1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn luật so sánh Hệ thống thông luật Common Law

33 1,4K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 393 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ quả là các Tòa Hoàng gia dần mở rộngđến mức các toà án địa phương mất tác dụng và cuối cùng, Tòa Hoàng gia đã thay thế cáctòa truyền thống để trở thành cơ quan xét xử duy nhất nước An

Trang 1

MÔN LUẬT KINH DOANH SO SÁNH LỚP CAO HỌC LUẬT K 24, TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH NHÓM 1: NGUYỄN CHIẾN THẮNG (NHÓM TRƯỞNG)

Một số học giả kết hợp nhiều tiêu chí khác nhau để phân nhóm các hệ thống phápluật, như học giả người Pháp, René David kết hợp hai tiêu chí: kỹ thuật pháp lý và hệ tưtưởng:

“Sự khác biệt về thuật ngữ của hai hệ thống pháp luật (các thuật ngữ không thể hiệncùng khái niệm) hoặc bởi vì hệ thống thứ bậc các nguồn luật và các phương pháp của mỗi

hệ thống pháp luật khác nhau ở mức độ đáng kể”.1

“Hai hệ thống pháp luật không thể được xem là thuộc vào cùng một dòng họ, ngay

cả khi chúng sử dụng cùng các khái niệm và kĩ thuật, nếu chúng được xây dựng dựa vào

1 Xem: René David và John E C Brierley, Sđd, tr 21

Trang 2

những nguyên tắc triết học, chính trị và kinh tế đối lập nhau và nếu chúng cố gắng tạo rahai kiểu xã hội hoàn toàn khác nhau”.2

Dựa vào hai tiêu chí này, René David phân chia các hệ thống pháp luật trên thế giớithành dòng họ pháp luật La Mã-Giécmanh, dòng họ common law, dòng họ pháp luậtXHCN và một số hệ thống pháp luật nhỏ khác là luật Hồi giáo, luật Hindu, luật của một

số nước vùng Đông Á và một nhóm pháp luật mới là pháp luật của các nước châu Phi.3Hai học giả khác người Đức là Zweigert và H Kotz, mặc dù chỉ đưa ra tiêu chí phânnhóm là “kiểu pháp luật” (legal style) để phân nhóm pháp luật nhưng nội dung tiêu chínày lại chứa đựng nhiều tiêu chí thành phần khác nhau:

 Cơ sở và sự phát triển lịch sử của hệ thống pháp luật;

 Phương thức tư duy pháp lí nổi trội và đặc trưng về các vấn đề pháp lí;

 Các chế định pháp lí đặc thù;

 Các nguồn luật mà hệ thống pháp luật này chấp nhận và cách thức nó sử dụng cácnguồn luật đó

 Hệ tư tưởng của hệ thống pháp luật

Zweiger và Kotz đã phân chia các hệ thống pháp luật trên thế giới thành dòng họpháp luật La Mã, dòng họ pháp luật Giécmanh, dòng họ pháp luật Bắc Âu, dòng họcommon law và nhóm pháp luật khác là luật Hồi giáo, luật Hindu và pháp luật một sốnước vùng Đông Á.4

Mặc dù sử dụng nhiều tiêu chí khác nhau, các dòng họ pháp luật được xác định vẫnrất quen thuộc đối với các nhà luật học là dòng họ common law, dòng họ civil law, dòng

họ pháp luật XHCN và một số nhóm pháp luật khác gắn với các tôn giáo khác nhau là luậtHồi giáo, luật Hindu

1 Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống Thông luật

1.1 Lịch sử hình thành

2 Xem: René David và John E C Brierley, Sđd, tr 21

3 Xem: René David và John E C Brierley, Sđd, tr 22-31

4 Xem: Zweiger and Kotz, Sđđ, tr 136

Trang 3

Vào năm 1066, quân Norman do công tước William chỉ huy đã đánh bại quân

Ăng-lô Sắc-xông, thống nhất nước Anh Sau đó, William lên ngôi vua nước Anh với tên gọi làWilliam I - trị quốc từ năm 1066 đến khi qua đời năm 1087 Từ đây mở ra một thời kỳmới trong lịch sử nước Anh, thời kỳ mà nước Anh dưới sự cai trị của người Norman vàcũng là thời kỳ khởi đầu cho giai đoạn hình thành Thông luật

Sau khi lên ngôi, William I đã thực hiện một loạt hành động mạnh mẽ như trấn ápbạo loạn, cũng cố vương quyền, thực hiện xây dựng bộ máy hành chính và cải cách tưpháp William không vội vàng áp đặt pháp luật của người Norman đối với cư dân bản địa,không huỷ bỏ các tập quán truyền thống của Anh và hệ thống toà án địa phương hoặc thayđổi chúng một cách đột ngột Nhà vua vẫn giữ nguyên hệ thống pháp luật ở Anh, đi kèmvới nó là hệ thống tòa án ở mỗi địa phương Các toà án này vẫn tiếp tục áp dụng tục lệ từtrước của họ mà chưa có bộ luật nào chung cho toàn vương quốc Đây chính là những tiền

đề quan trọng cho sự ra đời của Thông luật

Ở nước Anh trước đó, tồn tại nhiều vùng, miền khác nhau với nhiều tập quán khácnhau, những tập quán này được người Anh gọi là Luật ví dụ như: Luật Dane được ápdụng ở miền bắc, Luật Mercia ở miền trung và Luật Wessex ở miền tây và miền nam.Cùng với đó là sự hiện diện của nhiều hệ thống tòa án khác nhau (gọi là các Tòa án truyềnthống)

Khi lên ngôi, nhà vua đã thiết lập ở Anh một tòa án đặt tại cung điện Buckinghamgọi là Tòa Hoàng gia Ban đầu, Tòa án này không có thẩm quyền toàn diện vì đây là tòa

án riêng để giải quyết các vụ việc liên quan tới những người Norman cùng đến Anh vớiWilliam I Tới thế kỷ XII, Tòa Hoàng gia đã thay mặt Nhà vua xét xử một số vấn đề vềquyền đối với đất đai, thu thuế, trừng phạt các tội phạm hình sự nghiêm trọng cũng nhưgiải quyết một số tranh chấp nhất định, nhất là những tranh chấp có liên quan đến sự ổnđịnh của vương triều Sự mở rộng thẩm quyền của Tòa Hoàng gia đi kèm là sự mở rộng

về mặt quy mô, cơ cấu tổ chức của Tòa án này

Dù vậy, bên cạnh Tòa Hoàng gia ở trung ương ngày càng có vị trí quan trọng, thì ởAnh các tòa địa phương vẫn tồn tại và có thẩm quyền rộng, giải quyết hầu hết các tranhchấp (trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền của của Tòa Hoàng gia), qua đó cạnh tranh

Trang 4

với sự tồn tại của Tòa án này Nhưng trong quá trình cạnh tranh, Tòa Hoàng gia dần dầngiành được ưu thế (vì hiện đại và chuyên nghiệp hơn, được sự quan tâm, đầu tư rất lớn từphía triều đình), các vụ tranh chấp khó giải quyết đều dồn lên cho Tòa Hoàng gia, sốlượng đơn khiếu nại của người dân dần chuyển sang Tòa Hoàng gia Tòa Hoàng gia đãxét xử nhiều vụ hơn so với giới hạn ban đầu Hệ quả là các Tòa Hoàng gia dần mở rộngđến mức các toà án địa phương mất tác dụng và cuối cùng, Tòa Hoàng gia đã thay thế cáctòa truyền thống để trở thành cơ quan xét xử duy nhất nước Anh.

Các nguyên tắc bền vững của luật chung đã được tạo ra bởi ba tòa án được vuaHenry II (1133 - 1189) thành lập là Tòa án Tài chính (Court of Exchequer) để xét xử cáctranh chấp về thuế; Tòa án thẩm quyền chung (Court of Common Pleas) đối với nhữngvấn đề không liên quan trực tiếp đến quyền lợi của nhà vua; và Tòa án Quốc vương( Court of the King’s Bench) để giải quyết những vụ việc liên quan trực tiếp đến quyền lợicủa Hoàng gia.5

1.2 Sự phát triển của hệ thống thông luật

Với mục đích tăng uy tín của tòa Hoàng gia để, góp phần giải quyết thấu đáo cácđơn thư khiếu nại của các địa phương gửi lên Từ thời Vua William I, rất nhiều thẩm pháncủa Tòa Hoàng gia đã được phái đi thực tế tại các địa phương Những vị thẩm phán nàytrở thành những thẩm phán lưu động (Travelling Justice) có nhiệm vụ đi khắp đất nước,đến tất cả các vùng thuộc quyền cai trị của Nhà vua, nhân danh Nhà vua để xét xử các vụviệc tại địa phương bằng các phiên tòa xét xử lưu động

Khi đi xét xử lưu động khắp đất nước, các thẩm phán Hoàng gia làm quen với cáctập quán pháp khác nhau và mỗi khi gặp nhau tại Luân Đôn họ thường thảo luận với nhau,

so sánh các điểm mạnh, điểm yếu của chúng Điều này dần đưa đến kết quả là các thẩmphán Hoàng gia ngày càng áp dụng thường xuyên hơn các quy định pháp luật giống nhautrên khắp đất nước và thế là “Common Law” ra đời

Common Law được tạo ra không phải bởi các văn bản pháp luật mà bằng việc cácTòa án sử dụng các quyết định của tòa như những tiền lệ Nguyên tắc này phát triển rấtnhanh và thế là các quyết định của tòa được đưa ra trong vụ việc tương tự, phải được tuân

5Xem “Giáo trình luật so sánh”, Đại học Luật Hà Nội, trang 209

Trang 5

thủ, nghĩa là án lệ phải được tôn trọng (nguyên tắc Stare decisis) Nói cách khác, nếu hai

vụ việc có tình tiết tương tự thì phán quyết mà tòa án ra để giải quyết hai vụ việc đó sẽphải có kết cục tương tự.6

Như vậy, thuật ngữ “common law” ngày nay được hiểu theo nhiều nghĩa thông dụnghơn và thường được đặt trong mối quan hệ với luật thành văn (statues) Với nghĩa này, cónhiều cách khác nhau để diễn tả “common law” như: luật án lệ (case law), luật do thẩmphán làm ra (judge-made law), luật tập quán (customary law) và luật bất thành văn(unwritten law) Nói cách khác, theo nghĩa này, “common law” là luật không do cơ quanlập pháp làm ra mà được tạo ra bằng các phán quyết của tóa án (án lệ) và bằng tập quánpháp Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử pháp luật nói riêng và luật học Anh nói chung đều

cho rằng cách hiểu truyền thống về “common law” là tập quán pháp 7

2 Các nguyên tắc của Thông luật

2.1 Nguyên tắc “Stare decisis” – “tiền lệ phải được tuân thủ” là nguyên tắc xương sống, tạo tiền đề cho sự tồn tại và ổn định của thông luật Anh

Theo nguyên tắc này, bất kỳ nơi nào phát sinh những vấn đề mang tính chất pháp

lý thì khi đưa ra quyết định phải tuân theo những trường hợp tương tự đã giải quyết trướcđây Nghĩa là các thẩm phán khi xét xử phải căn cứ vào các bản án đã có trước nếu như có

sự tương tự về mặt tình tiết

Trên cơ sở tiền lệ (stare decisis) được hình thành này, hệ thống thứ bậc của tiền lệcũng hình thành và áp dụng cho các hệ thống tòa án Theo đó, thẩm phán khi đưa ra phánquyết phải tuân thủ theo các phán quyết của tòa án cấp trên trong cùng hệ thống Đâychính là án lệ hay cũng chính là tiền lệ pháp

Tuy nhiên, vì nguyên tắc này được xây dựng dựa trên hoạt động tại các tòa án nêntòa án có thể quyết định sửa đổi nguyên tắc này Năm 1966, Thượng nghị viện Anh tòa áncao nhất của nước Anh đã tuyên bố Thượng nghị viện sẽ không bị bắt buộc phải theo các

án lệ của chính mình nữa

6Xem: Michael Bogdan, “Luật so sánh” trang 80

7 Xem: Sir Mathew Hale, “The History of the common law” (2nd Ed, 1716) at 22: W.Blackstone,

“Commentaries on the laws of England” (1809 Ed) at 44: W.Twinging (Ed) “The common lawand legal theory”, Basil Blackwell 1986, Chapter two (Brian Simpson), at 18

Trang 6

Nguyên tắc này có vai trò là tiền đề cho việc tồn tại và ổn định hệ thống thông luật.Tuy nhiên, nếu tuân thủ triệt để nguyên tắc này sẽ làm cho thông luật Anh cứng nhắcthiếu linh hoạt khi các điều kiện kinh tế xã hội thay đổi không ngừng.

2.2 Nguyên tắc tôn trọng quyết định của tòa cấp trên

Mỗi tòa án bị buộc phải tuân thủ theo các quyết định của tòa cấp cao hơn trong cùng

hệ thống hoặc của chính tòa đã tạo ra tiền lệ

Ví dụ: Ở nước Anh, Tòa sơ cấp – Tòa án địa phương phải tuân theo án lệ của Tòacấp cao, Tòa Hoàng gia, Tòa phúc thẩm và Tòa tối thượng (Thượng Nghị viện).8

Tại Hoa Kỳ, các tòa án cấp dưới của liên bang và các tòa án của bang có nghĩa vụtuân thủ các quyết định trước đây của tòa án tối cao liên bang Các phán quyết của tòa ánphúc thẩm khu vực của liên bang mang tính bắt buộc phải tuân theo đối với các tòa án cấpdưới nằm trong lãnh thổ khu vực đó chứ không ràng buộc các tòa án khu vực khác.Tương tự, các phán quyết của tòa án cấp trên chỉ có giá trị ràng buộc đối với các tòa áncấp dưới trong cùng một bang

2.3 Nguyên tắc không buộc phải tuân theo án lệ của hệ thống tòa án khác

Những quyết định của tòa án thuộc hệ thống tòa án khác chỉ có giá trị tham khảochứ không có tính bắt buộc Tuy nhiên, đối với quyết định của tòa án cấp cao hơn của hệthống tòa án khác sẽ có giá trị thuyết phục hơn trong việc tham khảo để tòa án quyết địnhbản án

Tại Hoa Kỳ, các phán quyết của tòa án cấp dưới của liên bang về những vấn đềmang tính liên bang không có tính ràng buộc đối với các bang nhưng được xem xét và cânnhắc rất cẩn thận

2.4 Nguyên tắc chỉ dựa vào cơ sở pháp lý

Chỉ có những quyết định của thẩm phán trước đó dựa trên phần chứng cứ pháp lýcủa vụ án thì mới có giá trị bắt buộc phải áp dụng để ra quyết định cho vụ án sau này9

8 David Rene, Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại, Nhà xuất bản Tổng hợpthành phố Hồ Chí Minh, năm 2003

9 Nguyễn Lâm, "House" hay "Home" và tầm minh triết của pháp luật, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số

13 (78) tháng 7/2006, trang 26

Trang 7

Trong một bản án theo truyền thống Thông luật luôn có hai phần, đó là phần Ratiodecidendi và Obiter dictum.10

Ratio decidendi: Tiếng Latin có nghĩa là "Lý do để quyết định", là phần cơ sở pháp

lý hay chứng cứ pháp lý của bản án Đây là nhân tố bắt buộc bất kỳ trong quá trình suyluận dẫn tới quyết định của tòa án Là nhân tố quan trọng nhất và là yếu tố bắt buộc củamỗi phán quyết Ratio decidendi sẽ tạo nên quy tắc được đưa vào thành phần của phápluật Anh Nó cũng là phần chứa đựng các quy phạm pháp luật trong hệ thống Anh Vì thếphần này có vai trò vô cùng quan trọng là nguồn trực tiếp của pháp luật Anh

Obiter dictum: Tiếng La Tin có nghĩa là "Một lời nhận xét ngẫu nhiên", đây là

phần bình luận của thẩm phán trong bản án Nó chính là lời nhận xét, bình luận, ý kiếnphụ của thẩm phán, không có giá trị bắt buộc, không mang nội dung trực tiếp của vụ tranhchấp, và không thể viện dẫn như một tiền lệ

Vì vậy phần này chỉ là sự tuyên cáo, không chi phối đối với quyết định và vì thếkhông có tính bắt buộc đối với các vụ việc trong tương lai Tuy nhiên, đôi khi nó có giá trịthuyết phục đáng kể do vị trí của tòa án và danh tiếng của vị thẩm phán đưa ra quyết địnhđó

2.5 Nguyên tắc tham khảo đối với phần bình luận

Những nhận định hoặc quyết định của tòa án trước đó đối với một vụ án không dựatrên cơ sở pháp lý mà chỉ dựa trên cơ sở bình luận của thẩm phán (Obiter dictum) sẽkhông có giá trị bắt buộc tòa án cấp dưới phải tuân thủ

Tuy nhiên, những nhận định và phán quyết đó có thể được tòa án sau này xem xét,cân nhắc và thậm chí có thể áp dụng trong việc ra quyết định

2.6 Nguyên tắc hiệu lực bất kể thời gian

Yếu tố thời gian không thể làm mất đi tính hiệu lực của các tiền lệ Theo nguyên tắcnày, những phán quyết của các tòa án cách đây hàng trăm năm cũng vẫn có giá trị cho cácthẩm phán sau này vận dụng để ra quyết định cho một vụ án tương tự; ở hệ thống thôngluật, án lệ càng lâu càng có sức thuyết phục, và giá trị Khác với hệ thống pháp luật châu

10 Michael Bogdan, Comparative law, Nhà xuất bản Kluwer, Norstedts Juridik, Tano, 2002

Trang 8

Âu lục địa, án lệ càng mới càng có tác dụng giải thích cao hơn Các vụ án nổi tiếng khôngnhững chỉ có giá trị lịch sử, các giải pháp của những bản án này còn để lại một giá trị thựctiễn.

3 Nguồn luật trong hệ thống Thông luật

Hệ thống thông luật bắt nguồn từ sự phát triển pháp luật tại Anh giữa những năm

1066 và 1400 Mặc dù luật được phát triển ở Anh nhưng đã được xuất khẩu toàn cầu như

là kết quả của đế chế Anh và chính phủ cộng hòa Anh Nó chính là nền tảng cho hệ thốngpháp luật Hoa Kỳ (US) Đó là lí do vì sao chúng ta sẽ chọn Anh và Mỹ như là điển hìnhcho hệ thống thông luật

Khi nói đến nguồn luật của nước Anh, người ta thường nhắc đến hai nguồn chính

là luật thành văn và luật bất thành văn Luật thành văn là các đạo luật do Nghị viện và cácvăn bản phụ trợ do chính phủ ban hành Luật bất thành văn gồm hai bộ phận: Một là cáctập quán phổ biến từ thời thượng cổ hay còn gọi là common law (các phán quyết của Tòagồm cả các án lệ của Tòa án Hoàng gia và luật công lý là những phán quyết được ghichép lại và được giải thích trong các báo cáo luật và được sắp xếp một cách có hệ thống

để sử dụng phổ biến trong các tác phẩm có uy tín của các tác giả đáng kính); và hai là cáctập quán hay luật lệ địa phương (particular customs of laws) có ảnh hưởng chỉ tới nhữngngười nhất định sống ở một vùng nào đó

Luật liên minh châu Âu không phải là 1 nguồn luật tại Mỹ do Mỹ không phải lànước thành viên của các hiệp ước với các nước châu Âu như Anh Tuy nhiên, Mỹ bổ sungmột nguồn luật quan trọng đó là Hiến pháp Mỹ Trong khi Anh không có Hiến pháp bằngvăn bản

Thông luật và luật công bằng được biết đến như Án lệ - đây chính là sự khác biệtquan trọng giữa hệ thống thông luật và hệ thống dân luật

3.1 Thông luật (Án lệ)

Điểm đặc thù trong hệ thống pháp luật Anh là bộ phận quan trọng của luật thực địnhcủa Anh do cơ quan tư pháp, tức là do tòa án sáng tạo ra dựa trên cơ sở áp dụng và pháttriển các án lệ hay tiền lệ pháp Những lĩnh vực pháp luật như luật hợp đồng, bồi thường

Trang 9

trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, cũng như một số hành vi phạm tội nghiêm trọng nhưgiết người hay hành hung tập thể (common assault) đều là sản phẩm của cơ quan tư phápchứ không phải của cơ quan lập pháp Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa hệ thống phápluật Anh với các hệ thống pháp luật pháp điển hóa của châu Âu lục địa và những hệ thốngpháp luật khác chịu ảnh hưởng của pháp luật ở châu Âu lục địa

- Các cách hiểu về án lệ: Có 2 cách hiểu chủ yếu như sau:

 Án lệ là một phương thức làm luật của thẩm phán

 Án lệ bao gồm các qui tắc đã được lập ra trong một bản án ban hành trước đó, cógiá trị ràng buộc đối với các thẩm phán khi có sự tương tự về mặt tình tiết

Tóm lại án lệ được hiểu là bản án đã có hiệu lực pháp luật trong đó có chứa đựngcác qui tắc pháp lý do tòa án ban hành, được sử dụng để làm khuôn mẫu cho những vụviệc về sau nếu có sự tương tự về mặt tình tiết Sự giải thích của tòa có tính mới và tínhtiên phong; cho nên về sau nó được các thẩm phán khác dẫn ra, hay tham chiếu vào, khi

họ xét xử một vụ án có cùng một cơ sở pháp lý Chỉ khi nào bản án được dẫn chiếu thì nómới trở thành án lệ

Ở nước khác, án lệ còn được gọi là tiền lệ pháp Theo đó, những bản án, quyết địnhgiải quyết vụ việc trong các tập san án lệ trở thành khuôn mẫu, trở thành cơ sở để tòa đưa

ra phán quyết trong những vụ việc có tình tiết, vấn đề tương tự sau đó Việc công bố bản

án được thực hiện thường xuyên, liên tục, rộng rãi bằng nhiều phương tiện thông tin đạichúng, kể cả Internet Đối với các nước theo hệ thống thông luật như Anh - Mỹ (CommonLaw), những bản án điển hình được tuyển chọn, đăng tải trong các báo cáo tổng hợp án lệ(Law Report) và án luật (Case Law) trở thành một nguồn của pháp luật

- Cấu trúc của án lệ

Trong quá trình áp dụng tiền lệ pháp, cần phải phân biệt hai phần của bản án gồm:phần lập luận và phần phán quyết Phần lập luận hay còn gọi là phần giải thích cho việc điđến quyết định mới được xem là án lệ Phần lập luận lại bao gồm 2 bộ phận:

 Phần lý do để ra quyết định (Ratio decidendi): là bộ phận có tính ràng buộc đốivới các thẩm phán

Trang 10

 Phần nhận xét bình luận (Orbiter dictum): nhận xét mang tính cá nhân của thẩmphán, không có tính ràng buộc.

- Điều kiện để một bản án trở thành án lệ

Tuy nhiên, không phải tất cả các phán quyết của các tòa án này đều có giá trị ràngbuộc mà chỉ có những bản án được xuất bản mới trở thành án lệ và có giá trị ràng buộc.Bản án phải thỏa mãn các điều kiện sau:

- Phải được tuyên bởi Tòa án có thẩm quyền tạo ra án lệ

Án lệ được thiết lập ngay tại Tòa án, tuy nhiên không phải tòa án nào cũng tạo ra án

lệ mà những bản án, quyết định thuộc các Tòa có thẩm quyền mới đáp ứng điều kiện đểtrở thành án lệ Ở nước Anh, việc hình thành án lệ, hệ thống thứ bậc và hiệu lực án lệ gắn

bó mật thiết với tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án

Ví dụ: 11

Cấp độ thấp nhất trong hệ thống Tòa án là tòa án địa phương (Tòa Địa hạt – CountyCourt), Tòa án quận, Tòa sơ thẩm ở các thành phố lớn Gọi chung là các Tòa sơ cấp,phán quyết của các tòa sơ cấp không được coi là án lệ

Tòa cấp cao (Hight Court) bao gồm 3 phân tòa là Tòa Công bình, Tòa Nữ hoàng,Tòa Gia đình Phán quyết của tòa cấp cao dù chỉ là các phán quyết tại các phiên xét

xử sơ thẩm nhưng các phán quyết đó có giá trị như án lệ Án lệ của tòa cấp cao cógiá trị bắt buộc đối với các tòa địa phương và tòa sơ thẩm ở các thành phố Xét vềmặt thứ bậc hiệu lực thì phán quyết của tòa cấp cao đương nhiên không phải là án lệ

có tính bắt buộc đối với tòa án ở cấp cao hơn

Tòa phúc thẩm (Court of appeal) có cấp độ cao hơn tòa cấp cao và tòa Hoàng gia

Do tính chất và thẩm quyền của tòa phúc thẩm cho nên các bản án của Tòa phúcthẩm rất có giá trị 25% được xuất bản thành các tập án lệ và có giá trị bắt buộc đốivới các tòa cấp dưới và ngay cả tòa phúc thẩm

11 Nguyễn Văn Nam, Án lệ và hệ thống Tòa án nước Anh, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, số 02/2003

Trang 11

Thượng nghị viện (House of Lord) – Đây là cấp tòa tối thượng trong hệ thống tòa ánAnh Án lệ của thượng nghị viện (3/4 trong đó được xuất bản) có giá trị bắt buộc đốivới tất cả các tòa án cấp dưới và đối với cả thượng nghị viện Tuy nhiên do yêu cầucủa việc phát triển pháp luật, vào năm 1966, thượng viện tuyên bố rằng thượng nghịviện sẽ không bị bắt buộc phải theo các án lệ của chính mình.12

- Bản án phải có hiệu lực pháp luật: phải là bản án có giá trị chung thẩm, đã có

hiệu lực pháp luật ràng buộc các bên mới có thể trở thành án lệ

- Phải đảm bảo về hình thức

Trong hệ thống pháp luật Anh cũng như các nước việc giải thích và áp dụng các án

lệ là một khâu cực kỳ quan trọng trong đó việc giải thích các án lệ là điểm mấu chốt cònviệc áp dụng án lệ là hệ quả trực tiếp từ việc giải thích

Trong hệ thống Thông luật cấu trúc của bản án được tuyên rất khác với các nướctheo truyền thống luật dân sự Về hình thức các bản án của các nước theo hệ thống Thôngluật thường rất dài (Ví dụ ở Canada có những bản án dài tới hơn 150 trang)

Vậy thì khi so sánh vụ việc đang thụ lý với các vụ việc đã xảy ra trước đây làm thếnào xác định được tình tiết nào là tình tiết chính, tình tiết nào là tình tiết tương tự hoặc cóliên quan trong một bản án dài với nhiều lập luận ? Đâu là ranh giới giữa án lệ bắt buộc và

án lệ không bắt buộc, giữa phần bắt buộc và phần không bắt buộc của bản án Để giảiquyết được vấn đề đó, cần phải vận dụng kỹ thuật phân loại

Không phải mọi nội dung hay tất cả các phần trong một bản án được coi là án lệ đều

có giá trị bắt buộc, mà chỉ có những phần mới có giá trị bắt buộc, và được tòa án xem xétcác tình tiết trong đó được coi như là những cơ sở quan trọng chủ yếu để lập luận chophán quyết của mình.13

- Nội dung bản án phải có tính mới

12 Theo tuyên bố của Thượng nghị viên tại [Pratice Statement (Judicial Precendent), [1966] W.L.R 226, HL]

13 Nguyễn Lâm, "House" hay "Home" và tầm minh triết của pháp luật, Tạp chí nghiên cứu lập pháp,

số 13 (78) tháng 7/2006, trang 26

Trang 12

Một trong những yếu tố quan trọng để tạo ra án lệ là quyết định của thẩm phán trong

vụ án cụ thể liên quan đến các vấn đề pháp luật mới nảy sinh hoặc một nghi vấn phápluật Đó là các vấn đề nảy sinh trong các vụ án có liên quan đến câu hỏi luật cần áp dụngđối với sự kiện thực tế nảy sinh trong vụ án là gì và nó được áp dụng vào các sự kiện thực

tế trong vụ án như thế nào? Thực chất vấn đề pháp luật ở đâu, chưa được giải quyết, chưa

hề có lời giải đáp trong thực tiễn

Do đó khi xét xử thẩm phán đã tìm ra lời giải đối với vấn đề pháp luật đặt ra trong

vụ án Và như vậy thẩm phán đã sáng tạo ra pháp luật Điều này cũng đồng nghĩa với việcphán quyết của thẩm phán trong vụ việc cụ thể này đã tạo ra một án lệ (một tiền lệ pháp)cho các vụ việc trong tương lai

- Bản án phải được công bố

Các phán quyết phải được công bố và hệ thống hóa Việc công bố và hệ thống hóa

án lệ phải tuân theo một trình tự thủ tục chặt chẽ

Đây là hoạt động có vai trò rất quan trọng để một bản án trở thành án lệ nhất thiếtphải qua khâu này Đây là một trong những đặc điểm của án lệ và cũng là một trongnhững nguyên tắc xây dựng án lệ – tiền lệ pháp

3.2 Luật Công bằng (Equity)

Luật Công bằng hay Luật Công lý (Equity Law) là một bộ phận trong hệ thống phápluật Anh xuất hiện vào thế kỷ XVI, cùng tồn tại song song với hệ thống Thông luật, vớiđặc trưng là các nguyên lý xây dựng và áp dụng luật được dựa trên lẽ phải, công lý làchính14 Luật Công bằng ra đời trên bối cảnh Thông luật, hệ thống pháp luật chính củanước Anh hiện tại đang gặp nhiều bất cập, nhất là trong việc giải quyết các thủ tục tốtụng15 Sự hình thành và phát triển của Luật Công bằng nhằm sửa đổi và bổ sung choThông luật và hoàn thiện Thông luật chứ không nhằm mục đích thay thế nó Đến nay, nó

là một trong hai bộ phận chính của hệ thống pháp luật Anh

14 Hudson A (2009) Equity and Trusts, p 24 Routledge-Cavendish và Hudson states that these are primarily "culled from Snell's Equity, the 4th edition

15 Hudson A (2009) Equity and Trusts, p 24 Routledge-Cavendish.

Trang 13

Trong quá trình giải quyết, Đại chưởng ấn đưa ra những giải pháp pháp lý rất phù

hợp, hiệu quả vì thường viện dẫn vào "công lý, lẽ phải và tình yêu thương của Chúa trời".

Đầu thế kỷ 16, các quyết định của Tòa công bằng hình thành một hệ thống các quyđịnh pháp lý và trong quá trình sử dụng công lý để giải quyết các vụ việc, cùng với thờigian, các phán quyết của Đại pháp quan đã phát triển thành tập hợp những quy phạm đặcbiệt, được nhắc đến dưới danh nghĩa "equity" hay Luật Công bằng và hình thành một hệthống pháp luật thứ hai gọi là luật công bằng Học thuyết về Luật công bằng (Equity law)mang nhiều yếu tố của Luật La Mã vì các Đại Chưởng ấn thường là các mục sư bị ảnhhưởng của Luật Giáo hội (cannon law) - một loại luật có cơ sở gần gũi với luật La Mã16

3.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của luật công bằng

- Sự khủng hoảng của thông luật

Vào thế kỉ XV, Anh trở thành một trong những nước hùng mạnh nhất châu Âu, lúcnày tình hình kinh tế xã hội phát triển, tự do kinh tế, tự do mậu dịch được phát triển, nhiềutranh chấp mới phát sinh giữa các thương nhân nhưng các Tòa án Hoàng gia không thểgiải quyết thấu đáo các tranh chấp này, mặt khác các quy định của thông luật không phùhợp để điều chỉnh những quan hệ mới phát sinh dẫn đến thông luật rơi vào tình trạngkhủng hoảng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của xã hội Anh

Khi các điều kiện về hạ tầng thay đổi, đòi hỏi pháp luật cũng phải thay đổi để thíchứng với tình hình mới Thông luật Anh tại thời điểm này đã bộc lộ những nhược điểm

sau: Không có án lệ để điều chỉnh những quan hệ mới nên thẩm phán phải áp dụng các

bản án cũ để giải quyết.

Cuối thế kỉ XIV, học thuyết tiền lệ pháp được tuân thủ và áp dụng trong các Tòa ánHoàng gia của Anh Học thuyết tiền lệ pháp là học thuyết mà theo đó các thẩm phán khigiải quyết các vụ việc tại thời điểm hiện tại, phải căn cứ những phán quyết, những quyđịnh trong quá khứ, trong đó có án lệ

16 S Worthington, Equity (2nd edn OUP, Oxford 2006) p 10/11 và J Selden, Table Talk, quoted

in M B Evans and R I Jack (eds), Sources of English Legal and Constitutional History,Butterworths, Sydney, 1984, 223–224

Trang 14

Vì sự ràng buộc của học thuyết tiền lệ pháp làm cho Thông luật (Common Law) trởnên cứng nhắc, bởi vì đến một thời điểm thẩm phán không còn đủ tự do để phát triển cácquy phạm pháp luật giải quyết những vấn đề đem đến tòa nữa Khi tình tiết vụ việc khác

đi thì các thẩm phán không thể áp dụng tiền lệ pháp cũ nữa nhưng họ cũng không có khảnăng sáng tạo ra tiền lệ pháp mới vì bị bó buộc trong khuôn khổ của học thuyết tiền lệpháp

Chế tài duy nhất của thông luật đối với các hành vi gây thiệt hại trong quan hệ dân

sự là phạt tiền bồi thường đã không buộc các bên phải tuân thủ hợp đồng cũng như làmcho bên bị thiệt hại thấy thỏa đáng Điều này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến lĩnh vựchợp đồng nói riêng và lĩnh vực thương mại nói chung

Trong lĩnh vực hình sự: các chế tài trở nên hà khắc hơn lúc nào hết, nhà vua dùng

thông luật như một trong nhưng công cụ đắc lực để đàn áp các tầng lớp trong xã hội đòidân chủ và có xu hướng chống lại chế độ phong kiến chuyên chế của Hoàng gia Anh

Sự tồn tại của hệ thống trát đã khiến cho thông luật Anh trở nên phức tạp, cứng nhắc

và đễ dẫn đến bất công trong xét xử vì: không có trát thì không có quyền và trát cũng làmcho thủ tục tố tụng bị ảnh hưởng mạnh mẽ (người dân khó tiếp cận và phải nhờ đến dịch

vụ luật sư phức tạp, tốn kém) và trở nên quan trọng hơn quyền lợi đang bị tranh chấptrong vụ kiện Trát được sử dụng như một loại giấy thông hành do vua cấp để bên nguyên

có thể bước qua cửa Tòa án Hoàng gia, tiếp cận với công lý nhằm giải quyết những oankhuất của mình

Mỗi loại khiếu kiện sẽ có một loại trát tương ứng, vì vậy, tùy thuộc vào bản chất củaviệc khiếu kiện mà bên nguyên cần giành được loại trát phù hợp mới hi vọng đơn khiếukiện của mình được Tòa án Hoàng gia thụ lí và giải quyết Bước sang thế kỉ XV, thủ tục

tố tụng ngày càng bị chi phối mạnh bởi hệ thống trát, do đó, thủ tục tố tụng thường đượccoi trọng hơn cả quyền lợi đang bị tranh chấp trong vụ kiện

Nếu đơn khiếu kiện không rơi vào một trong những vụ việc đã có trát lưu hành, bênnguyên sẽ mất quyền khởi kiện, hoặc nếu bên nguyên giành được trát nhưng trát đó khôngphù hợp với bản chất của vụ kiện, bên nguyên cũng bị tòa bác đơn

Trang 15

Những hạn chế trên đã làm nảy sinh nhu cầu để tìm giải pháp để khắc phục nhữnghạn chế của thông luật trong hai trường hợp:

Người dân không thể tiếp cận công lý từ tòa thông luật vì không có trát phù hợp.

 Người dân không đạt được kết quả trọn vẹn từ các giải pháp pháp lý mà tòa thôngluật đã áp dụng

- Hình thành luật công bằng

Do sự cứng nhắc của Thông luật, đặc biệt trong thủ tục xét xử, bên nguyên đơntrong vụ việc tranh chấp thường tiếp tục khiếu kiện lên vua nhằm tìm kiếm sự trợ giúpđặc biệt mang tính chất phúc thẩm Nhiều người khởi kiện không thỏa mãn với phánquyết của các Tòa án Hoàng gia mà làm đơn thỉnh cầu lên nhà vua Họ coi nhà vua làngười có quyền lực tối cao và là biểu tượng của công lý, lẽ công bằng Lẽ tất nhiên, nhàvua không thể tự mình giải quyết, phân xử hết tất cả những thỉnh cầu của thần dân ông ta

mà những thỉnh cầu này gửi lên càng ngày càng nhiều, tranh chấp càng ngày càng đadạng, phức tạp, chưa kể là có những đơn thỉnh cầu, những tranh chấp vặt vãnh

Vua thường thông qua viên Đại Chưởng ấn hay còn gọi là Đại Pháp quan hoặc NgàiĐổng lý Văn phòng (Lord Chancellor) là một công chức của Tòa án đồng thời hầu cậncủa mình đóng vai trò như một pháp quan để giải quyết những đơn kiện loại này Dần dầnnhà vua giao cho Đại chưởng ấn giải quyết luôn những vụ việc và giao quyền cho ông ta.Điều này dẫn đến hệ lụy là Văn phòng đại pháp quan đã dần phát triển thành Tòa đạipháp

Trong quá trình giải quyết, Đại chưởng ấn đưa ra những giải pháp pháp lý rất phù

hợp, hiệu quả vì thường viện dẫn vào "công lý, lẽ phải và tình yêu thương của Chúa trời"

dẫn đến số lượng đơn thỉnh cầu tăng lên, khối lượng công việc ngày càng lớn, đòi hỏiphải có một nhân sự và hệ thống thể chế, thiết chế tương đương vì vậy vua ra quyết địnhthành lập tòa án công bằng

Đầu thế kỷ XVI, các quyết định của Tòa công bằng hình thành một hệ thống các quyđịnh pháp lý và trong quá trình sử dụng công lí để giải quyết các vụ việc, cùng với thờigian, các phán quyết của Đại pháp quan đã phát triển thành tập hợp những quy phạm đặc

Trang 16

biệt, được nhắc đến dưới danh nghĩa "equity" hay Luật Công bằng và hình thành một hệthống pháp luật thứ hai gọi là luật công bằng Học thuyết về Luật Công bằng (Equity law)mang nhiều yếu tố của Luật La Mã vì các Đại Chưởng ấn thường là các mục sư bị ảnhhưởng của Luật Giáo hội (cannon law) - một loại luật có cơ sở gần gũi với luật La Mã17.

- Giai đoạn trước cải cách 1873-1875: Luật công bằng chỉ được xem là một

bộ phận bổ sung cho thông luật

Các thẩm phán của tòa công bằng tự nhìn nhận và đưa ra nguyên tắc “luật công bằng

đi sau thông luật” luật công bằng ra đời chỉ đóng vai trò hỗ trợ giúp cho thông luật hoànthiện hơn Chỉ khi thông luật không điều chỉnh được hay không điều chỉnh hết thì luậtcông bằng mới giải quyết Luật công bằng đưa ra nguyên tắc này nhằm tránh gây ra xungđột với các tòa án Hoàng gia luôn tìm cách bảo vệ sự độc quyền của mình trong xét xử.Các phán quyết của tòa công bằng không chỉ được áp dụng trong tòa công bằng màcòn được các thẩm phán của tòa thông luật tham khảo với tư cách là những lẽ phải, lẽcông bằng để bổ sung cho “luật”

Tuy nhiên khi giải quyết các vụ việc các thẩm phán của tòa công bằng luôn đặt côngbằng và lẽ phải lên hàng đầu để xem xét vụ việc có xâm phạm đến công lý, đạo đức haykhông, nếu có thì đơn thỉnh cầu sẽ được chấp nhận Chính vì thủ tục tố tụng đơn giản đãkhiến cho người có lợi ích bị xâm phạm dễ dàng tiếp cận được với công lý hơn ở tòathông luật nên uy tín của tòa công bằng ngày càng cao

Về pháp lý, từ 1621, viện nguyên lão bắt đầu xem xét các phán quyết của tòa côngbằng, đồng nghĩa với việc tòa công bằng đã có vị trí ngang với tòa thông luật

Như vậy tính đến trước cuộc cải cách tòa án, nước Anh đã có hai hệ thống tòa án tồntại độc lập với nhau Trong đó mỗi tòa án áp dụng một thủ tục tố tụng riêng, qui phạmpháp luật riêng Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, cùng một vụ việc nhưng phải có haiđơn cho cả tòa thông luật lẫn tòa công lý Nếu một bên muốn thi hành hợp đồng bằng hiệnvật thì điều đó được thực hiện trên cơ sở của tòa công lý, còn việc bồi thường thiệt hại doquá hạn hợp đồng thì được thực hiện trên cơ sở thông luật Điều này làm tăng tính phức

17 S Worthington, Equity (2nd edn OUP, Oxford 2006) p 10/11 và J Selden, Table Talk, quoted in M B Evans and R I Jack (eds), Sources of English Legal and Constitutional History, Butterworths, Sydney,

1984, 223–224.

Ngày đăng: 13/03/2016, 00:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w