Hiện trạng trước khi áp dụng giải pháp mới: Dẫu biết Văn học gắn liền với cuộc sống và luôn lấy thực tế đời sống làm đối tượngphản ánh, tuy nhiên trong quá trình giảng dạy thì có không
Trang 1Phát huy năng lực “Kết nối thông tin” cho học sinh lớp 12 – THPT qua đọc hiểu văn bản truyện và kí
GIỚI THIỆU CHUNG
1 Tên sáng kiến:
PHÁT HUY NĂNG LỰC “KẾT NỐI THÔNG TIN”
CHO HỌC SINH LỚP 12 - THPT QUA ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TRUYỆN VÀ KÍ.
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giảng dạy môn Ngữ Văn (Lớp 12, phần truyện và kí)
trong trường học phổ thông
3 Thời gian áp dụng sáng kiến:
Từ ngày 02 tháng 4 năm 2014 đến nay
4 Tác giả:
Họ và tên: Vũ Văn Đông
Năm sinh: 24/8/1979
Nơi thường trú: Xã Bạch Long – Huyện Giao Thủy – Tỉnh Nam Định
Trình độ chuyên môn: Cử nhân khoa học – Chuyên ngành Ngữ Văn
Chức vụ công tác: Giáo viên
Nơi làm việc: Trường THPT Giao Thủy
Điện thoại: 0987203070
Tỉ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 100%
5 Đồng tác giả (nếu có): Không
6 Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị: Trường THPT Giao Thủy
Địa chỉ: Khu 4A – Thị trấn Ngô Đồng – Huyện Giao Thủy – Tỉnh Nam Định
Điện thoại: 03503895129
Trang 2Phát huy năng lực “Kết nối thông tin” cho học sinh lớp 12 – THPT qua đọc hiểu văn bản truyện và kí
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
A ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN:
Đọc hiểu văn bản là một trong những phương pháp dạy học theo hướng tích cực hiệnnay Nó phù hợp với mục đích, yêu cầu của giáo dục là dạy học theo định hướng pháttriển các năng lực, phẩm chất cho học sinh Nó cũng xuất phát từ những yêu cầu thực tếcủa việc giảng dạy theo hướng tích hợp nhằm giúp học sinh biết vận dụng kiến thức liênmôn để giải quyết các tình huống thực tiễn; đáp ứng những yêu cầu của công tác đổi mớikiểm tra đánh giá việc giảng dạy môn Ngữ Văn trong nhà trường
Quá trình đọc hiểu văn bản văn học không chỉ nhằm giúp học sinh hiểu được nhữnggiá trị nội dung, nghệ thuật như cách phân tích, cảm nhận, bình giảng … thường thấy màcòn giúp học sinh biết cách đọc và nắm được cách tạo lập văn bản của tác giả để từ đó ápdụng cho việc đọc hiểu các văn bản khác Hơn nữa, quá trình tiếp nhận văn học không chỉdừng lại ở việc lĩnh hội các giá trị theo những chuẩn đã được định sẵn mà còn ở khả năngkhám phá, khả năng đồng sáng tạo của người đọc Vì vậy, đọc văn vừa là tìm hiểu nhữnggiá trị tư tưởng, nghệ thuật qua việc thưởng thức cái hay, cái đẹp của câu chữ, kết cấu, thểloại, hình tượng … vừa là cách để nghĩ, để cảm, để tự đối thoại với mình và đối thoại vớitác giả, để suy tư về cuộc đời mà từ đó tác động tích cực vào đời sống Mục đích này rấtcần năng lực kết nối thông tin giữa văn học với đời sống xã hội
B MÔ TẢ GIẢI PHÁP:
I Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:
1 Hiện trạng trước khi áp dụng giải pháp mới:
Dẫu biết Văn học gắn liền với cuộc sống và luôn lấy thực tế đời sống làm đối tượngphản ánh, tuy nhiên trong quá trình giảng dạy thì có không ít giáo viên chưa chú trọngnhiều đến các vấn đề ngoài văn bản (như bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa; các yếu tố vềđịa lí tự nhiên; những thông điệp cuộc sống mà tác giả kín đáo gửi gắm…) Trước đây,giáo viên thường chỉ khai thác những yếu tố văn chương nghệ thuật mang tính đặc thùcủa bộ môn mà ít đề cập hoặc có cũng chỉ thể hiện trong phần hoàn cảnh ra đời của tácphẩm Thực tế này cho thấy phần tạo tâm lí tiếp nhận đơn vị kiến thức mới đã khôngđược chú ý, trong khi đó cần thấy được một nguyên tắc trước khi khai thác văn bản là cho
Trang 3Phát huy năng lực “Kết nối thông tin” cho học sinh lớp 12 – THPT qua đọc hiểu văn bản truyện và kí
học sinh được sống trong không khí của thời điểm tác phẩm ra đời Vì vậy, nếu cứ đi theocách tiếp cận quen thuộc thì quan niệm văn - sử - triết bất phân đã phần nào bị xem nhẹ Thực trạng việc dạy – học và kiểm tra đánh giá trước đây (trước năm học 2012 - 2013)
có thể được mô tả như sau:
- Về phía giáo viên: Khi dạy văn bản văn học, giáo viên ít quan tâm đến khâu đọc mộtđoạn văn bản, nếu có thì thường chiếu lệ, đọc cho có, đọc cho xong, đọc cho nhanh đểcòn dành thời gian cho phần khác Khi khai thác văn bản thường chỉ xoáy vào các yếu tốnghệ thuật với những chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu… nhằm đem đến mộtkhông khí văn chương cho tiết học Trong mỗi lời giảng của thầy cô giáo, học sinh dễ bịngợp trước những ngôn từ có cánh, giọng điệu trầm bổng nhấn nhá, nét mặt và ánh mắtsay sưa đến lạ kì Các phương pháp dạy học được sử dụng, các kĩ thuật dạy học đượctriển khai, các chuyên đề lên lớp cũng được huy động nhưng tất cả đều hướng đến truyềnthụ kiến thức cơ bản mang tính định hình theo giáo án mà giáo viên soạn sẵn
- Về phía học sinh: Khi học tiết đọc hiểu, học sinh như được tham gia vào một quá
trình “đuổi tiếng bắt chữ” rất cực nhọc, khi chưa kịp hiểu từ này ý nọ thì phải chuyển cho
kịp mạch văn của thầy cô Học sinh chỉ được nghe qua và ghi lại một cách thụ động chứ
ít có dịp được suy nghĩ, trao đổi, thảo luận, trình bày theo cảm nhận riêng của mình Học
xong bài, có em nhớ tên rừng (tên tác phẩm) mà không biết đến một loại cây đặc thù (nội
dung cụ thể), có em thì cây nào cũng biết nhưng đặc tính ra sao, ở rừng nào thì đã “chữthầy, trả thầy” Khi làm bài kiểm tra lại xảy ra hiện tượng “bổn cũ chép lại”, thầy chấmvăn thầy
- Về công việc kiểm tra đánh giá: Nhìn chung ít có sự đầu tư thực sự có hiệu quả Giáoviên ra đề theo những công thức sẵn có như phân tích/ cảm nhận/ bình giảng… rất chungchung; câu hỏi nhiều khi mang tính ngẫu hứng Dù hình thức kiểm tra nói hay viết, dùthời gian làm bài ít hay nhiều (từ 15 phút đến 180 phút) thì số lượng câu hỏi và cách hỏicũng không khác nhau nhiều Việc đánh giá chất lượng bài viết có phần cảm tính, chủyếu qua độ ngắn dài và qua những gì thầy cô đã dạy chứ ít trân trọng những sáng tạo cánhân và sự kiến giải độc đáo của học sinh Đây là vấn đề tồn tại khá lâu, thậm chí ở nhiềukhâu, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng thực của bộ môn
Ví dụ về một số đề kiểm tra chất lượng học kì I – Lớp 12 trước đây của Sở Giáo dục
và đào tạo Nam Định:
Trang 4Phát huy năng lực “Kết nối thông tin” cho học sinh lớp 12 – THPT qua đọc hiểu văn bản truyện và kí
1 Nêu ngắn gọn hoàn cảnh ra đời, giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm
“Tuyên ngôn độc lập” – Chủ tịch Hồ Chí Minh (Câu 1: 3 điểm - Đề kiểm tra năm học
4 Trình bày ngắn gọn hoàn cảnh sáng tác và cảm hứng chủ đạo của bài thơ “Đấtnước” – Nguyễn Đình Thi? Phân tích đoạn thơ sau:
“Súng nổ rung trời giận dữNgười lên như nước vỡ bờNước Việt Nam từ máu lửa
đã pha sẵn và đổ vào đó một cách gượng ép Không phủ nhận những ưu thế của phươngpháp dạy học truyền thống tuy nhiên trước những đòi hỏi của xã hội về chất lượng sảnphẩm của giáo dục thì cần có một sự thay đổi ở nhiều khâu, ở đó không thể không thayđổi trong cách dạy và cách học Nhà bác học Ê-đi-xơn có câu: “Nhiệm vụ quan trọngnhất của nền văn minh là dạy cho con người biết tư duy” Câu nói này cũng đồng nghĩavới việc dạy học nói chung và dạy đọc văn bản văn học nói riêng phải khơi được nguồn
Trang 5Phát huy năng lực “Kết nối thông tin” cho học sinh lớp 12 – THPT qua đọc hiểu văn bản truyện và kí
sáng tạo trong học sinh Thực tế cho thấy, quá trình cảm thụ để hiểu văn học ở học sinhngày nay rất hạn chế Những nguyên nhân như tác động của cơ chế thị trường, công nghệthông tin bùng nổ, những định hướng ngành nghề… đã ảnh hưởng không nhỏ đến nhậnthức của học sinh trong học tập bộ môn Nhiều học sinh học văn chẳng qua là để đối phóvới thi cử và cũng có nhiều giáo viên đối phó với chuyện thi cử bằng phương pháp “đọc
- chép” Cho nên, từ năm học 2008 – 2009 nhưng triệt để nhất là từ năm học 2013 – 2014
và đặc biệt trong năm học này, Bộ GD và ĐT đã dùng kĩ thuật “móng tay nhọn” để bóclớp “vỏ quýt dày” trong dạy/học Ngữ văn Đó là đề thi đã được định dạng với 2 phần vàcấu trúc khá rõ ràng Trong đó, phần đọc hiểu (chiếm khoảng 30% điểm toàn bài) với 2loại văn bản, văn bản nhật dụng có độ dài khoảng 250 chữ đến 500 chữ, văn bản văn họcdài từ 50 chữ đến 400 chữ Thậm chí, phần này còn xuất hiện những văn bản mà học sinhkhông được học trong chương trình Những câu hỏi khai thác văn bản (khoảng 8 câu nhỏ)
là một sự bao quát kiến thức của các phân môn như văn học, tiếng Việt, làm văn mà họcsinh đã được học và câu hỏi kết nối thông tin luôn xuất hiện với mức từ 0,75 đến 1,0điểm Những điểm mới mẻ này đòi hỏi sự đầu tư thực sự trong cách dạy và nghiêm túctrong cách học
2 Phân tích ưu nhược điểm của giải pháp cũ để cho thấy sự cần thiết của việc đề xuất giải pháp mới nhằm khắc phục nhược điểm của giải pháp cũ:
Như đã nói, những ưu điểm của giải pháp cũ tức là cách dạy học và kiểm tra đánh giámang tính truyền thống là không thể phủ nhận Đó là nội dung bài dạy của giáo viên có ý
tứ rõ ràng và mạch lạc, học sinh ghi chép có hệ thống và đảm bảo kiến thức cơ bản trọngtâm, quá trình tạo lập văn bản nghị luận của học sinh khi làm bài kiểm tra đã tránh được
sự lan man và suy diễn
Tuy vậy, những nhược điểm của giải pháp cũ cũng khá nhiều, như đã tách rời quátrình ra đời của tác phẩm văn học với bối cảnh lịch sử, xã hội và văn hóa; không phát huyđược tư duy sáng tạo của học sinh; không phù hợp với mục tiêu giáo dục trong lộ trìnhđổi mới toàn diện… Học sinh học bài nào biết bài ấy mà không có mối liên hệ với nhữngvăn bản trong cùng giai đoạn, của cùng một tác giả hoặc có những điểm tương đồng vềthể loại, đề tài, chủ đề Học sinh ngại đọc văn bản, đọc mà chỉ xem tác phẩm kể chuyện
gì, có tình ý gì, các tình tiết diễn biến ra sao, các nhân vật yêu ghét nhau thế nào, sống
Trang 6Phát huy năng lực “Kết nối thông tin” cho học sinh lớp 12 – THPT qua đọc hiểu văn bản truyện và kí
chết ra sao… hoặc đọc mà phụ thuộc vào cách người viết đánh giá, giải quyết vấn đề theomột khuynh hướng tư tưởng - tình cảm nào đó, trong khi cách đọc đồng sáng tạo lạikhông được chú ý
Từ những điểm mạnh và hạn chế của cách dạy văn bản văn học trước đây cùng vớinhững yêu cầu mới trong công tác kiểm tra, đánh giá năng lực của học sinh hiện nay đãcho thấy sự cần thiết phải thay đổi toàn diện Việc trang bị kĩ năng đọc hiểu văn bản chohọc sinh là rất quan trọng, trong đó “kết nối thông tin” là khâu cuối cùng để đưa vănchương vào đời sống xã hội
II Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:
1 Vấn đề cần giải quyết:
Xuất phát từ mục tiêu dạy học bộ môn là phát triển các năng lực, phẩm chất cho học
sinh qua các chủ đề như năng lực đọc – hiểu văn bản, năng lực tự thu thập thông tin vàgiải quyết tình huống; năng lực sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt qua việc trình bày suy nghĩ,cảm nhận; năng lực hợp tác, trao đổi; năng lực tự học và tự quản lí bản thân; năng lựcứng dụng CNTT Để mục tiêu này đi đúng hướng và có kết quả như mong muốn thì quátrình dạy học cần lấy học sinh làm đối tượng phục vụ, nên dạy những cái học sinh cầnchứ không nên dạy những thứ giáo viên biết và giáo viên muốn Và những cái học sinhcần, ngoài kiến thức để phục vụ cho thi cử thì quan trong hơn chính là tri thức nhằm phục
vụ cho cuộc sống Đây chính là yêu cầu cần kết nối thông tin giữa văn học với đời sống
xã hội
2 Nét mới và sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ:
Tên gọi của phân môn này từ bộ sách giáo khoa thí điểm phân ban đầu những năm
2000 là đọc hiểu đã cho thấy sự khác biệt so với cách gọi giảng văn như trước đây Theo
đó, các văn bản chỉ đạo chuyên môn không chỉ hướng đến thực hiện chương trình mangtính truyền thống mà còn nhằm giải quyết các vấn đề ngoài văn học như giáo dục bảo vệmôi trường, giáo dục kĩ năng sống, vận dụng kiến thức liên môn nhằm giải quyết tìnhhuống thực tiễn dành cho học sinh hoặc dạy học theo chủ đề tích hợp và thiết kế giáo ántích hợp dành cho giáo viên…
“Kết nối thông tin” cần được thể hiện từ khâu soạn bài đến các bước lên lớp của giáoviên và đầu ra của nó chính là kết quả học tập và năng lực, phẩm chất của học sinh được
Trang 7Phát huy năng lực “Kết nối thông tin” cho học sinh lớp 12 – THPT qua đọc hiểu văn bản truyện và kí
thể hiện trong thực tế đời sống Do vậy, khi soạn bài, giáo viên cần chú ý đến việc tíchhợp tri thức ở các lĩnh vực khác nhau để cùng giải quyết một vấn đề văn học Trên lớp,giáo viên cần tổ chức các hình thức học tập để khai thác, phát huy và điều chỉnh năng lực
tư duy của học sinh Không khí giờ học phải thật tự nhiên, cởi mở, thân thiện thì mớikhơi được những nguồn tài nguyên vô giá trong suy nghĩ của học sinh dành cho văn học.Giáo viên hạn chế lối “phô văn” bởi lẽ học sinh không phải là đối tượng “đồng sàng” nên
dễ xảy ra hiện tượng “dị mộng”, học sinh chỉ cần kiến thức cơ bản của bài học mà thôi.Trong các đề kiểm tra, cần có câu hỏi liên hệ với cuộc sống xã hội và với trách nhiệm củahọc sinh Khi chấm bài học sinh, giáo viên cần trân trọng những bài viết sáng tạo, nhữngphát hiện thú vị và những kiến giải độc đáo Giáo viên cũng cần cân nhắc khi đặt bút phêvào bài làm của học sinh, bởi một lời nhận xét đánh giá của thầy cô giáo có khả năng làmthay đổi nhận thức và ý thức học tập bộ môn
3 Cách thức và các bước thực hiện giải pháp mới:
3.1 “Kết nối thông tin” là gì?
“Kết nối thông tin” là cụm từ mới xuất hiện trong giảng dạy văn học từ vài năm trởlại đây Trước đây, nó ít được đề cập do mục tiêu giáo dục và đinh hướng kiểm tra đánhgiá “Kết nối thông tin” thực chất là quá trình tìm ra mối liên hệ giữa văn học với văn học
và giữa văn học với đời sống xã hội Hiểu đơn giản, “kết nối thông tin” là sự liên hệ giữavấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học này với tác phẩm văn học khác hoặc trong văn họcvới những vấn đề đã và đang diễn ra trong đời sống xã hội
3.2 Phân loại đề tài kết nối và nguyên tắc kết nối:
Để sự “kết nối” không tùy tiện và tránh lối suy diễn chủ quan thì giáo viên nên địnhhướng thành những đề tài, chủ đề cụ thể nhằm tập trung được những suy nghĩ tích cựccủa học sinh Chúng ta có thể tham khảo sách “Thực hành Làm văn 12” (NXB Giáo dục -2009) và phân loại các vấn đề trong đời sống xã hội như sau:
- Nếu sản phẩm “kết nối” là một tư tưởng, đạo lí thì ta chia chúng thành những quanđiểm đạo đức, lối sống; các vấn đề văn hóa, giáo dục, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng hoặcphương pháp tư tưởng
Trang 8Phát huy năng lực “Kết nối thông tin” cho học sinh lớp 12 – THPT qua đọc hiểu văn bản truyện và kí
- Nếu sản phẩm “kết nối” là một hiện tượng đời sống thì ta chia chúng thành hiệntượng liên quan đến môi trường sống tự nhiên của con người; hiện tượng liên quan đếnmôi trường xã hội hoặchiện tượng tích cực đáng biểu dương, tiêu cực đáng phê phán Tuy nhiên, sự kết nối cũng phải có những nguyên tắc cụ thể Đó là, chỉ kết nối nhữngthông tin thật sự liên quan đến nội dung chính và chủ đề của tác phẩm; kết nối phải đảmbảo đặc trưng, đặc thù của môn học; kết nối phải gắn với đời sống xã hội; kết nối màkhông làm tăng nội dung và thời lượng của bài học dẫn đến tình trạng quá tải; không kếtnối những vấn đề nhỏ nhặt tầm thường hay những vấn đề nhạy cảm …
3.3 Các bước thực hiện quá trình kết nối thông tin:
Những tác phẩm và trích đoạn truyện, kí trong chương trình Ngữ Văn 12 – THPT baoquát nhiều vấn đề trong đời sống văn học, đời sống xã hội mà tác phẩm ra đời Ví dụ,những tác phẩm truyện và kí hiện đại Việt Nam đã phản ánh những biến động dữ dội củalịch sử nước nhà trong suốt hơn nửa thế kỉ với cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi(1945 - 1954), miền Bắc bước vào thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội (1955 - 1964), chiếntranh chống đế quốc Mĩ xâm lược (1965 - 1975), đất nước với những khó khăn muôn mặtthời hậu chiến và trước những tác động của nền kinh tế thị trường (1975 - 2000) Hoặc từ
“bóng dáng bao trùm cả văn đàn Trung Quốc thế kỉ XX” của Lỗ Tấn, qua truyện ngắn Thuốc, chúng ta cần thấy được căn bệnh tinh thần của người dân Trung Hoa đầu thế kỉ XX; từ “hàng ngũ nhà văn lớn nhất thế kỉ XX” của M.Sô-lô-khốp để qua Số phận con người mà thấy được ý chí nghị lực và lòng nhân hậu của người Nga; từ “dấu ấn sâu sắc trong văn xuôi hiện đại phương Tây và góp phần đổi mới lối viết truyện, tiểu thuyết của nhiều thế hệ nhà văn trên thế giới” của Ơ.Hê-minh-uê (Mĩ) để nhận ra vẻ đẹp bình dị mà phi thường của người lao động trong xã hội vô tình qua truyện ngắn Ông già và biển cả.
Vậy làm thế nào để giúp học sinh biết “kết nối thông tin” giữa các tác phẩm, đoạntrích truyện và kí trong chương trình nói riêng và giữa tác phẩm văn học nói chung vớiđời sống xã hội? Chúng ta tiến hành theo các bước sau:
a Thứ nhất là khâu soạn giáo án:
Không chỉ bám sát chuẩn kiến thức kĩ năng, giáo viên khi soạn bài cần lưu ý đến thái
độ, phẩm chất và các năng lực cần đạt của học sinh qua các văn bản truyện và kí Nội
dung này được mô tả theo bảng sau (Tham khảo Kế hoạch dạy học môn Ngữ Văn - Năm học 2014 – 2015 của Trường THPT Giao Thủy):
Trang 9Phát huy năng lực “Kết nối thông tin” cho học sinh lớp 12 – THPT qua đọc hiểu văn bản truyện và kí
- Phẩm chất: Bồi dưỡng tình yêu quê hươngđất nước; tình yêu lao động; ý thức rèn luyệnbản thân và học hỏi những kinh nghiệm sốngquý báu…
- Năng lực đọchiểu văn bản kíhiện đại giai đoạn
từ năm 1945 đếnhết XX
- Năng lực tạo lập
VB nghị luận về
kí hiện đại nhưnghị luận vềđoạn trích, mộthình tượng, một ýkiến - nhậnđịnh…
- Các năng lựckhác: “kết nốithông tin”, nănglực hợp tác, nănglực giải quyết vấn
đề, năng lực sángtạo, năng lực tựquản bản thân,năng lực côngnghệ thông tin …
- Phẩm chất: Bồi dưỡng tình yêu quê hươngđất nước, yêu cảnh trí non sông, tự hào vớinhững giá trị tinh thần của dân tộc
đầu của
nước Việt
Nam mới
- Thái độ: Biết sẻ chia với những khó khăn,
nguy nan của nước Việt Nam mới trong nhữngngày đầu và trân trọng những quyết sách đúngđắn, sáng suốt của Đảng, Chính phủ và Chủtịch Hồ Chí Minh; thấy rõ mối quan hệ khăngkhít giữa đất nước và nhân dân, giữa lãnh tụ vàquần chúng
- Năng lực đọchiểu văn bản kíhiện đại giai đoạn
từ năm 1945 đếnhết XX
- Các năng lựckhác: “kết nối
Trang 10Phát huy năng lực “Kết nối thông tin” cho học sinh lớp 12 – THPT qua đọc hiểu văn bản truyện và kí
(Võ Nguyên
Giáp)
- Phẩm chất: Bồi dưỡng tình yêu quê hương đấtnước, niềm tin vào Đảng và chế độ, tấm lòngkính trọng lãnh tụ, khát vọng cống hiến; biếtquý trọng những giá trị lịch sử qua những thángnăm gian khó của dân tộc
thông tin”, nănglực hợp tác, nănglực giải quyết vấn
đề, năng lực sángtạo, năng lực tựquản bản thân,năng lực côngnghệ thông tin …
- Phẩm chất:
+ Khát vọng hạnh phúc, tự do; ý chí, nghị lực
và niềm tin vào cuộc sống
+ Tình yêu gia đình, lòng hiếu thảo với cha
mẹ, lòng nhân ái, khoan dung
+ Tính tự lập, tự tin, tự chủ, có tinh thần vượtkhó và có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng
- Năng lực đọchiểu văn bảntruyện chốngPháp giai đoạn
1945 - 1954
- Năng lực tạo lập
VB nghị luận vềtruyện truyệnchống Pháp giaiđoạn 1945 –
1954 như nghịluận về đoạntrích, một hìnhtượng, một ý kiến
- nhận định…
- Các năng lựckhác: “kết nốithông tin”, nănglực hợp tác, nănglực giải quyết vấn
đề, năng lực sángtạo, năng lực tựquản bản thân,
(Kim Lân)
- Thái độ: Hiểu và đồng cảm trước tình cảnhsống thê thảm của người nông dân trong nạnđói năm 1945; trân trọng niềm tin tưởng vàotương lai; đồng tình với khát vọng sống ởnhững con người nghèo khổ khi cận kề miệngvực cái chết
- Phẩm chất:
+ Khát vọng hạnh phúc; lòng nhân ái,
+ Đức tính tự lập, tự tin, tự chủ, có tinh thầnvượt khó và có trách nhiệm với bản thân, cộng
Trang 11Phát huy năng lực “Kết nối thông tin” cho học sinh lớp 12 – THPT qua đọc hiểu văn bản truyện và kí
- Phẩm chất:
+ Lòng trung thành với cách mạng, lòng cămthù giặc, khát khao lí tưởng
+ Tình yêu gia đình, yêu quê hương đất nước;
lòng nhân ái, khoan dung
+ Đức tính tự lập, tự tin, tự chủ, có tinh thầnvượt khó và có trách nhiệm với bản thân, cộngđồng
- Năng lực đọchiểu văn bảntruyện chống Mĩgiai đoạn 1965 -1975
- Năng lực tạo lập
VB nghị luận vềtruyện chống Mĩgiai đoạn 1965 –
1975 như nghịluận về đoạntrích, một hìnhtượng, một ý kiến
- nhận định…
- Các năng lựckhác: “kết nốithông tin”, nănglực hợp tác, nănglực giải quyết vấn
đề, năng lực sángtạo, năng lực tựquản bản thân,năng lực côngnghệ thông tin …
- Phẩm chất:
+ Lối sống giàu khát khao lí tưởng
+ Tình yêu gia đình, yêu quê hương đất nước;
lòng nhân ái, khoan dung
+ Đức tính tự lập, tự tin, tự chủ, có tinh thầnvượt khó và có trách nhiệm với bản thân, cộngđồng
- Phẩm chất:
+ Tình yêu yêu quê hương đất nước; lòng
- Năng lực đọchiểu văn bảntruyện ngắn giaiđoạn 1965 -1975
Trang 12Phát huy năng lực “Kết nối thông tin” cho học sinh lớp 12 – THPT qua đọc hiểu văn bản truyện và kí
(Sơn Nam) nhân ái, khoan dung
+ Đức tính tự lập, tự tin, tự chủ, có tinh thầnvượt khó và có trách nhiệm với bản thân, cộngđồng
+ Sống ngay thẳng, chất phác, thuần hậu; biết
rèn trí, luyện tài; dám đương đầu với khó khăngian khổ
- Các năng lựckhác: “kết nốithông tin”, nănglực hợp tác, nănglực giải quyết vấn
đề, năng lực sángtạo, năng lực tựquản bản thân,năng lực côngnghệ thông tin …
- Phẩm chất:
+ Lối sống giàu tình nghĩa, biết đối nhân xửthế
+ Tình yêu gia đình, yêu quê hương đất nước;
lòng nhân ái, khoan dung
+ Đức tính tự lập, tự tin, tự chủ, có tinh thầnvượt khó và có trách nhiệm với bản thân, cộngđồng
- Năng lực đọchiểu văn bảntruyện ngắn vàtiểu thuyết hiệnđại giai đoạn sau1975
- Các năng lựckhác: năng lựchợp tác, năng lựcgiải quyết vấn đề,năng lực sángtạo, năng lực tựquản bản thân,năng lực côngnghệ thông tin …
- Phẩm chất:
+ Lòng trung thực; lối sống ứng biến, linh hoạtthức thời
+ Tình yêu gia đình, yêu quê hương đất nước;
lòng nhân ái, khoan dung
+ Đức tính tự lập, tự chủ, có tinh thần vượt khó
và có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng