Trong các trường đại học tổng hợp, họ không dạy pháp luật thực định, khôngtạo nên những quy phạm cần phải áp dụng mà các giáo sư dạy sinh viênphương pháp tạo ra những quy phạm công bằng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
_
BÀI TẬP NHÓMMÔN HỌC: LUẬT SO SÁNH
HỆ THỐNG PHÁP LUẬT DÂN LUẬT
(CIVIL LAW SYSTEM)
Thành viên nhóm 2:
Hoàng Thị Hồng HàBạch Phạm Đăng HuyĐịnh Xuân HiệpTrịnh Ngọc Hồng NhungNguyễn Thị Diễm Phượng
TP.HCM, tháng 01 năm 2016
Trang 2HỆ THỐNG PHÁP LUẬT DÂN LUẬT (CIVIL LAW SYSTEM)
1 Lịch sử hình thành
Trên thế giới có nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, mỗi quốc gia có hệ thốngpháp luật của riêng mình, cả những tổ chức phi nhà nước cũng có pháp luật củamình như Luật Hồi giáo, luật Do thái giáo, Luật Giáo hội… Trong đó, hệ thốngpháp luật Common Law và Civil Law là hai hệ thống pháp luật lớn và điển hìnhtrên thế giới Hai hệ thống này có những điểm đặc thù, tạo nên những "dònghọ" pháp luật, với những đặc trưng pháp lý riêng
Nhìn chung, có thể xem quá trình hình thành và phát triển của Civil law trải qua
3 giai đoạn: giai đoạn pháp luật tập quán (trước thế kỷ XIII), giai đoạn phápluật thành văn (thế kỷ XIII – thế kỷ XVIII), giai đoạn pháp điển hóa pháp luật
và phát triển ra ngoài Châu Âu (cuối thế kỷ XVIII – đến nay)1
1.1 Giai đoạn luật tập quán (trước Thế kỷ XIII)
Đây là thời kỳ pháp luật hình thành từ tập quán địa phương (tập quán của các
bộ tộc Pháp, Đức, tộc Slavian ) vì vậy còn mang tính biệt lập, phân tán vàthiếu thống nhất Phần lớn các bộ tộc ở Tây Âu bị người La Mã thống trị nênLuật La Mã cổ đại có ảnh hưởng lớn ở đây Thời kỳ ra đời của Luật La Mãđược tính từ khi Luật Mười hai bảng xuất hiện năm 450 trước công nguyên2.Luật La Mã xuất hiện và hoàn thiện cùng nền Cộng hòa La Mã và thời kỳ Đếchế La Mã thần thánh kéo dài cả chục thế kỷ Năm 528, Hoàng đế La MãJustinianus đã ra lệnh tập hợp, hệ thống lại các tập quán, tục lệ nhằm cũng cốluật La Mã và tạo nên công trình pháp luật lớn mang tên Corpus Juris Civilis(nghĩa là tập hợp các chế định luật dân sự)
Từ năm 529 đến năm 534, các bộ sách của Justinianus lần lượt được xuất bản ở
Sách sưu tập các định chế Justinianus (Institutes): là cuốn sách giáo khoa
về pháp luật được viết bởi các cố vấn pháp luật La Mã cổ đại và;
1 Giáo trình Luật So Sánh ĐH Luật Hà Nội, NXB CAND, tr.103-104
2 Mary Ann Glendon; Michael W Gordon; Paolo G Carozza, (1999)
Comparative Legal Traditions, tr 17
3 Réne David, NXB Tp HCM, Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới
đương đại, tr.34
Trang 3 Luật mới ban hành bởi Hoàng đế Justinianus (Novels)
Cùng với sách cầu nguyện ở Pháp và bán đảo Iberia là những tác phẩm tiêubiểu cho Luật La Mã
Nhìn chung giai đoạn này pháp luật đơn giản, lẫn lộn giữa đạo đức, tôn giáo vàpháp luật Luật pháp thời kỳ này ảnh hưởng sâu sắc bởi luật lệ tôn giáo, nhiềuquốc gia lấy luật của nhà thờ làm luật nhà nước Trong bóng đêm của thời hậuTrung cổ, đã có pháp luật tồn tại nhưng nó không phải là công cụ chủ yếu đểđảm bảo công lý trong xã hội Giữa các cá nhân và các nhóm xã hội, nhữngtranh chấp được giải quyết theo luật của kẻ mạnh hay bởi quyền lực độc đoáncủa thủ lĩnh, tộc trưởng
1.2 Giai đoạn Pháp luật thành văn (Thế kỷ XIII – Thế kỷ XVIII)
Đây là giai đoạn bắt đầu bằng sự phục hưng của Luật La Mã, cuối thế kỷ XII,các thành phố Châu Âu bắt đầu phát triển, gia tăng các hoạt động thương mại
và giao lưu giữa các dân tộc Châu Âu lục địa tạo ra nhu cầu phân biệt giữa đạođức, tôn giáo và pháp luật Đây cũng là giai đoạn văn hóa phục hưng bắt đầu từthế kỷ XIII – XIV ở Ý, sau đó lan sang các quốc gia Châu âu lục địa khác Cáctriết gia và luật gia đòi hỏi các mối quan hệ xã hội phải được dựa trên pháp luật
Vào đầu thế kỷ XIII, các nước Châu âu lục địa không có một hệ thống pháp luậtthống nhất vì mỗi quốc gia đều áp dụng pháp luật tập quán cho những vùngmiền khác nhau Chẳng hạn ở Pháp giai đoạn này có khoảng 60 tập quán chung,khoảng 300 tập quán vùng, được áp dụng ở các vùng miền khác nhau như tậpquán Bordeaux, tập quán Paris, tập quán Orlearns, tập quán Normandie…Nhàvăn Voltaire đã có nhận xét rằng đi trên các vùng đất của Pháp, người ta phảithay đổi pháp luật như thay đổi ngựa.4 Ở một số nước Châu âu khác cũng cótình trạng tương tự Năm 1080, trường tổng hợp Bologna ở Ý được thành lập,thế kỷ XII đại học Paris và sau đó là một loạt trường đại học tổng hợp ở cácthành phố lớn Châu âu ra đời Các trường học này có vai trò quan trọng trongviệc hình thành hệ thống Civil law5
Trong các trường đại học tổng hợp, họ không dạy pháp luật thực định, khôngtạo nên những quy phạm cần phải áp dụng mà các giáo sư dạy sinh viênphương pháp tạo ra những quy phạm công bằng nhất về nội dung, thích hợpnhất về đạo đức và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho cuộc sống bình thường của
xã hội6 Tư tưởng về một xã hội do pháp luật quản lý được công nhận vào thế
kỷ XIII7, chấm dứt tình trạng vô chính phủ, chuyên quyền, chỉ trích việc tìm
4 Giáo trình Luật So Sánh ĐH Luật Hà Nội, NXB CAND, tr.109
5 Giáo trình Luật So Sánh ĐH Luật Hà Nội, NXB CAND, tr.105
6 Réne David, NXB Tp HCM, Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới
đương đại, tr.37
7 Réne David, NXB Tp HCM, Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới
đương đại, tr.43
Trang 4đến những yếu tố siêu nhiên trong quan hệ dân sự Các mối quan hệ xã hội phảiđược dựa trên pháp luật, pháp luật dựa trên cơ sở công lý, pháp luật là hình mẫu
để tổ chức xã hội Những tư tưởng này là một bước tiến cách mạng thời bấygiờ
Việc giảng dạy Luật La Mã ở các trường học trong suốt gần 6 thế kỷ đó đã cónhững thay đổi, xuất hiện một loạt các trường phái pháp luật8 thay thế nhau:Trường phái đầu tiên là Glassators là trường phái pháp luật chú giải, tập trunggiải thích các chế định pháp luật La Mã theo nghĩa nguyên gốc xuất hiện ởBologna (Ý) vào thế kỷ XIII Kết quả của trường phái này tạo ra tác phẩm đồ sộcủa Accursius tổng hợp gần 96 nghìn câu chú giải về Luật La Mã cổ đại
Trường phái thứ hai là Post-Glasstors còn gọi là Commentator là trường pháicác nhà bình luận xuất hiện vào thế kỷ XIV ở Ý Phát triển hơn trường phái chúgiải, trường phái này bình luận tìm cách giải thích các quy định của Luật La Mãphù hợp với yêu cầu của thời đại mới
Trường phái thứ ba cũng xuất hiện ở Ý vào thế kỷ XV – Humanists là trườngphái nhân văn, có quan điểm gần giống với trường phái Glassator
Trường phái thứ tư xuất hiện vào thế kỷ XVI ở Đức, gọi là Usus ModernusPandectarium Đây là trường phái của các nhà pháp điển hiện đại, là kết quảcủa quá trình giảng dạy luật La Mã ở thế kỷ XIV – XV ở Châu âu lục địa
Trường phái thứ năm là trường phái The Natural Law – trường phái pháp luật
tự nhiên, xuất hiện vào thế kỷ XVII –XVIII Trường phái này đặt con ngườivào trung tâm của bất kỳ chế độ xã hội nào, đòi hỏi phải tạo ra những quy phạmcủa pháp luật công thể hiện các quyền tự nhiên của con người và bảo vệ quyền
tự do cá nhân Tư tưởng này là nền tảng trong việc xây dựng pháp luật côngnhằm kiểm soát quyền lực của các cơ quan Nhà nước
Từ thế kỷ XIII – thế kỷ XVIII, việc nghiên cứu, giảng dạy Luật La Mã nhằmđào tạo các luật gia trong các trường học trong thời gian dài đã tạo ra tư duypháp luật chung thống nhất ở các quốc gia Châu âu lục địa Có thể xem thế kỷXIII là cột mốc quan trọng trong quá trình xuất hiện và phát triển của hệ thốngLuật Châu âu lục địa Luật La Mã được cải biên, chỉnh lý, hệ thống lại cho phùhợp với thời đại và là cơ sở cho hệ thống pháp luật Châu âu lục địa ra đời gọi làJus Commune Jus Commune là hệ thống luật linh hoạt, mềm dẻo được thể hiện
đa dạng ở các nước Châu âu
1.3 Giai đoạn pháp điển hóa pháp luật và phát triển ra ngoài Châu âu (cuối
Trang 5những thẩm quyền tạo ra pháp luật, thay đổi, xem xét lại pháp luật của ngườiđứng đầu chính quyền Pháp điển hóa pháp luật khác với hình thức biên soạnluật tập quán trước đó khi chức năng tạo lập và phát triển pháp luật chủ yếu donhà lập pháp thực hiện.
Trước hết phải kể đến Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789 củaPháp9 , tiếp đó là một loạt các bộ luật quan trọng ra đời vào thế kỷ 19:
Tại Pháp, Bộ luật dân sự Napoleon (1804); Bộ luật tố tụng Dân sự (1806);
Bộ luật Thương mại ( 1807); Bộ Luật Hình sự ( 1810); Bộ luật tố tụngHình sự (1808)10
Tại Đức, Bộ luật Bộ luật dân sự Đức (1896); Bộ luật tố tụng Dân sự(1877); Bộ luật Thương mại ( 1866); Bộ Luật Hình sự ( 1810); Bộ luật tốtụng Hình sự (1877)
Bộ luật dân sự Áo (1811)
Nhờ quá trình mở rộng thuộc địa của các nước Châu âu lục địa nên hệ thốngpháp luật Civil law có điều kiện phổ biến và phát triển ra ngoài khu vực Châu
âu Chẳng hạn, nước Pháp có nhiều thuộc địa ở Bắc Phi, Tây phi, Trung Phi vàĐông Nam Á, Guyana ( Nam Mỹ), Madagascar (Ấn Độ dương), Tahiti (TháiBình dương) Tuy hiện nay đã giành được độc lập nhưng pháp luật của cácquốc gia này vẫn chịu ảnh hưởng của mô hình pháp luật kiểu Pháp Trong khi
đó Luật dân sự của Đức được nhiều quốc gia lựa chọn làm mô hình mẫu trongquá trình ban hành, sửa đổi pháp luật của nước mình như Nhật Bản, Hàn Quốc,Trung Quốc, Thái Lan…
Thêm vào đó, việc các luật gia được đào tạo ở các trường học ở Pháp, Đức haycác quốc gia Châu âu khác cũng là yếu tố giúp hệ thống Civil law tiếp tục đượcphổ biến rộng hơn
Các học giả luật so sánh cho rằng hệ thống Civil law phải được chia nhỏ thành
9 NXB CAND, Giáo trình Luật So Sánh ĐH Luật Hà Nội, tr.112
10 Michael Bogdan, Luật So Sánh, tr.132
11 http://tuanhsl.blogspot.com/2009/02/common-law-va-civil-law.html, truy cập
lần cuối ngày 26/1/2016
Trang 6 Civil Law của những nước Scandinavian: Đan Mạch, Thụy Điển, PhầnLan, Na Uy và Iceland
2 Các nguyên tắc của hệ thống dân luật
Hệ thống Civil law quan niệm luật pháp là phải từ các chế định cụ thể (all lawresides institutions) - còn hệ thống Common law lại quan niệm luật pháp đượchình thành từ tập quán (all law is custom) Ưu điểm rõ nét của các Bộ luậttrong Civil Law là tính khái quát (comprehensibility), tính ổn định cao(certainty of law), đây cũng chính là hai nguyên tắc then chốt trong hệ thốngCivil law12
2.1 Nguyên tắc khái quát:
Luật là những gì quy định trong các bộ luật, được soạn thảo thành nhữngnguyên tắc chung để áp dụng cho mọi trường hợp
Quy phạm pháp luật ở các nước theo hệ thống này thường để lại những khoảngtrống cho thẩm phán, chức năng của nó chỉ là thiết lập những khuôn khổ phápluật cho thẩm phán, họ không quy định chi tiết vì người tạo ra quy phạm phápluật (nhà lập pháp) không thể lường hết được sự đa dạng của các vụ việc trongthực tế13 Tính khái quát của pháp luật điều đó có nghĩa là làm cho nó ít chínhxác (ít vừa vặn) cho một trường hợp cụ thể và trao cho thẩm phán có nhữngthẩm quyền áp dụng rộng hơn
2.2 Nguyên tắc ổn định:
Bắt nguồn từ nguyên tắc khái quát hóa ở trên, những vấn đề của luật cần được
dự đoán trước và qui định trong các văn bản luật Thẩm phán chỉ có quyền giảithích luật chứ không phải là làm luật như hệ thống Comon law Những giảithích của thẩm phán có thể trở thành tiền lệ pháp cho vụ việc khác
Vì quy phạm pháp luật không đủ để phản ánh toàn hiện nội dung của pháp luật
ở các nước thuộc hệ thống civil law, nên để củng cố tính ổn định của pháp luật,thực tiễn xét xử của tòa án sẽ cố gắng làm chính xác những quy phạm mangtính chung nhất Ngoài ra, các tòa án cấp cao hơn thực hiện kiểm soát việc giảithích luật của các tòa cấp dưới14, và tòa phá án là cấp tòa cao nhất để thực thiviệc này
Việc sử dụng luật thành văn làm nguồn chính cho thấy đặc điểm của hệ thốngluật này bắt nguồn từ viêc coi trọng pháp điển hóa, cách nhìn khái quát cáctrường hợp của cuộc sống Ngoài ưu điểm là tính ổn định của các quan hệ phápluật cao, khiến cho các luật sư và thẩm phán khi xem xét một vụ việc đã có thể
12 Corporate and Business Law, NXB BPP Learning Media, 2015, tr.15
13 Réne David, Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại, trang 82
14 Réne David, Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại, trang 82-83
Trang 7đoán trước được kết quả xét xử dựa vào những quy phạm pháp luật, nhưng hệquả là tạo thành hệ thống pháp luật đóng khung, kém linh động, giới hạn cácthẩm phán trong việc áp dụng các văn bản pháp luật có sẵn, hệ quả của việcnày là tạo nên sự ỷ lại, bị động và kém sáng tạo trong hoạt động xét xử.
3 Nguồn luật trong hệ thống dân luật 15
Nguồn của pháp luật là tất cả các căn cứ được các chủ thể có thẩm quyền sửdụng làm cơ sở để xây dựng, ban hành, giải thích pháp luật cũng như để ápdụng vào việc giải quyết các vụ việc pháp lý xảy ra trong thực tế Nguồn củapháp luật bao gồm: nguồn nội dung và nguồn hình thức; nguồn chủ yếu (nguồn
cơ bản) và nguồn thứ yếu, tùy vào căn cứ phân biệt
Tuy nhiên, tựu trung lại thì có 05 nguồn trong hệ thống dân luật: Luật, Tậpquán, Thực tiễn xét xử của tòa án, Học thuyết và Những nguyên tắc chung
3.1 Luật thành văn
Luật được hiểu theo nghĩa rộng là nguồn đầu tiên và hầu như duy nhất củapháp luật ở các nước “luật thành văn” Xu hướng này càng phổ biến hơn trongthời đại ngày nay nhờ vai trò của nhà nước trong mọi lĩnh vực được mở rộng.Việc thiết lập nền thống trị của pháp luật là công việc thuộc về nhà lập pháp.Việc này phù hợp với nguyên tắc dân chủ vì nhà nước có những điều kiện rộnglớn để phối hợp mọi hoạt động của những khu vực khác nhau thuộc cuộc sống
và xã hội và xác định được lợi ích chung
Với tính chất chặt chẽ của luật là phương pháp kỹ thuật tốt nhất để thiết lập nênnhững quy phạm rõ ràng, nhất là trong thời đại ngày nay, khi tính chất phức tạpcủa các quan hệ xã hội tôn sự chính xác và rõ ràng trong số giải pháp đúng đắnlên hàng đầu
Các quy phạm của “luật thành văn” do cơ quan lập pháp hoặc hành pháp đưa
ra, được các nhà luật học giải thích và áp dụng cho mỗi quyết định về mỗi vụviệc cụ thể, đã tạo nên hệ thống có thứ bậc: hiến pháp, công ước quốc tế, các
bộ luật, các quy chế, sắc lệnh, và các thông tư
Hiến pháp là cấp cao nhất của hệ thống dân luật, là những quy phạm có tính tốithượng ở một vài nước, tính tối thượng mang tính chính trị, các điều khoảnđược thông qua theo một trình tự đặc biệt Nhưng xét góc độ pháp lý thì tính
uy quyền cũng giống như các đạo luật bình thường Nhưng với một số nướckhác thì nó có tính khác so với các đạo luật bình thường khác, biểu hiện thiếtlập sự giám sát tính hiến pháp của những luật khác, trong đó các cơ quan giámsát và các phương pháp giám sát có thể rất đa dạng
15 Réne David, Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại, chương 3
Trang 8Các đạo luật hiến pháp về ý nghĩa sánh được với vai trò của Công ước quốc tế.Công ước quốc tế có hiệu lực cao hơn nội lực (hiến pháp) Việc giải thích côngước quốc tế có thể được đưa vào thẩm quyền của các tổ chức trên quốc gia
Cũng có luật được coi là bộ luật, có nghĩa là tuyển tập những luật khác nhaunhưng về sau nó chỉ được áp dụng đối với những bộ tuyển tập có trình bày cácnguyên tắc của luật chung có hiệu lực trong quốc gia nhưng có xu hướng được
áp dụng rộng hơn Ngày nay, thuật ngữ “bộ luật” được sử dụng rộng rãi để chỉcác văn bản luật tổng hợp và trình bày có hệ thống các quy phạm thuộc mộtlĩnh vực pháp luật nhất định
Ngoài các đạo luật theo đúng nghĩa của từ “pháp luật thành văn”, còn có vô sốnhững quy phạm và chỉ dẫn do các cơ quan nhà nước ban hành
Các thông tư hành chính thể hiện cách hiểuquy phạm pháp luật của hành chính
và ý định của bên hành chính sẽ áp dụng quy phạm như thế nào
3.2 Tập quán
Tập quán là nền tảng của pháp luật, xác định các phương thức áp dụng, pháttriển của pháp luật do các thẩm phán, học thuyết đưa ra nhưng nó không phải làyếu tố chính và đầu tiên của pháp luật Nó chỉ là một trong những yếu tố chophép tìm ra giải pháp công minh
Có nhiều cách nhìn nhận về tập quán Cụ thể tập quán chỉ được áp dụng khiluật trực tiếp nói đến nó; tập quán và luật được xem là hai nguồn ngang nhaucủa pháp luật
Khái niệm về vai trò của tập quán trở nên chính xác hơn khi khôi phục lạitruyền thống và chấm dứt đánh đồng luật và pháp luật Nếu như hiểu luật chỉ làmột phương tiện chính để thể hiện pháp luật thì không có gì ngăn cản sự côngnhận sự hữu ích của nguồn luật khác Trong đó tập quán có vị trí quan trọng vì
nó xét đến cách xử xự thông thường của con người là dĩ nhiên và cần thiết vàđược cho là công minh trong xã hội
3.3 Thực tiễn xét xử của tòa án
Trong bất cứ trường hợp nào giữa các quy phạm do thực tiễn xét xử của tòa ántạo ra và những quy phạm do các nhà lập pháp thiết lập cũng có hai khác biệtquan trọng: (i) thực tiễn xét xử của tòa án hoạt động trong khuôn khổ do nhàlập pháp lập ra cho pháp luật, trong khi hoạt động của nhà lập pháp chính là sựthiết lập những khuôn khổ đó bị hạn chế, (ii) quy phạm do thực tiễn xét xửcủa tòa án tạo ra không có được uy tín của những quy phạm lập pháp, khôngbền vững, có thể bị hủy bỏ vào bất kỳ thời điểm nào phụ thuộc vào vụ việcmới
Trang 93.4 Học thuyết
Trong một thời gian dài, học thuyết đã từng là nguồn chính của pháp luật ở cácnước “pháp luật thành văn” từ thế kỷ 13-18 Và chỉ cách đây không lâu cùngvới thắng lợi của các tư tưởng dân chủ và pháp điển hóa sự thống trị của họcthuyết mới được thay bằng sự thống trị của luật
Vai trò của học thuyết thể hiện ở chỗ chính nó đã tạo ra ngân hàng và nhữngkhái niệm pháp luật mà nhà lập pháp sử dụng, tạo ra những phương pháp đểhiểu pháp luật và giải thích các luật Ngoài ra nó còn đóng vai trò áp dụng luật
3.5 Những nguyên tắc chung
Trong trường hợp luật viện dẫn nguyên tắc chung thì các luật gia hành độngtrên cơ sở thẩm quyền do nhà lập pháp cho phép Nhưng khi nhà lập phápkhông cho phép thì họ không sử dụng được sức mạnh đó nhưng họ sử dụng nómột cách vừa phải vì cảm thấy phương thức tốt nhất để thực hiện công lý trong
xã hội phục tùng trật tự do luật đã đặt ra
3.6 Đối với pháp luật Pháp thì các nguồn sau được xem là nguồn của pháp
Tòa án tư pháp Châu Âu là tòa án cao nhất có chức năng giải thích luậtcủa Liên minh Châu Âu Nguồn luật bổ sung bao gồm các án lệ của Tòa
16 Corporate and Business Law, NXB BPP Learning Media, 2015, tr.16
17 https://en.wikipedia.org/wiki/Treaties_of_the_European_Union
Trang 10án tư pháp, luật quốc tế và các nguyên tắc chung của Luật pháp của Liênminh Châu Âu
3.6.3 Các đạo luật
Luật của Liên minh Châu Âu có tính bắt buộc thi hành ngang với luậtquốc gia, do vậy các quốc gia thành viên có nghĩa vụ ban hành và điềuchỉnh luật quốc gia của mình sao cho đảm bảo phù hợp với luật của Liênminh Châu Âu Tuy nhiên, Luật chung của Liên minh Châu Âu khôngđiều chỉnh mọi khía cạnh của đời sống, và vì vậy từng quốc gia thànhviên vẫn phải phát triển nguồn luật riêng của mình là các đạo luật, bộluật
3.6.4 Các quy tắc mang tính hành chính (thông tư hành chính 18 )
Tại các nước theo hệ thống civil law, về nguyên tắc có sự phân biệt giữacác văn bản do các quy phạm pháp luật tạo ra và những thông tư hànhchính thể hiện cách hiểu quy phạm pháp luật đó Các quan chức hànhchính nhiều lúc biết về luật chỉ qua những văn bản hướng dẫn công việctrên hình thức thông tư hành chính và thường là họ chỉ giới hạn trongnhững thông tư này
3.6.5 Tập quán (tuy nhiên đây là nguồn không quan trọng)
3.7 Một số nguồn của pháp luật Việt Nam
Một số học giả Pháp cho rằng, trong thực tế, nguồn của pháp luật bao gồm:nguồn nội dung và nguồn hình thức; nguồn chủ yếu (nguồn cơ bản) và nguồnthứ yếu, tùy vào căn cứ phân biệt Khi xem xét về nguồn của pháp luật ViệtNam hiện nay, cần phải quan tâm cả nguồn nội dung và nguồn hình thức của
nó, trong đó, “nguồn nội dung của pháp luật là xuất xứ, là căn nguyên của phápluật bởi vì nó được các chủ thể có thẩm quyền dựa vào đó để xây dựng, banhành và giải thích pháp luật”19; “nguồn hình thức của pháp luật được hiểu làphương thức tồn tại của các quy phạm pháp luật trong thực tế hay là nơi chứađựng, nơi có thể cung cấp các quy phạm pháp luật, tức là những căn cứ mà cácchủ thể có thẩm quyền dựa vào đó để giải quyết các vụ việc pháp lý xảy ratrong thực tế”20
Với cách nhìn như vậy, nguồn của pháp luật Việt Nam bao gồm:
3.7.1 Đường lối, chính sách của Đảng
18 Réne David, Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại, trang 96
19 TS Nguyễn Thị Hồi, Về khái niệm nguồn của pháp luật, Tạp chí Luật học, số
2/2008, tr 29, 30
20 TS Nguyễn Thị Hồi, Về khái niệm nguồn của pháp luật, Tạp chí Luật học, số
2/2008, tr 29, 30
Trang 11Đường lối, chính sách của Đảng được coi là nguồn nội dung của phápluật bởi vì chúng định ra mục tiêu, phương hướng phát triển kinh tế -xãhội của đất nước trong một giai đoạn nhất định cũng như những phươngpháp, cách thức cơ bản để thực hiện những mục tiêu, phương hướng này.
Và những mục tiêu, phương hướng, phương pháp và cách thức đó sẽđược Nhà nước thể chế hoá thành pháp luật và tổ chức thực hiện trongthực tế Nội dung các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật(VBQPPL), từ Hiến pháp, luật cho đến các văn bản dưới luật đều phảiphù hợp, không được trái với đường lối, chính sách của Đảng Về mặt lýluận, đường lối, chính sách của Đảng chỉ có thể là nguồn nội dung màkhông thể là nguồn hình thức của pháp luật; song, trong thực tế có lúc nócũng được coi là nguồn hình thức của pháp luật như việc áp dụng thẳngNghị quyết 10 và Chỉ thị 100 của Đảng về khoán sản phẩm trong nôngnghiệp ở một số địa phương trước đây Nói chung, việc áp dụng thẳngđường lối, chính sách của Đảng vào các lĩnh vực của xã hội là một hạnchế cần khắc phục, vì về mặt nguyên tắc, đường lối, chính sách củaĐảng chỉ có giá trị bắt buộc phải tôn trọng hoặc thực hiện nghiêm chỉnhđối với các đảng viên và các tổ chức đảng Và dĩ nhiên, đường lối, chínhsách đó chỉ có thể có giá trị bắt buộc phải tôn trọng và thực hiện đối vớitoàn xã hội khi nó được Nhà nước thể chế hoá thành pháp luật
3.7.2 Nhu cầu quản lý kinh tế - xã hội của đất nước
Đây cũng là một trong những nguồn nội dung quan trọng của pháp luật,một trong những cơ sở để xây dựng, ban hành pháp luật Để tổ chức,quản lý và điều hành nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủnghĩa, Nhà nước phải ban hành các quy định pháp luật cụ thể nhằm xâydựng đồng bộ các loại thị trường (thị trường lao động, thị trường hànghoá, thị trường bất động sản, thị trường tài chính ); cụ thể hoá cácchính sách tài chính, thuế, tiền tệ, giá cả, đầu tư, thu nhập ; sắp xếp, cơcấu lại các ngành kinh tế, điều chỉnh các quan hệ kinh tế theo chiềuhướng mà Nhà nước mong muốn, chiều hướng vừa thúc đẩy sự tăngtrưởng, vừa bảo đảm sự cân đối và ổn định của nền kinh tế - xã hội
3.7.3 Hiếp pháp
Điều 119 Hiến pháp 2013 quy định: “Hiến pháp là luật cơ bản của nướcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất Mọivăn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp Mọi hành vi viphạm Hiến pháp đều bị xử lý”
Như vậy, Hiến pháp là nguồn quan trọng nhất của hệ thống pháp luậtViệt Nam
3.7.4 Văn bản quy phạm pháp luật
Trang 12Đây là loại nguồn hình thức chủ yếu, cơ bản và quan trọng nhất củapháp luật, bởi lẽ, các cơ quan nhà nước ở Việt Nam khi giải quyết các
vụ việc pháp lý thực tế thuộc thẩm quyền của mình đều chủ yếu dựa vàocác VBQPPL VBQPPL là văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩmquyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có quy tắc xử
sự chung được Nhà nước bảo đảm thực hiện, nhằm điều chỉnh các quan
hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa VBQPPL ở nước ta baogồm nhiều loại với giá trị pháp lý cao, thấp khác nhau Đứng đầu thangbậc giá trị pháp lý trong hệ thống VBQPPL là Hiến pháp, đạo luật gốc,luật cơ bản của Nhà nước Tiếp đó là các đạo luật và các nghị quyết củaQuốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốchội, VBQPPL được hình thành do kết quả của hoạt động xây dựng phápluật, thể hiện trí tuệ của tập thể nên tính khoa học tương đối cao Cácquy định của nó được trình bày thành văn nên thường rõ ràng, cụ thể,bảo đảm có thể được hiểu và được thực hiện thống nhất ở phạm vi rộng;nhờ vậy, nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc đáp ứng các yêu cầu cơ bảncủa nguyên tắc pháp chế Hơn nữa, VBQPPL cũng có thể đáp ứng đượckịp thời các yêu của cuộc sống nên nó được coi là loại nguồn hình thức
cơ bản, chủ yếu và quan trọng nhất của pháp luật
3.7.5 Các điều ước quốc tế
“Theo cách tiếp cận của Công ước Viên 1969 về Luật Điều ước quốc tế
ký kết giữa các quốc gia và các quy định của luật quốc tế hiện hành thìđiều ước quốc tế được xác định là thoả thuận quốc tế được ký kết bằngvăn bản giữa các quốc gia và các chủ thể luật quốc tế và được luật quốc
tế điều chỉnh, không phụ thuộc vào việc thoả thuận đó được ghi nhậntrong một văn kiện duy nhất hay hai hoặc nhiều văn kiện có quan hệ vớinhau, cũng như không phụ thuộc vào tên gọi cụ thể của những văn kiệnđó” Nói chung, các điều ước quốc tế do Việt Nam ký kết, phê chuẩnhoặc gia nhập thực tế vừa là nguồn nội dung, vừa là nguồn hình thức củapháp luật nước ta Nó là nguồn nội dung trong trường hợp các quy địnhcủa nó được chuyển hóa thành các quy định trong các VBQPPL Ví dụ,việc chúng ta gia nhập Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối
xử với phụ nữ (CEDAW) đã dẫn đến việc ban hành Luật Bình đẳng giớitrong đó có nhiều nội dung là sự cụ thể hóa các quy định của Công ướcnày Nhiều quy định của các điều ước quốc tế khác đã được chuyển hóathành các quy định trong các đạo luật của Việt Nam, nhất là khi chúng ta
đã gia nhập WTO
Điều ước quốc tế trở thành nguồn hình thức của pháp luật trong trườnghợp nó được áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần vào việc giảiquyết các vụ việc xảy ra trong thực tế Việc áp dụng này đã được thừanhận trong Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm
2005 của nước ta