Với phương pháp dạy học cũ, chỉdựa vào giảng, bình, diễn giảng, dạy học theo lối cung cấp kiến thức áp đặt chưa coingười học là trung tâm, học sinh phải học thuộc kiến giải của thày, chư
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NAM ĐỊNH TRƯỜNG THPT XUÂN TRƯỜNG C
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
LÍ THUYẾT GRAPH TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN,
THỰC NGHIỆM VÀO ĐỌC HIỂU “CẢNH NGÀY HÈ”
CỦA NGUYỄN TRÃI
Người thực hiện: ĐOÀN VĂN HIỆU Trình độ chuyên môn: Thạc sĩ
Chức vụ: Giáo viên THPT Đơn vị công tác: Trường THPT Xuân Trường C.
Năm học 2014 - 2015
Trang 21.Tên sáng kiến:
LÍ THUYẾT GRAPH TRONG DẬY HỌC NGỮ VĂN,
THỰC NGHIỆM VÀO ĐỌC HIỂU “CẢNH NGÀY HÈ” CỦA NGUYỄN TRÃI.
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Khoa học Sư phạm (Phương pháp dạy học Ngữ văn)
3 Thời gian áp dụng sáng kiến:
Từ ngày 25 tháng 8 năm 2012 đến ngày 25 tháng 5 năm 2014
Trường THPT Xuân Trường C
Địa chỉ: Xã Xuân Đài, Huyện Xuân Trường, Tỉnh Nam Định
Điện thoại: 0350.3888209
Trang 3I Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến.
1 Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục:
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật hiện nay dẫn đến kết quả là sự xuấthiện nhanh, nhiều những tri thức, những kĩ năng và những lĩnh vực nghiên cứu mới.Đồng thời những tri thức cũ nhanh chóng trở nên lỗi thời, lạc hậu, diễn ra với tốc độngày càng nhanh Không những vậy, những phát minh vĩ đại của yếu tố của lực lượngsản xuất và của phương thức sản xuất tiên tiến hiện đại, công nghệ cao đã đưa thế giớibước sang thời kì toàn cầu hóa giai đoạn 3 Hội nhập quốc tế sâu rộng và mạnh mẽ đãbiến các quốc gia, khu vực thành những láng giềng sát vách trong sân chơi của một
“thế giới phẳng” Nắm vững quy luật này, Việt nam cũng đã chủ động hội nhập, tham
gia trường quốc tế toàn diện, tích cực trên mọi lĩnh vực của đời sống
Một trong các nhân tố quan trọng đưa nước ta hội nhập thành công, chủ độngnắm bắt thời cơ và vượt qua thử thách mà Việt Nam xác định, đó là giáo dục và đào
tạo Xác định “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”, ngay trong Luật Giáo dục nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã quy định: “Phương pháp giáo dục phải
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê họctập và ý chí vươn lên” (Luật Giáo dục 2005) Hơn thế
nữa trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2, Ban chấp hànhTrung ương Đảng cộngsản
Việt Nam khoá VIII, khẳng định: “Phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc
phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duysáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến vàphương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học” Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hànhTrung ương Đảng
cộng sản Việt Nam khoá XI, với Nghị quyết 29-NQ/TW, về việc “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong thời kì kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, cũng tiếp tục khẳng
định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát
Trang 4khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”.
Tất cả các yếu tố trên đã đặt một nhiệm vụ không hề nhỏ, mang tính chất quyếtđịnh bước ngoặt cho giáo dục đào tạo Việt Nam tại thời điểm ngày nay Đổi mớiphương pháp dạy học sẽ là xu hướng mang tính toàn cầu then chốt trong giáo dục,trong đó không thể bỏ qua vai trò của giáo dục Ngữ văn trong trường THPT
2 Đổi mới phương pháp dạy học văn
Thời đại chúng ta đang sống là thời đại hội nhập, toàn cầu hóa với yếu tố thenchốt khoa học công nghệ Chính yếu tố khách quan này mà đại đa số học sinh (HS) chỉmuốn học các ngành khoa học tự nhiên, kĩ thuật, kinh tế… mà không hứng thú họcvăn Không chỉ dừng ở đó, một quán tính của tư duy dạy học theo kiểu giáo điều đã lâunăm, không biết đối thoại, không cho đối thoại, thậm chí theo hà khắc của lễ giáophong kiến xưa, coi đối thoại tranh luận của trò với thày là hỗn, là láo Thầy dạy gì,bảo gì chỉ biết cắm đầu nghe, cắm đầu chép Và nếu trong giờ học giáo viên có tổ chứcđối thoại, thảo luận thì cũng là thảo luận lấy lệ hình thức cho có chứ chưa đi vào thực
chất vốn có của nó Nhưng có lẽ theo ý kiến chủ quan của chúng tôi nguyên nhân
chính nằm ở thực tại vấn đề phương pháp giảng dạy Với phương pháp dạy học cũ, chỉdựa vào giảng, bình, diễn giảng, dạy học theo lối cung cấp kiến thức áp đặt (chưa coingười học là trung tâm, học sinh phải học thuộc kiến giải của thày), chưa xem dạy học
tác phẩm văn học là dạy học đọc văn, một hoạt động có quy luật riêng, đã dẫn đến
sự bế tắc trì trệ của bộ môn Ngữ văn trong hệ thống giáo dục Hậu quả của nó khôngchỉ làm giảm sút hiệu quả giáo dục, mà hơn thế, còn có phản tác dụng là nó làm cho trí
óc học sinh trơ lì, chán học, làm mòn mỏi trí tuệ, phá hoại tư duy Phải thấy rõ điều đóthì chúng ta mới thấy nhu cầu đổi mới Do đó muốn đổi mới căn bản và toàn diện giáo
Trang 5không chỉ là đặt ra một vài phương pháp, một vài biện pháp kĩ thuật, mà phải xây dựnglại một cách cơ bản quan niệm dạy học mới, các khái niệm mới mới mong có sự đổimới đích thực về phương pháp dạy học nói chung và dạy học Ngữ văn nói riêng.
Đổi mới dạy học Ngữ văn là một vấn đề lớn, phức tạp, còn là xu hướng mangtính toàn cầu Nhiệm vụ đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạtđộng học tập của HS không chỉ là định hướng mà còn đòi hỏi bằng những hoạt động
cụ thể để tiến hành đổi mới phương pháp dạy học Vì vậy cần nghiên cứu xác định cácnguyên tắc, quy trình vận dụng của những phương pháp dạy học tích cực, giúp chogiáo viên sử dụng một cách thuận lợi và có hiệu quả Việc nghiên cứu và áp dụngphương pháp, kĩ thuật dạy học hiện đại trong dạy học Ngữ văn ở THPT là một hướng
đi đúng đắn nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói riêng vàtrong dạy học nói chung
3 Lí thuyết Graph và dạy học Ngữ văn
3.1 Từ lí thuyết Graph đến phương pháp Graph trong dạy học.
Graph là một lý thuyết có nguồn gốc từ toán học Theo tiếng Anh, “graph” là đồthị, mạng, mạch Trong tiếng Pháp, “graphe” cũng có ý nghĩa tương tự Như vậy, hiểumột cách chung nhất, Graph là một sơ đồ, một đồ thị hay một mạng, mạch Hiện nay,
do yêu cầu sử dụng thuật ngữ khoa học với xu hướng dùng chung một tên gọi để thốngnhất về quan niệm khi nghiên cứu khoa học, nên người ta vẫn dùng nguyên tên gọi của
nó là Graph chứ không dịch ra tiếng Việt
Phương pháp nghiên cứu bộ môn và phương pháp dạy học bộ môn luôn có một
sự tương ứng nhất định Chúng ta luôn có thể chuyển hóa phương pháp nghiên cứu bộmôn và phương pháp dạy học bộ môn đó thông qua việc xử lí sư phạm của giáo viên
Lí thuyết đồ thị (Graph) là một phương pháp nghiên cứu chuyên ngành toán học hiệnđại đã được ứng dụng vào nhiều ngành khoa học, kĩ thuật khác nhau vì lý thuyết đồ thịtoán học là phương pháp khoa học có tính khái quát cao, có tính ổn định vững chắc để
mã hóa các mối quan hệ của các đối tượng được nghiên cứu Có thể nói Graph là mộtphép toán hữu hiệu kích thích sự hoạt động, óc tư duy, suy luận của trí não thậm chí
Trang 6còn là một câu trả lời thông minh, logic cho các câu hỏi khó nâng cao của tri thức nhânloại Vì thế chúng ta có thể dễ dàng chuyển hóa lí thuyết Graph trong nghiên cứu toánhọc trở thành phương pháp Graph trong dạy học, trong thực tế sư phạm Việc vận dụngphương pháp Graph trong dạy học các bộ môn khoa học nhằm nâng cao chất lượngdạy học các môn học này ở trường THPT, được xem như là một trong những bước tiếnvượt bậc cho đổi mới và ứng dụng toán học vào hành trang mới vừa tiếp cận vừa bổsung vào hệ thống các phương pháp dạy học truyền thống và đó còn là việc làm tạo ra
sự phong phú cho các phương pháp dạy học Theo hướng này, có nhiều tác giả đãthành công trong việc nghiên cứu và vận dụng lý thuyết Graph vào dạy học một sốmôn học ở trường phổ thông và đã có những kết quả bước đầu Năm 1974, Hà ThúcQuảng đưa ra vấn đề: “Dùng sơ đồ trong việc dạy toán để phát huy tác dụng của sáchgiáo khoa” Năm 1980, tác giả Trần Trọng Dương đã nghiên cứu đề tài: “Áp dụngphương pháp Graph và algorit hoá để nghiên cứu cấu trúc và phương pháp giải, xâydựng hệ thống về lập công thức hoá học ở trường phổ thông” Năm 1983 giáo sưNguyễn Ngọc Quang đã đặt vấn đề: “Sự chuyển hóa phương pháp khoa học thànhphương pháp dạy học” Năm 1984, Phạm Tư với sự hướng dẫn của giáo sư NguyễnNgọc Quang đã nghiên cứu đề tài: “Dùng Graph nội dung của bài lên lớp để dạy vàhọc chương Nitơ- Phôtpho ở lớp 11 trường trung học phổ thông” Năm 1987, NguyễnChính Trung đã nghiên cứu: “Vận dụng phương pháp Graph trong việc lập chươngtrình môn học tối ưu và cải tiến phương pháp dạy học” Trong dạy học sinh học ởtrường phổ thông, Nguyễn Phúc Chỉnh là người đầu tiên đi sâu nghiên cứu về lý thuyếtGraph và ứng dụng lý thuyết Graph trong dạy học môn Sinh học: “Sử dụng Graphnhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinhtrong dạy học sinh thái” (4/1999).Đặc biệt đối với môn Ngữ văn, PGS.TS Nguyễn Quang Ninh đã đưa ra vấn đề dạy họctiếng Việt bằng Graph: “Sử dụng phương pháp Graph trong dạy học tiếng Việt”.Nhưvậy với vài nét khái quát ở trên ta thấy lí thuyết đồ thị Graph đã trở thành phương phápGraph trong dạy học tạo ra những bước tiến mới cho khoa học bộ môn - phương pháp
Trang 7Sơ đồ Graph trong dạy học mà chúng tôi nhấn mạnh chủ yếu là sơ đồ tư duy, đồ thị quan hệ và bảng biểu Tuy nhiên, chúng ta cũng cần lưu ý đến điều kiện để lập
một Graph nội dung, nên có sự lựa chọn chứ không phải tất cả các bài học trongchương trình đều áp dụng được phương pháp này Chỉ nên sử dụng sử dụng phươngpháp Graph để dạy những bài học có nhiều kiến thức, phức tạp, gây khó khăn cho sựlĩnh hội tri thức của người học hoặc hệ thống, tổng kết, đơn giản hóa cô đọng kiến thứcgiúp HS dễ học, dễ nhớ
3.2 Từ phương pháp Graph trong dạy học Ngữ văn đến thực nghiệm trong đọc
hiểu “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi.
Lê nin từng cho rằng: Chỉ khi nào toán học thâm nhập được vào một ngành
khoa học nào đấy thì ngành khoa học ấy mới có những tiến bộ vượt bậc Điều này đã
được chứng minh trong lịch sử phát triển của nhiều ngành khoa học trong đó có khoahọc xã hội Phương pháp thống kê của toán học đi vào thống kê ngôn ngữ, thống kê xãhội học… đã giúp cho những ngành khoa học xã hội này phát triển một cách vượt bậc.Phương pháp dạy học trong đó có phương pháp dạy học Ngữ văn cũng là một ngànhkhoa học, vậy thì có thể đưa phương pháp của toán học vào ứng dụng cho phươngpháp dạy học Ngữ văn được hay không? Graph là một phương pháp nghiên cứu củatoán học, vậy có thể áp dụng phương pháp Graph vào dạy học Ngữ văn hiệu quả haykhông? Những câu hỏi đó đang là sự quan tâm lớn của khoa học sư phạm trong đó có
sư phạm Ngữ văn và đặc biệt là các thày cô giáo đang trực tiếp giảng dạy bộ môn này.Chúng tôi xin được đưa ra ba cơ sở lí luận và một cơ sở thực tiễn sau đây như là tiền
đề áp dụng Graph vào dạy học Ngữ văn
Thứ nhất là mọi phương pháp nghiên cứu bộ môn và phương pháp dạy học bộmôn luôn có một sự tương ứng nhất định Chúng ta có thể chuyển hóa từ phương phápnghiên cứu bộ môn thành phương pháp dạy học bộ môn đó thông qua việc sử lí sư
phạm của giáo viên Ví dụ như phương pháp dạy học bằng thí nghiệm trong dạy học
vật lí có nguồn gốc từ phương pháp thí nghiệm của nghiên cứu vật lí, phương pháp
đàm thoại trong dạy học có nguồn gốc từ phương pháp trao đổi seminar trong nghiên
Trang 8cứu khoa học, hay phương pháp dạy học thuyết trình, diễn giảng cũng có nguồn gốc từ
phương pháp báo cáo trong nghiên cứu khoa học… Phương pháp Graph là mộtphương pháp chuyển hóa từ một phương pháp riêng của toán học, trở thành mộtphương pháp chung của nhiều ngành khoa học khác nhau trong đó có phương phápdạy học cả tự nhiên và xã hội Vì vậy chúng ta có thể ứng dụng phương pháp Graphtrong dạy học nói chung và trong dạy học (đọc hiểu văn bản) Ngữ văn nói riêng
Thứ hai là trong nội dung dạy học Ngữ văn, một sự thật là việc nhận thức nộidung của văn bản, mối quan hệ nghĩa các câu với nhau và với chỉnh thể, giữa nội dung
và hình thức… đối với HS không phải là điều dễ dàng Vì thế chúng ta phải biến nộidung trừu tượng của văn bản thành các tín hiệu trực quan giúp HS dễ hình dung nộidung văn bản So với dùng lời, việc dùng các giáo cụ trực quan, mang tính cụ thể như
vậy, được coi là phương tiện “thị phạm hóa”, “tường minh hóa”, biến nội dung văn
bản vốn rất trừu tượng khó hiểu khó học trong đơn vị bài học trở nên dễ học đơn giản,
HS dễ dàng quan sát hơn tri nhận sâu sắc hơn Nội dung của một bài học không chỉđược tiếp thu bằng cách nghe qua lời giảng của GV mà các em còn được tận mắtchứng kiến, nhìn, được tham dự vào quá trình nhận thức chủ động, một cách tườngminh mối quan hệ nội dung, hình thức, lí thuyết và thực tế, qua dấu hiệu trực quan củaGraph Điều này đã được các nhà nghiên cứu tâm lí khẳng định Trong dạy học, cácgiác quan có thể tri giác thông tin hoàn toàn khác nhau Trong cùng một đơn vị thờigian, tiếp nhận thông tin của thị giác là 3 triệu bis/s, của thính giác là 30000 – 50000bis/s Như vậy tri nhận thông tin của thị giác gấp 100 lần thính giác Điều này nói nên
ưu thế rõ rệt của dạy học bằng thị giác so với thính giác Vì thế dạy học bằng cácphương tiện trực quan, trong đó phương pháp Graph là một ưu thế lớn không chỉ chocác khoa học tự nhiên mà còn có khoa học xã hội trong đó có dạy học Ngữ văn
Thứ ba là xét trên hoạt động dạy học nói chung và Ngữ văn nói riêng, Graph cómột ưu thế vượt trội so với phương pháp truyền thống Nhìn từ góc độ lí thuyết Graph,thực chất việc chuẩn bị bài dạy của GV là việc cấu trúc hóa toàn bộ những kiến thức
Trang 9Cấu trúc hóa nội dung kiến thức bằng Graph (có hoặc vô hướng, mở hay khép) là mộtminh chứng khẳng định GV nắm vững kiến thức, chủ động tổ chức dạy học ChọnGraph là chọn một phương pháp tối ưu nhưng lại hết sức sinh động, phong phú để tạo
hệ thống hóa, khái quát hóa bài học trên lớp, mà dùng lời đôi khi khó diễn đạt hết Đốivới HS, Graph giúp HS có điểm tựa thuận lợi trong việc chủ động lĩnh hội kiến thức
Do tính trực quan, cô đọng của những lưu ý ghi chú, khái quát của kí hiệu mã hóa nộidung, các sơ đồ giúp HS nắm vững hơn, tái hiện nội dung bài học thuận lợi hơn Thêmvào đó các em vừa nắm vững kiến thức từng bài vừa có cái nhìn tổng thể trong mốiquan hệ của các đơn vị kiến thức cấu thành bài học và các kiến thức bài học khác
Thứ tư là do tiến trình văn học và nghiên cứu giảng dạy, một đặc điểm nổi bậtcủa phần văn học viết được biên soạn trong sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn cơ bản lớp
10 là văn học cổ, được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm Các tác phẩm đó đã được cácnhà Nho (trí thức phong kiến) sáng tác cách đây nhiều thế kỉ Điều này là một khókhăn cho việc tiếp cận văn bản văn học trung đại cho học sinh lớp 10 khi mà các em cómột gián cách khá xa về lịch sử và văn hóa cũng như bề dầy tư tưởng, nhận thức củacác em còn hạn chế Khó nhưng chúng ta vẫn phải làm vì văn học cổ là quốc hồn làbản sắc dân tộc Khó nhưng nếu chúng ta có cách tiếp cận, có sự đổi mới phương pháp,cái khó đó sẽ trở thành điều hấp dẫn, lôi cuốn các em học sinh trung học phổ thông(THPT) vì các em đang trong độ tuổi đam mê những điều mới lạ bí ẩn Văn học trungđại chứa đựng những mã văn hóa cổ xưa của cha ông, những dấu ấn văn hóa, lịch sửcũng như hành trình vận động đi từ cơ sở hình thành đến sự phát triển biến động của tưtưởng, quan niệm nhân sinh, thẩm mĩ của con người Việt Nam theo chiều dài lịch sử
Đó sẽ là điểm nhấn quan trọng kích thích sự hứng thú say mê văn học cổ cho các em Một vấn đề quan trọng khác là lối mòn của phương pháp tiếp cận văn học cổ Hầuhết là tiếp cận văn bản qua phân tích từ ngữ, chia nhỏ văn bản thành đoạn, câu, làmmất đi tính vận động khái quát của tư tưởng người nghệ sĩ Giáo viên hỏi học sinh trảlời Giáo viên đọc học sinh chép Điều này dẫn đến tình trạng phân tán nội dung, khónhớ, khó hệ thống,“cụt” về tư duy và dẫn đến chán học văn của các em học sinh Với
Trang 10bài Bảo kính cảnh giới số 43 - Cảnh ngày hè, xưa nay khi tiếp cận bài thơ này, thông
thường chúng ta sẽ chia bố cục bài thơ thành hai phần Sáu câu đầu được xem là phần
tả cảnh thiên nhiên mùa hè Hai câu thơ sau là tâm sự sâu kín của tác giả về khát vọngđem lại cuộc sống no ấm, thái bình thịnh trị cho nhân dân Theo chúng tôi, lối hiểu nàycần xét lại Bởi nếu như vậy sẽ đánh mất đi tính trọn vẹn về nội dung, hoàn chỉnh vềhình thức, mối quan hệ của chúng và đặc trưng của văn học trung đại trong văn bản
này Hơn nữa “Thi dĩ ngôn chí, văn dĩ tải đạo” là đặc điểm quan trọng của văn học
xưa, dưới những hình thức đặc thù của thể loại nhất định Vì thế chúng ta cần có cáchtiếp cận, phương pháp dạy học mới đúng hướng cho văn học cổ nói chung và văn bảnnày nói riêng
Văn học cổ ra đời trong thời kì mà “Văn sử triết bất phân” và mỗi một nhà sáng
tác của văn học trung đại đều là một môn đồ của một hệ tư tưởng triết học, của một tôngiáo nào đó hay chí ít cũng bị ảnh hưởng phương diện tư tưởng nào đó trong cuộc đời.Chúng tôi sẽ đưa ra cách tiếp cận văn bản văn học giai đoạn này trên đặc trưng vănhóa nảy sinh Tức là chúng tôi sẽ đặt văn bản đó trong không gian văn hóa chúng được
ra đời cũng như văn hóa, tư tưởng chủ đạo và phong cách của người cầm bút sáng tạo
ra chúng Nhưng làm thế nào vừa đọc hiểu theo thể loại, theo văn hóa vừa chỉ ra cáchđọc, mối quan hệ giữa nội dung, tư tưởng và hình thức biểu đạt, để học sinh dễ hiểu,
dễ nhớ, tự học và vận dụng vào thực tế - đó mới là vấn đề đặt ra cho phương pháp đọchiểu văn bản này Quả là không dễ dàng nhưng từ những điều đã nhận thức và chia sẻ
ở trên, chúng tôi sẽ đọc hiểu văn bản Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh giới số 43) của
Nguyễn Trãi trên thể loại, mã văn hóa trung đại bằng phương pháp Graph Trên cơ sở
lí luận và thực tiễn nói trên, với tư cách là một GV THPT đang giảng dạy môn Ngữvăn lớp 10, chúng tôi sẽ chia sẻ vớ các em HS, các bạn đồng nghiệp và bạn đọc đề
tài:“Lí thuyết Graph trong dạy học Ngữ văn, thực nghiệm vào đọc hiểu “Cảnh ngày hè” của nguyễn Trãi”
II Mô tả giải pháp:
Trang 111 Bảng so sánh đọc hiểu “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi theo truyền thống và
theo vận dụng lí thuyết Graph.
Nội dung: Vị trí, giá
trị tập thơ, bài thơ
Nội dung: Vị trí tập thơ, giá trị nội dung và nghệ thuật.Tìm hiểu vị trí, thể loại bố cục bài thơ
Phương pháp:
Thuyết trình, phát
vấn
Phương pháp: Ngoài thuyết trình, phát vấn, chúng tôi
sử dụng tích hợp với kiến thức lịch sử cho HS thảoluận, học theo sơ đồ tư duy (Graph), hướng dẫn tự họcqua sơ đồ, bảng biểu Phát huy năng lực tìm thông tin,
tự học, năng lực giao tiếp, tự tin trình bày trước đámđông
Học sinh chuẩn bị bài qua phiếu học tập Nghiên cứu
về thể loại và ngôn ngữ, đọc hiểu từ thể loại
tự tin trình bày trước đám đông
Phân tích văn bản theo bố cục ba phần
Phần 1 - câu 1: Hoàn cảnh nảy sinh cảm hứng Phần 2 - từ câu 2 đến câu 6: Vẻ đẹp Nguyễn Trãiqua bức tranh cảnh ngày hè
Phần 3 - câu 7 và 8: Khát vọng dân giàu đủ củaNguyễn Trãi
Luyện
tập
Câu hỏi tự luận tái
hiện kiến thức, thiên
về ghi nhớ nội dung
Đọc hiểu văn bản khác của Nguyễn Trãi, câu hỏi nêuvấn đề ứng dụng thực tế, câu hỏi tích hợp kiến thức,câu hỏi kiến thức theo thể loại
Từ bảng so sánh hai cách học theo truyền thống và theo Graph ở trên, chúng tôithấy rằng ưu điểm lớn nhất của phương pháp này là đã chuyển từ hoạt động dạy sanghọc, học sinh chủ động tích cực từ chuẩn bị đến học và kiểm tra đánh giá Không
Trang 12những vậy đơn vị kiến thức đã được sơ đồ hóa của qúa trình tư duy sâu nên hàm súc
HS dễ nhớ, dễ vận dụng vào đọc hiểu văn bản khác cũng như giải quyết các vấn đề đặt
ra trong cuộc sống làm thay đổi thực trạng dạy học thụ động văn hiện nay Với phươngpháp này đã phát huy được các năng lực phẩm chất người học, tích hợp các kiến thứcphù hợp với yêu cầu đổi mới phương pháp và tích hợp liên môn trong dạy học hiệnnay
2 Vận dụng lí thuyết Graph vào đọc hiểu “Cảnh ngày hè” của Nguyễn Trãi.
Hoạt động dạy học và tiến trình dạy học
Bài Cảnh ngày hè (Bảo kính cảnh giới số 43) trong sách giáo khoa Ngữ văn cơ
bản lớp 10 được chia làm bốn phần với các phần tương ứng là tiểu dẫn, văn bản,hướng dẫn học bài và luyện tập Chúng tôi sẽ hướng dẫn học sinh tiếp cận bài học trên
đi từ tiểu dẫn đến đọc hiểu văn bản và cuối cùng là luyện tập
2.1 Tìm hiểu phần tiểu dẫn
Ở phần tiểu dẫn chúng tôi đặt ra các đề mục định hướng sau:
2.1.1 Tập thơ Quốc âm thi tập:
- Vị trí của tập thơ: là tập thơ Nôm sớm nhất hiện còn, Nguyễn Trãi đã đặt nềnmóng và mở đường cho sự phát triển của thơ tiếng Việt
- Kết cấu Quốc âm thi tập: gồm bốn phần là Vô đề, Môn thời lệnh, Môn hoa mộc,Môn cầm thú
- Nội dung của tập thơ: phản ánh vẻ đẹp con người Nguyễn Trãi hòa quyện ngườianh hùng với lí tưởng nhân nghĩa, yêu nước, thương dân và tâm hồn một nhà thơ vớitình yêu lớn với thiên nhiên, con người và cuộc sống
- Nghệ thuật của tập thơ: thể thơ thất ngôn Đường luật của Trung Quốc đã đượcNguyễn Trãi sử dụng như thể thơ dân tộc khi sáng tác bằng chữ Nôm và đôi khi xencâu thơ lục ngôn (sáu chữ)
Trang 13Học sinh dễ dàng phát hiện được kiến thức cơ bản trên qua việc tìm hiểu tiểudẫn trong SGK Ngữ văn cơ bản lớp 10 Từ đó chúng tôi sẽ mở rộng liên kết với thực
tiễn qua hai câu hỏi nêu vấn đề và sơ đồ hóa cho HS Đây là tình huống buộc học
sinh phải huy động kiến thức liên môn mà cụ thể là bộ môn lịch sử để sơ đồ hóa kiến thức bài học.
Câu hỏi 1: Nêu năm sinh - mất của Nguyễn Trãi? Những con số đó có mối quan
hệ như thế nào với nội dung tập thơ Quốc âm thi tập?
Câu hỏi 2: Nêu đặc điểm lớn số 3 về nghệ thuật của văn học trung đại ViệtNam? Đặc điểm này biểu hiện như thế nào về thể loại trong tập thơ Quốc âm thi tập?
Để trả lời câu hỏi 1học sinh phải vận dụng kiến thức liên môn lịch sử Chúngtôimở rộng cho học sinh từ con số năm sinh mất 1380 - 1442 (kiến thức THCS các em
đã học) Đây là giai đoạn lịch sử đầy biến động của Việt Nam với những sự kiện nhàTrần suy thoái, nhà Hồ thay thế nhưng không được hợp lòng dân, giặc Minh sang xâmlược và đô hộ Việt Nam, khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi toàn thắng, nhà Lê thành lập.Năm 1429 Nguyễn Trãi và nhiều công thần khai quốc bị thất sủng và tập thơ Quốc âmthi tập ra đời Dù thăng trầm chính trị nhưng Nguyễn Trãi là người với tấm lòng yêunước, luôn hướng mọi tâm trí và hành động với cuộc đời con người và đất nước vì vậyhình tượng người anh hùng Nguyễn Trãi đã tỏa sáng trong thơ ca qua giá trị nội dungcủa tập thơ Quốc âm thi tập
Sơ đồ 1: Thời gian ra đời tập thơ.
1380 1400 1420 1427 Quốc âm (1438) ra đời 1442
Sinh Làm quan (nhà Hồ) K/N Lam Sơn Nhà Lê sơ Thất sủng lui về Côn Sơn Mất
Ngoài ra câu hỏi 2 học sinh tái hiện kiến thức cũ lịch sử văn học ở bài khái quát
văn học trung đại với đặc điểm nghệ thuật: tiếp thu và dân tộc hóa tinh hoa văn học nước ngoài Ở đây Nguyễn Trãi đã tiếp thu và dân tộc hóa ngôn ngữ và thể loại của
Trang 14văn học Trung Quốc Tập thơ Quốc âm thi tập được sáng tác bằng chữ Nôm (kiểu chữ
do người Việt sáng tạo từ chữ Hán ghi âm tiếng Việt) đặc biệt là có hệ thống âm thuầnViệt trong đó có nhiều từ Việt cổ và biến đổi thể loại thơ thất ngôn Đường luật bằngxen câu thơ sáu chữ trong văn bản tạo nên thể loại văn học biến thể giữa ngoại sinh vànội sinh Điều này sẽ liên kết và được chúng tôi làm sáng rõ ở phần sau
2.1.2 Văn bản Cảnh ngày hè.
Vị trí: Cảnh ngày hè là bài số 43/61 bài thơ thuộc mục Bảo kính cảnh giới
-Gương báu răn mình, của phần Vô đề (Vô đề, Môn thời lệnh, Môn hoa mộc, Môn cầmthú) trong Quốc âm thi tập
Sơ đồ 2: Vị trí bài thơ trong sự nghiệp
- Thể loại: Thơ Nôm Đường luật biến thể, biến đổi thể loại thơ thất ngôn Đườngluật bằng việc xen câu thơ sáu chữ vào, ngắt nhịp 3/4 trong câu thơ 7 chữ, tạo nên thểloại văn học tiếp biến yếu tố ngoại sinh và nội sinh
Sơ đồ 3: Thể loại văn bản.
Trang 15- Bố cục: ba phần.
+ Phần 1 - câu1: Hoàn cảnh nảy sinh cảm hứng
+ Phần 2 - từ câu 2 đến câu 6: Vẻ đẹp Nguyễn Trãi qua bức tranh cảnh ngày hè.+ Phần 3 - câu 7 và 8: Khát vọng dân giàu đủ của Nguyễn Trãi
Từ kiến thức cơ bản mà học sinh phát hiện trong SGK và bố cục, chúng tôi cho
HS sơ đò hóa xuất xứ bố cục văn bản
Từ sơ đồ, chúng tôi định hướng mở rộng hơn từ tên phần mục Bảo kính cảnhgiới Cảnh giới chính là Tu thân (sửa mình cho đúng theo điều lẽ nào đó) để hành động
mà đạt tới niềm vui an lạc trong một cảnh giới của cuộc sống Nhưng đâu là cái gốc, làchủ nhân làm “Gương báu” cho Nguyễn Trãi răn mình, soi mình? Mục đích của “rănmình” là gì? Từ câu hỏi này, chúng tôi sẽ dẫn dắt, định hướng học sinh vào phần đọchiểu văn bản để giải đáp câu hỏi đó
Trang 162.2 Hướng dẫn đọc hiểu văn bản.
Ở phần này, chúng tôi sẽ hướng dẫn học sinh đọc hiểu khái quát và đọc hiểu chitiết chủ yếu qua những bảng hệ thống bảng biểu, biểu đồ của môn Địa lí, qua việcthống kê các chỉ số, số liệu của môn Toán học Qua câu hỏi hướng dẫn của SGK vàcâu hỏi nêu vấn đề định hướng của chúng tôi, văn bản tác phẩm và trên kiến thức các
em đã tự tìm hiểu được từ những nguồn tri thức khác mà các em học sinh thu thập, các
em tự mình hoàn thành bảng
2.2.1 Hướng dẫn đọc hiểu khái quát.
GV hướng dẫn HS đọc văn bản bài thơ Từ đó chúng tôi cho HS hoàn thiện bảnghướng dẫn sau đây
Sơ đồ 3: Đọc hiểu theo thể loại văn bản.
Thể loại Chữ viết Vị trí câu thơ 6 chữ Từ Việt cổ Ngắt nhịp câu thơ
ra nên có;
Đòi: nhiều
Câu 1: 1/2/3Câu 2, 5, 6, 7: 4/3Câu 3, 4: 3/4Câu 8: 3/3
mở đườngcho sự pháttriển thơ catiếng Việtkhi ghi lại
âm và tiếngcủa ngườiViệt
Đổi mới sángtạo trên thể loạivay mượn Việthóa thể loại Ởcâu mở đầu vàcâu cuối bài thơ
Có tác dụng tạođiểm nhấn mở -kết, dồn néncảm xúc chủ đạocủa bài thơ
Ngôn ngữdân tộc, dân
dã bình dị Ýthức dân tộccủa NguyễnTrãi trongviệc giữ gìntiếng Việt
Ngắt nhịp 4/3 là phổbiến của thơ thấtngôn Đường luật Ngắt nhịp 3/4 lạ hóanhấn mạnh sự chú ý.Câu 1 là 1/2/3, nhịpnhàng đều đặn nhưtiếng thở nhẹ nhàngnhưng chứa đựngsuy tư chiều sâu.Câu 8 là 3/3, hài hòacân đối mãn nguyệncủa nhà thơ
Trang 17Học sinh dễ dàng phát hiện ở phần đầu bảng với các dấu hiệu cần tiếp cận vănbản Phần ý nghĩa phía sau chúng tôi sẽ gợi ý và mở rộng cho học sinh (liên kết vớiphần kết luận bài tác giả Nguyễn Trãi ở tập 2) Văn bản này là minh chứng cho đặcđiểm nghệ thuật văn học trung đại Việt Nam là tiếp thu và dân tộc hóa tinh hoa vănhọc nước ngoài chủ yếu là văn học Trung Quốc trên bình diện ngôn ngữ là thể loại.Vậy ngoài việc Việt hóa thể loại qua thơ Nôm Đường luật xen lục ngôn , chúng tôi dẫndắt HS tìm hiểu đóng góp về ngôn ngữ của Nguyễn Trãi qua bảng, phiếu học tập sau.
Sơ đồ 5: Ngôn ngữ của văn bản.
Từ Hán Việt Từ thuần Việt Từ Việt cổ Tống số
ve, đàn, một tiếng,giầu đủ, khắp
Rồi, thức, dắngdỏi, dẽ có, đòi
Câu1 và 8: 6 chữ
2 X 6 = 12Câu 2, 3, 4, 5, 6, 7: 7chữ
6 X 7 = 42Tổng bài thơ có 54 chữtương ứng 54 tiếng
18 chiếm 33,3% 29 chiếm 53,7% 7 chiếm 13%
Trang 18Qua biểu đồ chúng ta thấy âm Việt chiếm 67.7%, số lượng âm Hán Việt chiếm33.3% Âm thuần Việt = 2 lần âm Hán Việt Đặc biệt có một hệ thống âm Việt cổ màNguyễn Trãi ý thức sử dụng chiếm 13% Điều này đã chứng minh cho kết luận đãđược khẳng định ở tiểu dẫn: Nguyễn Trãi đã đặt những viên gạch nền móng đầu tiêncho thơ ca tiếng Việt của dân tộc Đây cũng là minh chứng niềm tự hào ý thức dân tộcqua ngôn ngữ của tác giả cũng như sự chủ động trong vấn đề độc lập tự do văn hóa tưtưởng mà Nguyễn trãi đặt ra cho trí thức người Việt lúc bấy giờ và có ý nghĩa đếnngày nay Nguyễn Trãi đã gìn giữ và phát huy sự trong sáng của tiếng Việt Đó cũng làtrách nhiệm và sứ mệnh của mỗi người Việt nam ở mọi tầng lớp và thời đại.
2.2.2 Đọc hiểu chi tiết.
Ở phần này trên cơ sở của tiếp cận các phần trước chúng tôi hướng dẫn học sinhđọc hiểu văn bản trên bố cục ba phần
2.2.2.1 Phần 1: Câu 1
Học sinh dễ dàng phát hiện câu mở đầu 6 chữ (lạ hóa) mở ra hoàn cảnh nảy sinh
bài thơ và cũng thấy hoàn cảnh nhàn hạ, rảnh rỗi của Nguyễn Trãi qua từ “rồi, hóng
âu, để đến và tận hưởng cảnh vật thiên nhiên Thế nhưng thời gian được đong, đếm
một cách đầy tâm trạng: “ngày trường” - ngày dài, thời gian tâm lí, mang tâm
Trang 19Trãi chịu lui về miền thôn dã để ngắm cảnh quả là một điều khác thường Thế nên thờigian trôi đi rất nặng nề, dài dằng dặc gợi cho thấy ẩn sau sự nhàn hạ đó của cái vẻ bênngoài Nguyễn Trãi, sẽ chứa đựng sự vận động tư tưởng suy nghĩ bên trong Vậy điều
gì đã khiến cho một con người đã kinh qua nhiều thăng trầm của cả bản thân và thờicuộc phải suy ngẫm? Câu hỏi này sẽ được chúng tôi đẫn dắt làm định hướng cho họcsinh đi tìm hiểu các câu phía sau
2.2.2.2 Phần 2: 5 câu thơ tiếp
Để tìm hiểu bức tranh cảnh ngày hè, chúng tôi định hướng sự tiếp cận của họcsinh qua bảng chỉ dẫn Qua hệ thống bảng chúng tôi đã định hướng cho học sinh cáchtiếp cận, nâng cao sự tích cực chủ động của các em ttrong quá trình tiếp cận văn bản.Học sinh cả lớp có thể hoàn thành bảng ở nhà (chúng tôi hướng dẫn chuẩn bị bài ở nhà
ở tiết học trước) hoặc giáo viên cho học sinh thực hành nhóm trên lớp qua phiếu trả lời
và bảng phụ (bóng kính và đèn chiếu) Đây là nội dung chính quan trọng của văn bảnthể hiện rõ sự vận động của tư tưởng của Nguyễn Trãi và cũng là một căn cứ để lí giải
việc tác giả biên soạn SGK lại đặt nhan đề bài thơ là Cảnh ngày hè.
Chúng tôi cho HS đọc hiểu bức tranh cảnh ngày hè (phương diện nội dung chínhcủa bài học) qua các phương diện sau:
+ Không gian nghệ thuật
+ Thời gian nghệ thuật