1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Thuyết trình chủ đề Báo cáo đánh giá khu vực tài chính 2014 của World Bank

21 449 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 484,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giới thiệu Chương trình Chương trình đánh giá khu vực tài chính FSAP do Ngân hàng Thế giới WB và Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF khởi xướng thực hiện từ năm 1999, nhằm giúp các nước thành viên c

Trang 1

Chủ đề thuyết trình:

BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ KHU VỰC TÀI CHÍNH 2014

CỦA WORLD BANK

Nhóm thực hiện:

- Trịnh Ngọc Hồng Nhung;

- Nguyễn Huỳnh Bích Trâm

Trang 2

Nội dung thuyết trình:

“Báo cáo đánh giá khu vực tài chính 2014 của World Bank”

Bài thuyết trình bao gồm 3 phần:

 Phần 1: giới thiệu về chương trình FSAP và các

vấn đề liên quan

 Phần 2: Nội dung chính của báo cáo đánh giá khu vực tài chính

 Phần 3: Kết luận: Những cập nhật chính sách

Trang 3

Phần 1: Giới thiệu về chương trình FSAP và các vấn đề liên quan

I Giới thiệu Chương trình

Chương trình đánh giá khu vực tài chính (FSAP) do Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) khởi xướng thực hiện từ năm 1999, nhằm giúp các nước thành viên củng cố hệ thống tài chính và nâng cao hoạt động giám sát ngành tài chính của mình.

Chương trình này bao gồm hai cấu phần chính là đánh giá sự ổn định (do IMF tiến hành) và đánh giá sự phát triển cũng như nhu cầu phát triển của khu vực tài chính (do WB tiến hành, chỉ áp dụng cho các nước đang phát triển và mới nổi)

Trang 4

Nội dung Chương trình

Contents

các điều kiện thị trường và hạ tầng

các điều kiện giám sát và điều tiết

phân tích tổng quát sự ổn định và phát triển của hệ thống tài chính dựa trên việc phân tích các điều kiện kinh tế vĩ mô

Phần 1: Giới thiệu về chương trình FSAP

* kiến nghị các hoạt động nhằm tăng cường sự đóng góp của ngành tài chính vào sự tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo

* Giúp các quốc gia tham gia Chương trình thiết kế các cải cách cần thiết nhằm làm cho hệ thống tài chính trở nên ổn định hơn và có khả năng chống đỡ các rủi ro phát sinh từ cả bên ngoài lẫn bên trong nền kinh tế;

* kiến nghị các hoạt động nhằm tăng cường sự đóng góp của ngành tài chính vào sự tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo

Trang 5

Triển khai tại Việt Nam

Trên cơ sở phân tích những lợi ích tiềm năng của Chương trình FSAP, Chính phủ Việt Nam đã chủ động trao đổi với WB và IMF về kế hoạch thực hiện Chương trình FSAP tại Việt Nam Ngày 06/7/2012, tại văn bản số 936/TTg-QHQT, Thủ tướng Chính phủ đã giao Ngân hàng Nhà nước gửi thư chính thức đề nghị WB/IMF bắt đầu chuẩn bị và triển khai Chương trình FSAP

=> Thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong việc đánh giá một cách toàn diện

và đầy đủ về hệ thống tài chính gồm Ngân hàng, Chứng khoán và Bảo hiểm cũng như các lĩnh vực khác có liên quan chặt chẽ đến ổn định khu vực tài chính (như hoạt động của khu vực doanh nghiệp và thị trường bất động sản), từ đó góp phần hỗ trợ thực hiện một cách toàn diện và hiệu quả cho

kế hoạch tái cấu trúc nền kinh tế của nước ta

Phần 1: Giới thiệu về chương trình FSAP và các vấn đề liên quan (tt)

Trang 6

- Đề án cấp Quốc gia: Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

- Tổ chức đánh giá: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB)

 Phối hợp triển khai: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch Đầu tư, Bộ Tư pháp, Tòa án Nhân dân tối cao và một số đơn vị liên quan

Mục tiêu của chương trình:

 Đánh giá hiện trạng hệ thống tài chính của Việt Nam: xác định các điểm mạnh, điểm yếu và rủi ro; đánh giá nhu cầu phát triển và hỗ trợ kỹ thuật;

 Chuyển giao chuyên môn và thông lệ tốt nhất cho các cơ quan chức năng trong lĩnh vực tài chính;

 Thúc đẩy cải cách khu vực tài chính: thiết kế lộ trình cải cách giúp

hệ thống tài chính ổn định và dẻo dai hơn; đưa ra khuyến nghị chính sách nhằm tăng cường sự đóng góp của khu vực tài chính cho tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội

THÔNG TIN CƠ BẢN:

Phần 1: Giới thiệu về chương trình FSAP và các vấn đề liên quan (tt)

Trang 7

Hot Tip

Phạm vi của chương trình:

 Chương trình FSAP ở Việt Nam sẽ thực hiện đánh giá toàn diện khu vực tài chính trên 2 khía cạnh ổn định và phát triển với 3 cấu phần chính: Giám sát an toàn vĩ mô; Giám sát hệ thống tài chính; và Cơ sở hạ tầng tài chính.

 Theo Đề án Chương trình FSAP đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, dự kiến Chương trình FSAP tại Việt Nam sẽ đánh giá các lĩnh vực ngân hàng, thị trường vốn, bảo hiểm và một số lĩnh vực khác có liên quan.

Phần 1: Giới thiệu về chương trình FSAP và các vấn đề liên quan (tt)

Trang 8

 Báo cáo đánh giá khu vực tài chính (FSA) là phần tổng hợp của chương trình FSAP trong đó đưa ra các đánh giá về sự ổn định và tiềm năng phát triển của hệ thống tài chính Phần 1 đánh giá thực trạng và phần 2 là các khuyến nghị.

- Bên cạnh chứng khoán, bảo hiểm, báo cáo đã dành thời lượng lớn

- Báo cáo được Ngân hàng Nhà nước công bố vào tháng 12/2014

Trang 9

1 Giới thiệu:

- Theo Báo cáo: Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường từ T12/1986 Tuy nhiên, trong những năm gần đây, kinh tế Việt Nam tăng trưởng chậm lại và bộc lộ những dấu hiệu khó khăn về tài chính và doanh nghiệp ảnh hưởng đến sức khoẻ của hệ thống ngân hàng

Kết quả hoạt động yếu kém của khu vực tài chính là do cách bố trí phức tạp của các yếu tố thể chế và giám sát: sự can thiệp của chính quyền TW và địa phương vào các quyết định đầu tư và tín dụng của các DNNN, NHTMNN, cấu trúc quản trị và năng lực quản trị rủi ro chưa đầy đủ…

và lành mạnh, Thiết kế các bước đi chính sách để bảo vệ khu vực tài chính trong suốt quá trình cải cách

Phần 2: TÓM TẮT NỘI DUNG CHÍNH

CỦA BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ KHU VỰC TÀI CHÍNH

Phần 2: TÓM TẮT NỘI DUNG CHÍNH

CỦA BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ KHU VỰC TÀI CHÍNH

Chương I: Giới thiệu và tóm tắt các khuyến nghị chính

Trang 10

Chương II: CẤU TRÚC HỆ THỐNG TÀI CHÍNH

Đối với một quốc gia có thu nhập trung bình thấp thì hệ thống tài chính của Việt Nam là lớn, với tổng tài sản lên đến 200% GDP vào năm 2011

Mặc dù quy mô lớn so với chuẩn quốc tế nhưng sự phát triển của hệ thống tài chính trong những năm gần đây có nhiều biến động, phản ánh môi trường bất ổn bên ngoài cũng như các chính sách kinh tế vĩ mô thất thường: tăng giảm tín dụng trong năm 2006, tăng đột biến năm 2007, 2008 lại tăng trưởng chậm, bùng nổ tín dụng năm 2009-2010 do nới lỏng chính sách tài chính tiền tệ, và đến năm 2011 thì tín dụng lại giảm mạnh…

Quy mô các định chế tài chính phi ngân hàng và thị trường chứng khoán vẫn còn nhỏ, chỉ chiếm 17% GDP, công ty bảo hiểm chiếm 4% GDP, Quỹ tương hỗ chỉ chiếm 1%, Quỹ bảo hiểm xã hội chiếm 6,5% GDP

Trang 11

Mức độ tham gia của Nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng là lớn và theo cả hình thức liên kết sở hữu trực tiếp và gián tiếp; 5 ngân hàng thương mại nhà nước chiếm gần 40% tài sản và 48% tiền gửi khách hàng của khu vực ngân hàng Nếu tính cả phần vốn góp của nhà nước, DNNN và Ngân hàng thương mại NN tại một số ngân hàng cổ phần ( trong số 34 ngân hàng cổ phần) thì tổng mức tham gia của nhà nước vào lĩnh vực ngân hàng còn lớn hơn nữa.

Hệ thống ngân hàng có mức độ sở hữu chéo cao giữa các ngân hàng với nhau

và giữa các ngân hàng và doanh nghiệp Cơ cấu cổ đông phức tạp gây ra xung đột lợi ích và hoạt động cho vay bên có quan hệ nhằm tài trợ cho các

dự án thiếu minh bạch Cơ cấu này cũng dẫn đến tình trạng phóng đại vốn

do cho vay mua cổ phần lẫn nhau và đã tạo điều kiện lách các quy định an toàn trong giới hạn tập trung tín dụng

Kết quả hoạt động của khu vực ngân hàng xấu đi trong những năm gần đây và

có lẽ còn kém hơn so với báo cáo, chất lượng tài chính thấp đã ảnh hưởng đến việc đo lường một cách chính xác hầu như các chỉ số hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng như tỷ suất sinh lợi, nợ xấu

Các nhận định:

Chương III CẤU TRÚC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNGChương III CẤU TRÚC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG

Trang 12

Chất lượng cho vay và mức vốn của một số ngân hàng là rất đáng lo ngại Do những yếu kém về số liệu nên số liệu báo cáo tài chính đã được

điều chỉnh trên cơ sở các giả định không quá chặt chẽ, dẫn đến tỷ lệ nợ xấu tăng lên 12% cuối năm 2012 và làm giảm mạnh tỷ lệ an toàn vốn của một

tín dụng cơ bản thấp, có thể gặp khó khăn trong việc trả nợ vì vay nợ nhiều

so với khu vực tư nhân và tập trung hoạt động trong các ngành công nghiệp

có hiệu quả thấp

Chương III CẤU TRÚC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG (tt)Chương III CẤU TRÚC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG (tt)

Trang 13

Thị trường trái phiếu: Quy mô thị trường trái phiếu trong nước còn khiêm tốn Tổng giá trị trái phiếu hiện hành bằng khoảng 15%GDP trong đó 90% là trái phiếu Chính phủ Thị trường trái phiếu DN tăng trưởng trong vài năm qua, nhưng vẫn trong giai đoạn sơ khai.

=> Các yếu tố hạn chế sự phát triển của thị trường trái phiếu bao gồm: thị

trường sơ cấp còn thiếu hiệu quả, thị trường thứ cấp tham khoản thấp; thiếu

cơ sở nhà đầu tư tổ chức vững chắc; thiếu cơ sở hạ tầng và các dịch vụ hỗ trợ thị trường cần thiết

- Thị trường cổ phiếu: có đặc trưng là số lượng các công ty niêm yết lớn nhưng vốn hóa bình quân thấp, hiện có khoảng 700 công ty được niêm yết thông qua 2 sở giao dịch chứng khoán: TpHCM và Hà Nội, các công ty niêm yết tăng nhanh chóng là do cổ phần hóa các DNNN thông qua phát hành cổ phiếu lần đầu, 1/3 công ty niêm yết có vốn chi phối của nhà nước Trong khi thị trường cổ phiếu từ trước đến nay được xem là một kênh phục vụ cho quá trình cổ phần hóa DNNN, thị trường này còn có tiềm năng thực hiện vai trò có ý nghĩa hơn

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

CHƯƠNG VI PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG VỐNCHƯƠNG VI PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG VỐN

Trang 14

Thị trường quỹ tương hỗ nhỏ (0,4%GDP), thị trường bảo hiểm còn nhỏ (4%GDP) , chủ yếu là bảo hiểm phi nhân thọ

Dịch vụ ngân hàng kết hợp bảo hiểm bắt đầu tăng trưởng nhưng chưa được khai thác một cách hiệu quả để tiếp cận với bộ phận dân số chưa tham gia bảo hiểm

Quỹ hưu trí chưa nhiều nhưng quỹ BHXH có quy mô tài sản khá lớn bằng khoảng 6,5%GDP có thể đóng góp vào thị trường vốn nhưng chưa có chính sách đầu tư rõ ràng, danh mục đầu tư chủ yếu là trái phiếu CP, tiền gửi ngân hàng và các khoản cho vay

B CÁC NHÀ ĐẦU TƯ THỂ CHẾ

CHƯƠNG VI PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG VỐN (tt)CHƯƠNG VI PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG VỐN (tt)

Trang 15

A Tiến độ tiếp cập thị trường: Qua đợt khảo sát tiếp cận tài chính của WB thực hiện đã cho thấy số lượng các doanh nghiệp nhỏ và vừa và khách hàng cá nhân mở tài khoản tín dụng ở VN nhiều hơn các quốc gia được so sánh Tuy nhiên kết quả khảo sát này có thể đã bị phóng đại.

Tiếp cận tài chính của Việt Nam chủ yếu dựa vào sự can thiệp của các ngân hàng chính sách và một số ngân hàng thương mại NN

=> Muốn đạt được những tiến bộ hơn nữa về tiếp cận tài chính đòi hỏi phải

tăng cường nhiều hơn cơ sở hạ tầng tài chính, cải cách thể chế và phát triển thị trường sản phẩm.

B Những diễn biến trong hoạt động tài trợ nhà ở

Cho vay bất động sản có mức tăng trưởng bong bóng những năm gần đây nhưng trên thị trường vẫn thiếu những sản phẩm nhà ở có giá cả phải chăng hơn/.Quá trình thực thi pháp lý để xử lý các tài sản thế chấp là bất động sản rườm rà, kéo dài; thiếu thông tin, một số hoạt động cho vay mua nhà bản lẻ và mất cân đối thanh khoản…

Để cải thiện, Chính phủ và Ngân hàng nhà nước cần xem xét một số bước đi để đảm bảo tài chính nhà ở phát triển vững chắc: tăng cường minh bạch bằng cách xây dựng các chỉ số giá, tăng cường khuôn khổ an toàn, xây dựng khuôn khổ bảo vệ người tiêu dùng và ban hành các công cụ huy động vốn dài hạn…

CHƯƠNG V TIẾP CẬN TÀI CHÍNH CHƯƠNG V TIẾP CẬN TÀI CHÍNH

Trang 16

Công tác báo cáo tài chính ở Việt Nam cần được thay đổi nhằm nâng cao độ tin cậy cho mục đích đầu tư, quản lý và giám sát Chuẩn mực khuôn khổ kế toán VN hiện nay có xu hướng phóng đại khả năng sinh lời, giá trị tài sản và khả năng trả nợ của các tổ chức báo cáo; không rõ ràng đặc biệt đối với các DNNN do thiếu vắng văn hoá minh bạch và trách nhiệm giải trình

B Báo cáo tín dụng

Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) còn tồn tại những bất cập trong khuôn khổ hoạt động và quản lý làm cản trở tính hiệu quả của hoạt động báo cáo tín dụng: không thông báo cho người xin vay lí

do từ chối cho vay căn cứ vào thông tin từ CIC, không có cơ chế hiệu quả buộc các tổ chức phải cập nhật thông tin kịp thời và chất lượng cho CIC

=> Ngân hàng trung ương cần giám sát hệ thống báo cáo tín dụng nhằm hỗ trợ phát triển trung tâm tín dụng an toàn, hiệu quả, đáng tin cậy

A Kế toán và Kiểm toán

CHƯƠNG VI CƠ SỞ HẠ TẦNG TÀI CHÍNH CHƯƠNG VI CƠ SỞ HẠ TẦNG TÀI CHÍNH

Trang 17

Vẫn còn bất cập giữa luật pháp và thực thi khuôn khổ cho vay có bảo đảm Pháp luật phân tán, không nhất quán.

Hệ thống phá sản hoạt động sai lệch, nhiều toà án thương mại không tạo được niềm tin đối với công chúng Trên thực tế, ít trường hợp phá sản theo luật

do thiếu niềm tin vào toà án và quy trình có vấn đề, phần lớn theo cách phi chính thức, theo đó tài sản của người mắc nợ được chuyển đổi nhiều lần, khó theo dõi

D Các hệ thống quyết toán

Ngân hàng NNVN và uỷ ban chứng khoán NN đã thực hiện cải cách quan trọng đối với hệ thống thanh toán quốc gia bao gồm triển khai hệ thống thanh toán liên ngân hàng (IBPS), thực hiện cải cách pháp lý và quy định Tuy nhiên vai trò của hệ thống này và các cơ quan quản lý vẫn cần được cải thiện Việc thiếu một hệ thống ghi nợ trực tiếp là một lỗ hổng trong cơ

sở hạ tầng thanh toán bán lẻ cần phải giải quyết trong những thay đổi trung hạn

C Quyền chủ nợ và cơ chế phá sản

CHƯƠNG VI CƠ SỞ HẠ TẦNG TÀI CHÍNH (tt) CHƯƠNG VI CƠ SỞ HẠ TẦNG TÀI CHÍNH (tt)

Trang 18

 Việc quản lý giám sát đối mặt với nhiều thách thức lớn NHNHVN có nhiều mục tiêu nhưng thiếu tính độc lập ảnh hưởng đến khả năng thực hiện các quyền giám sát theo quy định của Luật Khuôn khổ pháp lý còn nhiều lỗ hỗng như: định nghĩa các bên liên quan hẹp, khuôn khổ cấp phép, giao quyền cứng nhắc, yêu cầu đảm bảo an toàn kém, phân loại tài sản và trích lập dự phòng chưa hiệu quả

 Nhiệm vụ, chính sách cho vay theo chỉ định cùng khuôn khổ quản lý, giám sát yếu kém, mức độ minh bạch thấp tạo ra môi trường kinh doanh trong đó hội đồng quản trị, ban điều hành chịu trách nhiệm rất ít, thậm chí không có trách nhiệm giải trình

 Cấu trúc sở hữu phức tạp của nhiều ngân hàng tư nhân gây xung đột lợi ích, đặc biệt là việc cấp vốn không an toàn cho các bên liên quan hoặc các hoạt động đầu cơ ngoài ngành

=> Khuôn khổ thanh tra giám sát phải được tăng cường mạnh mẽ đảm bảo lộ trình phù hợp cho sự phát triển tài chính

CHƯƠNG VII KHUÔN KHỔ THANH TRA GIÁM SÁT VÀ QUẢN LÝ

CHƯƠNG VII KHUÔN KHỔ THANH TRA GIÁM SÁT VÀ QUẢN LÝ

Trang 19

Chương trình cải cách được chia thành 3 giai đoạn chính nhằm giải quyết 2 thách thức cơ bản là: giải quyết hiệu quả nợ xấu và đảm bảo hiệu quả của dòng tài chính mới.

Giai đoạn 1: Các điều kiện tiên quyết để cải cách thành công

Biện pháp cấp bách nhất đòi hỏi phải tiến hành kiểm toán tài chính đặc biệt để

đo lường chính xác tỷ lệ nợ xấu và kiểm toán hoạt động các ngân hàng thương mại NN Giai đoạn này cũng thực hiện các biện pháp tạm thời như tăng mức bảo hiểm tiền gửi, thành lập quỹ hỗ trợ thanh khoản để bảo vệ sự

ổn định của hệ thống tài chính trong quá trình cải cách

Giai đoạn 2: Triển khai các cấu phần ưu tiên của chương trình cải cách

Biện pháp quan trọng nhất trong giai đoạn này là cấp vốn bổ sung cho các ngân hàng còn hoạt động (xác định dựa trên hoạt động kiểm toán đặc biệt)

để đáp ứng quy định về an toàn vốn tối thiểu và loại bỏ một cách trật tự các ngân hàng yếu kém Đây sẽ là cơ hội thoái vốn của các DNNN, làm sạch

sở hữu chéo giữa các ngân hàng với nhau và giữa các ngân hàng với các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn

CHƯƠNG VIII TĂNG CƯỜNG CHƯƠNG TRÌNH CẢI CÁCH CỦA CHÍNH PHỦ CHƯƠNG VIII TĂNG CƯỜNG CHƯƠNG TRÌNH CẢI CÁCH CỦA CHÍNH PHỦ

Ngày đăng: 13/03/2016, 09:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w