1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả thi hành Luật cạnh tranh

97 421 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 346,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vận dụng quy phạm pháp luật từ Luật cạnh tranh mẫu của Uỷ ban Liên hiệpQuốc về thương mại và phát triển và Luật cạnh tranh ở các nước: Nhật Bản, Liênminh Châu Âu, Mỹ… Luật cạnh tranh Việ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tạo lập và duy trì một môi trường kinh doanh bình đẳng, kiểm soát độcquyền, kiểm soát các hành vi gây hạn chế cạnh tranh, bảo vệ quyền lợi người tiêudùng là một trong những nhiệm vụ trọng yếu của nền kinh tế thị trường trong bốicảnh mở cửa thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế Để đạt được những mục tiêunêu trên, Nhà nước - với tư cách là người quản lý xã hội, song song với các chínhsách phát triển kinh tế cần phải xây dựng và ban hành các chính sách pháp luật vềcạnh tranh Ở Việt Nam, sự ra đời của Luật cạnh tranh với mục đích tạo dựng vàduy trì một môi trường cạnh tranh lành mạnh, kiểm soát độc quyền trong kinhdoanh là biểu hiện tích cực về sự nỗ lực của Nhà nước trong việc quản lí xã hội,đồng thời đây cũng chính là một bước thể chế hoá nội dung Nghị quyết Đại hội

Đảng toàn quốc lần thứ 9: "Cơ chế thị trường đòi hỏi phải hình thành một môi trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp, văn minh Nhà nước tạo môi trường pháp

lý thuận lợi, bình đẳng cho các Doanh nghiệp cạnh tranh và hợp tác để phát triển "

Pháp Luật cạnh tranh của hầu hết các nước ra đời đều bắt nguồn từ nhu cầu

tự thân của nền kinh tế1, ở Việt Nam, Luật cạnh tranh ra đời trong khuôn khổchương trình hoàn thiện khung pháp lí phục vụ tiến trình Hội nhập kinh tế quốc tế,dường như dưới sức ép mạnh mẽ từ bên ngoài, mà cụ thể là tiến trình gia nhập Tổchức Thương mại Thế giới (WTO) Để tuân thủ nguyên tắc “không phân biệt đối

xử và cạnh tranh bình đẳng” của WTO trước yêu cầu hội nhập, Luật số

1 Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: Xây dựng mô hình cơ quan quản lí Nhà nước về cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ trong thương mại quốc tế Kinh nghiệm quốc tế và đề xuất cho Việt Nam.

Trang 2

27/2004/QH11 về Cạnh Tranh đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 6 và cóhiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2005

Với mục tiêu cao cả là tạo lập và duy trì một môi trường kinh doanh bìnhđẳng, bảo vệ tất cả các loại hình doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng,Luật cạnh tranh được xem là công cụ để các doanh nghiệp tự do cạnh tranh trongkhuôn khổ pháp luật Tuy nhiên, Luật cạnh tranh chỉ có thể hoàn thành sứ mệnhcủa mình khi các quy định của Luật được thi hành trên thực tế Sau hơn 7 năm thihành, liệu pháp Luật cạnh tranh có hoàn thành được sứ mệnh của mình?

Để trả lời câu hỏi này, Luận văn giải quyết những vấn đề nghiên cứu dướiđây:

- Đưa raNhận diện những học thuyết pháp luật cạnh tranh Việt Nam đã dunhập, phân tích tiền đề để các học thuyết này được triển khai và thực hiện thôngqua các quy phạm nội dung của Luật cạnh tranh

- Đưa ra và phân tích, đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật cạnh tranh dướigóc nhìn đa chiều, đặc biệt là từ góc độ của cơ quan quản lý cạnh tranh, cơ quan thihành pháp luật, dưới góc độ doanh nghiệp và người tiêu dùng;

- Từ những phân tích và đánh giá ở trên, đưa ra những khuyến nghị lậppháp và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật cạnh tranh trên thực tế

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Cho đến nay, đã có một số đề tài, công trình khoa học ở trong nước tập trungnghiên cứu vấn đề thực tiễn áp dụng Luật cạnh tranh tại Việt Nam Cục Quản lýCạnh tranh trong hai năm 2010 và 2011 đã ban hành “Báo cáo hoạt động thườngniên Cục Quản lý Cạnh tranh” trong đó tổng kết công tác thực thi pháp luật cạnh

Trang 3

tranh thông qua việc thống kê cụ thể các vụ việc cạnh tranh mà Cục đã xử lý baogồm các vụ việc hạn chế cạnh tranh, các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh vàtập trung kinh tế Báo cáo của Cục Quản lý Cạnh tranh đồng thời cũng phân tíchcác hoạt động hỗ trợ thực thi pháp luật cạnh tranh, đánh giá mặt tích cực và mặthạn chế trong công tác thi hành và đưa ra các phương hướng hoạt động nhằm nângcao hiệu quả thi hành Luật cạnh tranh như xây dựng đề xuất sửa đổi Luật cạnhtranh, hoàn thiện các vụ việc điều tra, tăng cường năng lực trong việc xử lý các vụviệc liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh… Báo cáo hoạt độngthường niên của Cục Quản lý Cạnh tranh chưa chỉ ra và phân tích được nguyênnhân của việc thi hành kém hiệu quả pháp luật cạnh tranh cũng như chưa đề ra cácgiải pháp cụ thể để cải thiện vấn đề này Ngoài ra, Cục Quản lý Cạnh tranh vàonăm 2009 cũng ban hành “Báo cáo nghiên cứu, khảo sát mức độ nhận thức củacộng đồng đối với Luật cạnh tranh” với những số liệu cụ thể về khả năng nhậnthức Luật cạnh tranh của cộng đồng doanh nghiệp và người tiêu dùng thông quacác nhóm câu hỏi liên quan đến: đối tượng áp dụng, phạm vi điều chỉnh, cơ quanquản lý cạnh tranh… Báo cáo đưa ra các kết luận và kiến nghị về hoàn thiện thểchế; tăng cường năng lực cho cơ quan quản lý cạnh tranh, toà án; đầu tư cho côngtác phổ biến, thông tin pháp luật; đẩy mạnh hợp tác quốc tế… tuy nhiên Báo cáochủ yếu chỉ nêu kiến nghị mà chưa đưa ra, phân tích giải pháp cụ thể trong từngkiến nghị Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: “Xây dựng mô hình cơ quan quản lýNhà nước về cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ trong thươngmại quốc tế Kinh nghiệm quốc tế và đề xuất cho Việt Nam” do Tiến sĩ Đinh Thị

Mỹ Loan làm chủ nhiệm đề tài và cử nhân Trịnh Anh Tuấn làm thư kí khoa học đãnghiên cứu một cách tổng thể mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh ở các nước vàđưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quanquản lý cạnh tranh Việt Nam

Trang 4

Ngoài ra, Cục quản lý Cạnh tranh đã tổ chức nhiều hội thảo về vấn đề nàynhư: Hội thảo “Thực thi Luật cạnh tranh ở các nước ASEAN và thực tiễn quốc tế”tại thành phố Hồ Chí Minh tháng 12/2009, Hội thảo “Thực tiễn áp dụng Luật cạnhtranh trong một số lĩnh vực chuyên ngành – kinh nghiệm của Nhật Bản và thực tiễn

ở Việt Nam – Những vấn đề đặt ra” tại Đà Nẵng đầu năm 2010, Hội thảo công bố

“Báo cáo đánh giá cạnh tranh trong 10 lĩnh vực của nền kinh tế” tại thành phố HồChí minh tháng 10 năm 2010…

Bên cạnh các đề tài khoa học, còn có một số bài viết của các nhà luật họcliên quan đến khía cạnh thực tiễn thi hành Luật cạnh tranh như, tác giả NguyễnHữu Huyên bài viết “Điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh” đăng trên Tạp chí Luậthọc số 6/2006; PSG.TS Nguyễn Như Phát bài viết “Đưa pháp luật chống cạnhtranh không lành mạnh vào cuộc sống” đăng trên Tạp chí Luật học số 6/2006; TS.Nguyễn Văn Tuyến bài viết “Áp dụng Luật cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ ngânhàng” đăng trên Tạp chí Luật học số 6 năm 2006; tác giả Nguyễn Thanh Tú, PhanHuy Hồng với bài viết “Một số bất cập trong quá trình thực thi pháp luật cạnhtranh: nhìn từ một vụ việc” đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 10/2011…

Tất cả các công trình nghiên cứu, hội thảo, bài báo nêu trên - mỗi tài liệuchỉ phân tích một hoặc một số khía cạnh nhất định trong vấn đề thực tiễn áp dụngLuật cạnh tranh tại Việt Nam, chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về thực tiễn ápdụng pháp Luật cạnh tranh dưới góc nhìn đa chiều xuất phát từ sự du nhập phápluật cạnh tranh vào Việt Nam Do vậy, nghiên cứu đề tài tác giả hi vọng sẽ cónhững đóng góp nhất định vào việc thi hành hiệu quả Luật cạnh tranh tại ViệtNam

3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

Trang 5

Tác giả sẽ tập trung nghiên cứu về sự du nhập pháp luật cạnh tranh vào ViệtNam thông qua các quy định hiện hành của Luật cạnh tranh và thực tế thi hànhLuật cạnh tranh dưới bốn góc độ: cơ quan quản lý cạnh tranh, cơ quan thi hànhpháp luật, cộng đồng doanh nghiệp và người tiêu dùng Trên cơ sở các nghiên cứutổng hợp nêu trên, đề tài mong muốn đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện thểchế pháp Luật cạnh tranh và nâng cao hiệu quả thi hành Luật cạnh tranh trên thực

- Nghiên cứu các văn bản pháp lý trong lĩnh vực cạnh tranh;

- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng Luật cạnh tranh

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp so sánh, đối chiếu được sử dụng để đánh giá mối quan hệ củapháp luật Việt Nam với các quan điểm của pháp luật nước ngoài trong bối cảnhtoàn cầu hóa

Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng để xác định và luận giải cácvấn đề liên quan đến quy định của pháp luật cạnh tranh, thực tế thi hành và khảnăng tiếp nhận pháp luật cạnh tranh

Trang 6

6 Ý nghĩa và điểm mới của đề tài

Thực tiễn áp dụng Luật Cạnh tranh không phải là đề tài mới, tuy nhiên, tiếpcận vấn đề thực tiễn áp dụng từ sự du nhập pháp luật cạnh tranh vào Việt Nam vànghiên cứu vấn đề thực tiễn thi hành dưới góc nhìn đa chiều thì hiện chưa có côngtrình nào giải quyết toàn diện tất cả vấn đề này Mỗi một văn bản luật ban hành,chúng ta luôn có thói quen và khẩu hiệu đưa pháp luật vào cuộc sống trong khi rất

ít nhìn nhận dưới khía cạnh liệu thực tiễn đã được phản ánh trong pháp luật haychưa và chúng ta có tiền đề để thi hành pháp luật không Luật Cạnh tranh ViệtNam được ban hành từ năm 2004 trước sức ép hội nhập của nền kinh tế Việt Nam.Xét về quy phạm pháp luật, quá trình tiếp nhận luật được xem là thành công Tuynhiên, sau 7 năm chính thức thi hành, sức lan toả của Luật cạnh tranh vào nền kinh

tế Việt Nam được đánh giá là yếu ớt Việt Nam đã có bài học từ sự thất bại trongviệc du nhập Luật phá sản và hiện tại chúng ta đang cố gắng duy trì sức sống củaLuật Cạnh tranh Với việc nghiên cứu thực tiễn áp dụng Luật cạnh tranh thông quacách tiếp cận từ những tư tưởng điều tiết cạnh tranh được du nhập vào Việt Nam,tác giả hy vọng rằng, kết quả của Luận văn sẽ là những đóng góp nhất định choquá trình hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả thi hành Luật cạnh tranh để Luậtcạnh tranh hoàn thành sứ mệnh của mình trong việc bảo vệ môi trường kinh doanh,bảo vệ cộng đồng doanh nghiệp và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về Luật cạnh tranh.

Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp Luật cạnh tranh tại Việt Nam.

Trang 7

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả thi hành Luật cạnh tranh.

Trang 8

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ LUẬT CẠNH TRANH

I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH PHÁP LUẬT CẠNH TRANH TRÊN THẾ GIỚI

1 Khái niệm cạnh tranh

Về khái niệm cạnh tranh, có rất nhiều cách hiểu khác nhau xuất phát từ phạm vi

sử dụng: phạm vi Quốc gia, phạm vi liên Quốc gia, phạm vi ngành, phạm vi doanhnghiệp

Trong phạm vi Quốc gia:

Cạnh tranh đối với một quốc giá là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện thịtrường tự do và công bằng, có thể sản xuất các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng được cácđòi hỏi của thị trường Quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng được thu nhập thực tếcủa người dân nước đó (theo Uỷ ban cạnh tranh công nghiệp của Tổng thống mỹ).Như vậy, trong phạm vi quốc gia, mục tiêu của cạnh tranh là nâng cao mức sống, thunhập và phúc lợi cho nhân dân

Trong phạm vi liên quốc gia

Cạnh tranh được hiểu là "Khả năng của nước đó đạt được những thành quảnhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt đựơc các tỷ lệ tăng trưởng kinh tếcao được xác định bằng các thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tính trênđầu người theo thời gian”2

Trong phạm vi doanh nghiệp và phạm vi ngành:

Theo K Marx: "Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà

tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hànghóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch" Khái niệm cạnh tranh của K Marx gắn liền

Báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm 2003 tại diễn đàn Liên hợp quốc

Trang 9

với sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa Theo K.Marx, quy luật cơ bản của cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là quy luật điều chỉnh tỷsuất lợi nhuận bình quân, và qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trường.

P.A Samuelson và W.D.Nordhaus - hai nhà kinh tế học Mỹ trong cuốn Kinh

tế học (xuất bản lần thứ 12) cho rằng: Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanhnghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường

Cùng quan điểm xem cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo nhưP.A Samuelson và W.D.Nordhaus, D.Begg, S Fischer và R Dornbusch - người

Mỹ cho rằng: cạnh tranh hoàn hảo, là ngành trong đó mọi người đều tin rằng hànhđộng của họ không gây ảnh hưởng tới giá cả thị trường, phải có nhiều người bán vànhiều người mua R.S Pindyck và D.L Rubinfeld trong cuốn kinh tế học vĩ mô viếtrằng: Một thị trường cạnh tranh hoàn hảo, hoàn thiện có rất nhiều người mua vàngười bán, để cho không có người mua hoặc người bán duy nhất nào có ảnh hưởng

có ý nghĩa đối với giá cả

Theo từ điển Kinh doanh của Anh năm 1992 “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”

Từ điển Tiếng Việt “Bách khoa tri thức phổ thông” của Việt Nam cũng giải

thích cạnh tranh là sự ganh đua giữa những nhà sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất 3

Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau, tuy nhiên, tựu chung lại muốn cócạnh trạnh, phải hội tụ tối thiếu các yếu tố sau:

3 Từ điển Bách khoa Tri thức Phổ Thông (2007) Nhà xuất bản lao động

Trang 10

Về chủ thể: Tham gia cạnh tranh phải có nhiều chủ thể Các chủ thể nàycùng nhằm tới một mục tiêu, có nghĩa cùng chung kết quả cần đạt được.

Về môi trường cạnh tranh: Hành vi cạnh tranh của các chủ thể được diễn ratrong một môi trường cạnh tranh nhất định, được điều chỉnh bởi các chính sáchcạnh tranh, quy Luật cạnh tranh, quy phạm pháp luật về cạnh tranh và thông lệkinh doanh nói chung

Về phạm vi: Cạnh tranh có thể diễn ra trên phạm vi rộng (diễn ra giữa cácquốc gia, các khu vực) hoặc diễn ra trong phạm vi hẹp (diễn ra trong một ngành,một địa phương)

Về thời gian: Cạnh tranh có thể diễn ra trong một khoảng thời gian dài(trong suốt quá trình tồn tại, hoạt động của một chủ thể) nhưng cũng có thể diễn ratrong khoảng thời gian ngắn (trong một giai đoạn hoạt động nhất định của chủ thể)

Như vậy, xem xét ở góc độ chủ thể của hành vi thì cạnh tranh được coi làphương thức giải quyết mâu thuẫn về lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh doanhvới vai tṛ quyết định của người tiêu dùng Nếu nhìn khái quát trên quy mô toàn xãhội, thì cạnh tranh là phương thức phân bổ các nguồn lực, tài nguyên một cách tối

ưu, do đó là động lực bên trong của nền kinh tế phát triển4 Do vậy, cạnh tranh vừamang bản chất kinh tế vừa mang bản chất xã hội Việc doanh nghiệp nỗ lực để xâydựng cho mình một ưu thế chi phối thị trường vì mục tiêu lợi nhuận là biểu hiệnbản chất kinh tế của cạnh tranh Uy tín của mỗi chủ thể cạnh tranh trong mối quan

hệ với người tiêu dùng, với các đối thủ cạnh tranh khác và người lao động là biểuhiện bản chất xã hội của cạnh tranh

4 Nguyễn Như Phát, Bùi Nguyên Khánh (2001), Tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh tranh trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội, trang

19 )

Trang 11

Về hình thái của cạnh tranh, nếu xét theo cơ cấu doanh nghiệp và mức độtập trung trong một ngành, lĩnh vực kinh tế, cạnh tranh trên thị trường được phânchia thành cạnh tranh hoàn hảo, độc quyền, cạnh tranh không hoàn hảo; nếu căn cứvào mục đích và tính chất của các phương thức cạnh tranh, cạnh tranh được phânchia thành cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh

2 Lịch sử hình thành của pháp lL uật cạnh tranh

Nhu cầu của nền kinh tế đã thúc đẩy Luật cạnh tranh ra đời ở các nướccũng như thúc đẩy quá trình sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện Luật cạnh tranh để phùhợp với thực tiễn Luật cạnh tranh mặc dù tồn tại với nhiều tên gọi khác nhau: Luậtcạnh tranh - Competition Law, Luật chống hạn chế cạnh tranh, Luật chống độcquyền - Anti monopoly Act, Luật thương mại lành mạnh – Fair Trade Law …)nhưng tất cả đều có chung một mục đích là tạo lập một môi trường cạnh tranh bìnhđằng giữa các chủ thể, duy trì sự cạnh tranh lành mạnh và bảo vệ người tiêu dùng

Pháp Luật cạnh tranh ra đời sớm nhất ở Mỹ vào năm 1890 với tên gọi làLuật chống độc quyền - Sherman Anti-Trust Act Ngay khi ra đời, Luật Sherman

đã trở thành công cụ để điều chỉnh các thoả thuận gây hạn chế thương mại và cấmviệc sử dụng các biện pháp phản cạnh tranh hoặc lạm dụng vị trí độc quyền nhằmgiành được vị thế độc quyền Luật Sherman có thể được thực thi như luật dân sựhoặc như luật hình sự Các hành vi như: ấn định giá tạm thời, thông đồng để thắngthầu sẽ bị truy tố hình sự Sau 24 năm kể từ khi Luật Sherman ra đời, vào năm 1914,hai bộ luật Liên bang nữa đã được thông qua là Luật Clayton và Luật Uỷ ban Thươngmại Liên bang (FTC) Hiện nay, hầu hết các Bang của Mỹ đã thông qua Luật củabang mình, tuy nhiên, tất cả đều dựa trên nội dung nền tảng từ Luật Sherman và LuậtFTC

Trang 12

Ở Đức Luật Chống hạn chế cạnh tranh, viết tắt là ARC có hiệu lực vàonăm 1958 Tính đến nay, Luật đã được sửa đổi, bổ sung 7 lần Lần sửa đổi cuốicùng có hiệu lực vào tháng 07/2005.

Luật cạnh tranh kinh tế (Economic Competition Act) của Hà Lan ra đời vàonăm 1956 Sau đóấy vào năm 1997, Hà Lan đã ban hành Luật cạnh tranh mới thaythế cho Luật 1956 Qua nhiều lần sửa đổi, hiện tại, Hà Lan đang áp dụng Luật cạnhtranh được sửa đổi vào năm 2004

Luật Thương mại lành mạnh được ra đời ở Anh vào năm 1973 Sau hơn 20năm thi hành, ngày 09/11/1998, Anh đã ban hành Luật cạnh tranh để sửa đổi LuậtThương mại lành mạnh 1973 với việc quy định thêm các điều khoản cấm hành viphản cạnh tranh

Để bảo đảm quyền tự do kinh doanh và làm cho pháp luật của Italia phù hợpvới luật lệ của Cộng đồng Châu Âu, Italia đã ban hành Luật cạnh tranh và Thươngmại công bằng năm 1990 và pháp luật chống độc quyền quốc gia vào năm 2004

Trong lịch sử hình thành và phát triển của Luật cạnh tranh Châu Âu, đángchú ý, quy định nhằm bảo vệ cạnh tranh lành mạnh đã tồn tại trong hiệp ước thànhRome - hiệp ước để thành lập cộng đồng kinh tế chung Châu Âu, được ký ngày 27tháng 5 năm 1957 bởi các quốc gia Pháp, Tây Đức, I-ta-li-a, Bỉ, Ni-zơ-lan, và Lúc-xem-bua Những điều khoản này đã được phát triển và được luật hoá để trở thànhmột bộ Luật cạnh tranh được ra đời vào những năm 1970 Hầu hết Luật cạnh tranhcủa các nước Châu Âu đều được phát triển theo hướng phù hợp với các quy địnhchung của Luật cạnh tranh Châu Âu Với sự gia nhập của nhiều quốc gia mới vàokhối EU Đến năm 2004 cùng với việc gia nhập của nhiều thì một sự cải cách quantrọng nhất đối với Luật cạnh tranh Châu Âu đã được tiến hành theo đó yêu cầu tất

cả các thành viên của EU phải đồng nhất sửa đổi và áp dụng nguyên tắc phối hợpchung giữa các thành viên để tạo ra một hệ thống Luật cạnh tranh áp dụng chung

Trang 13

cho tất cả các thành viên EU, và do vậy lần đầu tiên tất cả các thành viên EU đượcyêu cầu áp dụng một hệ thống Luật cạnh tranh chung cho các hành vi vi phạm sảy

ra tại khu vực này

Ở Châu Á, sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, hầu hết các nước ởĐông Bắc Á và Đông Nam Á đã ban hành Luật cạnh tranh trước yêu cầu chuyểnđổi sang nền kinh tế thị trường Tại Hàn Quốc, Uỷ ban Công bằng Thương mạiHàn Quốc đã ban hành Luật Công bằng Thương mại và Kiểm soát Độc quyền năm

1980 và sửa đổi, bổ sung vào các năm 1986, 1990, 1992, 1994, 1996, 1998, 1999.Tại Đài Loan, Luật chống cạnh tranh không lành mạnh được Uỷ ban Công bằngThương mại Đài Loan ban hành năm 1991 Cơ quan Phát triển Quốc gia của Mông

Cổ ban hành Luật chống cạnh tranh không lành mạnh năm 1993 Tại Trung Quốc,Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh được ban hành năm 1993, tiếp theo, vàonăm 1998, Cơ quan quản lý Thương mại và Công nghiệp Quốc gia đã ban hànhLuật giá cả; sau đấy, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Luật chống độcquyền vào ngày 30/8/2007, Luật chính thưc có hiệu lực vào ngày 01/8/2008

Tại các nước Đông Nam Á, Philipin là nước có Luật cạnh tranh sớm nhất, Luật độcquyền và liên kết của Philipin được Bộ Tư Pháp ban hành năm 1925, sau này, cácquy định liên quan đến Luật độc quyền và liên kết được chuyển thành điều luậttrong Luật Hình sự năm 1957 Thái Lan ban hành Luật chống độc quyền và kiểmsoát giá cả năm 1979, đến năm 1999, luật này được thay thế bằng Đạo Luật cạnhtranh Thương mại Tại Indonesia, Luật cấm Độc quyền và Cạnh tranh không lànhmạnh được Uỷ ban Giám sát Cạnh tranh Kinh doanh ban hành năm 1999.Singapore và Việt Nam đều ban hành Luật cạnh tranh vào năm 20045

5 “Chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và cạnh tranh ở Châu Á”, Noboru Honjo (bản tiếng Nhật Bản dịch tiếng Anh không chính thức của Viện UFJ

Trang 14

Như vậy, dù được ra đời từ rất sớm trong lịch sử hay ra đời muộn hơn, phápLuật cạnh tranh cũng trở thành công cụ đắc lực của mỗi quốc gia để bảo vệ cạnhtranh (bảo vệ thị trường), bảo vệ các tác nhân kinh tế và bảo vệ người tiêu dùng.

Cho đến nay vẫn có nhiều ý kiến tranh luận về sự du nhập pháp luật vào ViệtNam, trong đó có du nhập pháp luật cạnh tranh và hiệu quả của sự du nhập này Vềkhả năng du nhập pháp luật - tiếp nhận pháp luật nước ngoài tồn tại nhiều ý kiếntrái chiều Pierre Legrand, một trong những tác giả không ủng hộ khả năng tiếp

nhận pháp luật nước ngoài, đã thẳng thừng bác bỏ: “Nói một cách thẳng thắn, trong trường hợp tốt nhất, điều có thể du nhập từ nước này vào nước khác chỉ là những từ ngữ vô hồn”6 Cùng quan điểm phản đối du nhập pháp luật từ nước ngoài,

các chuyên gia khác cho rằng: việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài có “tính rủi ro cao độ”7, “tiếp nhận mà không cân nhắc sẽ gặp những hiểm họa nghiêm trọng”8.Ngược lại với quan điểm phủ nhận hoàn toàn khả năng tiếp nhận pháp luật nước

ngoài, nhà nghiên cứu Jhering có câu trả lời rõ ràng: “Việc tiếp nhận các thiết chế pháp luật nước ngoài không phải là vấn đề xuất xứ của chúng, mà là chúng có hữu ích và cần thiết hay không Không ai mất công đem một thứ từ xa về nếu ở nhà ḿnh đã có thứ tốt bằng hoặc hơn như thế Nhưng cũng chỉ có kẻ ngốc nghếch mới

từ chối không chịu nuôi thứ cây mới lạ chỉ vì nó không mọc lên từ výờn nhà anh

6 Pierre Legrand, “What ‘Legal Transplants’?” (2001) in David Nelken & Johannes Feest (eds.) Adapting Legal Cultures, p 63.

7

8 Esin Orucu, “Critical Comparative Law: Considering Paradoxes for Legal Systems in Transition” (2000) 4.1 Electronic Journal of Comparative Law.

Trang 15

ta”9 Còn tác giả Watson có quan điểm, việc tiếp nhận luôn luôn diễn ra từ trướctới nay, tiếp nhận pháp luật có lịch sử lâu đời như chính pháp luật, tiếp nhận hiệnnay vẫn diễn ra như đã từng có thời Hammurabi10

Thực tế, không thể phủ nhận hoàn toàn khả năng tiếp nhận pháp luật nướcngoài, quan điểm có thể tiếp nhận pháp luật nước ngoài phù hợp hơn với lịch sửlâu đời của pháp luật và phù hợp với những nước mà thể chế pháp luật kém pháttriển Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làm thế nào để tiếp nhận pháp luật nước ngoàithành công, muốn vậy, các quy định tiếp nhận phải được chọn lọc sao cho phù hợpvới bối cảnh, lịch sử, văn hoá của nước mình

Du nhập pháp luật, du nhập thể chế từ lâu đã trở thành nguyên lý trong xâydựng và ban hành pháp luật ở Việt Nam Rất nhiều văn bản Luật mà sự du nhậpcho đến thời điểm hiện tại được đánh giá là khá thành công nổi bật là sự du nhậpcủa Luật Doanh nghiệp Tuy nhiên, cũng có không ít sự du nhập pháp luật mà ởthời điểm hiện tại quy định của Luật vẫn “ìm lìm” trên giấy Luật Phòng ChốngBạo lực Gia đình được ban hành năm 2007 được xem là bước tiến của Việt Namtrong việc bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ, bảo vệ hạt nhân gia đình và thể hiện

nỗ lực của Đảng, của Nhà nước Việt Nam trong việc thực hiện các Điều ước Quốc

tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên Tuy nhiên, những quy định “tốtđẹp” của Luật rất khó có thể thi hành trên thực tế xuất phát từ tư tưởng, văn hoátruyền thống và phẩm chất cam chịu của người phụ nữ Việt Nam Sự du nhập củaLuật phá sản đến thời điểm hiện tại cũng là ví dụ điển hình về du nhập pháp luậtkhông thành công tại Việt Nam

9 Konrad Zweigert and Hein Kotz, An Introduction to Comparative Law (1998) 3d rev ed., translated by Tony Weir, tr.17.

10 Alan Watson, “Legal Transplants and European Private Law” (2000) 4.4 Electronic Journal

of Comparative Law,

Trang 16

Từ bỏ kinh tế kế hoạch hóa và trước sức ép của tiến trình hội nhập, ViệtNam đã ban hành Luật cạnh tranh vào năm 2004 với nhiều tư tưởng về điều tiếtcạnh tranh được du nhập từ nước ngoài

1 Tư tưởng về chống độc quyền

Chống độc quyền (kiểm soát độc quyền) là một trong những mục tiêu hàngđầu của Luật cạnh tranh nhằm bảo vệ thị trường, bảo vệ các tác nhân kinh tế và bảo

vệ người tiêu dùng Nhấn mạnh mục tiêu này, Luật cạnh tranh của rất nhiều nướctồn tại dưới tên gọi là Luật chống độc quyền

Để chống độc quyền, Luật cạnh tranh ở hầu hết các nước đều xây dựng cácquy phạm nội dung gồm ba bộ phận cơ bản: các quy phạm điều chỉnh thoả thuậnhạn chế cạnh tranh trên thị trường, các quy phạm điều chỉnh hành vi lạm dụng vịtrí thống lĩnh, vị trí độc quyền và các quy phạm về tập trung kinh tế

Vận dụng quy phạm pháp luật từ Luật cạnh tranh mẫu của Uỷ ban Liên hiệpQuốc về thương mại và phát triển và Luật cạnh tranh ở các nước: Nhật Bản, Liênminh Châu Âu, Mỹ… Luật cạnh tranh Việt Nam được kết cấu gồm hai phần: nhómquy phạm nội dung với những quy phạm về hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vicạnh tranh không lành mạnh và tập trung kinh tế; nhóm quy phạm về thủ tục baogồm các quy phạm về cơ quan quản lý cạnh tranh và trình tự, thủ tục thụ lý, giảiquyết vụ việc cạnh tranh

Thực hiện mục tiêu chống độc quyền, việc thực thi pháp luật cạnh tranh củaViệt Nam dựa trên hai khái niệm cơ bản là thị trường liên quan và cấu trúc thịtrường

Theo quy định của Luật cạnh tranh Việt Nam, một doanh nghiệp được xem

là có vị trí thống lĩnh thị trường “nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường

Trang 17

liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể”11 “Nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu cùng hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh và thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan; b) Ba doanh nghiệp

có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan; c) Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan” 12

Doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan Như vậy, về bản chất, doanh nghiệp có vị trí độc quyền là doanh

nghiệp có vị trí thống lĩnh nắm giữ 100% thị phần trên thị trường liên quan

Thị trường liên quan được xác định bao gồm thị trường sản phẩm liên quan

và thị trường địa lý liên quan Thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng

và giá cả Thị trường địa lý liên quan là một khu vực địa lý cụ thể trong đó có những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận13 Trong khi đó, thị

phần của doanh nghiệp đối với một loại hàng hoá, dịch vụ nhất định được hiểu“ là

tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của doanh nghiệp này với tổng doanh thu của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoá, dịch vụ đó trên thị trường liên quan hoặc tỷ lệ phần trăm giữa doanh số mua vào của doanh nghiệp này với tổng doanh số mua vào của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoá, dịch vụ đó trên thị trường liên quan theo tháng, quý, năm” 14

Bản thân vị trí thống lĩnh hay vị trí độc quyền của doanh nghiệp không bị cấm,chỉ khi nào doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để loại bỏ đối thủ

11 Luật cạnh tranh: Điều 11 khoản 1

12 Luật cạnh tranh: Điều 11 khoản 2

13 Điều 3 khoản 1 Luật cạnh tranh

14 Điều 3 khoản 5 Luật cạnh tranh

Trang 18

cạnh tranh, làm ảnh hưởng đến quy Luật cạnh tranh trên thị trường thì hành vi củadoanh nghiệp mới bị xem xét xử lý Các hành vi bị cấm theo quy định của Luật cạnh

tranh Việt Nam là: Bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại

bỏ đối thủ cạnh tranh, Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng, Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới, Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng…15

Như vậy, thị phần là yếu tố duy nhất để xác định vị trí thống lĩnh thị trường củamột doanh nghiệp tại Việt Nam, ngoài yếu tố thị phần không có một yếu tố nào khácđược sử dụng kết hợp để xác định vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp Kinhnghiệm thế giới cho thấy, bản thân thị phần không được coi là yếu tố quyết định sứcmạnh thị trường mà các yếu tố khác cũng cần được xem xét (như rào cản gia nhập,phản ứng của người mua và đối thủ cạnh tranh…)16 Theo Luật cạnh tranh Singapore,một chủ thể có thị phần dưới 60% trên thị trường liên quan vẫn có thể bị coi là có vị tríthống lĩnh thị trường nếu các yếu tố khác có thể chứng tỏ rõ ràng sự hiện diện của sứcmạnh đó17 Uỷ ban cạnh tranh sẽ xem xét chủ thể tiến hành hành vi đó có thể giải thíchmột cách hợp lí về hành vi của mình hay không, Uỷ ban sẽ ra quyết định cuối cùng trên

cơ sở cân nhắc giữa hành vi hạn chế cạnh tranh và những lợi ích phát sinh từ hành vi đóđối với cạnh tranh và nền kinh tế 18 Tương tự pháp luật cạnh tranh và án lệ Pháp cũngkhông lấy yếu tố thị phần là yếu tố duy nhất để xác định vị trí thống lĩnh thị trường củamột doanh nghiệp, ngoài thị phần, các yếu tố khác như: vị trí tương đối, khả năng tàichính của mỗi bên doanh nghiệp tham gia thị trường, khả năng khoa học kỹ thuật củamỗi bên, địa vị pháp lý … cũng là những căn cứ quan trọng để xem xét xác định vị trí

15 Điều 13, 14 Luật cạnh tranh

16 Hướng dẫn của CCS về các quy định cơ bản của Luật cạnh tranh: Đoạn 5.8

17 Hướng dẫn của CCS về các quy định cơ bản của Luật cạnh tranh: Đoạn 5.8

18 Lưu Hương Ly, “Luật cạnh tranh Singapore và những kinh nghiệm đối với Việt Nam”, Tạp chí Luật học số 3/2011.

Trang 19

thống lĩnh thị trường của một doanh nghiệp tại Pháp19 Tại Hàn Quốc “khi xét đoán cácdoanh nghiệp thống lĩnh thị trường, cần phải tính đến các yếu tố như thị phần, sựtồn tại và quy mô của các hàng rào đối với việc thâm nhập thị trường và quy môtương đối của các doanh nghiệp cạnh tranh”20 Trong pháp luật cạnh tranh của cácnước Hoa Kỳ hay liên minh Châu Âu, để xác định sức mạnh thị trường của một doanhnghiệp, cơ quan cạnh tranh thường phải tiến hành những nghiên cứu toàn diện và phứctạp dựa trên việc phân tích rất nhiều yếu tố như cấu trúc thị trường, thị phần, tỷ lệ tậptrung, chỉ số HHI, rào cản gia nhập thị trường, rào cản mở rộng thị trường, sức mạnhcủa người mua, khả năng loại bỏ cạnh tranh…21.

Mức thị phần làm thước đo để suy đoán sức mạnh thị trường của một doanhnghiệp tại Việt Nam theo quy định là 30% Mức thị phần này là tương đối thấp so vớithị phần được xác định trong pháp luật cạnh tranh của nhiều nước Theo Luật cạnhtranh Hàn Quốc, một doanh nghiệp được xem là doanh nghiệp thống lĩnh thị trường khithị phần của doanh nghiệp lớn hơn 50%22 Ở Singapore, mức thị phần được xác định là60%23, ở Thái Lan là 75%24 Sự cứng nhắc và sơ sài của Luật cạnh tranh trong việcđánh giá sức mạnh thị trường của một doanh nghiệp rất dễ dẫn đến sai lầm và tuỳ tiệntrong các quyết định xử lý hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh hoặc lạm dụng vị trí độcquyền, vừa gây lãng phí nguồn lực, vừa kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế

Về tập trung kinh tế, với những quy định về các hình thức tập trung kinh tế,các biện pháp kiểm soát và nguyên tắc xử lý đối với tập trung kinh tế trên thịtrường Việt Nam, Luật cạnh tranh năm 2004 là văn bản đầu tiên quy định một cáchtoàn diện các vấn đề về cạnh tranh và chính thức đặt vấn đề tập trung kinh tế dưới

góc độ của việc bảo vệ thị trường cạnh tranh Luật cạnh tranh “cấm tập trung kinh

19 Luật cạnh tranh của Pháp và Liên minh Châu Âu

20 Điều 2 khoản 7 Luật Thương mại Lành mạnh và những quy định về độc quyền của Hàn Quốc

21 Lưu Hương Ly, “Luật cạnh tranh Singapore và những kinh nghiệm đối với Việt Nam”, Tạp chí Luật học số 3/2011

22 Điều 4 Luật cạnh tranh Hàn Quốc

23

24 Điều 30 Luật cạnh tranh Thái Lan

Trang 20

tế nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan”25 trừ các trường hợp “một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ bị giải thể hoặc lâm vào tình trạng phá sản và việc tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ”26 hoặc “trường hợp doanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật”27.

Tương tự như việc xác định vị trí thống lĩnh thị trường của một doanhnghiệp, thị phần cũng là yếu tố duy nhất được sử dụng để quy định cấm tập trungkinh tế Đây là một quy định cứng nhắc và không thuyết phục vì tác động tiềm tàmcủa một vụ tập trung kinh tế đối với cạnh tranh trên thị trường cần phải dựa trênnhững phân tích kinh tế toàn diện (trong đó có việc cân nhắc và so sánh giữa hiệuquả kinh tế mà vụ tập trung kinh tế mạng lại và tác hại của vụ tập trung kinh tế đốivới cạnh tranh) chứ không phải chỉ dựa trên việc tính toán thị phần kết hợp28 Vì lí

do này mà Bộ luật Thương mại của Pháp quy định một vụ tập trung kinh tế chỉ bịkiểm soát khi hội đủ 3 điều kiện sau: “(i) Tổng doanh thu của tất cả các doanhnghiệp hoặc nhóm thể nhân, pháp nhân tham gia vụ tập trung kinh tế tính trên toànthế giới sau khi đã trừ thuế vượt trên 150 triệu euro; (ii) Tổng doanh thu của ít nhấthai trong số các doanh nghiệp hoặc nhóm thể nhân, pháp nhân tham gia vụ tậptrung kinh tế trên lãnh thổ Pháp sau khi đã trừ thuế vượt trên 15 triệu euro; (iii) Vụtập trung kinh tế đó không thuộc thẩm quyền điều tiết của Uỷ ban Châu Âu”29 Quyđịnh lấy số tiền cụ thể làm ngưỡng xác định sức mạnh tập trung kinh tế của một

25 Điều 18 Luật cạnh tranh

26 Điểu 19 Luật cạnh tranh

27 Điều 18 Luật cạnh tranh

28 Lưu Hương Ly, “Luật cạnh tranh Singapore và những kinh nghiệm đối với Việt Nam”, Tạp chí Luật học số 3/2011

Điều L.430-2 ều L.430-2

Trang 21

doanh nghiệp là quy định cần được tham khảo vì khá rõ ràng, cụ thể, dễ xác định

so với tỉ lệ phần trăm đang được quy định trong pháp luật Việt Nam

Mặc dù chưa hoàn chỉnh nhưng về mục tiêu chống độc quyền, các quy địnhđược du nhập trong Luật cạnh tranh Việt Nam là khá rõ ràng và cụ thể Tuy nhiên, ởViệt Nam, vấn đề hoàn thiện pháp luật cạnh tranh liên quan đến lĩnh vực chống độcquyền không quan trọng bằng việc thực thi hiệu quả các quy định này trên thực tế vàthay đổi tư duy về vị trí độc quyền Pháp luật của hầu hết các nước đều không cấmcác doanh nghiệp tạo ra vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền từ sức mạnh cạnhtranh của doanh nghiệp trên thị trường và vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền củadoanh nghiệp có được xuất phát từ năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Ở ViệtNam, vị trí thống lĩnh hay vị trí độc quyền của doanh nghiệp được tạo ra khôngxuất phát từ sức mạnh thị trường của doanh nghiệp mà từ sự bảo hộ của Nhà nước.Vấn đề độc quyền ở Việt nam gắn liền với việc xác định vai trò của Nhà nướctrong nền kinh tế và có tác động quan trọng đến cách thức can thiệp của Nhà nướcvào nền kinh tế Hiện tại, ở Việt Nam chủ yếuchỉ tồn tại độc quyền của doanhnghiệp nhà nước, hầu như chưa có độc quyền tư nhân trong nước hay nước ngoài.Nhà nước bảo hộ độc quyền đối với hầu hết các lĩnh vực xương sống của nền kinhtế: điện, xăng dầu, hàng không… vì những lý do như “an ninh quốc gia”, “vai tròchủ đạo của kinh tế Nhà nước”, “bảo hộ sản xuất trong nước” Với vị trí độcquyền hay vị trí thống lĩnh được đặt dưới sự bảo hộ của Nhà nước, rất dễ để xácđịnh vị trí độc quyền, vị trí thống lĩnh của một doanh nghiệp ở Việt Nam, tuy nhiêncông tác chống độc quyền lại cực kỳ khó khăn vì các cơ quan nhà nước (ở cả trungương và địa phương) không dễ dàng từ bỏ quyền bảo hộ của mình Do vậy, ngườitiêu dùng Việt Nam thường xuyên phải đối mặt với tình trạng tăng giá điện, cắtđiện tuỳ tiện, tăng giảm giá xăng dầu bất hợp lý, sử dụng xăng dầu kém chất lượng

và thường xuyên phải chấp nhận lời xin lỗi từ các hãng hàng không Hành vi lũng

Trang 22

đoạn thị trường của các doanh nghiệp độc quyền làm phá vỡ các quy luật thịtrường (quy luật cung cầu, quy luật giá trị), ảnh hưởng đến quyền lợi của ngườitiêu dùng nhưng tình trạng pháp luật “khoanh tay nhìn độc quyền” là phổ biến.

“Luật tạo ra cơ sở pháp lý để chống độc quyền và lạm dụng vị trí thống lĩnh thịtrường, nhưng chống được đến mức nào thì còn tùy thuộc các cơ quan quản lý nhànước có muốn “đụng” đến những doanh nghiệp mà lâu nay họ thường ủng hộ haykhông”30

Bảo hộ độc quyền ở Việt Nam xuất phát từ tư duy phát triển nền kinh tế lấykinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và phát triển nền kinh tế thị trường theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa dưới sự quản lý của Nhà nước ở Việt Nam Doanh nghiệpNhà nước được lựa chọn làm đầu tầu phát triển cản trở sự tự do cạnh tranh củathành phần kinh tế khác hay tạo nên những phân biệt đối xử giữa kinh tế Nhà nướcvới các thành phần kinh tế khác Tư duy phát triển kinh tế này hoàn toàn đi ngượcvới nguyên tắc cơ bản của cạnh tranh là tự do và không phân biệt đối xử

2 Tư tưởng bảo vệ các tác nhân kinh tế

Các tác nhân kinh tế được hiểu là các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh trênthị trường và họ cần được bảo vệ nhằm chống lại các hành vi cạnh tranh khônglành mạnh diễn ra vì mục đích tối đa hoá lợi nhuận Chính vì vậy, cạnh tranhkhông lành mạnh là một chế định đặc biệt quan trọng trong pháp luật cạnh tranh.Trên thế giới, rất nhiều nước xây dựng văn bản chuyên biệt về cạnh tranh khônglành mạnh (Đức, Italia, Thuỵ Sỹ, Thuỵ Điển…) Các nước khác, cạnh tranh khônglành mạnh được quy định thành một chương riêng trong Luật cạnh tranh với những

30 Ý kiến của TS Lê Đăng Doanh trong bài viết “Cước thuê kênh – câu chuyện của doanh nghiệp hay độc quyền”, http://www.taichinhdientu.vn/Home/Cuoc-thue-kenh cau-chuyen-cua-doanh-nghiep-hay- doc-quyen/201210/125328.dfis

Trang 23

quy định chi tiết, cụ thể (Luật Thương mại lành mạnh và những quy định về độcquyền của Hàn Quốc, Hunggary, Bulgary, Rumani…).

Du nhập tư tưởng bảo vệ các tác nhân kinh tế, pháp luật Việt Nam đã dànhmột chương - chương 3 của Luật cạnh tranh để quy định về hành vi cạnh tranh

không lành mạnh Theo định nghĩa tại Điều 3 khoản 4 “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng”

Tiêu chí để đánh giá hành vi cạnh tranh không lành mạnh là “các chuẩn mựcthông thường về đạo đức kinh doanh”, đây cũng là tiền đề để các cơ quan có thẩmquyền điều chỉnh hành vi kinh doanh của các doanh nghiệp trên thực tế Tuy nhiên,rất khó để xác định các chuẩn mực về đạo đức kinh doanh tại Việt Nam vì nền kinh

tế thị trường nước ta mới hình thành, các quan hệ kinh doanh chưa đủ thời gian đểtrở thành tập quán và được chấp nhận rộng rãi Tầng lớp thương nhân của ViệtNam cũng chưa đủ đông và mạnh để có thể thống nhất đặt ra những tiêu chuẩnchung, những hướng dẫn đóng vai trò quy tắc đạo đức cho một ngành kinh doanh.Trong khi đó, với quan điểm không thừa nhận án lệ, các cơ quan tài phán của nước

ta thường có vai trò hạn chế trong việc vận dụng pháp luật, nhất là trong trườnghợp chỉ có những quy định mang tính nguyên tắc như trường hợp về các chuẩnmực đạo đức kinh doanh, cơ quan công quyền của Việt Nam thì không đủ hiểu biếtthực tế để thay cho thương nhân đặt ra các quy tắc đạo đức trong một ngành kinhdoanh cụ thể31 Sự mơ hồ và trìu tượng trong tiêu chí xác định hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh của Luật là nguyên nhân dẫn đến các bất cập trong quá trình thihành của cơ quan quản lý cạnh tranh

31 “Chế định cạnh tranh không lành mạnh trong pháp luật Việt Nam” bài trình bày của diễn giả Đoàn Tử Tích Phước tại buổi Tọa đàm “Chế định cạnh tranh không lành mạnh trong pháp luật cạnh tranhpháp luật cạnh tranhLuật cạnh tranh” tại Hà Nội tháng 8/2009.

Trang 24

Bên cạnh định nghĩa, Luật cạnh tranh Việt Nam liệt kê các hành vi cạnhtranh không lành mạnh gồm: (i) Chỉ dẫn gây nhầm lẫn; (ii) Xâm phạm bí mật kinhdoanh; (iii) Ép buộc trong kinh doanh; (iv) Gièm pha doanh nghiệp khác; (v) Gâyrối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác; (vi) Quảng cáo nhằm cạnh tranhkhông lành mạnh; (vii) Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh; (viii) Phânbiệt đối xử của hiệp hội; (ix) Bán hàng đa cấp bất chính; (x) Các hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh khác do Chính phủ quy định Quy định về hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh cùng với những quy định về thoả thuận hạn chế cạnh tranh,chống độc quyền, chống tập trung kinh tế, cấm phân biệt đối xử, minh bạch trongquan hệ thương mại… tạo thành tập hợp quy phạm thống nhất nhằm bảo vệ cácdoanh nghiệp tham gia cạnh tranh trên thị trường (đặc biệt là các doanh nghiệpnhỏ) trước nguy cơ “cá lớn nuốt cá bé” Tuy nhiên, với mục đích điều tiết thịtrường, tư tưởng bảo vệ các tác nhân kinh tế không có nghĩa là bảo vệ nhữngdoanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, khi mà doanh nghiệp không có khả năng tạo racho thị trường những sản phẩm với chất lượng và giá cả cạnh tranh Quy luật đàothải và thanh lọc là quy luật tất yếu của nền kinh tế cạnh tranh

Như vậy, về lý thuyết, tư tưởng bảo vệ các tác nhân kinh tế được du nhập vàphản ánh khá chi tiết trong Luật là căn cứ để cơ quan thi hành pháp luật bảo vệdoanh nghiệp và là căn cứ để các doanh nghiệp bảo vệ chính mình Tuy nhiên, việctriển khai tư tưởng này đang gặp phải rào cản lớn xuất phát từ thái độ phân biệt đối

xử giữa các loại hình doanh nghiệp (doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp tưnhân, doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) của các

cơ quan công quyền và thói quen không chấp hành pháp luật, tư duy kinh tế chụpgiật, coi thường khách hàng và xem nhẹ uy tín của các doanh nghiệp Việt Nam.Hạn chế này đã dẫn đến một thực tế, hành vi cạnh tranh không lành mạnh diễn ratràn lan nhưng số lượng các hành vi được điều tra và xử lý thì quá ít ỏi

Trang 25

3 Tư tưởng bảo vệ người tiêu dùng

Cùng với tư tưởng chống độc quyền và bảo vệ các tác nhân kinh tế, bảo vệngười tiêu dùng là một trong những tư tưởng chỉ đạo trong điều tiết cạnh tranh.Trước đây, có một số quan điểm cho rằng đối tượng được bảo vệ chính là tiêu chí

để phân biệt giữa pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật về bảo vệngười tiêu dùng, trong đó, pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh chỉ bảo vệ cácdoanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường cũng như môi trường cạnh tranh chung,trong khi vai trò bảo vệ người tiêu dùng đương nhiên thuộc về pháp luật về bảo vệngười tiêu dùng Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các quan hệ vềcạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng ngày càng gắn bó và không thể tách rời Nếunhư cạnh tranh trên thị trường được định nghĩa một cách đơn giản là việc giành

giật khách hàng trong kinh doanh, thì giữa ba bên doanh nghiệp – khách hàng/người tiêu dùng – các đối thủ cạnh tranh có quan hệ gắn bó khó có thể tách

rời32 Việc lôi kéo, thu hút khách hàng bằng các thủ đoạn bất chính chắc chắn sẽlàm thiệt hại cho các doanh nghiệp cạnh tranh kinh doanh trung thực, lành mạnh,mặt khác, những thủ đoạn lợi dụng hoặc làm mất uy tín của đối thủ cạnh tranhcũng ảnh hưởng tiêu cực đến người tiêu dùng, khiến họ nhầm lẫn và trả tiền chocác hàng hoá, dịch vụ không đúng như mong muốn của mình Môi trường cạnhtranh lành mạnh chính là môi trường ở đó quyền lợi của người tiêu dùng được đảmbảo ở mức cao nhất

Lịch sử phát triển của pháp luật cạnh tranh gắn với việc bảo vệ lợi ích củangười tiêu dùng Thông qua những quy định nhằm ngăn chặn những hành vi lừadối, gây nhầm lẫn, lôi kéo bất chính… pháp luật về cạnh tranh không lành mạnhgóp phần loại bỏ khả năng phát sinh các vi phạm gây thiệt hại cho người tiêu dùng

32 Chế định cạnh tranh không lành mạnh trong pháp luật Việt Nam” bài trình bày của diễn giả

Đoàn Tử Tích Phước tại buổi Tọa đàm “Chế định cạnh tranh không lành mạnh trong pháp luật cạnh tranh” tại Hà Nội tháng 8/2009

Trang 26

Điều này có nghĩa, pháp luật cạnh trạnh hướng tới bảo vệ người tiêu dùng tiềmnăng, ở giai đoạn trước khi họ tham gia vào giao dịch, khác với pháp luật về bảo vệngười tiêu dùng - bảo vệ người tiêu dùng khi họ tham gia vào một giao dịch cụ thể.

Bảo vệ người tiêu dùng trở thành tư tưởng cốt lõi trong quá trình xây dựng

và ban hành Luật cạnh tranh, do vậy, khi tiếp nhận Luật cạnh tranh từ pháp luậtnước ngoài, các nhà làm luật Việt Nam đã chú ý du nhập tư tưởng này vào ViệtNam thông qua các quy định nhằm bảo vệ người tiêu dùng Vai trò bảo vệ ngườitiêu dùng thể hiện rõ nét trong các quy định về chống các hành vi cạnh tranh khônglành mạnh, cụ thể là các hành vi: chỉ dẫn gây nhầm lẫn, quảng cáo nhằm cạnh

Ngoài ra, để triển khai hiệu quả Luật cạnh tranh dưới góc độ bảo vệ ngườitiêu dùng, phải dựa vào bản thân sức mạnh của người tiêu dùng Về vấn đề này,

“Người Việt Nam dường như chưa nhận thấy sức mạnh và nguồn lợi to lớn củacạnh tranh, và vì thế chưa yêu mến, chưa chủ động tạo ra và chưa quyết tâm bảo vệlấy cạnh tranh Trong một xã hội đóng kín, thì dấu ấn của “chủ nghĩa giáo điềutrong trí thức, chủ nghĩa quan liêu trong giới cầm quyền và chủ nghĩa bình quântrong nhân dân lao động” là nặng nề33 Giáo điều, quan liêu hay bình quân chủnghĩa đều chưa quen với cạnh tranh trong kinh doanh, bởi cạnh tranh làm cho cuộcsống bị thách thức, bị đảo lộn bởi đủ loại đối thủ vào bất cứ lúc nào; một cuộc sốngcăng thẳng như vậy chẳng dễ chịu chút nào Thành ra, làm thương nhân ai cũng cố

né tránh cạnh tranh, nếu có điều kiện Chỉ có điều, nếu điều ấy tiếp diễn, thì toàn

bộ nền kinh tế quốc gia và người tiêu dùng nước ta không được lợi”34 Do vậy, ở

33 Vũ Khiêu, (1997), Nho giáo và phát triển ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 40.

34 Phạm Duy Nghĩa, “Ngày xuân mơ tới một xã hội cạnh tranh”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp,

số 1/2004 Phạm Duy Nghĩa, (2004), Chuyên khảo Luật Kinh tế, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,

Hà Nội.

Trang 27

Việt Nam hiếm thấy chuyện người tiêu dùng kiện tụng ngay cả khi quyền lợi củangười tiêu dùng bị ảnh hưởng, tác động một cách trực tiếp Tâm lý “con kiến đikiện củ khoai” luôn đè nặng lên tâm lý người tiêu dùng Việt Nam và họ luôn đặtlợi ích mà cá nhân mình đạt được giữa việc đi theo một vụ kiện hành chính mấtnhiều thời gian, công sức, tiền bạc với việc chấp nhận những thiệt thòi do hành vi

vi phạm của doanh nghiệp gây ra Khả năng trang bị kiến thức để tự mình ngăn cản

và chống lại hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh của người tiêu dùng Việt Namtương đối thấp, “nhận thức của người tiêu dùng còn quá mơ hồ, nhiều khi chịu thuathiệt mà không biết mình có thể kiện, và nếu kiện thì kiện ở đâu, kiện ra sao…” và

do vậy, đa phần họ có thói quen chấp nhận những hành vi vi phạm do cơ quanquyền lực hoặc doanh nghiệp gây ra cho chính mình

Sự ra đời của Luật cạnh tranh đánh dấu một bước tiến quan trọng trong lịch

sử lập pháp của Việt Nam: lần đầu tiên Việt Nam có một đạo luật điều chỉnh vềcạnh tranh trong kinh tế; cùng với các văn bản luật trước đó về dân sự, thương mại,đầu tư, chứng khoán, sở hữu trí tuệ Trong quá trình tiếp nhận pháp luật cạnhtranh, Việt Nam đã du nhập gần như toàn bộ các tư tưởng chủ yếu của Luật cạnhtranh – tư tưởng chống độc, tư tưởng bảo vệ các doanh nghiệp tham gia cạnh tranhtrên thị trường và tư tưởng bảo vệ người tiêu dùng thông qua hệ thống quy phạmpháp luật cạnh tranh tương đối hoàn chỉnh Tuy nhiên, tiền đề để cho các quy phạmpháp luật cạnh tranh đi vào cuộc sống còn nhiều vấn đề phải giải quyết Rào cảnpháp lý không tồn tại nhưng rào cản kỹ thuật lại trở thành quan ngại lớn đối với hệthống các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân Tư duy phát triển kinh tếvẫn chủ yếu dựa vào nguồn lực của doanh nghiệp nhà nước nên buộc chúng ta phảibảo hộ độc quyền Văn hoá kinh doanh không tồn tại, đại bộ phận các doanhnghiệp không nhận thức được vai trò của pháp luật cạnh tranh đối với hoạt độngkinh doanh của mình Người tiêu dùng mơ hồ trong nhận thức pháp luật và bằng

Trang 28

lòng với thói quen chấp nhận Nếu không giải quyết được tất cả các vấn đề đã nêuthì du nhập pháp luật cạnh tranh vào Việt Nam chỉ có nghĩa là sự vay mượn mộtcách máy móc các quy định, chủ thuyết, cấu trúc từ pháp luật nước ngoài và kếtquả là chế định pháp lý không có khả năng điều chỉnh những quan hệ pháp lý diễn

ra trên thực tế

CHƯƠNG II: THỰC TIỄN THI HÀNH LUẬT CẠNH TRẠNH

TẠI VIỆT NAM

I TỪ GÓC ĐỘ CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC

1 Cơ quan quản lý cạnh tranh

1.1 Chức năng, nhiệm vụ

Trang 29

Được xây dựng với mục tiêu thực thi pháp Luật cạnh tranh, Cơ quan quản lýcạnh tranh là một thiết chế đặc biệt của mỗi quốc gia Ở Việt Nam, song song với

sự ra đời của Luật cạnh tranh là sự ra đời và phát triển của hai cơ quan Cục quản lýcạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh Hiệu quả của việc thi hành pháp Luật cạnhtranh phụ thuộc đáng kể vào kinh nghiệm và năng lực của hai cơ quan quản lý cạnhtranh này

Cục Quản lý cạnh tranh được thành lập theo Quyết định số BTM của Bộ Thương mại ngày 26 tháng 2 năm 2004 Tiền thân của Cục Quản lýCạnh tranh là Ban Quản lý Cạnh tranh thành lập năm 2002 với nhiệm vụ chủ yếulà: Tham gia soạn thảo Luật cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn; Hỗ trợ cácdoanh nghiệp Việt Nam đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá của nước ngoàikiện các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam

0235/2004/QĐ-Cục Quản lý cạnh tranh bao gồm: Ban Điều tra vụ việc hạn chế cạnh tranh,Ban Giám sát và quản lý cạnh tranh, Ban Điều tra và xử lý các hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh, Ban Bảo vệ người tiêu dùng, Ban xử lý chống bán phá giá,chống trợ cấp và tự vệ, Ban Hợp tác quốc tế, Văn phòng, Trung tâm thông tin,Trung tâm đào tạo điều tra viên và các Văn phòng đại diện tại Đà Nẵng và Thànhphố Hồ Chí Minh Chức năng của Cục Quản lý Cạnh tranh là giúp Bộ trưởng Bộ

Thương mại (nay là Bộ Công thương) “thực hiện quản lý nhà nước về cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng các biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; phối hợp với các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng trong việc đối phó với các vụ kiện trong thương mại quốc tế liên quan đến bán phá giá, trợ cấp và áp dụng các biện pháp

tự vệ”35 Về cạnh tranh, Cục quản lý Cạnh tranh có nhiệm vụ: Thụ lý, tổ chức điềutra các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh để Hội đồng

35 Nghị định 06/2006/NĐ-CP: Điều 1 khoản 1

Trang 30

cạnh tranh xử lý theo quy định của pháp luật; Tổ chức điều tra xử lý đối với các vụviệc cạnh tranh liên quan đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh và các hành vi

vi phạm pháp Luật cạnh tranh khác theo quy định của pháp luật; Thẩm định hồ sơ

đề nghị hưởng miễn trừ theo các quy định của pháp luật để trình Bộ trưởng BộThương mại quyết định hoặc trình Thủ trướng Chính phủ quyết định; Kiểm soátquá trình tập trung kinh tế; Xây dựng, quản lý hệ thống thông tin về các doanhnghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, các doanh nghiệp độc quyền, về quy tắc cạnhtranh trong hiệp hội, về các trường hợp miễn trừ36

Bên cạnh Cục Quản lý Cạnh tranh là Hội đồng Cạnh tranh với vai trò xét xử,

xử lý, đưa ra các quyết định, giải quyết khiếu nại có liên quan đến vụ việc cạnhtranh Hội đồng Cạnh tranh do Chính phủ thành lập gồm từ 11 đến 15 thành viên làđại diện của các bộ: Bộ Thương mại, Bộ Tư Pháp, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch đầutư… Ngày 12/06/2006, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Thương mại, Thủ tướngChính phủ đã ký Quyết định số 843/QĐ-TTg bổ nhiệm 11 thành viên Hội đồngcạnh tranh Đến thời điểm hiện tại, Hội đồng cạnh tranh gồm 01 Chủ tịch và 02Phó Chủ tịch Giúp việc cho Hội đồng Cạnh tranh là Ban thư ký Hội đồng Cạnhtranh được thành lập ngày 28/08/2006 theo Quyết định số 1378/QĐ-BTM của BộThương mại Ban Thư ký hiện gồm 11 người, lãnh đạo ban Ban thư ký gồm 3người

1.2 Thực tế thi hành pháp Luật cạnh tranh

1.2.1 Điều tra và xử lý các vụ việc hạn chế cạnh tranh

Từ năm 2006 đến năm 2011, số lượng các vụ việc hạn chế cạnh tranh đượcCục Quản lý Cạnh tranh điều tra và xử lý như sau37:

36 Nghị định 06/2006/NĐ-CP: Điều 2 khoản 4

Báo cáo hoạt động Cục Quản lý Cạnh tranh năm 2011

Trang 31

Điều tra tiền tố tụng0 Khởi xướng điều tra Quyết định

Hình 1: Số lượng các vụ việc hạn chế cạnh tranh được Cục Quản lý Cạnh tranh điều tra và xử lý từ 2006 - 2011

Điều tra tiền tố tụng Khởi xướng điều tra Quyết định

Tổng số vụ hạn chế cạnh tranh được Cục Quản lý Cạnh tranh khởi xướngđiều tra trong sáu năm là 40 vụ, trong đó, có 6 vụ được chuyển sang giai đoạn điềutra tiền tố tụng, chiếm 15% và 3 vụ Cục Quản lý Cạnh tranh đã ban hành quyếtđịnh xử lý, chiếm 7,5%

Trong 6 vụ việc hạn chế cạnh tranh được điều tra: có 2 vụ liên quan đếnhành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh trên thị trường (hộp 1), 1 vụ liên quan đến hành

vi lạm dụng vị trí độc quyền trên thị trường (hộp 2), 3 vụ liên quan đến hành vithoả thuận hạn chế cạnh tranh (hộp 3)

Hộp 1: Vụ lạm dụng ví trí thống lĩnh thị trường của Công ty Tân Hiệp

Phát

Thông tin vụ việc:

Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Tân Hiệp Phát (THP) nộp đơn khiếu nại đến

Cục Quản lý Cạnh tranh với nội dung khiếu nại Công ty Liên doanh Nhà máy Bia

Việt Nam (BVN) lạm dụng ví trị thống lĩnh trên thị trường các sản phẩm bia cao cấp

để ngăn chặn việc gia nhập thị trường của đối thủ cạnh tranh mới

Quá trình và kết quả điều tra

Trên cơ sở hồ sơ khiếu nại, Cục Quản lý Cạnh tranh đã ra quyết định điều tra sơ bộ,

điều tra chính thức để thu thập thông tin, xác minh chứng cứ Sau quá trình điều tra,

Cục đã có kết luận như sau:

- Thị trường liên quan trong trường hợp này là thị trường bia toàn quốc rộng

hơn thị trường bia cao cấp mà THP đã xác định trong đơn khiếu nại.

- Trên thị trường bia, BVN không có vị trí thống lĩnh xét theo mức thị phần

cũng như khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể;

- Việc BVN kí kết các hợp đồng độc quyền với các điểm bán bia trên toàn

quốc là hành vi yêu cầu khách hàng không giao dịch với đối thủ cạnh tranh

mới.

31

Trang 32

Hộp 2: Vụ việc lạm dụng vị trí độc quyền của VINAPCO

Thông tin vụ việc:

Sáng ngày 01/4/2008, tất cả chuyến bay nội địa của hãng hàng không Jet-star Pacific

Airlines (“JPA”) đều bị ngưng trệ, nguyên nhân là do Công ty Xăng dầu Hàng không

Việt Nam (“Vinapco”) đã đơn phương ngưng cung cấp nhiên liệu bay cho JPA Sau

gần 3 tiếng đồng hồ bị ngưng trệ, các chuyến bay mới được thực hiện nhờ chỉ thị của

Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận Tải yêu cầu Vinapco cung cấp nhiên liệu bay cho JPA.

Tại thời điểm xảy ra sự việc, Vinapco là đơn vị duy nhất tại Việt Nam được phép cung

cấp xăng dầu hàng không thương mại tại các sân bay nội địa cho các hãng hàng

không trong và ngoài nước JPA là khách hàng lớn thứ hai của Vinapco sau Viet Nam

Airlines (“VNA”) Giữa Vinapco và JPA có những điều khoản hợp đồng về mua bán

xăng dầu và thực hiện các dịch vụ tra nạp tại sân bay Theo đó, ngoài giá mua xăng

dầu thực tế, chi phí vận chuyển, bảo hiểm, thuế nhập khẩu JPA phải trả cho Vinapco

phí tra nạp xăng dầu là 593 nghìn đồng/01 tấn Ngày 20/3/2008, Vinapco gửi công

văn cho JPA đề nghị tăng phí tra nạp xăng dầu lên 750 nghìn đồng/01 tấn bắt đầu từ

ngày 01/4/2010 Quan điểm của JPA là yêu cầu Vinapco phải đối xử công bằng giữa

VNA và JPA Nếu phí tra nạp xăng dầu của JPA tăng thì VNA cũng phải tăng tương

ứng Khi chưa có sự thống nhất giữa hai bên, ngày 01/4/2010, Vinapco đã ngừng

cung cấp nhiên liệu cho các chuyến bay của JPA.

Quá trình và kết quả điều tra

Nhận thấy vụ việc có dấu hiệu vi phạm Luật cạnh tranh, ngày 28/5/2008 Cục Quản lý

Cạnh tranh đã bắt đầu tiến hành điều tra chính thức vụ việc Quá trình điều tra kết

thúc vào tháng 12/2008 và được chuyển lên Hội đồng Cạnh tranh vào tháng 01/2009.

Ngày 14/4/2009 Hội đồng Cạnh đã mở phiên điều trần để xử lý vụ việc Tại phiên điều

trần, Hội đồng Xử lý vụ việc cạnh tranh do Hội đồng Cạnh tranh thành lập đã ra kết

luận: Vinapco lạm dụng vị trí độc quyền trên thị trường tra nạp nhiên liệu hàng không

tại Việt Nam, vi phạm khoản 2, khoản 3 Điều 14 Luật cạnh tranh liên quan đến các

hành vi “Đơn phương thay đổi và huỷ bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do

chính đáng” Hội đồng xử lý vụ việc đã ra quyết định xử phạt vi phạm của Vinapco

Trang 33

Hộp 3: Vụ việc các Công ty Bảo hiểm Thoả thuận hạn chế cạnh tranh

Thông tin vụ việc

Ngày 15/9/2008, tại Mũi Né, Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (“HHBH”) tổ chức Hội

nghị các Tổng Giám đốc Phi nhân thọ lần thứ VI Tại Hội nghị, 15 doanh nghiệp bảo

hiểm tham gia đã kí kết để thực hiện các bản thoả thuận hợp tác trong lĩnh vực bảo

hiểm hàng hoá, bảo hiểm tầu biển, bảo hiểm xe cơ giới và điều khoản về biểu phí bảo

hiểm vật chất xe ô tô Tiếp theo, 04 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ khác đã kí

tham gia văn bản thoả thuận trên, nâng tổng số doanh nghiệp bảo hiểm tham gia thoả

thuận lên 19 doanh nghiệp.

Quá trình và kết quả điều tra

Thông tin thu thập được trong quá trình điều tra tiền tố tụng cho thấy dấu hiệu vi

phạm Luật cạnh tranh Tháng 11/2008, Cục Quản lý Cạnh tranh ra quyết định điều

tra sơ bộ và điều tra chính thức.

Sau khi kết thúc điều tra vụ việc, Cục đã ra quyết định 19 trên tổng số 25 doanh

nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tại thời điểm điều tra đã kí kết “Bản thoả thuận hợp tác

giữa các doanh nghiệp bảo hiểm trong lĩnh vực xe cơ giới” và “Điều khoản biểu phí

bảo hiểm vật chất xe ô tô” Thị phần kết hợp của 19 doanh nghiệp tham gia thoả

thuận chiếm 99,79% trên thị trường bảo hiểm vật chất xe ô tô tại Việt Nam Các nội

dung thoả thuận do 19 doanh nghiệp bảo hiểm kí kết để thực hiện là hành vi thoả

thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hay gián tiếp được quy định

tại khoản 1 Điều 18 và khoản 2 Điều 19 Luật cạnh tranh.

Ngày 29/7/2010, trên cơ sở kết luận điều tra của Cục Quản lý Cạnh tranh, 19 doanh

nghiệp đã bị Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh xử phạt với mức phạt tương đương

Trang 34

Hiện tại, Cục Quản lý Cạnh tranh đang tiếp tục điều tra và xử lý ba vụ việcliên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh: (1) Vụ việc của Megastar (một số doanhnghiệp chiếu phim Việt Nam - Công ty cổ phần Truyền thông - Điện ảnh Sài Gòn,Trung tâm Phát hành phim và chiếu bóng Đồng Nai, Công ty cổ phần Sài GònĐiện ảnh, Công ty cổ phần Điện ảnh 212 và Công ty TNHH một thành viên Điệnảnh Hà Nội) đã gửi đơn tố cáo Công ty TNHH Truyền thông Megastar đã lạmdụng vị trí thống lĩnh trên thị trường phân phối phim nhựa nhập khẩu tại 35 tỉnh,thành phố trên lãnh thổ Việt Nam để thực hiện các hành vi vi phạm pháp Luậtcạnh tranh, cụ thể: (i) áp đặt giá bán hàng hoá, dịch vụ bất hợp lý gây thiệt hại chokhách hàng; (ii) gắn việc mua bán hàng hoá, dịch vụ là đối tượng của hợp đồng vớiviệc phải mua hàng hoá, dịch vụ khác từ nhà cung cấp; (iii) buộc doanh nghiệpkhác thực hiện thêm một hoặc một số nghĩa vụ nằm ngoài phạm vi cần thiết ðểthực hiện hợp ðồng và áp ðặt ðiều kiện kinh doanh cho doanh nghiệp khác ký kết

Trang 35

hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ), (2) vụ việc liên quan đến hành vi thoả thuận

ấn định giá của các doanh nghiệp trên thị trường tấm lợp, (3) vụ việc bảo hiểm họcsinh tại Khánh Hoà (12 Công ty Bảo hiểm tại Khánh Hoà đã cùng thống nhất thựchiện một số chế độ chính sách bảo hiểm học sinh trên toàn địa bàn Khánh Hoà:tăng phí bảo hiểm từ 60.000 đồng lên 80.000 đồng)38

Sáu năm với sáu vụ việc liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh được điềutra, trong đó ba vụ đã hoàn thành và ba vụ đang trong quá trình xử lý, con số hạnchế này chưa phản ánh đúng thực tế hành vi vi phạm đang diễn ra Theo đánh giácủa các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực cạnh tranh, vẫn còn quá nhiều hành vi

vi phạm rất “ngang nhiên” của các doanh nghiệp nhưng chưa được điều tra, xử lý(việc Vietnam Airline khuyến mại tràn lan; tháng 8/2011, Viettel cung cấp dịch vụInternet cáp quang FTTH cho khách hàng với hình thức khuyến mãi giảm 65%cước sử dụng tương đương 700.000 đồng/tháng, so với niêm yết 2.000.000đồng/tháng trong vòng 60 tháng, hành vi bành trướng thị trường thông qua hìnhthức khuyến mại của Viettel đã bị VNPT khiếu nại; tiếp theo, đến tháng 11.2011,

Hà Nội Telecom đã có văn bản kiến nghị về việc vi phạm Luật cạnh tranh củaViettel vì cho rằng việc chuyển giao băng tần 3G của EVN Telecom cho Viettel làtạo điều kiện cho Viettel trở thành “doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh trên thịtrường viễn thông Việt Nam”, tuy nhiên xem ra đến thời điểm hiện tại Viettel vẫn

“bình yên vô sự” với các hành vi vi phạm này; Vụ việc Hội Xuất bản Việt Nam đặt

ra định mức 16,2 triệu bloc lịch cho cả nước và áp đặt mỗi nhà xuất bản khôngđược làm quá 270.000 bloc lịch vào cuối năm 2011 gây xôn xao dư luận vì chorằng Hội Xuất bản Việt muốn quay trở lại thời “độc quyền” nhưng vẫn không thấy

cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh lên tiếng… Rồi hàng loạt những vụ việcthoả thuận ấn định giá: giá xăng dầu, giá bảo hiểm, giá sữa… của doanh nghiệp

38 Báo cáo hoạt động Cục Quản lý Cạnh tranh năm 2011

Trang 36

gây thiệt hại đến quyền lợi của người tiêu dùng nhưng vẫn tồn tại một cách ngangnhiên Ngay cả 40 vụ việc đưa vào giai đoạn điều tra tiền tố tụng thì chỉ 15% trong

số này được chuyển sang giai đoạn điều tra chính thức và 7,5% đã ban hành quyếtđịnh xử lý

Pháp Luật cạnh tranh không cấm doanh nghiệp hình thành vị trí thống lĩnhtrên thị trường hoặc vị trí độc quyền mặc dù có các doanh nghiệp có vị trí thốnglĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền thì người tiêu dùng không được lựa chọn hànghoá có giá cạnh tranh và xu hướng lạm dụng sức mạnh thị trường, tạo ra rào cảnvới các đối thủ cạnh tranh là khá phổ biến Việc tạo ra các doanh nghiệp có vị trìthống lĩnh hoặc vị trí độc quyền không quan trọng Ðiều quan trọng là phải kiểmsoát được hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền củacác doanh nghiệp để không làm tổn thất phúc lợi xã hội, nguồn lực xã hội và bảo

vệ hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khác trên thị trường Tuy nhiên,xem ra, chống độc quyền ở Việt Nam không phải đơn giản vì những căn nguyênsau:

Thứ nhất, vị trí độc quyền hay vị trí thống lĩnh thị trường của các doanhnghiệp Việt Nam có được không xuất phát từ quá trình cạnh tranh trên thị trường

mà đa phần là do sự bảo hộ của nhà nước Những doanh nghiệp có hành vi vi phạmhầu hết là các “ông lớn”, do vậy, công tác chống độc quyền trên thực tế luôn mangtâm lý thận trọng và dè dặt Vì mang nặng tâm lý thận trọng, dè dặt nên có quá íthành vi vi phạm được phát hiện và xử lý trên thực tế

Thứ hai, sự thiếu minh bạch trong chế độ sổ sách, kế toán và thống kê củacác doanh nghiệp Việt Nam hiện nay dẫn đến một thực tế là không dễ để có thểtính toán và xác định thế nào là chiếm lĩnh thị phần, thế nào là độc quyền hay lạmdụng vị trí thống lĩnh Do vậy, số lượng doanh nghiệp được xác định là có vị tríthống lĩnh hay vị trí độc quyền còn quá ít so với thực tế của thị trường;

Trang 37

Thứ ba, đặc trưng của các vụ việc liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh

là khá phức tạp, trong khi đó, theo quy định của Luật, thời gian để điều tra và xử lýhành vi hạn chế cạnh tranh là quá ít (các chuyên gia chỉ được điều tra vụ việc trongvòng 180 ngày, trường hợp phức tạp được gia hạn thêm 120 ngày, như vậy thờigian điều tra tối đa là 300 ngày đối với một vụ việc hạn chế cạnh tranh)

Thứ tư, xác định thế nào là hành vi hạn chế cạnh tranh xem ra cũng nhiềugian nan nếu căn cứ vào quy định pháp luật hiện hành Như đã phân tích tạiChương I, việc sử dụng yếu tố thị phần là yếu tố duy nhất để xác định sức mạnh thịtrường của doanh nghiệp rất dễ dẫn đến sai lầm và tuỳ tiện trong các quyết định xử

lý hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh hoặc lạm dụng vị trí độc quyền, vừa gây lãngphí nguồn lực, vừa kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế

Một căn nguyên quan trọng nữa xuất phát từ sự non trẻ và yếu kém của cơquan quản lý cạnh tranh Do mới thành lập, lại chưa được đào tạo một cách có hệthống, chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc xử lý vụ việc cụ thể nên việc pháthiện và xử lý các vụ việc hạn chế cạnh tranh của các chuyên gia còn nhiều hạn chế.Bên cạnh đó, với việc không thừa nhận tính chung thẩm của quyết định xử lý của

cơ quan quản lý cạnh tranh đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kéo dài quá trình

xử lý vụ việc Trong 3 vụ việc được Cục Quản lý Cạnh tranh giải quyết có đến 2/3

vụ phải được xem xét đến tậnbởi tòa án Đơn cử như vụ việc của Vinapco đã kéodài 4 năm vừa gây ra tâm lý xem nhẹ vai trò của cơ quan quản lý nhà nước về cạnhtranh, vừa ảnh hưởng đến việc thi hành hiệu quả nhiệm vụ của cơ quan quản lýcạnh tranh trên thực tế

1.2.2 Điều tra và xử lý các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh

Theo Báo cáo hoạt động Cục Quản lý Cạnh tranh năm 2011, từ năm 2006đến năm 2011, Cục Quản lý Cạnh tranh đã điều tra và xử lý 94 vụ cạnh tranh

Trang 38

không lành mạnh với tổng số tiền phạt và phí xử lý thu được là 4 tỷ 256 triệu đồng,

cụ thể:

0 5 10 15 20 25 30 35 40

Hình 2: Hành vi cạnh tranh không lành mạnh đã được xử lý từ 2006 - 2011

Quá trình tiếp nhận và xử lý các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh đượcCục Quản lý Cạnh tranh tổng kết như sau:

247 94

83

Hình 3: Quá trình tiếp nhận và xử lý các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh từ 2006 - 2011

Tiếp nhận Điều tra Quyết định

Số liệu trên cho thấy, không vụ việc cạnh tranh không lành mạnh nào đượcphát hiện và xử lý vào năm 2006, có 4 vụ năm 2007, 12 vụ năm 2008, 14 vụ năm

2009, 28 vụ năm 2010 và 36 vụ năm 2011 Số lượng các vụ việc được phát hiện và

Trang 39

xử lý ngày càng tăng qua các năm chứng tỏ một trong hai thực tế sau: (i) Năng lựccủa cơ quan quản lý cạnh tranh ngày càng được nâng cao hoặc (ii) hành vi vi phạmpháp Luật cạnh tranh ngày càng gia tăng bất chấp các chế tài của Luật Xem ra sự

“tiến bộ” của cơ quan quản lý cạnh tranh là căn nguyên hợp lý hơn cả để lí giải cho

sự gia tăng của các vụ việc được điều tra và xử lý Trong số các vụ việc cạnh tranhkhông lành mạnh, quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh có số lượng hành

vi được điều tra và xử lý nhiều nhất (58 vụ chiếm 61,7 ), tiếp đến là hành vi bánhàng đa cấp (20 vụ chiếm 21,3%), gièm pha nói xấu doanh nghiệp khác (8 vụchiếm 8,5%), khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh (4 vụ chiếm 4,25%),chỉ dẫn gây nhầm lẫn (3 vụ chiếm 3,1%) và hành vi có số lượng vụ việc được điềutra và xử lý thấp nhất là gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác (01

vụ chiếm 1%) Thực tế số vụ vi phạm quy định về cạnh tranh không lành mạnh doCục QLCT tiếp nhận là 247 vụ, tuy nhiên, Cục chỉ ra quyết định điều tra 94 vụchiếm 38% và ra quyết định xử lý được 83 vụ chiếm 33,6%

Theo tổng kết, các dạng hành vi phổ biến nhất của quảng cáo nhằm cạnhtranh không lành mạnh là hành vi quảng cáo sai sự thật, quảng cáo đưa ra cácthông tin không đầy đủ và phóng đại Nhóm doanh nghiệp thực hiện hành vi quảngcáo sai sự thật nhiều nhất là các doanh nghiệp sản xuất, phân phối, nhập khẩu cácsản phẩm thực phẩm chức năng Người tiêu dùng biết đến nhiều sản phẩm chứcnăng với những thành phần quý hiếm, công dụng phi thường, có thể chữa nhiềubệnh nan y dẫn đến không ít người tiêu dùng đã nhầm tưởng thực phẩm chức năng

là thuốc Trong khi đó, những công dụng và tính năng này không hề có trong côngdụng, tính năng đã được đăng kí với các cơ quan có thẩm quyền Lợi dụng lòng tincủa người tiêu dùng thông qua những mẩu quảng cáo sai sự thật, các công ty đãđẩy giá của thực phẩm chức năng lên gấp nhiều lần Một trong những vụ việc điểnhình về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh được Cục QLCT xử

Trang 40

lý trong năm 2011 là vụ việc của Công ty Cổ phần mua sắm hạnh phúc (chi tiết vụviệc xin xem hộp số 4 dưới đây)

Nhóm doanh nghiệp có hành vi quảng cáo đưa ra các thông tin không đầy đủ

và phóng đại nhiều nhất là các doanh nghiệp sản xuất, phân phối hàng điện tử, điệnlạnh Lợi dụng tâm lý và thị hiếu của người tiêu dùng nhằm tạo lợi thế cạnh tranhtrên thị trường, nhiều công ty kinh doanh trong lĩnh vực hàng điện lạnh (panasonic,samsung, LG…) đã quảng cáo sản phẩm điều hoà của mình với tính năng phithường như: diệt, vô hiệu hoá vi khuẩn, virut đến 99,9%, tiết kiệm điện năng từ 50-60% Thông điệp quảng cáo này được phát đi khắp nơi, thậm chí phát rất nhiều lầntrên thị trường Tuy nhiên, sự thật thì các sản phẩm này chỉ diệt được một số loại vikhuẩn, virut, không diệt được đến mức gần tuyệt đối các loại vi khuẩn, virut Vụviệc tiêu biểu liên quan đến hành vi quảng cáo đưa ra các thông tin không đầy đủ

và phóng đại đã được Cục Quản lý Cạnh tranh điều tra và xử lý là vụ việc củaCông ty Panasonic (vui lòng xem hộp 5)

Hộp 4: Vụ việc vi phạm của Công ty cổ phần Mua sắm Hạnh Phúc

Công ty Cổ phần Mua sắm Hạnh phúc được thành lập từ tháng 06 năm 2009 Từ

đầu năm 2010, Công ty bắt đầu nhập khẩu và kinh doanh theo phương thức bán

hàng qua truyền hình, website nhiều sản phẩm trong đó có các sản phẩm như: (1)

Sản phẩm nhuộm tóc Meizi, (2) Bộ sản phẩm Super Yuna, (3) Kem Perfect BB

Cream, (4) Kem TT Flawless Whitening BB Cream, (5) Mỹ phẩm TT Pink Lady, (6)

Mặt nạ chống nhăn vùng mắt Cobor Wrinkle for eye Phát hiện nội dung quảng cáo

các sản phẩm trên có dấu hiệu vi phạm Luật cạnh tranh, Cục Quản lý Cạnh tranh

đã khởi xướng điều tra vụ việc cạnh tranh mã số 11/KX/KLM 12 điều tra Công ty

Cổ phần Mua sắm Hạnh Phúc về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành

mạnh Kết quả xác minh trong quá trình điều tra của các điều tra viên Cục Quản lý

Cạnh tranh cho thấy, các nội dung quảng cáo trên truyền hình đối với các sản phẩm

nêu trên không phù hợp với hồ sơ công bố sản phẩm mỹ phẩmvới cơ quan nhà nước

có thẩm quyền Đây là các quảng cáo mang tính thổi phồng, có thể khiến khách

hàng/ người tiêu dùng nhầm lẫn và hiểu sai lệch về tính năng, công dụng và giá trị

thực sự của sản phẩm Bên cạnh đó, hình thức quảng cáo của Công ty này còn gây

nhầm lẫn cho khách hàng/ người tiêu dùng bằng hình ảnh trong những đĩa quảng

cáo phát sóng trên truyền hình, những người sử dụng các sản phẩm của Công ty

dường như được lột xác sau khi sử dụng sản phẩm và đưa ra những lời tán dương,

cam kết về chất lượng của sản phẩm Công ty tiến hành quảng cáo trên các kênh

truyền hình nhiều người xem như HTVC, SCTV, các đài truyền hình địa phương

(Long An, Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre), VCTV2, VCTV12, vì vậy lượng khán giả

bị tác động tiêu cực từ các quảng cáo sai lệch này là rất lớn Công ty Cổ phần mua

sắm hạnh phúc bị áp dụng tình tiết tăng nặng do thực hiện hành vi vi phạm liên tục

đối với nhiều sản phẩm trong thời gian dài Kết thúc vụ việc, Cục Quản lý Cạnh

tranh đã xử phạt Công ty Cổ phần mua sắm hạnh phúc 45 triệu đồng đồng thời yêu

Ngày đăng: 13/03/2016, 01:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng ....: Số nhân viên của mô hình cơ quan cạnh tranh trên thế giới 55 - Luận văn Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả thi hành Luật cạnh tranh
ng ...: Số nhân viên của mô hình cơ quan cạnh tranh trên thế giới 55 (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w