Nội dung phần Địa lí tự nhiên lớp 12 Chương trình Địa lí lớp 12 có nội dung kiến thức khá lớn, bao gồm 2 phần cơ bản: Địa lí tự nhiên và địa lí kinh tế xã hội trong đó phần Địa lí tự nhi
Trang 1THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: Sử dụng phương pháp sơ đồ hoá kiến thức giúp học sinh học tốt hơn Địa lí tự nhiên lớp 12
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Dạy và học Địa lí tự nhiên khối 12
3 Thời gian áp dụng sáng kiến: từ 25/8/2014 đến 25/8/2015
4 Tác giả:
- Họ và tên: HOÀNG THỊ BÍCH QUYÊN
- Năm sinh: 1986
- Nơi thường trú: Nguyệt Trung – Yên Tân – Ý Yên – Nam Định
- Trình độ chuyên môn: Cử nhân
- Chức vụ công tác: Giáo viên môn Địa lí
- Nơi công tác: Trường THPT Mỹ Tho
- Địa chỉ: Trường THPT Mỹ Tho – Yên Chính – Ý Yên – Nam Định
- Điện thoại: 0972480629
5 Đơn vị áp dụng sáng kiến
- Tên đơn vị: Trường THPT Mỹ Tho
- Địa chỉ: Xã Yên Chính – Huyện Ý Yên – Tỉnh Nam Định
Trang 2I ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
1 Đổi mới trong giáo dục
Trong những năm gần đây, nền giáo dục của Việt Nam liên tục có những cải cách trên tất cả các mặt: nội dung, phương pháp dạy học cũng như kiểm tra, đánh giá và thi
cử đòi hỏi cả người dạy và người học phải có những thay đổi nhất định để thích ứng Mục đích lớn nhất của những đổi mới đó là lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tối
đa năng lực, phẩm chất của học sinh Để làm được điều này, phương pháp dạy học của giáo viên có vai trò rất quan trọng Những phương pháp dạy học truyền thống không còn phù hợp mà thay vào đó là những phương pháp dạy học tích cực: ứng dụng công nghệ thông tin, dạy học dự án, phương pháp dạy học nêu vấn đề…
2 Nội dung phần Địa lí tự nhiên lớp 12
Chương trình Địa lí lớp 12 có nội dung kiến thức khá lớn, bao gồm 2 phần cơ bản: Địa lí tự nhiên và địa lí kinh tế xã hội trong đó phần Địa lí tự nhiên có vai trò rất quantrọng bởi khi học sinh nắm chắc nội dung này, các em sẽ dễ dàng tiếp thu phần địa lí kinh tế - xã hội
Địa lí tự nhiên 12 bao gồm từ bài 2 đến bài 15 của sách giáo khoa Địa lí lớp 12, là toàn bộ các kiến thức về đặc điểm và hiện trạng sử dụng các thành phần tự nhiên của nước ta: địa hình, sông ngòi, đất, khí hậu…, giữa các thành phần này có mối quan hệ rất chặt chẽ và tạo nên các đặc điểm cơ bản của tự nhiên Việt Nam
So với sách giáo khoa Địa lí 12 cũ, thì sách giáo khoa mới đưa thêm vào rất nhiều nội dung mới và khó vì nó đòi hỏi học sinh phải có tư duy nhanh nhạy, vận dụng kiếnthức của nhiều bộ môn cũng như biết liên hệ các kiến thức với nhau, liên hệ thực tế Song có thể nhận ra nội dung các bài học đã được người viết sách sắp xếp, cấu trúc một cách rất rõ ràng, mạch lạc: thực chất nó là một chuỗi liên tiếp các đơn vị kiến thức và kĩ năng có mối liên hệ nhân quả hoặc liên kết kiến thức chặt chẽ, có quy luật
Ví dụ như nội dung bài “ Thiên nhiên phân hoá đa dạng” Người viết sách đã định hướng có 3 biểu hiện phân hoá căn bản: phân hoá theo chiều Bắc – Nam, theo Đông –Tây và theo đai cao và mỗi phân hoá này đều được biểu hiện qua yếu tố khí hậu và cảnh quan
Sau khi tham gia dạy môn Địa lí khối 12 trong nhiều năm, tôi nhận thấy với những bài học này, có thể vận dụng một phương pháp dạy học khá hiệu quả, đó là phương pháp sơ đồ hoá kiến thức, do dó tôi đã lựa chọn sáng kiến kinh nghiệm của mình là:
Sử dụng phương pháp sơ đồ hoá kiến thức giúp học sinh học tốt hơn Địa lí tự nhiên lớp 12
II THỰC TRẠNG DẠY HỌC ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN LỚP 12
- Phương pháp dạy học truyền thống là phương pháp đọc chép vẫn còn khá phổ biến
nên về cơ bản học sinh vẫn thụ động tiếp thu kiến thức mà chưa biết xâu chuỗi cáckiến thức với nhau dẫn đến học gì biết nấy, học vẹt, học trước quên sau
- Do thời lượng chương trình môn Địa lí không nhiều thêm nữa giáo viên vẫn chủ yếu
coi trọng việc truyền đạt kiến thức cơ bản, dẫn đến nhiều kĩ năng học sinh chưa được
2
Trang 3rèn luyện nhiều, trong đó có kĩ năng tự khai thác kiến thức từ SGK, kĩ năng sơ đồ hoákiến thức
- Trong quá trình thiết kế giáo án để giảng dạy các bài địa lý, bản thân người viếtcũng như các đồng nghiệp ít chú ý đến sử dụng và khai thác triệt để kiến thức đúngđặc trưng của sơ đồ thể hiện trong sgk địa lý Thường là coi nó như một sơ đồ minhhoạ cho kiến thức nên sử dụng một cách hời hợt, qua loa Giáo viên cũng đã có xâydựng các sơ đồ song chủ yếu các sơ đồ dạng bảng, phiếu học tập chủ yếu trong cácbuổi hội giảng nên về cơ bản việc xây dựng cũng như khai thác ưu điểm của phươngpháp sơ đồ hoá còn rất hạn chế
- Về phía học sinh: các em vẫn quen cách học truyền thống, ghi chép và học thuộc,ngại thay đổi, làm quen với cách học mới dẫn đến không năng động sáng tạo tronghọc tập, khả năng tự tìm tòi, hệ thống hoá kiến thức rất hạn chế
- Xu hướng học sinh chọn khối chọn trường hiện nay: chủ yếu là các khối A,B, D cònkhối C số lượng ít và hiếm có những học sinh đam mê thực sự với môn học và nănglực tốt Do đó vai trò của người giáo viên càng quan trọng đặc biệt về mặt phươngpháp
b, Phân loại
/ Dựa vào mối liên hệ giữa các kiến thức có thể chia thành
*Sơ đồ cấu trúc: là loại sơ đồ thể hiện các thành phần, yếu tố trong một chỉnh thể và
mối quan hệ giữa chúng
Trang 4SƠ ĐỒ CẤU TRÚC ĐỊA HÌNH VIỆT NAM
*Sơ đồ dạng bảng: Là loại sơ đồ thể hiện mối liên hệ, sự so sánh hoặc nêu đặc điểm
của các đối tượng theo một cấu trúc nhất định
- Ví dụ dạy Bài 15 : Bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai.SGK lớp 12.
Nội dung phần 2 có thể xây dựng thành bảng tổng hợp kiến thức như sau:
Đặc điểm một số thiên tai chính ở nước ta Thiên
có đê sông, + Mức độ đô thị hoá cao
Phá huỷ mùa màng, tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm môi trường
- Xây dựng các công trình đê thuỷ lợi để thoát lũ
- Đb sông Cửu Long: xây dựng các công trình ngăn tác động của triều cường đặc biển là đê biển
Đb sông Cửu Long Mưa lớn, triều
cườngVùng trũng Bắc Mưa bão, nước
Địa hình núi
Địa hình đồi núi
Địa hình Việt
Nam
Địa hình đồng bằng
Đồi trung du
và bán bình nguyên
Đb ven biển
Đb châu thổ
4
Trang 5Trung Bộ và hạ lưu
sông vùng Nam
Trung Bộ
biển dâng, lũ nguồn về
Lũ quét - Vùng núi phía Bắc
dễ bị xói mòn
- Mưa lớn
Gây thiệt hại rất lớn cho đời sốngnhân dân và cho sản xuất những vùng lũ đi qua
- Quy hoạch các điểm dân cư để tránh lũ đi qua
- Áp dụng các biện pháp kĩ thuật, canh tác trên đất dốc bảo
- Mùa khô kéo dài
- Môi trường suythoái
- Cháy rừng
- Ảnh hưởng đếnsản xuất,mùa màng
- Xây dựng các công trình thuỷ lợi, các hồ chứa nước
*Sơ đồ quá trình: là loại sơ đồ thể hiện vị trí các thành phần, các yếu tố và mối quan
hệ của chúng trong quá trình vận động
Sơ đồ sự vận động của Trái đất quanh Mặt trời và các mùa ở Bắc bán cầu
*Sơ đồ địa đồ học: là loại sơ đồ biểu hiện mối quan hệ về mặt không gian của các sự
Trang 6vật-hiện tượng địa lí trên lược đồ, bản đồ.
Sơ đồ vị trí các khối khí ở Bắc Mĩ
*Sơ đồ logic: là loại sơ đồ biểu hiện mối quan hệ về nội dung bên trong của
các sự vật-hiện tượng địa lí
SƠ ĐỒ TUẦN HOÀN CỦA NƯỚC TRÊN CÁC LỤC ĐỊA VÀ ĐẠI DƯƠNG
6
Trang 7/ Dựa vào vai trò của sơ đồ trong tiến trình dạy học có thể chia thành
Sơ đồ chứng minh hay giải thích dùng để phản ánh nội dung bài học một cách trựcquan dễ khái quát, dễ tiếp thu
Sơ đồ tổng hợp dùng để ôn tập, tổng kết hay hệ thống hóa một chương, một phầnkiến thức của bài học
Sơ đồ kiểm tra dùng để đánh giá năng lực tiếp thu hiểu biết của học sinh, đồng thời giúp giáo viên điều chỉnh nội dung dạy học
2 Yêu cầu của việc xây dựng sơ đồ:
*Tính khoa học:
- Nội dung sơ đồ phải bám sát nội dung của bài học, các mối quan hệ phải là bản
chất, khách quan chứ không phải do người xây dựng sắp đặt Tuy nhiên hình thức chủquan của sơ đồ phụ thuộc vào người lập sơ đồ Cùng một khối lượng kiến thức, cónhiều cách xây dựng sơ đồ khác nhau
- Sơ đồ phải sử dụng phù hợp với nội dung, kiểu bài và đối tượng cần nghiên cứu
- Sơ đồ phải đảm bảo tính lôgic, chính xác khoa học
*Tính sư phạm, tư tưởng:
- Sơ đồ phải có tính khái quát hóa cao, qua sơ đồ học sinh có thể nhận thấy ngaycác mối quan hệ khách quan, biện chứng Điều này đòi hỏi người xây dựng sơ đồphải vận dụng nhiều thao tác tư duy khác nhau như so sánh, phân tích, tổng hợp, kháiquát hoá, bổ sung, mở rộng , phải chọn lựa kiến thức cơ bản tối thiểu và vừa đủ, mãhoá kiến thức một cách cô đọng, súc tích
*Tính mĩ thuật:
- Bố cục của sơ đồ phải hợp lí, cân đối, nổi bật trọng tâm và các nhóm kiến thức
Có thể sử dụng rộng rãi các phương tiện mã hoá (các loại kí hiệu, ô khung, mũi tên,màu sắc )
3 Cách xây dựng sơ đồ
a, Cơ sở về mặt kiến thức
- Chọn lựa bài dạy phù hợp
- Xác định được trọng tâm của bài
- Xác định được khái niệm cơ bản và những khái niệm (nội dung) phát triển, mở rộng
- Mối liên hệ giữa các kiến thức
b, Dựng sơ đồ
- Bước 1: Xác định tên sơ đồ (tên phải phù hợp với nội dung sơ đồ sẽ xây dựng)
- Bước 2: Lựa chọn các thành phần có quan hệ cần phải đưa lên sơ đồ (lựa chọn
phải theo các tiêu chí nhất định, không để sót các thành phần)
- Bước 3: Đặt các thành phần lựa chọn vào đúng các khung dự kiến dựa trên vai
trò tác động của chúng đối với các thành phần khác
- Bước 3: Vẽ các mũi tên hoặc các đoạn thẳng nối các ô, khung lại với nhau thể
hiện các mối quan hệ giữa các thành phần (tác động trực tiếp hay gián tiếp, tác độngmột chiều hay qua lại) Đối với sơ đồ dạng bảng, không cần sử dụng bước này
Trang 8Sơ đồ 1: Mối liên hệ giữa vị trí địa lí và đặc điểm cơ bản của thiên nhiên VN
Với vai trò là giải thích mối liên hệ giữa hai đối tượng địa lí, giáo viên có thể sử dụng
sơ đồ theo các bước sau
- Khi dạy đến mục 2a, giáo viên có thể dựng ngay sơ đồ và cùng học sinh hoàn thiện dần sơ đồ kết hợp phương pháp đàm thoại – gợi mở, nội dung SGK
- Các câu hỏi của giáo viên cơ thể sử dụng:
1, Nhắc lại cho cô các đặc điểm chính về mặt tự nhiên của vị trí địa lí Việt Nam?
2, Vị trí nằm trong vùng nội chí tuyến có ý nghĩa gì?
3, Vị trí nằm giáp biển Đông có ý nghĩa gì?
4, Vị trí nằm trong khu vực hoạt động của gió mùa châu Á có nghĩa gì?
- Đối với đối tượng là học sinh khá, giỏi, giáo viên cơ thể sử dụng sơ đồ sau để giải thích cho học sinh về mối liên hệ giữa vị trí địa lí với các đặc điểm chung của tự nhiên Việt Nam Tuy nhiên với sơ đồ này, giáo viên phải mở rộng cho học sinh nhều kiến thức nên phương pháp đi kèm là giảng giải, tức là giáo viên đưa sơ đồ ra trước
và giải giải cho học sinh
Vị trí địa lí
Vùng nội
chí tuyến Giáp biển Đông Khu vực hoạt động của gió mùa
Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa
đồi núi
Hoạt động gió mùa Châu Á
Giáp biển Đông
Lịch sử phát triển lãnh thổ Hoạt động kiến tạo
Trang 9Sơ đồ 2: Mối liên hệ giữa vị trí địa lí với các đặc điểm chung
của tự nhiên Việt Nam
- Các sơ đồ dạng này phù hợp nhất trong việc phản ánh các mối liên hệ nhân quả trong Địa lí tự nhiên 12, chỉ rõ đâu là nguyên nhân, đâu là kết quả và giải thích cho nhiều hiện tượng trong địa lí Tuy nhiên đây là dạng sơ đồ đòi hỏi người giáo viên phải nắm chắc, đào sâu kiến thức, tìm được nguyên do, lí giải được nhiều hiện tượng trong địa lí Học sinh được làm quen nhiều với các sơ đồ này, các em sẽ hình thành được tư duy logic, hiểu rõ bản chất của các hiện tượng cũng như hứng thú tìm tòi lí giải các hiện tượng tự nhiên xảy ra xung quanh mình
b, Sử dụng sơ đồ tổng hợp dùng để ôn tập tổng kết hay hệ thống hoá kiến thức của một chương, một phần của bài học
Ví dụ 2: Khi dạy nội dung mục 1 bài 11, giáo viên có thể sử dụng sơ đồ sau
Đặc điểm Phần lãnh thổ phía Bắc (từdãy
Bạch Mã trở ra Bắc) Phần lãnh thổ phía Nam (từ dãy Bạch Mã trở vào)
Khí hậu Nhiệt đới ẩm gió mùa, có mùa
Trang 10Biên độ nhiệt
Cảnh quan Đới rừng nhiệt đới gió mùa Đới rừng cận xích đạo gió mùa
Thành phần
loài + loài nhiệt đới chiếm ưu thế ngoài ra còn có các loài cây cận nhiệt, ôn
đới, các loài thú có lông dày
+ loài thuộc vùng nhiệt đới và
xích đạo Có một số loài cây rụng
lá vào mùa khô Động vật chủ đạo
là các loài thú lớn: voi, hổ, báo
Sơ đồ 3: Đặc điểm của thiên nhiên phần lãnh thổ phía Bắc và phía Nam
- Với sơ đồ này giáo viên có thể sử dụng phương pháp thảo luận nhóm
Giáo viên chia lớp thành các nhóm và phát phiếu học tập, yêu cầu học sinh hoàn thiệnphiếu học tập
Phiếu học tập số 1: Đặc điểm thiên nhiên phần lãnh thổ phía Bắc
Đặc điểm Phần lãnh thổ phía Bắc (từ dãy Bạch Mã trở ra Bắc)
Đặc điểm thiên nhiên phần lãnh thổ phía Nam
Đặc điểm Phần lãnh thổ phía Nam (từ dãy Bạch Mã trở vào)
Khí hậu
Nhiệt độ trung bình năm
Số tháng lạnh (t o <18 o C)
10
Trang 11Biên độ nhiệt năm
đa chiều về đối tượng trên cơ sở đưa ra nhiều tiêu chí) Các bảng kiến thức này còn giúp học sinh hình thành kĩ năng so sánh vì luôn luôn có các tiêu chí tương đồng giữacác đối tượng Như vậy, học sinh sẽ nắm chắc kiến thức hơn so với cách ghi chép truyền thống
c, Sơ đồ kiểm tra dùng để đánh giá năng lực tiếp thu hiểu biết của học sinh, đồng thời giúp giáo viên điều chỉnh nội dung dạy học
- Thực ra đây có thể hiểu là các sơ đồ trống hoặc khuyết nội dung Giáo viên đưa ra các sơ đồ trống trong các bài tập, bài kiểm tra, yêu cầu học sinh hoàn thiện
Ví dụ 3: Trong bài kiểm tra 8 tuần học kì I, giáo viên có thể sử dụng bài tập sau:
Em hãy hoàn thành sơ đồ sau để thấy rõ sự khác biệt cơ bản về điều kiện hình thành, đặc điểm địa hình và đất của đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long
Sơ đồ 4: Bảng so sánh đặc điểm đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông
Cửu Long
Long Điều kiện hình thành
Địa hình
Đất
Ví dụ 4: Sau khi học xong bài 11,12 “Thiên nhiên phân hoá đa dạng”, giáo viên có
thể sử dụng sơ đồ trống sau, yêu cầu học sinh hoàn thành để đánh giá năng lực tiếp thu của học sinh (trường hợp học sinh không hoàn thiện được giáo viên có thể gợi ý :
ô tròn là nguyên nhân, còn các ô hình chữ nhật là biểu hiện)
Trang 12Sơ đồ 5
Hình thức đánh giá kiểm tra bằng các sơ đồ trống phản ánh khá chính xác năng lực nhận thức của học sinh, hạn chế được tình trạng quay cóp, chép bài và là những câu có tính phân hoá khá cao
Trên đây là một số cách thức giáo viên có thể sử dụng sơ đồ trong quá trình lên lớp Ngoài các sơ đồ ví dụ ở trên, tôi đã xây dựng một số sơ đồ khác phục vụ cho giảng dạy phần Địa lí tự nhiên (Phụ lục)
5 Giáo viên hướng dẫn giúp học sinh tự dựng sơ đồ
- Khi học sinh tự dựng được sơ đồ, hiệu quả của phương pháp sơ đồ hoá sẽ là cao nhất Vì muốn xây dựng sơ đồ, ngoài việc có kỹ năng đọc sách giáo khoa học sinh phải sử dụng các thao tác tư duy cơ bản như phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa,…để cùng một lúc vừa phân tích đối tượng nhận thức thành các sự kiện, các yếu tố cấu thành lại vừa phải tổng hợp chúng lại, thiết lập các mối quan hệ qua lại giữa chúng
- Cách 1: Giáo viên có thể tổ chức bài học để học sinh rèn luyện kĩ năng sơ đồ
hoá theo các bước sau:
+ Bước 1: Nêu nhiệm vụ học tập (ghi các nội dung chính của bài học lên bảng và yêu cầu học sinh làm rõ các nội dung bằng phương pháp sơ đồ hoá)
+ Bước 2: Chia lớp thành các nhóm ( phương pháp thảo luận nhóm sẽ tạo ra tinh thần học tập sôi nổi, có sự cạnh tranh cao)
+ Bước 3: Yêu cầu các nhóm nghiên cứu SGK, chọn lựa dạng sơ đồ phù hợp+ Bước 4: Các nhóm đưa ra các sơ đồ của mình, giáo viên đánh giá, tổng kết
- Cách 2: Giáo viên khuyến khích học sinh ôn tập kiến thức bằng cách sơ đồ hoá
trong quá trình tự học ở nhà và chuẩn hoá kiến thức giúp các em có các sơ đồ hoàn thiện nhất
Thiên nhiên phân hoá đa dạng
12
Trang 13IV HIỆU QUẢ
1 Đối với giáo viên
- Phát triển và hoàn thiện kĩ năng sơ đồ hoá của bản thân giáo viên
- Hệ thống hoá kiến thức, mở rộng cũng như làm mới kiến thức, đặc biệt trong nhiều bài học phương pháp sơ đồ hoá giúp giáo viên đi sâu, làm rõ mối liên hệ nhân quả - nội dung rất phổ biến và quan trọng của địa lí tự nhiên 12
- Thực hiện được đổi mới phương pháp, cả trong giảng dạy và kiểm tra, đánh giá
- Phát huy được tính tích cực, sáng tạo của học sinh
- Có thể sử dụng kết hợp với nhiều phương pháp, phương tiện dạy học khác nhau
- Tăng thêm lòng yêu nghề, nhiệt huyết với học sinh
2 Đối với quá trình học của học sinh
- Kiến thức được biểu diễn dưới dạng sơ đồ, ngắn gọn dễ nhớ do đó giảm thờigian ghi chép, thời gian học và ôn tập của học sinh
- Tác động vào "kênh hình" của người học. Sẽ tạo ra sự hứng thú trong giờ học,bài giảng, tiết học trở nên sôi động Phát triển óc quan sát, kích thích tư duy củangười học, củng cố kiến thức bài giảng, hào hứng tìm tòi, đón nhận tri thức mới, cólòng yêu thích môn học
- Học sinh khám phá tri thức mới theo trình tự logic do đó các em hiểu được bảnchất quy luật Thuận lợi cho quá tình tái hiện tri thức khi cần thiết
- Phát triển năng lực tự học, tự khai thác kiến thức từ sách giáo khoa, phát triển
tư duy phân tích, tổng hợp của học sinh
3 Hiệu quả đối chứng
Năm học 2014 – 2015, tôi dạy các lớp : 12A2, 12A3, 12A9, 12A10 Tôi chọn 2 lớp 12A2 và 12A3 làm thực nghiệm để thấy rõ hiệu quả của phương pháp sơ đồ hoá trong đó lớp 12A2 là lớp thực nghiệm (có sử dụng phương pháp sơ đồ hoá trong quá trình giảng dạy) và 12A3 là lớp đối chứng (không sử dụng phương pháp sơ đồ hoá)
Thời gian thực nghiệm : 8 tuần học kì I với 3 bài học được lựa chọn là bài 2 : Vị
trí địa lí, phạm vi lãnh thổ, bài 6, bài 7 : Đất nước nhiều đồi núi
Sau thời gian dạy, ra bài tập, ôn tập, tôi nhận thấy
Về tinh thần, động cơ học tập : các học sinh ở lớp 12A2 thể hiện rõ sự hứng thú, sôi nổi với môn học hơn so với lớp 12A3 Các em hăng hái phát biểu xây dựng bài, nhiều em đã có những liên hệ giữa bài học với thực tiễn Các em cũng đưa ra nhiều câu hỏi khá hay phản ánh lòng ham học, tích cực tìm tòi
Về kết quả sau khi tiến hành kiểm tra viết ở hai lớp