1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giúp học sinh đạt điểm cao khi làm bài Nghị luận văn học trong đề thi THPT QG

19 855 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 164,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 1-Tên sáng kiến: Giúp học sinh đạt điểm cao khi làm bài Nghị luận văn học trong đề thi THPT QG.. Nghị luận văn học là một kiểu bài làm văn chiếm 40 đến 50% s

Trang 1

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 1-Tên sáng kiến: Giúp học sinh đạt điểm cao khi làm bài Nghị luận văn học trong đề thi

THPT QG

2-Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Học sinh đại trà, học sinh giỏi.

3-Thời gian áp dụng sáng kiến: Tháng 10/2014 đến tháng 5/2015

4-Tác giả:

- Nơi thường trú: Yên Chính – Ý Yên – Nam Định

- Trình độ chuyên môn: Cử nhân Ngữ văn

- Chức vụ công tác : Phó chủ tịch Công đoàn – Tổ trưởng chuyên môn

- Nơi làm việc : Trường THPT Mỹ Tho

- Địa chỉ liên hệ : Yên Chính – Ý Yên – Nam Định

- Điện thoại: 0987211170

- Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 100 %

5- Đơn vị áp dụng sáng kiến

- Tên đơn vị: Trường THPT Mỹ Tho

- Địa chỉ: Yên Chính – Ý Yên – Nam Định

- Điện thoại: 03503825642

Trang 2

I ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN.

Nghị luận văn học là một kiểu bài làm văn chiếm 40 đến 50% số điểm trong bài thi của học sinh.Tạo lập văn bản đối với một đề thi Ngữ Văn theo hình thức tự luận

là khâu cuối cùng định giá năng lực, kết quả của người dạy cũng như người học Bởi vậy, việc hướng dẫn HS để các em có kiến thức và kĩ năng tạo lập văn bản là một khâu rất quan trọng trong việc nâng cao điểm số cho HS

Từ thực tế dạy học tôi nhận thấy phần lớn HS thụ động, ỷ lại vào thầy cô: lười nghĩ bài, ngại làm bài, khi viết bài thì nghĩ gì nói đấy Sự thụ động và biếng nhác này một phần do hoàn cảnh sống: các em sống tương đối đầy đủ, được gia đình chăm chút, bao bọc; một phần do thói quen hưởng thụ của HS; một phần do lỗi của người dạy: chưa chú

ý dạy cho người học cách học dẫn đến choáng ngợp và ngại khó trước biển kiến thức bao la; càng học nhiều càng quên nhiều hoặc nếu có nhớ thì sau mỗi kì thi là quên hết

Một bộ phận không nhỏ các em hoặc hạn chế về năng lực Ngữ Văn hoặc không chọn Ngữ Văn trong ngành nghề tương lai Trong khi đó, lại có nhiều em lấy môn Văn làm một trong những môn để thi tuyển vào các trường Đại học Nếu những năm học trước, hai kì thi TN và ĐH tách bạch thì việc đáp ứng hai đối tượng, hai mục tiêu cũng như việc dạy của GV tương đối nhẹ nhàng Việc nhập hai kì thi làm một như năm nay khiến chúng ta khi dạy cùng một đơn vị bài học phải hướng tới những đối tượng khác nhau với nhu cầu khác nhau, mục đích khác nhau

Qua nghiên cứu đề thi ĐH từ các năm trước, đề thi minh họa của Bộ Giáo Dục năm 2015 tôi nhận thấy đề thi THPT QG có thể định dạng vào các kiểu bài: Bàn luận về một ý kiến hoặc hai ý kiến bàn về văn học; so sánh hai đoạn thơ, hai đoạn văn, hai chi tiết, hai nhân vật, hai tư tưởng, hai khuynh hướng, quan điểm sáng tác, phong cách nghệ thuật của hai nhà văn… Qua sự rà soát này tôi chợt nảy ra ý nghĩ: “Làm thế nào để học sinh có phương pháp, kỹ năng làm những kiểu bài này một cách khoa học và hiệu quả nhất?” trong khi phần lý thuyết làm văn trong trường THPT mới có kiểu bài “ Nghị luận một ý kiến bàn về văn học” mà chưa có bài lý thuyết dạy cách làm kiểu bài nghị luận so sánh khi làm văn Từ sự trăn trở đó, năm học này tôi đã mạnh dạn chọn viết sáng kiến kinh nghiệm với đề tài: “Giúp học sinh đạt điểm cao khi làm câu NLVH trong đề thi THPT QG” Tôi hy vọng rằng sáng kiến nhỏ bé này của mình sẽ góp phần nâng cao chất lượng cho HS trong mỗi kỳ thi bởi qua ba kỳ thi tập trung thi đề của trường và của Sở

GD tôi thấy sáng kiến của mình đã có những kết quả nhất định

II MÔ TẢ GIẢI PHÁP

1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:

Là năm đầu tiên BGD thực hiện đổi mới kì thi Quốc gia sau THPT, năm học này là một thử thách không nhỏ đối với người dạy và người học Yêu cầu phân hóa năng lực người học, hướng tới kiểm tra năng lực tư duy, chống học vẹt, học tủ, kết quả ảo khiến cho đề thi môn Ngữ Văn những năm gần đây không ngừng đổi mới, mỗi ngày yêu cầu cao hơn, khó khăn hơn, không chỉ với người học mà cả người dạy Các đề thi là kiểu bài mới, được áp dụng kể từ khi thay sách nên không ít giáo viên còn lúng túng khi giảng dạy Bởi lẽ, hầu hết giáo viên ra trường trước năm 2008 ít được tiếp cận kiểu bài này, còn những giáo viên ra trường sau kinh nghiệm giảng dạy chưa có nhiều

Trang 3

Mặt khác, dạng đề này đòi hỏi học sinh phải có kiến thức vững vàng, năng lực cảm nhận tác phẩm văn chương sâu rộng và nhận định đề tinh nhạy để viết bài

Do đó, cách học thuộc bài, học theo lối mòn sẽ không phát huy được tác dụng Trước thực trạng trên, bằng kinh nghiệm của bản thân và sự nghiên cứu tài liệu tập huấn, đề thi đại học các năm, đê thi minh họa của Bộ GD tôi mạnh dạn đề xuất giải pháp giúp học sinh THPT làm tốt các dạng bài này trong quá trình ôn tập cho học sinh lớp 12 thi THPT QG

Một điểm cần lưu ý nữa là cách ra đề của đề thi Tốt nghiệp trước năm 2014 cho câu NLVH tương đối nhẹ nhàng, thường yêu cầu của đề là cảm nhận một đoạn thơ, phân tích một nhân vật Cách ra đề này ưu điểm là kiểm tra được nội dung, kiến thức cơ bản nhưng chưa phát huy hết được năng lực, khả năng tư duy, sáng tạo của HS Vì vậy làm thế nào

để “ giúp HS đạt điểm cao khi làm câu NLVH trong đề thi THPT QG” là việc làm hết sức cần thiết

2 Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:

a Nêu vấn đề cần giải quyết.

Nghị luận ý kiến bàn về văn học và nghị luận so sánh là những kiểu bài làm văn đóng vai trò không nhỏ trong kết cấu bài văn thi đại học những năm gần đây, trong

đó nghị luận so sánh là kiểu bài mới, chưa được cụ thể hóa bằng một bài học riêng trong chương trình Ngữ văn bậc trung học phổ thông Điều này ảnh hưởng ít nhiều đến chất lượng làm bài của học sinh cũng như quá trình định hướng ôn tập cho học sinh từ phía giáo viên Góp phần tháo gỡ những khó khăn trên, sáng kiến kinh nghiệm này của tôi xin đưa ra một số gợi ý để giúp cho các em ôn tập tốt trong kì thi THPT QG

b Các bước thực hiện của giải pháp:

* Nghị luận ý kiến bàn về văn học:

Bước 1: Giúp HS nhận dạng các kiểu bài thường gặp:

Ý kiến thường được đặt trong ngoặc kép, câu dẫn thường là “ Bàn về ”; “ Nhận xét về ” “ có ý kiến cho rằng ” Kiểu bài này có hai dạng thường gặp là:

Một ý kiến:

Ví dụ:

Đề 1: Bàn về phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu, có ý kiến cho rằng: “

Một trong những điểm nhất quán của Nguyễn Minh Châu trước và sau năm 1975 chính

là hành trình đi tìm kiếm hạt ngọc ẩn dấu sâu trong tâm hồn của mỗi con người Hạt ngọc ấy không lồ lộ nơi chớp bom, lửa đạn mà ẩn dấu trong vô vàn cát bụi thô nhám của cuộc đời ”

Từ nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn “ Chiếc thuyền ngoài xa” anh, (chị) hãy làm sáng tỏ ý kiến trên

Hai ý kiến: Chia làm hai kiểu nhỏ:

+ Hai ý kiến bổ sung cho nhau

Trang 4

Đề 1: Về đoạn trích Việt Bắc của Tố Hữu, có người cho là “bản hùng ca về cuộc

kháng chiến chống Pháp”, có người lại cho là “khúc tình ca về ân tình cách mạng trong

15 năm ấy”.

Từ việc phân tích đoạn trích, hãy bình luận các ý kiến trên

Đề 2: Bàn về bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu, có ý kiến cho rằng: “ Bài thơ mang vẻ đẹp

truyền thống của thi ca” Ý kiến khác lại cho rằng: “ Bài thơ mang hơi thở của thời đại cách mạng” Từ những hiểu biết của mình về đoạn thơ sau,

“ Ta về, mình có nhớ ta

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.

Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.”

( Việt Bắc – Tố Hữu, Ngữ văn 12,

Tập một, NXB G D 2014, tr.109) Anh (chị) hãy bình luận hai ý kiến trên

Đề 3: Về hình tượng Đất nước trong trích đoạn “Đất Nước” của Nguyễn Khoa

Điềm, có ý kiến cho rằng: “Đó là Đất Nước bình dị, gần gũi, thân quen hiện hữu trong

cuộc sống sinh hoạt hàng ngày” Ý kiến khác lại nhấn mạnh: “Đó là Đất Nước thiêng liêng, lớn lao, kết tinh bao vẻ đẹp của tâm hồn người Việt.”

Từ cảm nhận của mình về hình tượng Đất nước trong đoạn thơ sau, anh (chị) hãy bình luận về hai ý kiến trên

Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể.

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo, cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng

Đất Nước có từ ngày đó

(Đất Nước- Nguyễn Khoa Điềm, Ngữ Văn 12, Tập một, NXB GD 2013, Tr.118 )

Trang 5

Đề 4:

Về hình tượng sông Đà trong đoạn trích Người lái đò sông Đà (trích tùy bút Sông Đà) của Nguyễn Tuân (sách Ngữ văn 12), có ý kiến cho rằng: con sông Đà là một loài

thủy quái vừa hung ác vừa nham hiểm, ý kiến khác thì nhấn mạnh: con sông Đà dịu dàng như một thiếu nữ, gợi cảm như một “cố nhân” và bí ẩn như một “người tình nhân chưa quen biết”

Bằng cảm nhận về hình tượng sông Đà, anh, (chị) hãy bình luận các ý kiến trên

Đề 5: Về hình tượng sông Hương trong bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông ? của

Hoàng Phủ Ngọc Tường, có người nhận thấy: “Con sông mang vẻ đẹp phong phú, đa

dạng”; có người lại khẳng định: “Con sông mang vẻ đẹp thống nhất”

Anh, (chị) có đồng tình với hai ý kiến nêu trên ?

Đề 6: Bàn về bài thơ “Sóng” có ý kiến cho rằng: “Thành công của Xuân Quỳnh

chính là đã thể hiện khát vọng tình yêu của người phụ nữ mang vẻ đẹp hiện đại” Ý kiến

khác lại cho rằng “Sức hấp dẫn của bài thơ chính là điệu tâm hồn yêu đậm đà vẻ đẹp

truyền thống”.

Từ cảm nhận về bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh (Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo

dục, 2009), anh (chị) hãy bình luận ý kiến trên

Đề 7: Nói về chủ đề của Truyện Tây Bắc, Tô Hoài đã từng tâm sự rằng: “Cuộc đấu

tranh giai cấp, riêng ở Tây Bắc mang một sắc thái đặc biệt Nhìn lướt qua, nơi thế lực phong kiến còn đương kéo lùi đất nước lại hàng trăm năm trước, chúng ta dễ tưởng những cảnh người ở đấy cứ muôn thuở lặng lẽ Không, ở nơi rừng núi mơ màng ấy, các dân tộc đã không lặng lẽ chịu đựng Họ đã thức tỉnh.” Bên cạnh đó, nhà văn cũng khẳng

định: “Ở mỗi nhân vật và trùm lên tất cả miền Tây, tôi đã đưa vào một không khí vời vợi,

làm cho đất nước và con người bay bổng lên hơn, rời bỏ được cái ám ảnh tủn mủn, lặt vặt, thường làm co quắp nhân vật, nhỏ bé vấn đề và khung cảnh đi Không biết cắt nghĩa sao, nhưng tôi cho rằng ngay trong văn xuôi, cần phải đượm hồn thơ, có thế văn xuôi mới trong sáng cất cao”

Từ cảm nhận của mình về tác phẩm Vợ chồng A Phủ, anh (chị) hãy bình luận các ý

kiến trên của nhà văn Tô Hoài

Đề 8: Về nhân vật người vợ nhặt trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Kim Lân, có

người khẳng định: “Thị là nạn nhân thê thảm của cái đói”; nhưng cũng có người nhận thấy: “Thị là chủ nhân tích cực của cuộc đời mình”.

Anh, (chị) có suy nghĩ gì về hai ý kiến nêu trên ?

Đề 9: Bàn về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, lâu nay đã có nhiều cách hiểu

khác nhau: “Người si mê thấy đó chỉ là tỏ tình, người vội vàng bảo rằng tả cảnh, người

khôn ngoan thì làm một gạch nối: tình yêu – tình quê Kẻ bảo hướng ngoại Người khăng khăng hướng nội”

(Chu Văn Sơn, Ba đỉnh cao Thơ mới, Nxb Giáo dục, 2006, tr 247) Qua cảm nhận về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ (Ngữ văn 11, Tập 2, NXB GD, 2006,

tr.46 - 47), anh (chị) hãy cho biết suy nghĩ riêng của mình về các kiến trên?

Trang 6

+ Hai ý kiến trái chiều

Đề 1: Về việc Huấn Cao cho chữ viên quản ngục trong Chữ người tử tù của

Nguyễn Tuân, có ý kiến cho rằng: “Đó là cách để khẳng định danh tiếng và trả ơn mấy

bữa rượu thịt”; ý kiến khác lại nhận thấy: “Đó là cách để tạ lòng tri kỉ”.

Ý kiến của anh,(chị )?

Đề 2: Về kết thúc truyện Chí Phèo, có ý kiến cho rằng: “Đó là cái nhìn bi quan,

bế tắc của Nam Cao”; ý kiến khác lại cho rằng: “Đó là cái nhìn tích cực, khỏe khoắn của nhà văn về cuộc sống và thời đại” Ý kiến của anh, (chị)?

Đề 3: Kết thúc truyện Đời thừa, Nam Cao để cho nhân vật Hộ nói trong nước mắt:

“ Anh chỉ là thằng khốn nạn! Còn Từ thì nói trong thương cảm, xót xa: Không! Anh

chỉ là người khốn khổ ! Theo anh, (chị), nhân vật Hộ là kẻ khốn nạn hay là người khốn khổ ?

Đề 4: Đọc Một người Hà Nội của NguyễnKhải, có người cho rằng: “Nhân vật tôi đã

phê phán cô Hiền vì hay hớm gì tư sản, không thể tin cậy được”; lại có người khẳng định: “Nhân vật tôi đã ca tụng hân hoan cô Hiền và tin rằng là hạt bụi vàng của Hà Nội”.

Ý kiến của anh, (chị) ?

Đề 5: Hành động Mị cởi trói cho A Phủ trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, có

người cho đó là hành động tự giác, có người cho đó là hành động tự phát Ý kiến của anh, (chị)?

Đề 6: Về bi kịch nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao, có

người cho bi kịch bị tha hóa là bi kịch đau đớn nhất, có người khẳng định, bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người mới đau đớn nhất Ý kiến của anh, (chị)?

Đề 7: Đọc đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng đài, có người cho nhận thấy, Vũ Như Tô

là nhân vật lý tưởng; người khác lại khẳng định, nhân vật lý tưởng là Đan Thiềm chứ không phải Như Tô Ý kiến của anh, (chị) ?

Bước 2: Hướng dẫn HS đọc kĩ đề, xác định nội dung nghị luận, các thao tác lập luận cần

sử dụng, gạch chân những từ ngữ quan trọng

Bước 3: Hướng dẫn HS giới thiệu tác giả, tác phẩm, nội dung nghị luận.

Lưu ý: nhắc HS đảm bảo nguyên tắc mở bài: ngắn gọn, đúng, trúng Đối với dạng đề cho

ý kiến, dứt khoát phải giới thiệu được ý kiến đó vào trong mở bài GV có thể nhắc lại cho

HS một số cách mở bài trực tiếp, gián tiếp (bằng một liên tưởng tương đồng, tương cận, đối lập, bằng một ấn tượng, ) Phần này, GV xem lại SGK Làm Văn 12 cải cách

Bước 4: Hướng dẫn HS giải thích ý kiến (nếu cần) Việc giải thích thường phải bắt đầu

bằng giải thích ngôn từ, hình ảnh

Ví dụ: Hạt ngọc ; bản hùng ca, khúc tình ca; nạn nhân, chủ nhân .– Dạng hai ý kiến bổ sung; kẻ khốn nạn, người khốn khổ (đề 2); nhân vật lý tưởng (đề 6)

VD: Giải thích hai ý kiến của đề 3

+ Ý kiến thứ nhất: Đất nước bình dị, gần gũi, thân quen hiện hữu trong cuộc sống sinh

hoạt hàng ngày là đất nước được tiếp cận, cảm nhận từ những hình ảnh bình dị, đời

thường Đó là đất nước ở trong ta, ở quanh ta

Trang 7

+ Ý kiến thứ hai: Đất nước thiêng liêng, lớn lao, kết tinh bao vẻ đẹp của tâm hồn người

Việt là đất nước được cảm nhận ở chiều sâu bên trong, ở những giá trị vĩnh hằng Đó là

đất nước mang tầm vóc lớn lao với những vẻ đẹp truyền thống thiêng liêng

- Dạng đề hai ý kiến trái chiều: Giải thích ý kiến mà HS đã lựa chọn là đúng

Bước 5: Hướng dẫn HS khẳng định ý kiến cá nhân

+ Dạng đề hai ý kiến bổ sung: thường cả hai ý kiến đều xác đáng, bổ sung cho nhau hoàn thiện vấn đề cần nghị luận

+ Dạng đề hai ý kiến trái ngược hẳn nhau, điều đó bắt buộc người viết phải thể hiện được chính kiến của mình Có nghĩa là trong hai ý kiến, chỉ có một ý kiến là xác đáng Để giải quyết trường hợp này, không có cách nào khác là HS phải nắm vững, hiểu sâu tác phẩm

và vấn đề nghị luận Dùng những kiến thức mình có này để phản biện đề, chọn ra ý kiến đúng Ví dụ: Đan Thiềm mới là nhân vật lý tưởng chứ không thể là Như Tô; Huấn Cao cho chữ là tạ một tấm lòng tri kỉ chứ không thể là trả ơn mấy bữa rượu thịt tầm thường và khẳng định danh tiếng; bi kịch tha hóa mới là tột cùng đau đớn chứ chưa phải là bi kịch

vỡ mộng văn chương với nhân vật Hộ

- Bước 5: Hướng dẫn HS chứng minh ý kiến cá nhân

+ Với dạng 2 ý kiến bổ sung: mỗi ý kiến hình thành một luận điểm Tuy nhiên, trong mỗi ý kiến (mỗi luận điểm), GV cũng nên hướng dẫn HS hình thành hệ thống luận cứ Lưu ý với các em rằng, bài muốn hay, trước hết phải có ý Ý càng phong phú, rõ ràng, càng dễ viết, khả năng làm chủ bài viết càng cao Tránh vo tròn thành một cục Ví dụ, chứng minh cho đề 3:

a Đất nước bình dị, gần gũi, thân quen hiện hữu trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày

- Khác với nhiều nhà thơ tiếp cận đất nước ở những hình ảnh lớn lao, kì vĩ, Nguyễn Khoa

Điềm đã chọn một điểm nhìn gần gũi hơn để cảm nhận đất nước ở những gì bình dị, đời thường hàng ngày (miếng trầu bà ăn, trồng tre đánh giặc, hạt gạo, cái kèo, cái cột ) Đất nước không còn là khái niệm trừu tượng nữa mà cụ thể, quen thuộc và giản dị biết bao

- Những cảm nhận về đất nước được thể hiện bằng lời trò chuyện thủ thỉ tâm tình của đôi lứa cũng đã khiến gương mặt đất nước hiện lên gần gũi và thân thiết hơn

b Đất nước thiêng liêng, lớn lao, kết tinh bao vẻ đẹp của tâm hồn người Việt

- Trong hình ảnh bình dị đời thường, bằng việc khai thác vận dụng tài tình chất liệu văn

hóa, văn học dân gian, nhà thơ đã thể hiện những giá trị vĩnh hằng, chiều sâu tâm hồn của dân tộc

+ Một đất nước có truyền thống lịch sử lâu đời: đất nước có trong cái ngày xửa ngày xưa

bà thường hay kể Chiều dài lịch sử của đất nước được gợi lên từ thời gian xa xưa trong

các câu chuyện cổ của bà

+ Một đất nước nghĩa tình thủy chung trong lối sống (miếng trầu bây giờ bà ăn, cha mẹ

thương nhau bằng gừng cay muối mặn) Sự tích trầu cau và biểu tượng “gừng cay muối mặn” quen thuộc trong ca dao được vận dụng nhuần nhuyễn đã thể hiện truyền thống đạo

đức tốt đẹp ngàn đời của ông cha về lẽ thủy chung son sắt

Trang 8

Một đất nước anh hùng, kiên cường bất khuất với truyền thống ngàn đời đánh giặc giữ

nước được gợi nhắc từ việc sử dụng linh hoạt truyền thuyết Thánh Gióng (đất nước lớn

lên khi dân mình biết trồng tre đánh giặc)

+ Một đất nước cần cù, chịu thương chịu khó trong lao động Đất nước hiện thân trong

những phong tục tập quán ngàn đời, đặc biệt phong tục trồng lúa nước ( cái kèo,cái cột

thành tên, hạt gạo một nắng hai sương )

Hai từ Đất Nước được viết hoa trong suốt đoạn thơ đã thể hiện những xúc động thiêng liêng, niềm tự hào tôn kính của nhà thơ dành cho đất nước

- Chất liệu văn hóa, văn học dân gian được vận dụng nhuần nhuyễn đã giúp nhà thơ thể

hiện suy tưởng của mình về đất nước với quan niệm “Đất nước của Nhân dân”

Bước 6: Hướng dẫn học sinh bàn luận ý kiến:

Thông thường ở phần này HS sẽ khẳng định lại ý kiến, chỉ rõ ý kiến định hướng cho người đọc biết thêm những gì về nội dung cần nghị luận như: Tâm hồn nhân vật trữ tình, vẻ đẹp của nhân vật, phong cách hoặc quan điểm, tư tưởng sáng tác của nhà văn…)

VD cho đề số 3:

Bình luận hai ý kiến:

- Hai ý kiến là những cảm nhận khác nhau về hình ảnh đất nước trong đoạn thơ Nếu ý kiến thứ nhất chú ý đến vẻ đẹp bình dị, gần gũi đời thường thì ý kiến thứ hai lại khẳng định những giá trị vĩnh hằng, những truyền thống thiêng liêng của hình tượng đất nước trong đoạn thơ

- Tuy khác nhau song hai ý kiến không đối lập, loại trừ nhau mà bổ sung cho nhau giúp ta

có được cái nhìn toàn vẹn sâu sắc hơn về hình tượng đất nước trong đoạn thơ Từ hai ý kiến có thể thấy được cách cảm nhận đất nước đầy sâu sắc, mới mẻ của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm so với các nhà thơ trước đó và cùng thời

* Kiểu bài nghị luận so sánh.

- So sánh là phương pháp nhận thức trong đó đặt sự vật này bên cạnh một hay nhiều

sự vật khác để đối chiếu, xem xét nhằm hiểu sự vật một cách toàn diện, kỹ lưỡng, rõ nét

và sâu sắc hơn Trong thực tế đời sống, so sánh trở thành một thao tác phổ biến, thông dụng nhằm đáp ứng nhu cầu nhận thức, đánh giá của con người trong nhiều lĩnh vực và hoàn cảnh

Với phân môn làm văn trong nhà trường phổ thông, so sánh là một trong những thao tác chính của văn nghị luận bên cạnh các thao tác phân tích, bình luận, bác bỏ… Yêu cầu của thao tác này là chỉ ra nét giống nhau và khác nhau của các đối tượng so sánh Vì thế,

nó gắn với hai loại: so sánh tương đồng và so sánh tương phản Sử dụng thao tác này đòi hỏi người viết phải có kiến thức rộng, có sự tinh nhạy và linh hoạt để gọi các sự vật đặt cạnh nhau Ví dụ: khi phân tích “Vợ nhặt” thì liên tưởng đến Một đám cưới của Nam Cao

để thấy dù diễn ra giữa ngày đói song đám cưới của Tràng vẫn lạc quan, mở ra cảnh gia đình gắn bó đoàn tụ trong khi đám cưới của Dần bắt đầu sự chia lìa tan tác của gia đình mình

Nếu xem so sánh là một cách thức, một phương pháp trình bày khi làm bài văn nghị luận hay nói cách khác là một kiểu bài nghị luận thì chưa có một bài lí thuyết cụ thể nào

Trang 9

mang tính định hướng, gợi dẫn Vì thể, với mỗi giáo viên, việc giúp học sinh nắm được đặc trưng, mục đích, yêu cầu và cách thức làm bài cho dạng đề so sánh là vô cùng cần thiết, nhất là với học sinh 12 sắp thi THPT QG

Các dạng cụ thể của kiểu bài.

Từ thực tế các đề thi đại học trong những năm vừa qua, tôi nhận thấy có những dạng và cấp bậc so sánh sau:

- So sánh hai chi tiết trong hai tác phẩm: Đề khối D 2010 - So sánh chi tiết ấm nước đầy

và còn ấm mà Từ dành chăm sóc Hộ và chi tiết bát cháo hành của Thị Nở dành cho Chí Phèo

- So sánh hai đoạn thơ (diễn tả nỗi nhớ) trong hai bài: “Tây Tiến” của Quang Dũng và

“Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên- Đề khối C 2008

- So sánh hai đoạn văn (khắc họa vẻ đẹp hai dòng sông) trong hai bài kí: “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân và “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường- Đề khối C 2010

- So sánh hai nhân vật (vẻ đẹp khuất lấp) của: người vợ nhặt trong “Vợ nhặt” của Kim Lân và người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu Ngoài ra có thể xuất hiện thêm các dạng:

- So sánh tư tưởng, khuynh hướng sáng tác, phong cách nghệ thuật của các nhà văn

- So sánh các cấp độ về hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn học như: Nghệ thuật xây dựng hình tượng, nghệ thuật phân tích và diễn tả tâm lý nhân vật, nghệ thuật sử dụng ngôn từ

Dấu hiệu nhận dạng: Thường dẫn yêu cầu là: “ Cảm nhận hai đoạn thơ…” hoặc “ Cảm nhận hai đoạn văn sau…”

Ví dụ:

Đề 1: Cảm nhận của anh/chị về những vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật người vợ nhặt (Vợ nhặt - Kim Lân) và nhân vật người đàn bà hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu)

Đề 2:

(1) "Biết đọc vỡ sách thánh hiền, từ những ngày nào, cái sở nguyện của viên quan

coi ngục này là có một ngày kia được treo ở nhà mình một đôi câu đối do tay ông Huấn Cao viết Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm Tính ông vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ Có được chữ ông Huấn mà treo là có một báu vật trên đời Viên quản ngục khổ tâm nhất thì ân hận suốt đời" (Chữ người tử tù)

(2) "Ông lái đò nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá Ông đã thuộc quy luật

phục kích của lũ đá nơi cửa ải( ) Cưỡi lên thác sông đà, phải cưỡi đến cùng như cưỡi

hổ Dòng thác hùm beo đang hùng hục tế mạnh trên sông đá Nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường thẳng chéo về phía cửa đá ấy đứa thì ông

đò đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến (Người lái đò sông Đà)

Cảm nhận hai đoạn văn trên, từ đó anh, (chị) hãy chỉ ra sự thống nhất và thay đổi

trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân trước và sau cách mạng tháng Tám 1945.

Trang 10

Đề 3:

(1) "Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có

chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chuếc thuyền nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn lại nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền Mặt hòn nào hòn nấy trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm, méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này"

(Người lái đò sông Đà - Nguyễn Tuân)

(2) "Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng

già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những thác, cuộn xoáy như những cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời mình như một cô giá Di - gan phóng khoáng và man dại"

(Ai đã đặt tên cho dòng sông - Hoàng Phủ Ngọc Tường)

Anh, (chị) hãy làm sáng tỏ những nét giống nhau và khác nhau trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường qua hai đoạn trích trên

Đề 4: Cảm nhận hai đoạn thơ sau trong bài thơ “ Tây Tiến” của Quang Dũng:

“ Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Và: “ Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa…”

Đề 5:

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,

Một người chín nhớ mười mong một người

Gió mưa là bệnh của giời,

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng

Hai thôn chung lại một làng,

Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này ?

Ngày qua ngày lại qua ngày,

Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng

(Tương tư - Nguyễn Bính SGK Ngữ văn 11 NC tập 1- trang 55)

Ngày đăng: 13/03/2016, 01:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình tượng cái “tôi” nói lên được đặc điểm gì trong phong cách nghệ thuật của các tác  giả? - Giúp học sinh đạt điểm cao khi làm bài Nghị luận văn học trong đề thi THPT QG
Hình t ượng cái “tôi” nói lên được đặc điểm gì trong phong cách nghệ thuật của các tác giả? (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w