1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Bình luận về việc xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng các biện pháp dân sự tại việt nam

31 675 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 853,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN 2: CÁC BIỆN PHÁP DÂN SỰ Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm;  Buộc xin lỗi cải chính công khai;  Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;  Buộc bồi thường thiệt hại;  Buộc tiêu hủy hoặc buộc

Trang 1

PHẠM HẢI VÂN4

NGUYỄN THU CÚC1

VŨ THỊ ANH ĐÀO2

NGUYỄN NGỌC THANH XUÂN3

BÌNH LUẬN VỀ VIỆC XỬ LÝ XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ BẰNG CÁC BIỆN PHÁP DÂN SỰ TẠI VIỆT NAM

THỰC HIỆN: NHÓM 12

Trang 2

PHẦN 1: KHÁI QUÁT CÁC BIỆN PHÁP

Biện pháp hành chính

Được coi là cách giải quyết hiệu quả nhất cho các hành vi vi phạm QSHTT tại Việt Nam, có lẽ bởi văn hóa Việt Nam quen với cách giải quyết tranh chấp bằng con đường hành chính Thực tế chứng minh rằng thay vì biện pháp dân sự hay hình

sự, biện pháp hành chính thường mang lại kết quả nhanh chóng và hiệu quả

Trang 3

PHẦN 2: CÁC BIỆN PHÁP DÂN SỰ

 Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm;

 Buộc xin lỗi cải chính công khai;

 Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;

 Buộc bồi thường thiệt hại;

 Buộc tiêu hủy hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng

không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm QSHTT với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể QSHTT

3

Trang 4

PHẦN 2: CÁC BIỆN PHÁP DÂN SỰ

 Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm là việc Tòa án quyết định

buộc người có hành vi xâm phạm QSHTT chấm dứt ngay hành

vi xâm phạm theo yêu cầu của người khởi kiện Tòa án có thể quyết định buộc người có hành vi xâm phạm QSHTT chấm dứt hành vi xâm phạm trong bản án hoặc trong quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT) Trong đó Tòa

án phải nêu cụ thể các QSHTT bị xâm phạm và các hành vi xâm phạm QSHTT, đồng thời Tòa án cũng quy định rõ những việc người có hành vi xâm phạm QSHTT phải thực hiện và không được thực hiện để thi hành bản án, quyết định của Tòa

4

Trang 5

PHẦN 2: CÁC BIỆN PHÁP DÂN SỰ

 Buộc xin lỗi, cải chính công khai cũng là một biện pháp được quy định tại điều 202 của LSHTT Đây là biện pháp do Tòa án quyết định trong bản án, quyết định về việc buộc người có hành vi xâm phạm QSHTT phải xin lỗi, cải chính công khai nhằm khôi phục danh dự, nhân phẩm,

uy tín, danh tiếng cho chủ thể QSHTT bị xâm phạm Việc buộc xin lỗi, cải chính công khai nhằm mục đích bảo vệ quyền nhân thân của tác giả và khôi phục danh dự, uy tín cho tác giả Trong trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về nội dung, cách thức xin lỗi, cải chính công khai và chi phí để thực hiện việc xin lỗi, cải chính đó mà thỏa thuận đó không trái pháp luật, đạo đức xã hội thì tòa án công nhận sự thỏa thuận của họ Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được với nhau về nội dung, cách thức thực hiện việc xin lỗi, cải chính công khai và chi phí thực hiện thì Tòa án căn cứ vào tính chất hành vi xâm phạm và mức độ, hậu quả do hành vi đó gây ra quyết định về nội dung, thời lượng xin lỗi, cải chính công khai và chi phí thực hiện Việc xin lỗi, cải chính công khai có thể được thực hiện trực tiếp tại nơi có địa chỉ chính của người bị thiệt hại hoặc đăng công khai trên báo hàng ngày của cơ quan trung ương, báo địa phương nơi có địa chỉ chính của người bị thiệt hại trong ba số liên tiếp.

5

Trang 6

PHẦN 2: CÁC BIỆN PHÁP DÂN SỰ

 Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự là biện pháp được Tòa án

quyết định áp dụng đối với người có hành vi vi phạm nghĩa vụ đối với chủ thể QSHTT Đây là biện pháp dân sự được áp dụng khi người có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã thoả thuận trong hợp đồng và phải chịu trách nhiệm dân sự đối với chủ thể QSHTT Khi áp dụng biện pháp này cần căn cứ vào các quy định tương ứng tại các mục 2 và 3 Chương XVII, Phần thứ ba của Bộ luật dân

sự năm 2005 (BLDS)

6

Trang 7

PHẦN 2: CÁC BIỆN PHÁP DÂN SỰ

 Buộc bồi thường thiệt hại là biện pháp mà người có hành vi

xâm phạm QSHTT mà gây thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần cho chủ thể QSHTT thì phải bồi thường Thiệt hại do hành vi xâm phạm QSHTT được bồi thường bao gồm thiệt hại

về vật chất và thiệt hại về tinh thần Trong đó thiệt hại về vật chất bao gồm: các tổn thất về tài sản; mức giảm sút về thu

nhập, lợi nhuận; tổn thất về cơ hội kinh doanh; chi phí hợp lý

để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại Thiệt hại về tinh thần bao gồm: các tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín danh tiếng gây ra cho tác giả của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết

kế bố trí

7

Trang 8

PHẦN 2: CÁC BIỆN PHÁP DÂN SỰ

 Buộc tiêu hủy hoặc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không

nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm QSHTT với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể QSHTT Tòa án xem xét quyết định buộc tiêu hủy hoặc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện nêu trên mà không phụ thuộc vào việc chủ thể quyền có yêu cầu hay không có yêu cầu Khi quyết định buộc tiêu hủy hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm QSHTT, Tòa án sẽ quyết định trách nhiệm của người có hành vi xâm phạm QSHTT phải chịu chi phí cho việc tiêu hủy đó

8

Trang 9

PHẦN 3: THỰC TẾ – Quốc gia khác

Việc bảo vệ QSHTT:

•Chủ yếu bằng biện pháp dân sự

•Do hệ thống tư pháp đảm trách

•Cơ quan hành chính chỉ thực hiện các biện pháp ngăn chặn hành

vi xâm phạm QSHTT ban đầu để đảm bảo tính tức thì của hoạt

động thực thi

 Có nhiều ưu điểm hơn so với biện pháp hành chính, hình sự vì

 Bảo đảm được trình tự, thủ tục công khai, công bằng để người tham gia thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng

 Bảo đảm các nguyên tắc, thủ tục tố tụng đầy đủ, có hệ thống, xác định rõ chức năng, thẩm quyền của cơ quan và người tiến hành tố tụng, thẩm quyền của mỗi cấp Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc dân sự

9

Trang 10

PHẦN 3: THỰC TẾ – Quốc gia khác

- Đức, Thái Lan đã thành lập Tòa án chuyên biệt xét

xử các vụ xâm phạm về SHTT;

- Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Anh… chỉ có Tòa SHTT

giải quyết các vụ án dân sự về SHTT mà không có

Tòa chuyên trách để giải quyết các vụ án hình sự về SHTT, các vụ án hình sự về SHTT được giải quyết

theo thủ tục thông thường

- Các nước này đều có Tòa án về Văn bằng sáng chế, Tòa này có thẩm quyền đối với các vụ việc dân sự, phúc thẩm các quyết định của Văn phòng về Văn

bằng sáng chế.

10

Trang 11

PHẦN 3: THỰC TẾ – Việt Nam

“Việt Nam đang bị coi là một trong các quốc gia có tỷ lệ vi phạm QSHTT lớn trên thế giới, nhất là trong lĩnh vực vi phạm bản quyền về nghe nhìn và phần mềm máy tính”.

Tỉ lệ vi phạm bản quyền phần mềm máy tính: 81%

Năm 2004: 92%

Năm 2014: 81%

Các năm tiếp theo: 70%

Năm 2014 (cơ quan thanh tra của Bộ VHTT&DL):

82 doanh nghiệp bị kiểm tra đột xuất

1,5 tỉ đồng là số tiền xử phạt hành chính về việc vi phạm quy định pháp luật về quyền tác giả đối với phần mềm máy tính

11

Giảm 11%

Trang 12

PHẦN 3: THỰC TẾ – Việt Nam

Số vụ vi phạm QSHTT bị phát hiện tăng

nhanh chóng qua các năm, điểm qua:

Năm 2007: xử lý trên 18.000 trường hợp, phạt tiền

trên 15 tỷ đồng, tịch thu phương tiện, tang vật.

Năm 2011 (Bộ Khoa học và Công nghệ):

Trang 13

PHẦN 3: THỰC TẾ – Việt Nam

Năm 2013 – 2014 (lĩnh vực SHCN):

Xử lý 32.474 vụ

Tổng số tiền phạt: 139 tỷ đồng

Cơ quan công an khởi tố 158 vụ, 254 bị can

Năm 2014 (Bộ Khoa học và Công nghệ):

Kiểm tra hơn 18.200 vụ

Phát hiện gần 17.600 vụ vi phạm SHTT

13

Trang 14

PHẦN 3: THỰC TẾ – Việt Nam

Nhận xét

Các hành vi xâm phạm QSHTT:

• Diễn ra ở tất cả các lĩnh vực (sản xuất, chế

biến, lưu thông, XNK…)

• Liên quan đến nhiều thành phần kinh tế (tư

nhân, nhà nước, liên doanh, 100% vốn nước

ngoài…)

• Diễn ra ở hầu hết các đối tượng SHTT

14

Trang 15

PHẦN 3: THỰC TẾ – Việt Nam

Trong khi đó việc giải quyết các tranh chấp

QSHTT tại TAND bằng biện pháp dân sự lại

không đem lại kết quả như mong muốn

Số liệu giải quyết tranh chấp về QSHTT của ngành Tòa án:

•Giai đoạn 2000 – 2005: thụ lý 93 vụ, giải quyết được 61 vụ, trong

đó tạm đình chỉ, đình chỉ, rút đơn khởi kiện là 16 vụ, hòa giải

thành 12 vụ, đưa ra xét xử 33 vụ (bao gồm 11 vụ tranh chấp về quyền tác giả và liên quan, 22 vụ tranh chấp về QSHCN)

•Giai đoạn 2006 – 2009: thụ lý 108 vụ, giải quyết được 57 vụ,

trong đó đình chỉ, chuyển HS vụ án là 20 vụ, hòa giải thành 12 vụ, đưa ra xét xử 25 vụ (bao gồm 24 vụ tranh chấp về quyền tác giả

và liên quan, 01 vụ tranh chấp về QSHCN)

•Từ năm 2010 đến nay: chưa có số liệu thống kê cụ thể, nhưng

ước tính số vụ việc xâm phạm QSHTT được Tòa án thụ lý giải

quyết trung bình mỗi năm chỉ khoảng từ 25 - 30 vụ

15

Trang 16

 Số vụ vi phạm nhiều nhưng được xét xử tại Tòa án rất hạn chế

 Số vụ xử lý bằng biện pháp hành chính được áp dụng nhiều hơn và tỏ

ra hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của chủ thể quyền

Lý giải nguyên nhân:

Trang 17

PHẦN 4: NGUYÊN NHÂN & ĐỀ XUẤT

Thứ nhất , giải quyết tranh chấp QSHTT:

• Là vấn đề khó

• Đòi hỏi có kỹ thuật chuyên môn sâu

• Liên quan đến (nhiều) bên thứ 3

• Có yếu tố nước ngoài

Do đó, gây ra các vấn đề:

• Cung cấp tài liệu, chứng cứ mất nhiều thời gian

• Việc giải quyết kéo dài

• Phải xét xử nhiều lần, nhiều cấp

Dẫn đến hệ quả:

• Tốn kém thời gian, tiền bạc của đương sự, nhà nước.

• Việc chậm giải quyết không đáp ứng kịp thời đối với hoạt động khai thác quyền của chủ thể quyền

• Bất lợi cho chủ thể quyền vì QSHTT của họ bị giới hạn thời gian

• Làm cho các bên ít lựa chọn Toà án khi bị xâm phạm về QSHTT

17

Trang 18

PHẦN 4: NGUYÊN NHÂN & ĐỀ XUẤT

Quy định của luật:

 6 năm vẫn chưa giải quyết xong một vụ án

18

Trang 19

PHẦN 4: NGUYÊN NHÂN & ĐỀ XUẤT

Quy định của luật:

cơ quan, lãnh đạo Đảng, Chính phủ, Nhà nước, Quốc hội để được xem xét giải quyết, một số tổ chức, báo chí cũng có ý kiến

19

Trang 20

PHẦN 4: NGUYÊN NHÂN & ĐỀ XUẤT

Cần có hướng dẫn hợp lý các trường hợp như tạm hoãn, tạm đình chỉ hoặc nên có hướng dẫn của TANDTC về việc rút ngắn thời gian giải quyết đối với

vụ án xâm phạm QSHTT.

Cần ban hành các quy định riêng về thủ tục xét xử các vụ án về SHTT, theo đó thủ tục xét xử cần được tiến hành một cách linh hoạt, đơn giản, ngắn gọn, có thể học tập kinh nghiệm của một số nước như thẩm vấn nhân chứng qua điện thoại, không được hoãn phiên toà, xét xử bí mật…

20

Trang 21

PHẦN 4: NGUYÊN NHÂN & ĐỀ XUẤT

Thứ hai , trong quá trình giải quyết vụ án:

Tòa án thường phải trưng cầu ý kiến của các cơ quan quản lý nhà nước về SHTT và các cơ quan chức năng có liên quan để kết luận có hay không có hành vi xâm phạm về SHTT

21

Trang 22

PHẦN 4: NGUYÊN NHÂN & ĐỀ XUẤT

Tòa án, Viện Kiểm sát phối hợp chặt chẽ với các cơ quan quản lý chuyên ngành về SHTT để cùng tham gia khi có vấn đề về chuyên môn liên quan, thông qua các hình thức sau:

Tòa án có văn bản lấy ý kiến  cơ quan chức năng có trách nhiệm trả lời hoặc thành lập hội đồng giám định.

Các bên liên quan trực tiếp trao đổi, cho ý kiến chuyên môn tại phiên xử  nâng cao trách nhiệm của các cơ quan và giảm bớt thời gian giải quyết tranh chấp.

Tòa án thông báo lịch xét xử  cơ quan tham gia tố tụng hoặc theo dõi kết quả bảo vệ QSHTT trong phạm

Trang 23

PHẦN 4: NGUYÊN NHÂN & ĐỀ XUẤT

Thứ ba : Tâm lý sợ công khai bí mật kinh doanh

• Các chủ thể có quyền liên quan thường có tâm lý ngại ra Tòa

• Thường chọn phương pháp đơn giản hơn, hiệu quả nhanh hơn đó là khiếu nại đến cơ quan nhà nước bằng biện pháp hành chính

Cần có các quy định bảo vệ bí mật kinh doanh của chủ

thể (có thể học tập cách làm của một số nước như việc xét

xử bí mật) hoặc thành lập tòa chuyên biệt về SHTT nhằm khuyến khích các chủ thể bị xâm phạm mạnh dạn thực hiện các biện pháp dân sự khi bị xâm phạm.

23

Trang 24

PHẦN 4: NGUYÊN NHÂN & ĐỀ XUẤT

Thứ tư : Khó khăn trong việc xác minh mức độ thiệt hại

và yêu cầu bồi thường thiệt hại khi bị xâm phạm ít khi được chấp nhận.

•Nguyên đơn phải có nghĩa vụ chứng minh trước Tòa án về mức độ thiệt hại thực tế do hành vi xâm phạm

•Tuy nhiên, rất khó để chứng minh mức độ thiệt hại về mặt vật chất và tinh thần hoặc không đưa ra được chứng cứ chứng minh hành vi xâm phạm

•Yêu cầu đòi bồi thường chỉ được Tòa án chấp nhận 1 phần không đủ bù đắp cho thiệt hại thực tế hoặc chỉ đủ bù đắp cho chi phí khởi kiện, cũng có khi những thiệt hại không chấp nhận bồi thường

Về căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại

Về định giá tài sản SHTT

24

Trang 25

PHẦN 4: NGUYÊN NHÂN & ĐỀ XUẤT

Về căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại

Cần có hướng dẫn cụ thể cho việc xác định mức thiệt hại như:

•Đối với thiệt hại về mặt vật chất: nên đưa ra các danh mục tài liệu cần cung cấp trong quá trình xác định mức thiệt hại: cung cấp báo cáo tài chính để chứng minh tình hình hoạt động kinh doanh, thị phần tiêu thụ bị giảm sút … để chủ thể có quyền có thể định hướng được những việc cần phải thực hiện khi khởi kiện

•Đối với thiệt hại về tinh thần như danh dự, uy tín, nhân phẩm

do bị xâm phạm cần đánh giá thông qua chứng minh của đương sự, qua tài liệu cung cấp của cơ quan nhà nước, các hiệp hội có liên quan hoặc nơi cư trú của đương sự…

25

Trang 26

PHẦN 4: NGUYÊN NHÂN & ĐỀ XUẤT

Về định giá tài sản SHTT

Khái niệm về việc định giá tài sản SHTT là vấn đề còn khá mới Hiện nay, đã có một số tổ chức thực hiện việc định giá tài sản trí tuệ, tuy nhiên để khách quan trong việc xác định giá trị tài sản trí tuệ cần có 1 cơ quan nhà nước độc lập thực hiện việc định giá hoặc có thể thông qua các công ty định giá của tư nhân mà đã được nhà nước thẩm định về năng lực và uy tín trong ngành thực hiện việc định giá tài sản trí tuệ khi xảy ra tranh chấp

26

Trang 27

PHẦN 4: NGUYÊN NHÂN & ĐỀ XUẤT

Thứ năm : Thiếu các tòa án chuyên trách về SHTT

Tình hình vi phạm về quyền SHTT ngày càng gia tăng trên thực tiễn tuy nhiên các vi phạm về quyền SHTT thường ít được giải quyết bằng 1 phán quyết của tòa án, do:

•Tranh chấp về SHTT thường rất phức tạp

•Thẩm phán chưa có kiến thức chuyên sâu về SHTT

•Trong quá trình giải quyết tham khảo nhiều ý kiến của chuyên gia, cơ quan chuyên môn nhưng có khi các ý kiến này không thống nhất

27

Trang 28

PHẦN 4: NGUYÊN NHÂN & ĐỀ XUẤT

Về tổ chức và nâng cao năng lực của Tòa án

•Cần tổ chức tòa chuyên trách về các tranh chấp về quyền SHTT Ngoài các thành phần tham gia xét theo luật Bộ TTDS thì trong thành phần tham gia xét xử cần có thêm 2-3 vị trí dành cho các chuyên gia trong lĩnh vực đang tranh chấp để đưa ra ý kiến chuyên môn và nhận định được các thiệt hại phát sinh khi quyền SHTT bị xâm phạm, như vậy các quyết định của tòa mới có sức thuyết phục và xử lý nhanh chóng các vụ án vi phạm về SHTT

•Ngoài ra, đối với các thẩm phán chuyên xét xử các vi phạm về sở hữu trí tuệ cần bổ nhiệm thêm các chuyên gia trong lĩnh vực kinh

tế, sở hữu trí tuệ làm thẩm phán đối với tòa chuyên trách SHTT

để các vụ tranh chấp về SHTT có thể đưa ra phán quyết hợp lý

28

Trang 29

PHẦN 4: NGUYÊN NHÂN & ĐỀ XUẤT

Thứ sáu : Thi hành các vụ án dân sự chưa được thực thi triệt để

Việc thi hành các bản án dân sự rất khó khăn Theo nguồn tin của Bộ Tư pháp, thì hiện còn khoảng 500.000 bản án có hiệu lực chưa được thi hành án (mà trong đó, hầu hết là các bản

án dân sự) Việc các bản án có hiệu lực pháp luật chưa được thực thi trong thực tế đã làm giảm hiệu lực của việc thực thi quyền bằng trình tự dân sự

 Giao cho các tổ chức tư nhân thực hiện việc thi hành đối

với các bản án có hiệu lực như các lực lượng thừa phát lại, tuy nhiên việc này cần có những quy định cụ thể về phạm

vi, quyền hạn và nghĩa vụ thực hiện chẳng hạn như các vụ

án đơn giản, thiệt hại thấp thì có thể do thừa phát lại thực hiện và các vụ án phức tạp, thiệt hại phát sinh lớn thì do

cơ quan thi hành án thực hiện Từ đó giảm áp lực cho cơ quan thi hành án giúp đẩy nhanh việc thi hành án dân sự hơn trong tương lai.

29

Ngày đăng: 13/03/2016, 09:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w