giáo viên yêu cầu các em vẽ sơ đồ tư duy

về một chủ đề học tập, qua đó giúp giáo viên đánh giá được mức độ lĩnh hội kiến thứccủa của em

Ví dụ sử dụng sơ đồ tư duy củng cố kiến thức “Bài 18: Các công cụ trợ giúp soạnthảo - tin học 10”

3.4 Công cụ mô phỏng

Mô phỏng trên máy tính biểu diễn các hiện tượng trong sự phối hợp với màu sắc,hình ảnh, âm thanh, lời giải thích, tạo sự cuốn hút học sinh, kích thích hứng thú học tập,tạo cho học sinh chú ý tiếp thu kiến thức mới Do đó hiệu quả bài giảng và chất lượngtiếp thu kiến thức của học sinh được nâng cao hơn

Một số phần mềm xây dựng mô hình mô phỏng: MS Excel, MS PowerPoint,Adobe Flash, Marcomedia Flash MX

Trong môn tin học, có thể sử dụng phần mềm Flash để xây dựng mô hình môphỏng động giúp học sinh dễ tiếp thu kiến thức

Ví dụ: Sử dụng Flash xây dụng mô hình mô phỏng thuật toán tìm Max “bài 4: Bàitoán và thuật toán – tin học 10”

3.5 Công cụ quay phim làm tư liệu phục vụ bài giảng

Trong quá trình hướng dẫn cho học sinh về cách cài đặt và cách sử dụng mộtchương trình hay những thao tác về các bài giảng trong môn tin học, ngoài những hìnhảnh cũng như ngôn từ thì việc sử dụng video để hướng dẫn cho học sinh học tập và thựchành là cần thiết Các clip này sẽ giúp tăng tính độc lập và sự tự tin cho học sinh, giúpgiáo viên giảm đi đáng kể thời gian trả lời những thắc mắc của học sinh mà đôi khi đi quá

xa so với những điều căn bản

Trang 10

Một số phần mềm có khả năng ghi lại những hình ảnh, những thao tác trên màn hình và xuất radạng video mà giáo viên có thể sử dụng: ActivePresenter, Camtasia Studio, Snagit …

V KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

1 Kết luận

Ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung và trong dạy học tích cực nói riêng tạođiều kiện thuận lợi để học sinh tự đổi mới phương pháp học tập, tự chủ hành động xâydựng kiến thức, đồng thời phát huy được vai trò tương tác của tập thể lớp đối với quátrình nhận thức của mỗi học sinh Song để thực sự sử dụng một phương tiện dạy học đatác dụng thì đòi hỏi giáo viên phải tự rèn luyện, tự học nhiều hơn, phải sử dụng thànhthạo máy vi tính, nâng cao kĩ năng về soạn giảng giáo án điện tử và các kĩ năng sư phạm,phải biết kết hợp tất cả các yếu tố truyền thống cũng như hiện đại để tổ chức hoạt độngdạy – học đạt kết quả cao

2 Khuyến nghị

Việc ứng dụng công nghệ thông tin nhằm đổi mới nội dung, phương pháp dạy học

là một công việc lâu dài, khó khăn đòi hỏi rất nhiều điều kiện về cơ sở vật chất, tài chính

và năng lực của đội ngũ giáo viên Do đó, để đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả ứng dụngCNTT vào dạy học tích cực cho giáo viên trong nhà trường, tôi xin có một số khuyếnnghị:

- Nhà trường cần trang bị cở sở vật chất, trang thiết bị CNTT đáp ứng tốt nhu cầudạy và học của giáo viên, học sinh

- Thường xuyên tổ chức hơn nữa các đợt tập huấn về ứng dụng CNTT vào dạy học,

mở các hội nghị, hội thảo, các buổi tọa đàm, thảo luận …vê chủ đề ứng dụng CNTT trongdạy học

- Mở rộng, nâng cấp website của trường, thêm các chuyên mục liên quan đến vấn đềứng dụng CNTT trong dạy học, giúp giáo viên có thể trao đổi chuyên môn, thảo luận,trình bày ý kiến, đánh giá ý kiến của giáo viên, học sinh về ứng dụng CNTT trong dạyhọc, biến trang web của trường trở thành diễn đàn lớn dành cho giáo viên, học sinh

- Bản thân mỗi giáo viên phải nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc ứng dụngCNTT vào dạy học, không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao kĩ năng CNTT, kĩ năng ứngdụng CNTT của mình

- Mỗi giáo viên cần chú trọng gắn việc ứng dụng CNTT vào dạy học với việc đổimới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học theo hướng phát huy tính tích cực

và năng lực hướng tới của học sinh

Trang 11

THAM LUẬN Ứng Dụng Công Nghệ Thông Tin Trong Bộ Môn Tin Học

GV: Trương Thị Nam Thủy

Tổ Vật lý – Công nghệ - Tin học

Xuất phát từ các văn bản chỉ đạo của Đảng và nhà nước, nhất là chỉ thị 58-CT/UW của

Bộ Chính Trị ngày 07 tháng 10 năm 2000 về việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT phục vụ sựnghiệp Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa đã chỉ rõ trọng tâm của ngành giáo dục là đào tạonguồn nhân lực về CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo,hiện nay trường chúng ta đã đáp ứng cơ sở vật chất phục vụ tốt việc ứng dụng CNTT

II CƠ SỞ LÍ LUẬN

Từ năm học 2006 - 2007, Tin học đã là bộ môn học bắt buộc ở khối THPT Vì vậy,100% các trường THPT trên toàn quốc đã được trang bị máy tính và một số trang thiết bịCNTT hiện đại khác để phục vụ giảng dạy

Bản thân tôi cũng đã ứng dụng để soạn giáo án điện tử, xây dựng các mô phỏngthuật toán, chạy các chương trình, các câu lệnh, yêu cầu học sinh tìm hiểu nội dung rồitrình bày kiến thức dưới dạng một sản phẩm công nghệ

Như vậy, mục tiêu cuối cùng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học lànâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập cho học sinh, tạo ra một môi trường giáodục mang tính tương tác cao chứ không đơn thuần chỉ là “thầy đọc, trò chép”, học sinhđược khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quátrình tự học tập, tự rèn luyện của bản thân mình

Ưu điểm (so với phương pháp truyền thống)

- Môi trường đa phương tiện kết hợp những hình ảnh video, camera … với âmthanh, văn bản, biểu đồ … được trình bày qua máy tính theo kịch bản vạch sẵn nhằm đạthiệu quả tối đa qua một quá trình học đa giác quan

- Kĩ thuật đồ hoạ nâng cao có thể mô phỏng nhiều quá trình, hiện tượng trong tự nhiên,

xã hội trong con người mà không thể hoặc không nên để xảy ra trong điều kiện nhà trường

Ví dụ: mô phỏng các thí nghiệm nguy hiểm, độc hại: axit; thí nghiệm với bạc, vàng Film về thế giới động vật

- Những ngân hàng dữ liệu khổng lồ và đa dạng được kết nối với nhau và vớingười sử dụng qua những mạng máy tính, kể cả Internet … có thể được khai thác để tạonên những điều kiện cực kì thuận lợi và nhiều khi không thể thiếu để học sinh học tập

- Những thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh: kênh hình, kênh chữ, âmthanh sống động làm cho học sinh dễ thấy, dễ tiếp thu và bằng suy luận có lý, học sinh có thể

có những dự đoán về các tính chất, những quy luật mới

Trang 12

Rõ ràng, CNTT chắc chắn có những tác động tích cực tới sự phát triển trí tuệ của học sinh.

Nhược điểm:

- Tuy máy tính điện tử mang lại rất nhiều thuận lợi cho việc dạy học nhưng trongmột mức độ nào đó thì công cụ hiện đại này cũng không thể hỗ trợ giáo viên hoàn toàntrong các bài giảng của họ Nó chỉ thực sự hiệu quả đối với một số bài giảng chứ khôngphải toàn bộ chương trình

VD: những bài học có nội dung ngắn, không nhiều kiến thức mới, thì việc dạy theophương pháp truyền thống sẽ thuận lợi hơn cho học sinh, vì giáo viên sẽ ghi tất cả nộidung bài học đó đủ trên một mặt bảng và như vậy sẽ dễ dàng củng cố bài học từ đầu đếncuối mà không cần phải lật lại từng “slide” như khi dạy trên máy tính điện tử

- Kiến thức, kỹ năng về công nghệ thông tin ở một số giáo viên vẫn còn hạn chế,thậm chí còn né tránh

- Việc sử dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy học chưa được nghiên cứu kỹ,dẫn đến việc ứng dụng nó không đúng chỗ, không đúng lúc, nhiều khi lạm dụng

- Tính đến thời điểm này, vẫn chưa có một loại giáo trình hay tài liệu nào dùng đểhướng dẫn sinh viên các trường sư phạm hoặc giáo viên phổ thông về việc ứng dụngCNTT như thế nào để đạt hiệu quả cao trong giảng dạy

- Các lớp bồi dưỡng về CNTT còn ít và chất lượng chưa cao

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy học, đặc biệt là phục vụ cho việcdạy tin học và ứng dụng CNTT của nhà trường còn nhiều hạn chế: Thiếu các phòng họcchức năng; số máy tính phục vụ cho học tin học của học sinh còn ít (chỉ có 02 phòng với

40 máy tính) Được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp cùng với sự tích cực tham mưu củanhà trường, đến nay tình trạng cơ sở vật chất về tin học và công nghệ thông tin của nhàtrường đã được cải thiện đáng kể: Số máy tính phục vụ cho văn phòng BGH, phòngchuyên môn, giáo viên, kế toán, thư viện là 08 máy; phục vụ cho dạy học là 40 máy.Trong đó tất cả các máy đều được nối mạng Internet Nhà trường có 04 máy chiếuprojector, 06 máy in, 02 máy photo và một số phương tiện khác

IV BIỆN PHÁP

1.Công tác bồi dưỡng giáo viên

Xác định Con người là một trong những yếu tố hàng đầu quyết định sự thành côngtrong việc ứng dụng CNTT vào trong quản lý và giảng dạy Do đó, nhà trường đặc biệt

Trang 13

CNTT cho đội ngũ giáo viên Để hiểu rõ trình độ và kỹ năng Tin học của đội ngũ, ngoàiviệc tìm hiểu hồ sơ giáo viên, nhà trường đã tiến hành khảo sát thực tế Kết quả cho thấy100% giáo viên có chứng chỉ Tin học từ A trở lên nhưng trong đó kỹ năng sử dụng máytính của một số giáo viên còn hạn chế.

2 Công tác xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị

- Nhà trường luôn cố gắng bố trí sắp xếp khoa học để khai thác hiệu quả và sửdụng tối đa số trang thiết bị hiện có

- Các máy chiếu nên được lắp đặt cố định trên lớp học, tiện cho giáo viên sử dụng

- Khuyến khích cán bộ giáo viên trong nhà trường kết nối Internet theo chươngtrình khuyến mại dành riêng cho ngành giáo dục;

- Song song với việc khai thác sử dụng, nhà trường luôn chú trọng khâu quản lý cơ

sở vật chất, trang thiết bị như: giao trách nhiệm cụ thể cho các bộ phận, thường xuyên bảodưỡng, quan tâm bồi dưỡng kiến thức cho người sử dụng với phương châm “ giữ tốt-dùng bền” nhằm khai thác tối đa, có hiệu quả trang thiết bị được cung cấp

3 Các hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học

- Đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT nhằm đổi mới phương pháp dạy và học theohướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh, giáo viên tích hợp CNTT vào từngmôn học thay vì chỉ được học trong môn Tin học Mỗi giáo viên dạy trung bình ít nhất 1tiết có ứng dụng CNTT/ tháng, hàng tháng cán bộ phụ trách thiết bị báo cáo tổng hợp sốtiết dạy học có ứng dụng CNTT của mỗi giáo viên Chuyên môn nhà trường chú trọng dựgiờ thăm lớp, rút kinh nghiệm và tổ chức sinh hoạt chuyên môn trao đổi về cách ứngdụng CNTT một cách chọn lọc, phù hợp với đối tượng, nhằm phát huy có hiệu quả tácdụng của phương tiện, tránh lạm dụng quá mức

Các hình thức sử dụng hiệu quả được nhiều giáo viên sử dụng là: Dạy trình chiếuvới cách thiết kế các sile về hình thức gần giống với bảng truyền thống (màu sắc, cáchchia bảng, cách trình bày đầu bài, đề mục, ); sử dụng máy chiếu như là phương tiện hỗtrợ cung cấp kênh hình với nhiều hình ảnh sinh động, âm thanh, video mà không phảimang vác nhiều tranh ảnh, bảng phụ, máy móc thiết bị khác; CNTT với nhiều phần mềmtiện ích là công cụ hỗ trợ đắc lực cho GV trong công tác soạn bài, quản lý điểm, đánh giáxếp loại học sinh… được tiện lợi và nhanh chóng

- Tham gia lập và sử dụng “nguồn học liệu mở” về đề thi, giáo án, tài liệu tham khảo trênwebsite của Bộ, Sở và các trường bạn, tài nguyên dùng chung trên website của trường

- Đẩy mạnh việc khai thác tài nguyên trên mạng Internet phục vụ công tác quản lý

và giảng dạy của CBGV thông qua bồi dưỡng, tập huấn, cung cấp địa chỉ hoặc mở liênkết với trang web của trường

- Tăng cường việc khai thác sử dụng hệ thống thư điện tử để tăng tiện ích, hiệu quả trongtrao đổi cập nhật thông tin Yêu cầu mỗi GV lập và đăng ký một địa chỉ mail cố định với nhàtrường

- Xây dựng và triển khai kế hoạch tham gia thi giờ dạy có ứng dụng CNTT

- Không lạm dụng công nghệ nếu chúng không tác động tích cực đến quá trình dạyhọc và sự phát triển của học sinh, công nghệ mô phỏng nếu không phản ánh đúng nộidung, giá trị nghệ thuật và thực tế thì không nên sử dụng

Trang 14

- Giáo viên cần học, tập huấn các lớp soạn, giảng bài giảng điện tử, thường xuyên

truy vào các trang web và thành viên của diễn đàn: bachkim.vn, dayhocintel.org, giaovien.net, moet.edu.vn, …

- Khi thiết kế bài giảng điện tử, cần chuẩn bị trước kịch bản, tư liệu (Video, hìnhảnh, bảng đồ, ….), chọn giải pháp cho sử dụng công nghệ, sau đó mới bắt tay vào soạn

giảng Nếu sử dụng MS PowerPiont thì cần lưu ý về Font chữ, màu chữ và hiệu ứng thích

hợp (hiệu ứng đơn giản, nhẹ nhàng tránh gây mất tập trung vào nội dung bài giảng)

4 Phương tiện CNTT ứng dụng cho bài giảng trên lớp thường gồm:

- Máy móc, thiết bị điện tử

- Phần mềm trình chiếu như powerpoint (đơn giản và thuận tiện nhất) hay một sốphần mềm trình chiếu khác Đây là dạng phổ biến nhất hiện song hay nhầm lẫn gọi đây làgiáo án điện tử Vì vậy việc sử dụng powerpoint soạn bài, có thể gọi là bản trình chiếu

- Các phần mềm dạy học như phần mềm thí nghiệm ảo, soạn bài giảng violet, adobe presenter, mô phỏng flash, phần mềm quay phim camtasia, snap it…

- Các công cụ thể hiện multimedia Một sản phẩm, một phần mềm, một thiết bị tinhọc được cho là multimedia khi nó cho phép khai thác thông tin đa thức, nhiều kiểu như:văn bản văn bản (text), âm thanh (sound), tiếng nói (voice), hình ảnh tĩnh (image), video-clip, hình động (animation), đồ hoạ (graphic)

5 Kiểm tra, đánh giá

Giáo viên cũng có thể sử dụng các phần mềm trên để kiểm tra bài cũ của học sinh.Thông qua các trò chơi ô chữ, kéo thả chữ giáo viên cũng có thể tổ chức vào các buổikiểm tra miệng, sinh hoạt lớp

V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

- Ứng dụng CNTT trong dạy học không phải là một phương pháp mà chỉ là sự hỗtrợ đổi mới phương pháp dạy học bằng các công cụ, phương tiện CNTT Do đó điều cầntránh là tuyệt đối không thể đồng nhất việc thực hiện tiết dạy có ứng dụng CNTT với bàitrình chiếu powerpoint đơn thuần

- Cần tránh việc lạm dụng ứng dụng CNTT mà không xem xét kĩ những nội dungnào cần thiết và khi nào cần thiết, hoặc loại bỏ hẵn những phương tiện khác

- Việc ứng dụng CNTT trong một tiết dạy-học không có nghĩa là thời lượng toàn

bộ tiết dạy-học chỉ dành duy nhất cho ứng dụng CNTT Giáo viên cần linh hoạt sử dụngphương tiện CNTT hay phương tiện truyền thống khác trong tiết dạy-học khi nào xét thấycần thiết và hiệu quả

Ứng dụng CNTT vào giảng dạy ban đầu là một bài toán khó với giáo viên, nhưngqua một thời gian không dài, chủ trương này đã cho thấy hiệu quả tích cực khi CNTTmang lại cho cả thầy và trò không gian mới nhiều hứng thú trong lớp học Với sự hỗ trợcủa máy tính và một số phần mềm dạy học cùng các thiết bị đi kèm, giáo viên có thể tổchức tiết học một cách sinh động, các bài giảng không chỉ mang hơi thở cuộc sống hiệnđại gần gũi hơn với học sinh mà còn giúp cả người dạy và người học được tiếp xúc vớicác phương tiện hiện đại, làm giàu thêm vốn hiểu biết của mình

Do đó, để đẩy mạnh việc ứng dụng và phát triển CNTT trong dạy học có hiệu quả

Trang 15

vào cuộc thực sự của mỗi nhà trường và đặc biệt là sự nhiệt tình, nỗ lực học hỏi, rút kinhnghiệm của bản thân mỗi giáo viên Cần cung cấp cho họ “công cụ” để họ bớt khó khăntrong việc chuẩn bị bài lên lớp Theo tôi, công cụ này bao gồm : Tài liệu hướng dẫnphương pháp dạy học có ứng dụng CNTT, kho tư liệu hình ảnh thực (đoạn phim ngắn)hoặc hình ảnh mô phỏng các thí nghiệm khó, đồng thời giới thiệu các phần mềm có thểứng dụng hoặc các trang web để truy cập khai thác thông tin phục vụ việc dạy học Ngườithiết kế thư viện tư liệu hình ảnh không những phải giỏi về lĩnh vực CNTT mà còn phảinắm vững về phương pháp dạy học Chính vì vậy, không phải giáo viên nào cũng tự mìnhthiết kế được các thí nghiệm mô phỏng hoặc các hình ảnh phục vụ bài giảng Để có đượcphần mềm cũng như bộ tài liệu và kho tư liệu hình ảnh có chất lượng tốt, đáp ứng nhu cầudạy học theo chương trình, các cơ quan có chức năng về sản xuất đồ dùng dạy học cầnkhẩn chương tìm hiểu nhu cầu thị trường, sản xuất và cung ứng kịp thời về các địaphương Nếu giáo viên được trang bị những công cụ này thì họ chỉ cần đầu tư thời gian đểthiết kế bài giảng sao cho phù hợp với đối tượng học sinh và cơ sở vật chất của nhàtrường Đồng thời họ cũng định hướng được việc sử dụng các trang thiết bị CNTT chophù hợp với bài học và yêu cầu sư phạm Tránh được hiện tượng "nhìn chép" hoặc "chiếuchép " như đã từng xảy ra ở một số nơi có ứng dụng CNTT như hiện nay.

Trang 16

ỨNG DỤNG CNTT TRONG VẤN ĐỀ

SOẠN GIẢNG VÀ DẠY HỌC MÔN HÓA HỌC

Đặng Xuân Huy

Tổ Hóa – Sinh trường THPT Hòa Bình

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Ngày nay, khi công nghệ thông tin (CNTT) càng phát triển thì việc ứng dụngCNTT vào tất cả các lĩnh vực là một điều tất yếu Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, CNTTbước đầu đã được ứng dụng trong công tác quản lý, một số nơi đã đưa tin học vào giảngdạy, học tập Tuy nhiên, so với nhu cầu thực tiễn hiện nay, việc ứng dụng CNTT tronggiáo dục ở các trường nước ta còn rất hạn chế Chúng ta cần phải nhanh chóng nâng caochất lượng, nghiệp vụ giảng dạy, nghiệp vụ quản lý, không nên từ chối những gì có sẵn

mà lĩnh vực CNTT mang lại, nên biết cách tận dụng nó, biến nó thành công cụ hiệu quảcho công việc của mình,mục đích của mình

Hơn nữa, đối với GD & ĐT, CNTT có tác dụng mạnh mẽ, làm thay đổi nội dung,PPDH CNTT là phương tiện để tiến tới “xã hội học tập” Mặt khác, GD & ĐT đóng vaitrò quan trọng thúc đẩy sự phát triển của CNTT thông qua việc cung cấp nguồn nhân lựccho CNTT Bộ GD & ĐT cũng yêu cầu “đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong GD & ĐT ở tất

cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng dẫn học CNTT như là một công cụ hỗ trợđắc lực nhất cho đổi mới PPDH ở các môn”

Trong quá trình dạy học hầu hết các giáo viên đều thấy khó khăn trong khâu giảngdạy những kiến thức trừu tượng, những phần mà học sinh không thể hoặc không có điềukiện để quan sát trực tiếp Ngày nay, với sự tiến bộ vượt bậc của KH – KT, đặc biệt là sự

ra đời của máy vi tính đã làm cho quá trình nhận thức của học sinh trở nên đơn giản hơnthông qua những bài giảng điện tử mà giáo viên đã chuẩn bị Việc sử dụng máy vi tínhngày nay không còn xa lạ với giáo viên Tuy nhiên, để soạn giảng được một bài học cóứng dụng CNTT đòi hỏi người giáo viên phải sử dụng thành thạo máy vi tính và biết một

số phần mềm để sử dụng trong quá trình dạy học

Mặt khác, hóa học là một môn khoa học thực nghiệm, thí nghiệm hóa học giữ vaitrò đặc biệt quan trọng trong quá trình Dạy - Học Tuy nhiên, trong hóa học có nhiều kháiniệm khó và trừu tượng, nhiều phản ứng diễn ra quá nhanh hoặc quá chậm, diễn tiến củacác quá trình và hiện tượng rất khó quan sát, một số thí nghiệm lại độc hại, nguy hiểmvv Vì vậy rất cần có sự hỗ trợ của CNTT

Nhưng làm thế nào để ứng dụng CNTT hiệu quả trong các tiết dạy đó là vấn đề màbất cứ một môn học nào cũng gặp phải khi có ý định đưa CNTT vào giảng dạy

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

- Ứng dụng CNTT trong dạy học

- Ứng dụng trong soạn thảo giáo án

- Ứng dụng trong thực hiện bài giảng

- Nghiên cứu các phần mềm tin hóa để sử dụng trong việc mô phỏng các thínghiệm hoá học, vẽ công thức hóa học các chất

- Sử dụng phần mềm đó để mô phỏng các thí nghiệm hóa học

III CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:

1 Tiến hành soạn giảng giáo án và bài giảng điện tử

2 Dạy học ứng dụng CNTT trong các tiết học

3 Phỏng vấn học sinh sau giờ học sử dụng bài soạn giảng giáo án điện tử

4 Dự giờ, thăm lớp những giờ có sử dụng bài soạn giảng giáo án điện tử và nhữnggiờ sử dụng theo phương pháp soạn giảng truyền thống

Trang 17

6 Kiểm tra khả năng tiếp thu bài của học sinh ở những giờ có sử dụng bài soạn giảnggiáo án điện tử và những giờ sử dụng theo phương pháp soạn giảng truyền thống.

IV NỘI DUNG

1 Ứng dụng CNTT trong dạy học

a Ứng dụng trong soạn thảo giáo án

Một trong những ứng dụng của công nghệ thông tin trong dạy học là soạn thảogiáo án Hiện nay có nhiều phần mềm soạn thảo giúp cho giáo viên soạn thảo giáo án,trong đó phần mềm thông dụng nhất hiện nay là MS Word Tuy nhiên, để sử dụng MSword một cách hiệu quả, ngoài thao tác cơ bản, giáo viên cần nắm thêm một số tính năngnâng cao: Chèn tự động đoạn văn bản, trộn thư, tạo thẻ đoạn mục lục, vẽ hình đơn giản.Ngoài ra, có thể biết một số phần mềm bổ trợ: Phần mềm hỗ trợ soạn thảo giáo án môn

Lý, Hóa, Sinh: Novoasoft Science Word 6.0, phần mềm vẽ công thức hóa học, phần mềm

vẽ dụng cụ thí nghiệm môn hóa học,

Bên cạnh soạn giáo án thông thường, tỷ lệ giáo viên sử dụng bản trình chiếu điện

tử trong giảng dạy cũng tăng đáng kể Một trong các phần mềm soạn thảo bản trình chiếuđiện tử thông dụng và đơn giản nhất hiện nay mà giáo viên thường dùng là MSPowerPoint Để có thể soạn được các bản trình chiếu điện tử chất lượng tốt, giáo viên cóthể tìm hiểu thêm một số tính năng nâng cao của PowerPoint: Chèn video clip, chèn âmthanh, tạo ảnh động, biên tập video hay một số phần mềm sau: Adobe Photoshop,Macromedia Flash, Violet

Nhận thức được tầm quan trọng và hiệu quả nhờ ứng dụng CNTT mang lại, một sốtrường, sở giáo dục và đào tạo đã yêu cầu, động viên, khuyến khích giáo viên soạn giáo

án bằng máy vi tính, sử dụng bản trình chiếu điện tử trong dạy học, điều mà cách đâychưa lâu được xem là không cho phép

b Ứng dụng trong thực hiện bài giảng

Một trong các yếu tố để đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạyhọc là phương tiện dạy học Đặc biệt khi sử dụng bài giảng điện tử, giáo viên không thểkhông sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại Công nghệ thông tin và truyền thôngmới đã cung cấp cho chúng ta những phương tiện dạy học hiện đại: Máy chiếu projector,smart board (bảng thông minh), mạng nội bộ, các phần mềm dạy học, các trang web… Để

sử dụng các phương tiện dạy học, giáo viên cần làm chủ phương tiện dạy học, trong đóprojector là thiết bị dạy học phổ biến nhất hiện nay Mặc dù vậy, nhiều giáo viên vẫn còngặp nhiều khó khăn khi sử dụng nó

c Ứng dụng trong khai thác dữ liệu

Để khai thác được các thông tin trên Internet, ta phải sử dụng các công cụ tìmkiếm: google, search.netnam, vinaseek, socbay,… Một trong các công cụ được sử dụngphổ biến và hiệu quả là công cụ tìm kiếm google

Như chúng ta đã biết, để tạo được một bài giảng điện tử tốt, giáo viên cần rất nhiều

kỹ năng: Soạn thảo văn bản, đồ họa, quay phim, chụp ảnh, biên tập video, lồng tiếng…nhưng không phải giáo viên nào cũng có thể thực hiện được Vì vậy, GV cần biết khaithác thông tin trên Internet để tìm kiếm các tư liệu phục vụ cho bài giảng của mình

d Ứng dụng trong đánh giá

Nhờ công nghệ thông tin mà học sinh có thể tự đánh giá kiến thức của mình bằngcác phần mềm trắc nghiệm để từ đó tự bổ sung, hoàn thiện kiến thức

Việc sử dụng các phần mềm thi trắc nghiệm trong đánh giá kết quả học tập của họcsinh mang lại những lợi ích cơ bản sau:

- Thuận tiện trong việc tạo đề thi

- Cho kết quả chính xác, khách quan

Trang 18

- Có các số liệu thống kê, tổng hợp nhanh chóng, chính xác.

- Xây dựng được ngân hàng đề thi để sử dụng nhiều lần

- Có khả năng kiểm tra lượng kiến thức, kỹ năng của toàn bộ chương trình trongmột khoảng thời gian ngắn

e Ứng dụng trong học tập của học sinh

Giáo dục đang thay đổi một cách mạnh mẽ, nhiều phương pháp, quan điểm dạyhọc mới ra đời, hướng tới mục tiêu “dạy ít, học nhiều”, tăng tính chủ động, khả năng tựhọc của người học Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, khối lượng tri thứcđược tạo ra nhanh chóng, đòi hỏi mỗi người phải học thường xuyên, học liên tục, học suốtđời, học mọi lúc, học mọi nơi CNTT và truyền thông đang trở thành phương tiện khôngthể thiếu được để thực hiện các mục tiêu trên Ngoài ra, Công nghệ thông tin và truyềnthông cũng hỗ trợ rất tốt cho việc học tập của học sinh dưới nhiều hình thức:

- Tìm kiếm, tra cứu tài liệu học tập trên mạng internet

- Tham gia các lớp học qua mạng

- Tự đánh giá kiến thức của mình bằng các phần mềm trắc nghiệm

- Chia sẻ thông tin với giáo viên, bạn bè qua các diễn đàn

- Tham gia các cuộc thi trực tuyến (online)

2 Sử dụng phần mềm thiết kế bài trình bày

a Phần mềm Microsoft Powerpoint: Microsoft Powerpoint là phần mềm trình diễn

trong bộ Offiec của hãng Microsoft chuyên cho việc soạn thảo các bài trình bày phục vụhội thảo, hội nghị, giảng dạy,…Ưu điểm chính của Microsoft Powerpoint là: Mạnh vềứng dụng Multimedia, Khả năng tạo hiệu ứng cho các đối tượng tốt, Đơn giản, dễ sửdụng, phù hợp với mọi đối tượng

b Phần mềm Mindmap: Mind Map hay còn gọi là bản đồ tư duy là phương pháp nhận

thức và trình bày vấn đề trên một bình diện phẳng, dựa vào mối liên hệ có tính logic giữacác yếu tố cấu thành vấn đề, thay cho cách thức cũ chủ yếu theo trình tự thời gian Nógiúp chúng ta giải quyết mọi vấn đề đồng bộ, toàn diện và hiệu quả hơn rất nhiều so vớinhững phương pháp thông thường

3 Giới thiệu một số phần mềm trình bày các công thức hóa học

a Phầm mềm CHEMWINDOW

b Chương trình CHEMDRAW ULTRA

- ChemDraw Ultra là phần mềm vẽ và xử lý công thức hóa học tương đối mạnh,là mộtphần trong bộ CS ChemOffice 2004 của CambridgeSoft Corporation, trong bộ này baogồm các chương trình sau:

- ChemDraw Ultra 8.0: chương trình viết công thức hóa học trên mặt phẳng tương đốihoàn chỉnh với nhiều công cụ tiện dụng

- Chem 3D Ultra 8.0 : chương trình chuyển công thức phẳng thành công thức cấu tạo lậpthể trong không gian ba chiều với nhiều tính toán hóa lượng tử

- ChemFinder for Office 8.0 và ChemFinder Ultra 8.0: chương trình tìm kiếm thông tin vềcác chất hóa học và phản ứng hóa học Và nhiều chương trình khác

Ngoài ra chương trình cũng cho phép vẽ các dụng cụ thí nghiệm, và có thể lắpghép các dụng cụ với nhau thành bộ, từ trang vẽ sẵn (Templates) có tên Clipware

Trang 19

c Chương trình HYPERCHEM

Chương trình HyperChem của HyperCube Inc là một chương trình mô phỏng và mô hìnhhóa phân tử cho phép thực hiện các tính toán hóa học phức tạp Màn hình chính củachương trình Hyperchem 7.0 được thể hiện trong hình dưới đây:

Cửa sổ làm việc của chương trình Hyperchem 7.0

4 Chương trình thí nghiệm mô phỏng

a Chương trình Chemlab:Của Model Science Software, chương trình có thể mô phỏng được

một số bài thí nghiệm từ cơ bản đến chuyên sâu phuc vụ cho quá trình dạy học ở bậc phổthông cũng như đại học Các bài thí nghiệm cho chương trình một số được cho miễm phínhưng một số khác cần phải mua mới có được Màn hình làm việc của chương trình Chemlabversion 2.5 xuất hiện như trong hình dưới đây sau khi đã kích hoạt chương trình

Màn hình làm việc của chương trình Chemlab 2.5

b Chương trình Macromedia Flash 8 để mô phỏng một số thí nghiệm hóa học

Macromedia Flash là các công cụ mà bạn có thể dùng để tạo ra các bản trình diễnmultimedia, các website hoặc CD-ROM tương tác và hấp dẫn Flash vượt trội nhờ khả năng vẽ

và tạo hình vector Tuy nhiên, phần mềm này còn có thể được dùng để thao tác hoặc hiển thịcác đồ họa bitmap, chỉnh sửa video hoặc thậm chí thao tác các tập tin âm thanh

Thí nghiệm: Amoniac cháy trong khí oxi

Mô tả thí nghiệm: Khi đốt trong khí oxi, amoniac cháy với ngọn lửa màu vàng, tạo ra khí nitơ và hơi nước: NH O t N H O

2 2 2

4    0 

Trang 20

Amoniac cháy trong khí oxi

V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT:

1.Kết luận

-Với việc nghiên cứu một số phần mềm soạn bài giảng điện tử, vẽ công thức và

mô phỏng thí nghiệm Hóa học THPT, tôi hi vọng sẽ góp phần tích cực vào việc bồidưỡng nhằm nâng cao năng lực khai thác và sử dụng thí nghiệm trong dạy học môn Hóahọc của HS, giáo viên

- Các phần mềm đó thể được sử dụng để đào tạo giáo viên phổ thông, bồi dưỡng đểnâng cao khả năng khai thác và sử dụng thí nghiệm trong dạy học Không loại trừ khảnăng, ở những trường còn thiếu thốn về trang thiết bị thí nghiệm, giáo viên có thể sử dụngphần mềm điện tử này để dạy học ở trên lớp Học sinh có thể sử dụng phần mềm môphỏng thí nghiệm làm tài liệu tự học.- Khi trình chiếu trong giờ dạy học trên lớp, HS hay

tò mò chú ý đến phim, hình ảnh, hiệu ứng mà ít chú ý đến nội dung của bài học và it ghichép những nội dung quan trọng của bài học

2 Một số đề xuất:

Từ thực tế giảng dạy tôi xin đưa ra một số đề xuất và kinh nghiệm trong việc ứng dụngCNTT trong dạy học như sau:

a Chuẩn bị bài giảng có ứng dụng CNTT

- Tùy theo điều kiện thực tế của trường, tùy theo nội dung của bài dạy, có thể lựachọn ứng dụng của tin học vào giảng dạy, không lạm dụng

- Xem xét nội dung bài học, có những nội dung nào cần sự hỗ trợ của CNTT Chỉnên ứng dụng khi dạy các quá trình khó mô tả bằng lời, các đồ thị, phim, biểu đồ, hìnhảnh minh hoạ

- Xây dựng các nguồn học liệu từ các website, các địa chỉ trên internet và bằngcách scan các hình ảnh, sử dụng các đĩa CD, VCD,

b Một số vấn đề cần lưu ý khi lên lớp:

- Khó khăn của HS trong tiết học CNTT là việc ghi bài do đó GV nên ghi bảng nhưnhững tiết dạy bình thường để HS có thể ghi chép được

- Việc sử dụng kênh màu, kênh chữ phải hài hoà, hợp lý, rõ ràng

- Do thời gian dành cho các thao tác thực hành của GV được rút ngắn nên cần lưu

ý tiến độ thực hiện bài dạy phải phù hợp với tốc độ thao tác của HS

Trong khuôn khổ cho phép của bài tham luận tôi đã trình bày những phần còn ít gặp,những phần mang tính chất chuyên biệt áp dụng cho Hóa học trong giảng dạy và nghiêncứu Rất mong nhận được sự phản hồi và góp ý chân thành của quý thầy cô đồng nghiệp

để bài tham luận được hoàn thiện hơn

Trang 21

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN

NGỮ VĂN TẠI TRƯỜNG THPT HÒA BÌNH

Tác giả: Phạm Thị Ý Nguyện Tổ: Ngữ văn

1 Sự cần thiết ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Ngữ văn

Môn Ngữ văn có vị trí quan trọng trong việc rèn luyện kĩ năng nói, viết, góp phầngiáo dục tư tưởng, tình cảm, hình thành nhân cách cho học sinh, hướng tới những tìnhcảm tốt đẹp như lòng nhân ái, tôn trọng lẽ phải, sự công bằng

Nhưng thực tế chất lượng môn Ngữ văn trong trường THPT Hòa Bình hiện naychưa cao, bộ môn Ngữ văn chưa thu hút sự yêu thích của các em học sinh Không ít họcsinh vẫn tỏ ra bàng quan, thờ ơ với văn chương Nhiều bài văn của học sinh mắc nhữngsai sót quá cơ bản như tình trạng “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, viết sai tên tác giả, tácphẩm, nhầm tác phẩm của nhà văn này với nhà văn khác, sai chính tả, lỗi dùng từ và đặtcâu, sai kiến thức, suy diễn theo cảm tính, viết mà không hiểu những gì mình đã viết,không biết tổ chức các đoạn văn Ngoài những yếu tố khách quan (xu hướng chọn nghề,năng lực cảm thụ văn chương của học sinh), thì nguyên nhân phần lớn là do giáo viên dạyhọc chưa có sức lôi cuốn học sinh do tình trạng dạy chay, học chay, phương pháp dạy họccòn cứng nhắc vì thiếu thốn về phương tiện thiết bị dạy học như: tranh, ảnh, sơ đồ, dụng

cụ nghe, nhìn để minh họa cho bài giảng, tài liệu tham khảo, các tác phẩm văn học chogiáo viên Như vậy, để nâng cao chất lượng dạy, học môn Ngữ văn trong nhà trường cầnthực hiện tốt việc đổi mới phương pháp, đổi mới việc kiểm tra, đánh giá và trong đókhông thể thiếu việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình dạy học.Khái niệm Công nghệ Thông tin được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết Chính

phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993: "Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội"

Công nhgệ thông tin trước hết giúp giáo viên Ngữ văn nâng cao hiểu biết, tri thức và

kỹ năng,năng lực và trình độ

CNTT là một trong những phương tiện rất hữu hiệu đáp ứng nhu cầu tự bồi dưỡng,nâng cao trình độ, năng lực, trau dồi nghề nghiệp của người giáo viên, giúp người giáoviên không bị lạc hậu trước sự phát triển của xã hội và khoa học công nghệ Internet cungcấp cả một kho tư liệu gần như vô tận về hình ảnh, biểu tượng, âm thanh, các videoclipsinh động, phong phú

CNTT góp phần làm cho bài dạy sinh động và cuốn hút hơn Thiết kế giáo án bằngphần mềm Powerpoint và tích hợp giảng dạy Ngữ văn với âm nhạc, phim ảnh, với bănghình, tư liệu… sinh động làm cho học sinh dễ dàng tiếp thu, khắc sâu kiến thức và tănghứng thú học tập Thông qua bài giảng điện tử, giáo viên có nhiều thời gian để đặt các câuhỏi gợi mở, tạo điều kiện cho học sinh hoạt động nhiều hơn trong giờ học phát huy tínhtích cực tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của học sinh, bồi dưỡng năng lực tự học, lòngsay mê học tập và ý chí vươn lên của các em Sử dụng các kĩ thuật tương tác đa phương

Trang 22

tiện theo các yêu cầu trực quan, sinh động, đa chiều, đa kênh, đa dạng, đa chức năng sẽkích thích được quá trình học tập, huy động những tiềm năng khác nhau của người họctrong hoạt động vất chất và hoạt động tâm lý

Từ góc độ tâm lý học, chúng ta thấy con người tiếp nhận các thông tin nhờ vào nămgiác quan: Cảm giác, tri giác, thính giác, vị giác, khứu giác Theo cách giảng dạy trướcđây chỉ có một giác quan duy nhất được huy động đó là thính giác Truyền thụ kiến thứcchỉ thông qua lời nói, còn các giác quan khác chưa được sử dụng cho việc tiếp thu các bàigiảng, phần lớn tiềm năng học tập chưa được phát huy

Người ta thống kê rằng: nếu chỉ có đọc thì người học chỉ nhớ được 10%, chỉ có nghethôi thì khả năng tiếp thu được 20%, cả nghe và nhìn tiếp thu được 50%, nếu được trìnhbày thì khả năng nhớ có thể lên đến 70% Đặc biệt, nếu được kết hợp cả nghe, đọc,nghiên cứu, tự trình bày thì mức độ nhớ lên đến 90%

Các kĩ năng nghe – nhìn – chia sẻ và thực hành được thực hiện đồng thời đã manglại kết quả giáo dục cao nhất Chỉ riêng điều đó thôi cũng nói lên sự đòi hỏi phải áp dụngcác phương tiện nghe nhìn vào việc giảng bài

1 Cơ sở lý luận

Công nghệ thông tin là một thành tựu lớn của cuộc CMKH-KT hiện nay Nó thâmnhập và chi phối hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ trongsản xuất, giáo dục, đào tạo và các hoạt động chính trị, xã hội khác Trong giáo dục – đàotạo, CNTT được sử dụng vào tất cả các môn học tự nhiên, kỹ thuật, xã hội và nhân văn.Hiệu quả rõ rệt là chất lựơng giáo dục tăng lên cả về mặt lý thuyết và thực hành Vì thế,

nó là chủ đề lớn được tổ chức văn hóa giáo dục thế giới UNESCO chính thức đưa ra

thành chương trình hành động trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI và dự đoán “sẽ có sự thay đổi nền giáo dục một cách căn bản vào đầu thế kỷ XXI do ảnh hưởng của CNTT ”

Như vậy, CNTT đã ảnh hưởng sâu sắc tới giáo dục và đào tạo, đặc biệt là trong đổimới phương pháp dạy học (PPDH), đang tạo ra những thay đổi của một cuộc cách mạnggiáo dục Việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT góp phần rất lớn trong việc đổi mới PPDH theohướng tích cực hóa Đổi mới phương pháp dạy học là yêu cầu bắt buộc đã được đề cập

đến tại điều 4 Luật Giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam “phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực tự giác, chủ động , tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”

Ở nước ta, vấn đề ứng dụng CNTT trong giáo dục, đào tạo được Đảng và Nhà nướcrất coi trọng, coi yêu cầu đổi mới PPDH có sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật hiệnđại là điều hết sức cần thiết Các Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Chính phủ, BộGiáo dục – Đào tạo đã thể hiện rõ điều này, như: Nghị quyết CP của Chính phủ vềchương trình quốc gia đưa CNTT vào giáo dục đào tạo (1993),

Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng vàphát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã yêu cầu các cấp, các

ngành cần "Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo

ở các cấp học, bậc học, ngành học Phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ cho

Trang 23

nhu cầu học tập của toàn xã hội Đặc biệt tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, kết nối Internet tới tất cả các cơ sở giáo dục và đào tạo"

Trong Nghị quyết Trung ương II, khoá VIII Đảng và Nhà nước ta khẳng định,

phải “đổi mới phương pháp giáo dục – đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh,

Chỉ thị số 29 của Bộ Giáo dục – Đào tạo (ngày 30/7/2001/CT) về tăng cường giảngdạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2001 – 2005 nêu rõ

“CNTT là phương tiện để tiến tới một xã hội hóa học tập”, nhưng “giáo dục và đào tạophải đóng vai trò quan trọng bậc nhất thúc đẩy sự phát triển của CNTT ”

Chỉ thị số 58-CT/TƯ của Bộ Chính Trị ngày 7/10/2001 đã chỉ rõ trọng tâm củangành giáo dục là đào tạo nguồn nhân lực về công nghệ thông tin và đẩy mạnh ứng dụngcông nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo

Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 81/2001/QĐTTg giao cho ngành Giáo dụcxây dựng chiến lược phát triển công nghệ thông tin giai đoạn 2001 - 2005

Chỉ thị số 55/2008/CT-BGDĐT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ GDĐT về tăngcường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giaiđoạn 2008-2012 Quyết định số 698/QĐ-TTg ngày 1/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ

về việc phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm 2015 vàđịnh hướng đến năm 2020

Nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quátrình dạy học, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quyết định chọn năm học 2008-2009 làm nămhọc ứng dụng công nghệ thông tin nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dụctheo định hướng “chuẩn hoá, hiện đại hoá” Công nghệ thông tin sẽ mở ra triển vọng tolớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy - học cho học sinh

Nghị định số 102/2009/NĐ-CP ngày 6/11/2009 của Chính phủ về quản lý đầu tưứng dụng CNTT sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước

Thông tư số 08/2010/TT-BGDĐT ngày 01/03/2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục vàĐào tạo quy định về sử dụng phần mềm tự do mã nguồn mở trong các cơ sở giáo dục

Trong “Chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo đến năm 2010” của Bộ Giáo dục –

Đào tạo đã yêu cầu ngành giáo dục phải từng bước phát triển giáo dục dựa trên CNTT, vì

“CNTT và đa phương tiện sẽ tạo ra những thay đổi lớn trong quản lý hệ thống giáo dục, trong chuyển tải nội dung chương trình đến người học, thúc đẩy cuộc cách mạng về phương pháp dạy và học”

Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 22/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường

sử dụng văn bản điện tử trong hoạt động của cơ quan nhà nước

Công văn Số: 6072/BGDĐT-CNTTV/v Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT năm học 2013 – 2014 của Bộ giáo dục đào tạo “Đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong trường phổ thông nhằm đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng giáo viên tự tích hợp CNTT vào từng môn học thay vì học trong môn tin học Giáo viên các bộ môn chủ động

Trang 24

tự soạn và tự chọn tài liệu và phần mềm (mã nguồn mở) để giảng dạy ứng dụng CNTT” (Theo Quyết định số 698/QĐ-TTg ngày 01/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ).

Công văn số 4099/BGDĐT-GDTrH V/v Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục

Trung học năm học 2014-2015 của Bộ giáo dục đào tạo đề ra 5 nhiệm vụ trọng tâm và một trong năm nhiệm vụ trọng tâm đó là “ Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học Tăng cường xây dựng "Nguồn học liệu mở" (thư viện) câu hỏi, bài tập, đề thi, kế hoạch bài dạy, tài liệu tham khảo có chất lượng trên website của

Bộ (tại địa chỉ http://giaoducphothong.edu.vn) của sở/phòng GDĐT và các trường học Chỉ đạo cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh tích cực tham gia Diễn đàn trên mạng (http://danhgia.truonghocao.edu.vn) về đổi mới kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh”.

Bên cạnh đó là sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ phần mềm nói chung và phần mềmgiáo dục nói riêng đã giúp chúng ta có trong tay nhiều công cụ hỗ trợ cho quá trình dạy học.BGH Nhà trường rất quan tâm tới việc ứng dụng CNTT vào dạy học, mở ra hội thảochuyên đề và các buổi bồi dưỡng tin học cho giáo viên Đầu tư máy tính kết nối internet ởthư viện phục vụ cho nhu cầu tìm kiếm thông tin của giáo viên

2 Thực trạng việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Ngữ văn trường THPT Hòa Bình

Tổ Ngữ văn có 10 thầy cô trong đó các thầy cô giáo đều biết sử dụng máy tính, vàphần mềm Microsoft PowerPoint, biết sử dụng các chương trình tìm kiếm trên trình duyệtInternet Explorer để tìm kiếm thông tin cho bài giảng Nhà trường có các thiết bị cần thiếtphục vụ cho việc ứng dụng CNTT Nhìn chung qua các tiết dạy có ứng dụng CNTT củatổ đều đạt hiệu quả cao, học sinh rất hứng thú

Tuy nhiên việc ứng dụng CNTT trong dạy học môn Văn còn rất ít hầu như chỉ sửdụng trong các tiết hội giảng, thực hiện chuyên đề, các tiết thanh tra Một số giáo viêncũng đã hướng dẫn học sinh ứng dụng CNTT vào việc học như tìm kiếm tranh ảnh, nhạc,phim tư liệu, làm bài thuyết trình nhóm, tổ bằng PowerPoint trong các tiết chuyên đề, nộpbài qua thư điện tử, nhưng việc này cũng không diễn ra được thường xuyên Qua các tiếtdạy ứng dụng CNTT của tổ một số thầy cô gặp phải chục chặc về máy móc lại lúng túngtrong cách xử lý nên đã ảnh hưởng ít nhiều đến tiết dạy

Lí do là việc ứng dụng CNTT trong dạy học của bộ môn còn gặp phải một số khókhăn như:

Trình độ tin học chủ yếu là tự học cho nên quá trình soạn giảng gặp nhiều khó khăn Soạngiáo án điện tử đòi hỏi một sự chuẩn bị công phu đầu tư nhiều thời gian và công sức, việc

sử dụng máy tính và một số phần mềm của một số thầy cô vẫn chưa được thành thạo

Cơ sở vật chất nhà trường còn hạn chế, số lượng máy móc không nhiều, không cóphòng máy và cũng không có phòng chức năng cho bộ môn Văn Mỗi khi muốn sử dụngtrên lớp thì phải mượn máy rồi lắp ráp tốn nhiều thời gian, các thiết bị không được lắp cốđịnh nên máy, đường dây điện chạy không được ổn định

3 Biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Ngữ văn

Trang 25

Văn chương hấp dẫn người đọc bởi tính hình tượng, tính gợi cảm, Môn Ngữ văn ở trường phổ thông bao gồm các phân môn tiếng Việt, Tập làm văn và Văn bản Trong các phân môn này không phải phân môn nào và không phải bài nào, phần nào của mỗi phân môn cũng đều có thể ứng dụng công nghệ thông tin để giảng dạy được Và đương nhiên không phải bất cứ tiết nào, bài nào cũng biến thành bài giảng điện tử để trình chiếu được Muốn ứng dụng CNTT thật sự hiệu quả phải chọn các nội dung, các vấn đề phù hợp Chỉ nên sử dụng công nghệ thông tin khi thật cần thiết và sử dụng với tỷ lệ ít hơn so với các dạng hoạt động và các phương tiện dạy học khác (như thuyết giảng, đàm thoại, thảo luận nhóm, phát vấn, nêu vấn đề …)

Để ứng dụng CNTT góp phần đổi mới phương pháp dạy học có hiệu quả cao, giáoviên phải thường xuyên không ngừng tự học để nâng cao trình độ chuyên môn mà cònphải nâng cao khả năng sử dụng vi tính, thiết kế bài giảng điện tử và cập nhật thông tinqua mạng Giáo viên phải biết sử dụng thành thạo máy tính và một số phần mềm hỗ trợcho việc soạn giáo án điện tử như PowerPoint, Adobe Presenter, sơ đồ tư duy Mind mads,cắt ghép đổi đuôi phim, nhạc

Giáo viên có thể tham khảo cách soạn giáo án điện tử trên một số trang web như:

http://edu.net.vn; http://bachkim.vn; http://www.violet.com

Hướng dẫn cho học sinh truy cập các website về văn học để tìm kiếm tài liệu tham

khảo, tra cứu thông tin như: http://evan.com.vn; http://www.vienvanhoc.org.vn ;

tư liệu); http://www.thuvien-ebook.com ; http://www.ebook.moet.gov.vn (Thư viện giáo trình điện

tử của Bộ Giáo dục và Đào tạo), http://www.giaovien.net ; http://www.hcmup.edu.vn (Khoa Ngữ

văn Trường ĐHSP TP HCM)

Trong quá trình giảng dạy giáo viên có thể cho học sinh xem những trích đoạn phim,các vở chèo, tuồng, nghe các bài thơ, bài hát phổ thơ do các nghệ sĩ nổi tiếng trình bày đểminh hoạ cho nội dung bài giảng

Ngoài ra, giáo viên nên hướng dẫn cho học sinh tìm xem bộ phim chuyển thể từ cáctác phẩm văn học được giảng dạy trong nhà trường như: Tắt đèn, Chí Phèo, Số đỏ, Nhữngngười khốn khổ, Chiến tranh và hoà bình, Sông Đông êm đềm, Hamlet, Ông già và biển

cả, Tam quốc diễn nghĩa

Giảng dạy bằng bài giảng vận dụng CNTT vào giảng dạy Ngữ văn bằng hình thứcvận dụng phần mềm Powerpoint để thiết kế giáo án dạy học là hình thức vận dụng CNTT

dễ dàng nhất, khả thi nhất mà mang lại hiệu quả không nhỏ Sau đây là một số biện phápđối với từng phân môn trong bộ môn Ngữ văn

Với phân môn Đọc – Hiểu văn bản

Trang 26

Các bài Văn học dân gian: VHDG xuất hiện từ khi chữ viết chưa hình thành và cách

xa với thời đại chúng ta ngày nay nên việc sử dụng tư liệu, hình ảnh, phim nhạc minh họa

là cần thiết để học sinh dễ dàng hình dung ra cuộc sống sinh hoạt và văn hóa cộng đồngông cha ta ngày xưa

Ví dụ dạy Sử thi Đăm Săn (đoạn trích Chiến thắng Mtao – Mxây ) Sử dụng nhữnghình ảnh cộng đồng dân tộc Ê – Đê về trang phục, nhà sàn, nhà rông, hình ảnh các chàngtrai Ê- Đê tập võ, múa khiên, các cảnh lễ hội Dạy đoạn ăn mừng chiến thắng sử dụngđoạn phim về lễ hội cồng chiêng, cảnh uống rượu cần, tế lễ thần linh… Để học sinh dễhình dung ra và hiểu thêm cuộc sống sinh hoạt, nét văn hóa của cộng đồng người Ê – Đêthời cổ đại, đồng thời giời thiệu được thêm cho học sinh về một di sản của ViệtNam được UNESCO công nhận danh hiệu Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại

đó là Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên

Bài khái quát một giai đoạn văn học: Có thể vận dụng CNTT sơ đồ hóa nội dungkiến thức của bài học, khái quát về các đặc điểm chính, về tiến trình văn học, minh họatác giả, tác phẩm bằng hình ảnh, bằng các đoạn băng hình tư liệu về giai đoạn lịch sử lúcbấy giờ… giúp tích hợp với phân môn Lịch sử

Bài khái quát một tác gia: giới thiệu chân dung, gia đình, quê hương, minh họa bằngviệc tóm tắt, ngâm, tranh, phim tư liệu về tác giả, phim minh họa tác phẩm tiêu biểu.Các bài Văn học Trung đại: thường những tác phẩm thuộc VHTĐ có liên quan đếncác nhân vật lịch sử như: Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, NguyễnTrãi, Lê Lợi… sự kiện lịch sử: Hào khí Đông A, Ngô Quyền phá tan quân Nam Hán,Trần Quốc Tuấn phá tan quân Mông – Nguyên, Lê Lợi dẹp yên giặc Ngô…Cần thiết tíchhợp với môn lịch sử và sử dụng các tư liệu, hình ảnh lịch sử giúp học sinh có thể dễ dànghòa mình vào trong không khí lịch sử hào hùng của đất nước (tư liệu qua trangweb http://www. vietsuca org )

Ví dụ bài Phú sông Bạch Đằng cần bản đồ vị trí sông Bạch Đằng, hình ảnh, tư liệu

về Trương Hán Siêu, các hình ảnh, phim tư liệu về Trận thủy chiến Ngô Quyền phá tanquân Nam Hán, Trần Quốc Tuấn phá tan quân Mông – Nguyên từ đó giáo dục cho họcsinh về niềm tự hào về truyền thống lịch sử giữ nước của dân tộc, nêu cao lòng yêu nước,

ý thức bảo vệ, xây dựng, giữ gìn đất nước

Các bài văn học Việt Nam hiện đại: Việc vận dụng CNTT vào giảng dạy phần vănhọc Việt Nam hiện đại là phần được cho là thuận lợi, bởi lẽ, nhiều tác phẩm văn học ViệtNam hiện đại được đưa vào giảng dạy ở chương trình Ngữ văn THPT được chuyển thểthành kịch bản phim, phổ nhạc, khúc ngâm… Ví dụ: Các tác phẩm Tây Tiến của QuangDũng, Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mạc Tử, … Cáctác phẩm Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, Chí Phèo, Lão Hạc, Sống mòn của Nam Cao, Vợchồng A Phủ cùa Tô Hoài, những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi, kịch HồnChương ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ… đã được chuyển thể thành phim

Ví dụ dạy bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mạc Tử, giáo viên thêm một số tư liệu về Hàn Mạc Tử, về xứ Huế, về Vĩ Dạ Thay phần đọc toàn bộ bài thơ, giáo viên cho học sinhnghe một đoạn bài hát đã được ca sĩ thể hiện để tạo được tâm thế tiếp nhận cho bài giảng Cảnh vườn thôn Vĩ trong nắng mai, đến cảnh sông nước đêm trăng huyền ảo, hình bóng khách đường xa và chốn sương khói mông lung, cảnh chìm trong mộng ảo để dẫn đến

Trang 27

Đối với phân môn Tiếng Việt: Dạy Tiếng Việt rất phù hợp để sử dụng CNTT nhất

là với các loại bài luyện tập Mỗi bài gắn với một hiện tượng ngôn ngữ nổi bật trong mộtvăn bản mà học sinh được học trong phần văn học trong sách giáo khoa, đó là các bàiThực hành một số phép tu từ (Ẩn dụ, hoán dụ, đối, điệp), Thực hành về thành ngữ, điển

cố, nghĩa của từ, nghĩa của câu, lựa chọn trật tự các bộ phận trong câu… Giáo viên sẽtrình chiếu các ngữ liệu, hình ảnh, nội dung các bài tập, phần trả lời, các từ cần in đậm, innghiêng, điền từ, điền cụm từ, sơ đồ, bảng biểu, giờ học nhẹ nhàng, sinh động, tiết kiệmthời gian, cho phép giáo viên tạo ra các trò chơi, câu hỏi tương tác để tăng cường nhiềubài tập ngoài sách giáo khoa

Ví dụ dạy bài Thực hành thành ngữ, điển cố giáo viên sử dụng một số hình ảnh liênquan để tạo ra trò chơi Đuổi hình bắt chữ để học sinh tìm ra được những câu thành ngữsau đó cho các em giải thích ý nghĩa và đặt câu với các câu thành ngữ đó, sử dụng đếnbảng biểu để so sánh giữa câu có sử dụng thành ngữ, điển cố với câu nói thông thườngsau đó giáo viên đặt câu hỏi để học sinh phát hiện ra đặc trưng của thành ngữ, điển cố.Như vậy các em sẽ ghi nhớ nhanh hơn, lâu hơn Sau hi thực hành xong để củng cố lạikiến thức giáo viên sẽ sử dụng sơ đồ tư duy thay cho kết bài

Đối với phân môn Tập làm văn: Những tiết luyện tập, tổng kết kiến thức thay bằng

sử dụng bảng thì việc hỗ trợ CNTT sẽ rất hiệu quả

Một số vấn đề cần lưu ý khi giảng dạy có ứng dụng CNTT

Chuẩn bị và kiểm tra trước giờ dạy, phải lường trước mọi tình huống có thể xảy ravới máy móc: sự tương thích giữa máy cá nhân và máy trường, sự tương thích giữa máy

vi tính và máy chiếu, ổ cắm, dây điện, phải kiểm tra trước các hiệu ứng của các Slide.Muốn sao chép sang máy khác thì cần đóng gói bài giảng để không bị lỗi về liên kết.Nên sử dụng cả bảng đen trong giờ dạy để ghi những nét chính về bài học, phải lưu

ý đến mối quan hệ mật thiết giữa nội dung trình chiếu với giáo án văn bản

Bài giảng điện tử cần phải được thiết kế một cách khoa học, để qua từng slile chitiết, học sinh phải nhận biết được những nội dung nào là nội dung chính cần ghi chép, nộidung nào là phần diễn giải của giáo viên

Cần hiểu đúng CNTT chỉ là một phương tiện hỗ trợ đắc lực cho đổi mới phươngpháp dạy học, trong quá trình giảng dạy giáo viên tránh lạm dụng công nghệ thông tin,xem công nghệ thông tin là độc tôn, là duy nhất Việc giảng dạy giáo án điện tử cũng làcon dao hai lưỡi, nếu lạm dụng quá học sinh sẽ bị cuốn hút vào âm thanh, hình ảnh màquên nội dung của bài, không phát huy óc quan sát và trí tưởng tượng, thiếu sự tư duy đểcảm nhận vẻ đẹp, cái hay, cái tình, cái hồn của văn chương

Giảng dạy bằng CNTT phải thật sự ăn khớp giữa lời giảng của giáo viên và nội dungtrình chiếu trên các Slide, tránh tình trạng lời giáo viên một đằng, nội dung bài chạy ramột nẻo

Nên soạn thảo bài trình chiếu của mình trên bảng mã Unicode, phông chữ TimesNew Roman, vì đây là bảng mã thông dụng Chọn nền và chữ phải tương phản với nhau(nền màu tối, chữ màu sáng và ngược lại) Không nên chèn quá nhiều hình ảnh hoặc đưaquá nhiều chữ (đơn vị kiến thức) vào cùng một Slide

Trang 28

Không sử dụng quá nhiều hiệu ứng khác nhau Cỡ chữ thường từ 24 trở nên, phốihợp nhiều nhất là ba màu chữ để làm rõ các nội dung trọng tâm khác nhau Sử dụng cáckhung, nền thống nhất trong toàn bộ các Slide.Mỗi bài trình chiếu cho một tiết dạy 45phút thì không nên quá 20 slide (trang).

4 Kết luận và kiến nghị

5.1 Kết luận

GV phải sáng suốt trong lựa chọn những nội dung, lựa chọn những bài dạy, lựa chọncách trình chiếu sao đạt kết quả mình mong muốn.Ứng dụng công nghệ thông tin trongđổi mới phương pháp dạy và học là một định hướng đúng đắn và rất cần thiết Nhưng nókhông phải là một phương pháp mới mà chỉ là sự hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy - học.Một giờ văn hay không thể thiế những lời bình giảng đầy cảm xúc của giáo viên

5.2 Đề xuất - Kiến nghị

Đối với tổ Ngữ văn

Mỗi giáo viên trong tổ tự nâng cao trình độ CNTT của bản thân qua việc học hỏi,chia sẻ kinh nghiệm ứng dụng CNTT về các bài dạy, các tài liệu liên quan

Xây dựng kho tài liệu của riêng tổ, các thành viên trong tổ có hoặc sưu tầm được nhữngtranh ảnh, tư liệu gì thì đóng góp vào đó Lưu trữ thành từng file dữ liệu để các thành viên dễ dàngtìm kiếm khi sử dụng và bổ sung khi tìm khiếm thêm được những tư liệu mới

Đối với nhà trường

Cần có sự đầu tư trang thiết bị, máy móc, phòng máy đồng bộ hơn

Nên xây dựng cho tổ phòng học bộ môn ở đó trang bị một máy tính, một đèn chiếu,

bộ loa, bút điều khiển trình chiếu để giáo viên chủ động thực hiện thường xuyên Máytính có nối mạng và cài đặt đầy đủ các phần mềm có liên quan

Mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng kĩ năng soạn giảng bài giảng, sử dụng các phầnmềm điện tử phục vụ trong giảng dạy cho giáo viên

Mở ra nhiều buổi hội thảo chuyên đề ứng dụng CNTT để giáo viên có dịp thể hiện,chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm

Tổ chức cuộc thi thiết kế bài giảng điện tử E – Learning

Mỗi năm cần tổ chức hội thi “Giáo viên sử dụng công nghệ thông tin” hay hội thigiáo viên giỏi phải là giáo viên biết soạn giảng bài giảng điện tử

Trang 29

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN

Bùi Thị ThuTổ Ngữ Văn- THPT Hòa Bình

1 Sự cần thiết ứng dụng CNTT trong dạy học của bộ môn ngữ Văn

Ngữ văn là môn học với số lượng tiết được phân phối khá nhiều Dạy Văn ngoàiviệc bồi dưỡng năng lực đọc hiểu, năng lực cảm thụ, thẩm mỹ, phát triển tư duy… cònphải giúp cho các em tìm tòi suy nghĩ giải quyết vấn đề từ văn học đến cuộc sống điềunày làm cơ sở cho sự phát triển trí tuệ và nhân cách suốt đời Thế nhưng các em học sinhphổ thông hiện nay thường có tâm lí chán học môn văn Trong dạy học Ngữ Văn theo xuthế hiện đại “xem HS là bạn đọc sáng tạo” Điều đó đòi hỏi người giáo viên giảng dạyNgữ văn phải thật sự sáng tạo trong mỗi giờ lên lớp

Ở thế kỉ 21 này CNTT phát triển mạnh mẽ và đi vào mọi lĩnh vực của đời sống.Việc áp dụng CNTT vào đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa là phù hợp với xu thếmới của thời đại bởi CNTT góp phần hiện đại hóa phương tiện, thiết bị dạy học, góp phần đổimới phương pháp Có thể nói, vận dụng CNTT vào giảng dạy Ngữ văn nói riêng và dạy họcnói chung ít nhiều tạo nên sự chuyển biến trong dạy học, nhất là về mặt phương pháp, kĩ thuật

Vì vậy “Cần thiết phải nghiên cứu và triển khai việc ứng dụng CNTT vào dạy học ở bộ mônNgữ văn một cách rộng rãi, đúng hướng và có hiệu quả”.(TS Đỗ Ngọc Thống)

Ứng dụng CNTT giúp tăng cường kênh tiếng và kênh hình – tăng tính trực quan,

góp phần rất tích cực vào việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay Mang lại Sắc thái mới cho bài giảng theo cách nói của bộ GDTĐ - Những năm gần đây, dạy học bằng

CNTT đang ngày càng phổ biến trong các cấp học Phải khẳng định rằng dạy học bằngCNTT góp phần đa dạng hóa các hình thức dạy học, hỗ trợ tích cực cho người thầy ở rấtnhiều phương diện Kiến thức bài học nhờ thế mà được đưa vào nhiều hơn, người thầy sẽcảm thấy nhẹ nhàng hơn so với cách dạy thông thường, bài giảng có nhiều minh họa Ứngdụng CNTT sẽ đem lại sắc thái mới cho nhiều môn học trong đó có môn Văn

Trong Chỉ thị 29/2001/CT-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đãnêu rõ: “Đối với giáo dục và đào tạo, công nghệ thông tin có tác động mạnh mẽ, làm thayđổi phương pháp, phương thức dạy và học Công nghệ thông tin là phương tiện để tiến tớimột xã hội học tập” CNTT mở ra triển vọng lớn trong việc đổi mới các phương pháp vàhình thức dạy học

Trang 30

Công văn số 4099/ BGĐT ban hành ngày 5/8/2014 nêu rõ nhiệm vụ năm học

2014-2015 “ Tiếp tục đổi mới PPDH phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS Đẩy mạnh ứngdụng CNTT và truyền thông trong day và học”

Xét ở góc tâm lí học, các nhà tâm lí đã mô phỏng kết quả khảo sát khả năng tiếpnhận, lưu trữ thông tin của con người phụ thuộc vào các cơ quan: nếu chỉ nghe lưu trữđược 20% thông tin, nếu chỉ nhìn lưu trữ được 30%, vừa nghe vừa nhìn lưu trữ 50%,nghe nhìn kết hợp thảo luận lưu trữ 70%, nghe nhìn kết hợp thảo luận và làm việc lưu trữ90% Như vậy vận dụng CNTT trong dạy học cũng có tác động tích cực dến khả năngtiếp nhận kiến thức của HS

Nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng và hiệu quả của ứng dụng CNTT trong dạyhọc trường THPT Hòa Bình đã xây dựng, triển khai kế hoạch ứng dụng CNTT

3 Thực trạng

Nhà trường đã đầu tư một số trang thiết bị để đưa ứng dụng Công nghệ thông tinvào dạy và học, phong trào ứng dụng Công nghệ thông tin trong trường nói chung và tổVăn nói riêng cũng được thực hiện đều đặn trong những tiết thao giảng

Trường có trang bị máy vi tính ở phòng thư viện và nối mạng Internet nhằm phục

vụ GV của trường trong việc tìm kiếm tài liệu cho công tác giảng dạy

Tuy nhiên việc ứng dụng CNTT trong bộ môn văn còn những tồn tại như sau: Giáo viên chỉ quen cách dạy bảng đen phấn trắng còn kiến thức cơ bản về CNTTnói chung, phần mềm PowerPoint nói riêng đối với GV tổ Văn tuy không mới mẻ nhưngvận dụng vào trong dạy học còn chưa thường xuyên Một số ngại mất nhiều thời gian,một số chưa thực sự thành thạo các phương tiện kỹ thuật để có một bài giảng hay, hấpdẫn bằng sôi động trên màn chiếu

Thực tế còn duy trì phương pháp dạy học cũ ít đổi mới, tình trạng dạy chay, dạyhọc đọc chép… còn khá phổ biến Ứng dụng CNTT vào trong giờ học thường chỉ thấytrong các tiết thao giảng mà thôi

Mặt khác có GV chưa biết khai thác thông tin từ Internet để tìm kiếm tư liệu, hìnhảnh …phục vụ cho bài học

Trước thực trạng đó thiết nghĩ triển khai kế hoạch ứng dụng CNTT vào giảng dạy làviệc làm cần thiết bởi một mặt giúp GV nâng cao trình độ tin học, rút ra được kinh nghiệmtrong khâu ứng dụng, mặt khác tạo điều kiện cho đồng nghiệp được học hỏi lẫn nhau

4 Biện pháp ứng dụng CNTT trong dạy học môn Ngữ Văn

a Ứng dụng CNTT phần mềm Powrppoint

Phần mềm CNTT này được giáo viên Ngữ văn sử dụng phổ biến nhất hiện nay làphần mềm Powerpoint Đây là phần mềm đơn giản, dễ thiết kế trình chiếu và có tác dụngtích cực, rõ nét nhất Khi giới thiệu, trình bày và khái quát nội dung bài học, mỗi slideđược coi là một bộ phận cũng là một hệ thống nhỏ trong hệ thống các nội dung mà bàihọc cần Ở mỗi slide, giáo viên có thể chọn hiệu ứng, đưa các tư liệu (phim, ảnh, nhạc,bài đọc, tác phẩm, ngâm thơ …) làm cho bài giảng sinh động lôi cuốn hơn

Trang 31

Powerpoint cho phép nhập các dữ liệu, các file dữ liệu multimedia( hình ảnh, màusắc, âm thanh, phim hoạt hình ) sau đó lắp ghép các dữ liệu, sắp xếp các thứ tự, cănchỉnh hình ảnh, tạo hiệu ứng chuyển động và biến đổi, thực hiện các tương tác với ngườidung, giúp bài giảng trở nên sinh động, thu hút được sự chú ý của học sinh cũng là đểhọc sinh phát huy tính độc lập, sáng tạo, tích cực học tập

PowerPoint sử dụng linh hoạt nên fon chữ, kiểu chữ trong các sản phẩm đều đẹp,

dễ nhìn và ổn định trên mọi máy tính

Khi soạn thảo xong bài giảng trên powerpoint giáo viên có thể xuất bài giảng rathành thư mục chứa file thành một sản phẩm chạy độc lập có thể copy vào đĩa mềm hoặcUSB hay đĩa CD để chạy trên các máy tính khác thông thường qua chương trìnhPowerPoint

VD:

Soạn PowerPoint dùng để kiểm tra bài cũ hoặc củng cố kiến thức sau tiết học đó làcác bài tập trắc nghiệm gồm có các loại: Một đáp án đúng, nhiều đáp án đúng, câu hỏighép đôi, chọn đúng/sai; bài tập ô chữ - HS phải trả lời lần lượt các ô chữ hàng ngang đểtìm ra ô chữ hàng dọc; Bài tập điền khuyết hoặc bài tập ẩn / hiện

Phần mềm này giúp thể hiện sơ đồ tư duy khái quát lại kiến thức ở phần cuối bàihọc như trong bài Khái quát văn học Việt Nam từ cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX có thể vận dụng CNTT sơ đồ hóa nội dung kiến thức của bài học, khái quát

về các đặc điểm chính, về tiến trình văn học, minh họa tác giả, tác phẩm bằng hình ảnh,bằng các đoạn băng hình…

Bài khái quát một tác gia Nguyễn Trãi có thể ứng dụng CNTT kiểm tra bài cũ

bằng đưa ra những hình ảnh liên quan đến nội dung bài học mà các em được học – hình

ảnh suối, đá rêu, rừng thông, rừng trúc điều này gợi HS nhớ đến bài Côn Sơn ca, như vậy

vừa kiểm tra bài cũ vừa giới được bài mới, sau đó giới thiệu chân dung, gia đình, quêhương, minh họa bằng tranh, ảnh, minh họa tác phẩm tiêu biểu…

Trong bài Tôi Yêu Em của Puskin có thể giới thiệu bài bằng cắt một nhạc Nga, một đoạn phim ngắn Lí do cho một Tình Yêu nhẳm dẫn dắt HS đến với đề tài tình yêu trong bài thơ Sau đó trình chiếu chân dung Puskin, Chân người tình của nhà thơ trong bài Tôi yêu Em , minh họa các sáng tác tiêu biểu, minh họa bài thơ viết bằng tiếng Nga…

Khi dạy Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài ứng dụng CNTT chiếu chọn một số đoạn tả cảnh Tây Bắc, một số chi tiết về tập quán ở vùng cao của người Mèo trong phim Vợ chồng A Phủ Đưa các tác phẩm đã được chuyển thể thành phim vào bài dạy bằng kỹ

thuật vi tính

Với Bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường, sưu tầm một

số hình ảnh sông Hương từ rất nhiều góc độ: Từ trên máy bay nhìn xuống từ trên bản đồ

địa hình, HS sẽ cảm nhận ra những đường cong rất mềm như một tiếng vâng không nói

của tình yêu, sẽ nhận thấy dòng sông sớm xanh, trưa vàng, chiều tím Như thế là bướcđầu HS cảm nhận được về chất thơ của Huế, về bề dày của một nền văn hóa Huế

Trang 32

Dạy bài Người lái đò sông Đà sưu tầm một số hình ảnh: những thác nước, những

hút nước, bãi đá sông Đà… những hình ảnh này được nhìn từ nhiều góc độ khác nhauđiều này giúp HS nhớ kiến thức rất nhanh Sau tiết học, giáo viên cho một bài tập nhanhtái hiện kiến thức, một điều bất ngờ, những học sinh có năng lực học yếu kém không còn

bỏ giấy trắng

Khi sử dụng phần mềm này GV cần lưu ý:

- Trước giờ dạy GV phải chuẩn bị tâm lí lường trước sự cố có thể xảy ra như: sựtương thích giữa máy GV và máy trường, sự tương thích giữa máy vi tính và Projector…

- Font chữ, cỡ chữ, màu sắc, hiệu ứng, hình ảnh phù hợp

- Nội dung bài giảng điện tử cần cô đọng, súc tích, các hình ảnh hay sự mô phỏngcần sát chủ đề, trong 1 slide không nên có nhiều hình hay nhiều chữ Cần kết hợp bảng và

sử dụng các phương pháp dạy học khác mới có hiệu quả cao

- Việc ứng dụng CNTT nên linh hoạt sáng tạo không nên lạm dụng bởi nó có thểbiến tiết học thành giờ “chiếu chép”, “nhìn chép”

- Việc sử dụng băng hình minh hoạ cho nội dung tác phẩm bằng kịch bản phim nếukhông khéo cũng sẽ làm mất khả năng hình dung, tưởng tượng về nhân vật văn học của HS

b Khám phá trên mạng

Cùng với việc ra đời và phổ biến của Internet, ngày nay việc thu thập và xử lýthông tin trên mạng là một kỹ năng cần thiết trong nghiên cứu và học tập cũng như tronglao động nghề nghiệp Việc ứng dụng công nghệ thông tin và sử dụng Internet trong dạyhọc ngày càng trở nên quan trọng Tuy nhiên, việc HS truy cập thông tin một cách tự dotrên mạng internet trong dạy học có những nhược điểm:

Việc tìm kiếm thường kéo dài vì lượng thông tin trên mạng lớn; dễ bị chệch hướngkhỏi bản thân đề tài; nhiều tài liệu được tìm ra với nội dung chuyên môn không chínhxác, có thể dẫn đến “nhiễu thông tin”; chi phí thời gian quá lớn cho việc đánh giá và xử lýnhững thông tin; việc tiếp thu kiến thức qua truy cập thông tin trên mạng có thể thiếu sựđánh giá, phê phán của người học

Phương pháp Webquest – khám phá trên mạng phần nào khắc phục được hạn chếcủa việc học qua mạng

WebQuest là một phương pháp dạy học, trong đó HS tự lực thực hiện trong nhómmột nhiệm vụ về một chủ đề phức hợp, gắn với tình huống thực tiễn Những thông tin cơbản về chủ đề được truy cập từ những trang liên kết (Internet links) do GV chọn lọc từtrước Việc học tập theo định hướng nghiên cứu và khám phá, kết quả học tập được HStrình bày và đánh giá

Cách thực hiện: GV chọn chủ đề cần phải có mối liên kết rõ ràng với những nộidung được xác định trong chương trình dạy học, sau đó giao nhiệm vụ cho từng nhóm

GV đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn

HS tìm kiếm những thông tin, và xử lý để trả lời các câu hỏi riêng và chứng tỏrằng họ hiểu những thông tin đó, giúp HS học tập tích cực hơn, tăng sự tương tác giữa các

Trang 33

thành viên trong nhóm Kết quả tìm kiếm thông tin sẽ được trình bày theo cách đa phươngtiện ví dụ bằng chương trình PowerPoint hoặc thông qua các báo cáo, các bài viết ngắn

VD:

Khi dạy bài Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS, 1- 12- 2003 của

Cô-phi an-nan( 2 tiết), GV chia lớp làm 3 nhóm và yêu cầu HS tìm hiểu các nội dungtrước ở nhà

1 Tìm hiểu chung về căn bệnh HIV/ AIDS( thời điểm phát hiện, cơ chế lây bệnh, vìsao coi đây là đại dịch, là hiểm họa nguy hiểm nhất thế giới, cách phòng chống)?

2 Tìm hiểu về tình hình phát triển của căn bệnh HIV/ AIDS ( số người bị nhiễm, số

ca tử vong hàng năm, tình hình của căn bệnh HIV/ AIDS trong quí I/ 2014, sưutầm những hình ảnh về những người mắc bệnh này)?

3 Tìm hiểu biện pháp, hành động tích cực của xã hội lẫn của địa phương nhằm đẩylùi đại dịch HIV/AIDS? Bạn có tán thành với thái độ kì thị, xa lánh với người bịmắc HIV/ AIDS?

GV giới thiệu cho HS tham khảo, tra cứu trên một số trang web tin cậy như:

- http://hiv.com.vn

- http://vaac.org.vn (trang của cục phòng chống HIV/AIDS thuộc bộ y tế)

- http://hoilhpn.org.vn ( trang của hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam)

- http://tiengchuong.vn ( trang của UB phòng chống HIV/AIDS và tệ nạn XH).Sau khi tìm kiếm và thu thập các thông tin về nội dung chủ đề của nhóm, HS trìnhbày thu hoạch của nhóm bẳng chương trình Powerpoint hoặc thông qua các báo cáo, bàiviết ngắn có kèm theo một số tranh ảnh…Trên lớp mỗi nhóm trình 7 phút GV nhận xét

Việc tìm hiểu trước các thông tin trên Internet trước ở nhà giúp HS nhận thức đượcmối nguy hiếm của căn bệnh thế kỉ này để từ đó các em hiểu sâu sắc thêm giá trị củathông điệp mà tác giả Cô- phi an- nan gửi tới cho nhân dân thế giới

Với bài Sóng của Xuân Quỳnh (2 tiết), GV yêu cầu HS chuẩn bị bài trước ở nhà

theo từng nhóm với các nội dung cụ thể sau (3 nhóm):

1.Tìm hiểu về con người, cuộc đời, phong cách sáng tác, của nhà thơ Xuân Quỳnh,sưu tầm hình ảnh chân dung Xuân Quỳnh- Lưu Quang Vũ, một số tập thơ tiêu biểu, băng

hình bài hát Thuyền và Biển hoặc Thư tình cuối mùa Thu ( Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc).

2 Những bài viết, bài phê bình đánh giá của các nhà nghiên cứu văn học về bài thơ Sóng.

3 Sưu tầm bài thơ khác của tác giả Việt Nam viết về tình yêu trong đó cũng cóhình tượng sóng - biển, sưu tầm các bài thơ khác viết về tình yêu của Xuân Quỳnh ( chỉ

ra điểm tương đồng và khác biệt giữa các bài thơ sưu tầm với bài Sóng).

GV giới thiệu cho HS một số công cụ tìm kiếm tài liệu như:

Trang 34

- http:// tailieu.vn

HS dựa vào trang web này tìm kiếm thu thập tư liệu, sắp xếp thông tin theo folder.Sau đó biên tập lại thành nội dung hoàn chỉnh theo chủ đề được giao, trình bày nội dungtrên Powerpoint, lưu vào USB hoặc CD Trong quá trình thực hiện HS có thể trao đổivới GV Trên lớp mỗi nhóm trình bày 7 phút GV nhận xét, bổ sung

5 Kết luận

Như vậy không có PPDH nào là tối ưu, không phải cứ vận dụng công nghệ thôngtin vào giảng dạy đã là đổi mới PPDH, thành công trong giờ dạy là nghệ thuật sư phạmcủa GV Vận dụng CNTT là một hướng đi trong xu thế đổi mới hiện nay mà GV nên vậndụng, tuy không hoàn toàn bắt buộc song ứng dụng CNTT chính nó sẽ làm mỗi giờ lênlớp của chúng ta phong phú hơn bởi chúng ta đang làm mới chính mình

Đổi mới PPDH Ngữ văn trong đó có vận dụng CNTT là một quá trình đòi hỏi người GVđổi mới từ từ, từng bước, không nóng vội mà thay đổi hoàn toàn, đổi mới trong sự kếthợp cả PPDH truyền thống và PPDH hiện đại

Kiến nghị nhà trường tạo điều kiện cho tổ Văn có phòng chức năng riêng trong đó

có đủ trang thiết bị phục vụ cho việc ứng dụng CNTT trong dạy học

Trang 35

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN

Họ và tên: ĐÀO THỊ MAI PHƯƠNG

Tổ Toán – Trường THPT Hòa Bình

1 Sự cần thiết ứng dụng Công nghệ thông tin (CNTT) trong dạy học của bộ môn Toán

CNTT là một phần phương tiện giúp chúng ta hòa nhập với thế giới trong mọi lĩnhvực Đối với ngành Giáo dục – Đào tạo, đặc biệt trong công tác giảng dạy, CNTT có tácdụng mạnh mẽ, làm thay đổi nội dung, phương pháp dạy và học, kiểm tra và đánh giá.Nhờ đó giúp học sinh hứng thú học tập hơn, kết quả là học sinh tiếp thu bài tốt hơn, chấtlượng kiểm tra và đánh giá từ đó được nâng cao

Định hướng đổi mới Phương pháp dạy học (PPDH) môn Toán hiện nay là tích cựchóa hoạt động học tập nhằm hình thành cho Học sinh (HS) tư duy tích cực, độc lập, sángtạo, nâng cao năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề Đặc trưng của Toán học là trừutượng hoá cao độ và có tính lôgic chặt chẽ, trong dạy học Toán ngoài suy diễn lôgic phảichú trọng nguyên tắc trực quan quy nạp, trực giác Toán học Với sự tham gia của CNTT,môi trường dạy học thay đổi, có tác động mạnh mẽ tới mọi thành tố của quá trình dạy học

và tác động tới đổi mới PPDH môn Toán Như hỗ trợ HS tìm hiểu sâu nội dung kiến thức;rèn luyện kỹ năng, củng cố ôn tập kiến thức cũ; rèn luyện, phát triển tư duy toán học; đổimới phương pháp và hình thức dạy học môn Toán Thay đổi vai trò của Giáo viên (GV)thành người tổ chức, điều khiển, tác động lên HS; thực hiện phân hoá cao trong quá trìnhdạy học Toán; hỗ trợ khả năng đi sâu vào các phương pháp học tập, phương pháp thựcnghiệm Toán học; kiểm soát và đánh giá quá trình học tập của HS kịp thời; góp phần hìnhthành phẩm chất, đạo đức, tác phong hiện đại cho HS

2.2 Một số ứng dụng CNTT trong dạy học

Ứng dụng trong soạn thảo giáo án

Một trong những ứng dụng của CNTT trong dạy học là soạn thảo giáo án bằng MSOffice hay Open Office Ngoài ra, tùy theo đặc thù môn học giáo viên còn có một số phầnmềm hổ trợ Với môn Toán có các phần mềm hỗ trợ như: MathType, Latex, GeoPlan,GeoSpace, Cabri, …

Trang 36

Soạn thảo bản trình chiếu điện tử thông dụng và đơn giản nhất hiện nay mà giáoviên thường dùng là MS PowerPoint, Latex.

Ứng dụng trong thực hiện bài giảng

Một trong các yếu tố để đổi mới PPDH và nâng cao chất lượng dạy học là phươngtiện dạy học qua việc sử dụng những phương tiện dạy học hiện đại: Máy chiếu projector,smart board (bảng thông minh), mạng nội bộ, các phần mềm dạy học, các trang web, …

Ứng dụng trong lưu trữ, khai thác, trao đổi, … tài liệu

3 Thực trạng việc ứng dụng CNTT trong dạy học môn Toán trường THPT Hòa Bình

3 1 Thuận lợi

Trong vài năm trở lại đây, nhìn chung CNTT đang được ứng dụng rộng rãi trongviệc dạy học Toán ở các trường THPT Rất nhiều GV đã biết sử dụng phần mềmMicrosoft PowerPoint, MathType, Latex, GeoPlan, GeoSpace, Cabri, … để thiết kế bàigiảng điện tử, trình bày đề cương bài giảng gọn đẹp sinh động và thuận tiện Vì vậy ngườidạy tiết kiệm được thời gian và có điều kiện đi sâu vào bản chất bài học, và do đó ngàycàng được nâng cao.Với sự hỗ trợ của CNTT trong một thời gian ngắn của tiết học, GV

có thể hướng dẫn cho HS tiếp cận một lượng kiến thức lớn, phong phú, và sinh động Mộthình ảnh, một đoạn phim có thể thay thế cho rất nhiều lời giảng Những hình ảnh mô phỏngthực tế một cách hợp lý, sinh động sẽ thu hút được sự quan tâm, hứng thú học tập của HS

Nhà trường trang bị các dụng cụ, thiết bị, tài liệu phục vụ cho GV, HS nghiên cứu,ứng dụng CNTT Tạo điều kiện cho GV sử dụng các thiết bị thực hiện những tiết dạy cóứng dụng CNTT

GV, HS thường xuyên tham khảo, tìm hiểu, thực hành các ứng dụng mới, áp dụngvào bài dạy

3 2 Khó khăn

GV mất nhiều thời gian để chuẩn bị giáo án Quá trình tìm kiếm nguồn tư liệuhướng dẫn sử dụng, thực hành phần mềm mới tốn thời gian hơn soạn một giáo án thôngthường nên một số GV còn ngại ứng dụng

Khi trình chiếu trong giờ dạy học trên lớp, HS hay tò mò chú ý đến hình ảnh, hiệu ứng

mà ít chú ý đến nội dung của bài học, ít ghi chép những nội dung quan trọng của bài học

Hiệu quả của một số tiết dạy chưa cao và không nổi bật so với các PP khác

Cơ sở vật chất còn hạn chế, nên không thường xuyên thực hiện được những tiếtdạy có ứng dụng CNTT

4 Biện pháp ứng dụng CNTT trong dạy học của bộ môn Toán:

Sử dụng phần mềm dạy học Toán làm phương tiện hỗ trợ một cách hợp lý sẽ chohiệu quả cao Phần mềm mô phỏng những chuyển động hình học, chuyển động điểm, sựbiến thiên của đồ thị hàm số, để cho người học có thể quan sát được “điều” mà cácphương tiện khác khó có thể thực hiện được

Đối với HS chưa khá giỏi toán, các bài toán hình học còn trừu tượng, khó hiểu Vìvậy, học hình học với sự trợ giúp của hình ảnh trực quan được mô phỏng trên phần mềm

là cách học rất tốt

Trang 37

Với HS giỏi toán, thấy hứng thú học tập, giúp sáng tạo những bài toán hay, pháthuy được tính tích cực chủ động trong học toán, góp phần phát triển trí tuệ, bồi dưỡngnăng lực tư duy sáng tạo cho HS.

Môn Toán cần chú trọng các phần mềm mô phỏng, minh họa các chuyển độnghình học, giúp HS tự tìm tri thức mới, tự ôn tập, tự luyện tập theo nội dung tùy chọn, theocác mức độ tùy theo năng lực của từng HS Các phần mềm như: GeoPlan, GeoSpace,Cabri, Mindmap (vẽ bản đồ tư duy), hỗ trợ hiệu quả dạy học môn Toán Giúp HS cóthể tự học, tự nghiên cứu, tìm tòi kiến thức mới, thiết kế những bài toán hay, bài toán vuiphát huy tính sáng tạo của HS Các phần mềm này cho một bộ công cụ tương tự như

“thước kẻ, compa” để người sử dụng có thể thao tác trên chúng tạo ra các hình hình học

Q  Viết phương trình ảnh của đường thẳng

AB, biết phương trình đường thẳng AB: x – 3y + 5 = 0

4 3 Ứng dụng phần mềm Geospace vẽ hình không gian (Hình học 11, 12):

Trang 38

Hình chóp S.ABCD, đáy ABCD là hình chữ nhật Hình lăng trụ

4 4 Bài tập ngoại khóa:

Thu thập các hình ảnh thực tế có dạng hình trụ, hình nón, hình cầu, các khối đadiện (hình học 12), …

Sử dụng trò chơi toán học trên mạng Internet là hình thức học mà chơi, vừa gópphần cho các em được làm quen với máy tính, khai thác hiệu quả mạng Internet

Tìm hiểu về hình học Fractal và bông tuyết Vônkốc khi học về phép biến hình(hình học 11), …

5 Kết luận và kiến nghị:

Việc ứng dụng CNTT vào dạy học góp phần đổi mới phương pháp dạy học, manglại hiệu quả cao là một công việc khó khăn, lâu dài, đòi hỏi rất nhiều điều kiện về cơ sởvật chất và năng lực của đội ngũ giáo viên Do đó, để đẩy mạnh việc ứng dụng và pháttriển CNTT trong dạy học có hiệu quả cần có sự quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất củacác cấp, sự chỉ đạo đồng bộ của ngành – của mỗi nhà trường và đặc biệt là sự nỗ lực họchỏi, rút kinh nghiệm của bản thân mỗi giáo viên

Tuy nhiên chúng ta cũng không thể dựa hoàn toàn vào CNTT, có những bài học cóthể ứng dụng CNTT, nhưng cũng có những bài phải sử dụng phương pháp khác hoặc phảikết hợp nhiều phương pháp để có được một bài dạy hiệu quả nhất Ứng dụng CNTT vàodạy học nói chung, dạy học Toán nói riêng là một việc làm cần thiết, nó không còn làchuyện của từng cá nhân mỗi GV mà là trách nhiệm và là biện pháp nhằm thúc đẩy hoạtđộng dạy và học ở các bậc học

Vấn đề đặt ra là cần có cái nhìn và định hướng đúng đắn trong việc sử dụng CNTTtrong dạy học Toán Nên ứng dụng CNTT ở những thời điểm nào, bài học nào, mức độnào, … để khai thác hết khả năng tiềm ẩn của nó mà không hạn chế việc phát triển tư duycủa HS, bởi Toán học có tính chất trừu tượng cao độ và tính lôgic Điều đó đòi hỏi người

GV phải có tâm huyết với nghề, thường xuyên tìm hiểu và thực hành các phần mềm ứngdụng mới, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, nắm vững những yêu cầu, kĩ năng vềCNTT, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học Toán,… và người GV vẫn luôn giữ vai tròchủ đạo trong sự thành công của tiết học

Nhà trường, tổ bộ môn thường xuyên tổ chức tập huấn, hướng dẫn GV sử dụng cácphần mềm ứng dụng mới

GV phải thường xuyên cập nhật, trao đổi, sử dụng, thực hành các ứng dụng, ápdụng thích hợp cho từng bài

Trang 39

Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử trường phổ thông

GV Nguyễn Hồng Thư

A ĐẶT VẤN ĐỀ

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Đổi mới phương pháp dạy học hiện đang là vấn đề cấp thiết để nâng cao chấtlượng dạy học Nhằm thực hiện nhiệm vụ chuyển từ hình thức giáo viên dạy học chủđộng sang dạy học lấy học sinh làm trung tâm Đó là một trong những mục tiêu quantrọng nhất trong cải cách giáo dục ở nước ta, để đáp ứng nhiệm vụ đào tạo nguồn nhânlực phục vụ công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa và quá trình hội nhập hiện nay.Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ thông tin nhằm đổi mới nội dung, phương phápdạy học là một công việc lâu dài, khó khăn đòi hỏi rất nhiều điều kiện về cơ sở vật chất,tài chính và năng lực của đội ngũ giáo viên Do đó, để đẩy mạnh việc ứng dụng và pháttriển công nghệ thông tin trong dạy học trong thời gian tới có hiệu quả, một trong số cácgiải pháp quan trọng là từng bước đổi mới nhận thức của giáo viên, tính chủ động củagiáo viên trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trở thành khâu đột phá Trong tình

hình thực tế của giáo viên dạy lịch sử trường PTTH Hòa Bình thực hiện đề tài ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, nhằm

chuẩn bị những kiến thức cần thiết, thực hiện yêu cầu của ngành giáo dục nói chung vàcủa trường sở tại nói riêng

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Thực hiện đề tài nhằm mục đích trao đổi về vai trò của ứng dụng công nghệ thôngtin trong dạy học với đồng nghiệp, trao đổi về kiến thức cơ bản trong đổi mới PP dạyhọc lịch sử Thực hiện đề tài nhằm rút ra cho bản thân những kinh nghiệm qua thực tếgiảng dạy của tổ bộ môn Đồng thời giới thiệu cho đồng nghiệp những kinh nghiệm vậndụng trong quá trình công tác giảng dạy, thực hiện đổi mới PP dạy học Góp phần khắcphục những khó khăn cho một số giáo viên khi sử dụng giáo án điện tử…

B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Cơ sở lý luận về ứng dụng công nghệ htông tin thông tin trong dạy học

Xuất phát từ các văn bản chỉ đạo của Đảng và nhà nước nhất là chỉ thị 58-CT/UWcủa Bộ Chính Trị ngày 07 tháng 10 năm 2000 về việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT phục

vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa đã chỉ rõ trọng tâm của ngành giáo dục

là đào tạo nguồn nhân lực về CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáodục và đào tạo, đây là nhiệm vụ mà Thủ tướng Chính phủ đã giao cho ngành giáo dụcThông qua quyết định số 81/2001/QĐ-TTg Chỉ thị 29/CT của Chính phủ về việc đưaCNTT vào nhà trường theo đó chỉ thị yêu cầu “ứng dụng và phát triển CNTT tronggiáo dục và đào tạo trong nhà trường sẽ tạo ra một bước chuyển cơ bản trong quá trìnhđổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy học tập và quản lý giáo dục,đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong tất cả các cấp học, bậc học theo hướng sử dụng CNTTnhư là một công cụ hổ trợ đắc lực nhất trong công tác giảng dạy đổi mới phương phápgiảng dạy ở tất cả các phương pháp giảng dạy” trong nhiệm vụ năm học từ năm 2005đến nay bộ trưởng bộ giáo dục cũng đều nhấn mạnh và yêu cầu nhanh chóng ứng dụngcông nghệ thông tin

Ngày đăng: 13/03/2016, 11:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình chóp S.ABCD, đáy ABCD là hình chữ nhật Hình lăng trụ - ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THPT HIỆN NAY
Hình ch óp S.ABCD, đáy ABCD là hình chữ nhật Hình lăng trụ (Trang 38)
Hình 1. Mô phỏng thí nghiệm ảo dòng điện trong kim loại - ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THPT HIỆN NAY
Hình 1. Mô phỏng thí nghiệm ảo dòng điện trong kim loại (Trang 58)
Hình 2. Đoạn cắt từ Video thực hiện thí nghiệm bài Dòng điện trong kim loại - ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THPT HIỆN NAY
Hình 2. Đoạn cắt từ Video thực hiện thí nghiệm bài Dòng điện trong kim loại (Trang 58)
Hình 4. Thí nghiệm ảo của vật qua thấu kính - ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THPT HIỆN NAY
Hình 4. Thí nghiệm ảo của vật qua thấu kính (Trang 59)
Hình 3. Đường đi của tia sáng hay vật sáng qua thấu kính - ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THPT HIỆN NAY
Hình 3. Đường đi của tia sáng hay vật sáng qua thấu kính (Trang 59)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w