Ảnh hưởng của tình hình kinh tế thế giới đến cán cân thương mại việt nam trong năm 2012 đến 6 tháng đầu năm 2013
Trang 1MỤC LỤC
Hội nhập kinh tế quốc tế trong xu thế toàn cầu hoá tạo ra nhiều cơ hội phát triển cho các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, song những quốc gia này vẫn đang đứng trước những thách thức to lớn Trong công cuộc đổi mới của Việt Nam trong những năm qua đã đạt được những thành tựu quan trọng, đem lại nhiều lợi ích kinh tế cho đất nước góp phần thức đẩy kinh tế nước ta ngày càng phát triển Nhưng cũng đứng trước một thách thức vô cùng to lớn đối với Việt Nam do phải chịu ảnh hưởng trực tiếp từ nền kinh tế thế giới đến cán cân thương mại của Việt Nam
Với ý nghĩa to lớn về sự phát triển của nền kinh tế nước nhà và sự ảnh hưởng
to lớn của nền kinh tế thế giới khi Việt Nam là 1 nước hội nhập, chúng em đã chọn
đề tài “ Ảnh hưởng của tình hình kinh tế thế giới đến cán cân thương mại Việt Nam trong năm 2012 đến 6 tháng đầu năm 2013” với mong muốn là rõ những lợi ích cũng như thách thức mà nền kinh tế thế giới đối với cán cân thương mại Việt Nam cũng như các nước trên thế giới Trong quá trình làm bài không tránh khỏi sai xót mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và các bạn
B NỘI DUNGCHƯƠNG I : KHÁI QUÁT VỀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
1.1 Khái niệm:
Cán cân thương mại là một mục trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh toán quốc tế Cán cân thương mại ghi lại những thay đổi trong xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) cũng như mức chênh lệch giữa chúng (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) Khi mức chênh lệch
Trang 2là lớn hơn 0, thì cán cân thương mại có thặng dư Ngược lại, khi mức chênh lệch nhỏ hơn 0, thì cán cân thương mại có thâm hụt Khi mức chênh lệch đúng bằng 0, cán cân thương mại ở trạng thái cân bằng.
Cán cân thương mại còn được gọi là xuất khẩu ròng hoặc thặng dư thương mại Khi cán cân thương mại có thặng dư, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại mang giá trị dương Khi cán cân thương mại có thâm hụt, xuất khẩu ròng/thặng dư thương mại mang giá trị âm Lúc này còn có thể gọi là thâm hụt thương mại
1.2 Bản chất của cán cân thương mại:
Cán cân thương mại của một quốc gia phản ánh khối lượng xuất nhập khẩu
về hành hóa và dịch vụ của một quốc gia với các nước khác Về mặt kinh tế cán cân thương mại thể hiện mối quan hệ tương quan giữa việc tăng hay giảm lượng giá trị của nền kinh tế nghĩa là nó phản ánh lượng tiền tăng lên hay giảm đi của một quốc gia trong một thời gian nhất định.Trạng thái của cán cân thương mại thưởng rơi vào
3 trạng thái Trạng thái của cán cân thương mại được dựa vào sự chênh lệch giữa giá trị giao dịch xuất khẩu và nhập khẩu
1.3 Vai trò của cán cân thương mại:
- Cung cấp thông tin liên quan đến cung cầu tiền tệ của một quốc gia cụ thể là sự thay đổi tỷ giá hoái đoái của đồng nội tệ so với ngoại tệ
- Phản ánh khả năng cạch tranh trên thị trường quốc tế của một quốc gia
- Phản ánh tình trạng của cán cân tài khoản vãng lai và nợ nước ngoài do
đó ảnh hưởng đến ổn định tình hình kinh tế vĩ mô
- Để đánh giá khả năng chiệu đựng của cán cân tài khoản vãng lai thường sử dụng các chỉ số như xuất khẩu /GPD, chỉ số nợ /xuất khẩu, tỉ lệ tăng trưởng nhập khẩu/ xuất khẩu, tỉ lệ mức lãi suất trên mức tăng xuất khẩu
Trang 3- Thể hiện mức tiết kiệm, đầu tư và thu nhập thực tế Mối quan hệ giữa cán cân thương mại với tiết kiệm và đầu tư thể hiện qua công thức :
1.4.2 Tỷ giá hoái đoái:
Là nhân tố quan trọng đối với các quốc gia vì nó ảnh đến
giá tương đối giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa trên thị trường quốc
tế Khi tỷ giá đồng tiền của một quốc gia tăng thì giá cả hảng hóa nhập khẩu sẻ trở nên rẻ hơn trong khi giá cả của hàng xuất khẩu trở nên đắt đỏ hơn đối với người nước ngoài Vì thế tỷ giá đồng nội tệ tăng lên sẽ gây bất lợi cho xuất khẩu và thuận lợi cho nhập khẩu dẫn đến kết quả xuất
khẩu ròng giảm và ngược lại
Trang 41.4.3 Kim ngạch xuất khẩu:
Kim ngạch xuất khẩu là số tiền thu về từ hoạt động xuất khẩu trong một khoảng thời gian nào đó VD: khi nói kim ngạch xuất khẩu cà phê năm 2006 của
VN là 2triệu USD có nghĩa là năm 2006 VN xuất khẩu cà phê và thu về được số tiền 2 triệu USD
CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH KINH TẾ THẾ GIỚI NĂM 2012 VÀ 6
THÁNG ĐẦU NĂM 2013 2.1 Tình hình kinh tế thế giới năm 2012:
Kết thúc năm 2011 kinh tế thế giới phải đối mặt với nhiều khó khăn và tiềm ẩn nhiều rủi ro Tăng trưởng tại một số quốc gia sụt giảm mạnh, tỷ lệ thất nghiệp luôn cao Khủng hoảng nợ công ngày càng nghiêm trọng đã tác động đến tất cả các nước trong khu vực EU, lan sang cả khu vực ngân hàng, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế Mặc dù khả năng kinh tế thế giới năm 2012 sẽ giảm sâu như trong năm 2009 là không lớn, song những khó khăn kinh tế toàn cầu được dự báo sẽ còn kéo dài qua năm 2012 Hầu hết các dự báo của các tổ chức quốc tế đều thống nhất trong việc hạ mức dự báo tăng trưởng kinh tế của các khu vực và thế giới so với năm 2011 Suy thoái sẽ không chỉ diễn ra tại các nước phương Tây mà ngay tại cả châu Á ( đặc biệt là các nước mới nổi) luôn được xem
là động lực phát triển kinh tế thế giới trong thời gian qua Bên cạnh đó, dòng luân chuyển thương mại và đầu tư từ các nền kinh tế phát triển vào khu vực này cũng sẻ giảm đi đáng kể
Kinh tế thế giới bước vào năm 2012 đã phải đối mặt với không ít khó khăn.Mặc dù kết thúc quý 1, kinh tế toàn cầu trở nên u ám hơn thể hiện ở sự phục hồi đôi chút tại các nên kinh tế đầu tàu Tuy nhiên, sự phục hồi này không bền vững
Trang 52.1.1 Đà phục hồi của các nền kinh tế lớn trên thế giới chưa vững chắc:
Tại Mỹ, sau 4 tháng đầu năm lấy lại đà tăng trưởng, nền kinh tế lại rơi vào những khó khăn mới do những diễn biến bất lợi từ môi trường tài chính toàn cầu
Cụ thể, hầu hết các chỉ số vĩ mô đều thể hiện sự tụt dốc, trong đó, đáng chú ý là tăng trưởng kinh tế vẫn thấp trong khi tỷ lệ thất nghiệp duy trì ở mức cao
Tương tự như Mỹ, châu Âu cũng phải đối mặt với không ít khó khăn Kể từ khi bước sang quý 2, niềm tin của thị trường đã giảm đi bởi những biến động chính trị bất lợi gần đây ở khu vực đồng Euro Cuộc khủng hoảng nợ vẫn có những diễn biến phức tạp khi tính đến thời điểm hết tháng 6, đã có tới 5 nước ở eurozone phải nhận gói cứu trợ gồm Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Ireland, Tây Ban Nha và mới đây nhất
là Cộng hòa Síp
Nhiều quốc gia châu Âu đã phải thực hiện những cải cách chính sách, trong
đó, có chính sách tài khóa để vực dậy nền kinh tế đang trên đà suy thoái Kết quả là chỉ số PMI của toàn khu vực giảm mạnh nhất kể từ tháng 6 năm 2009 hiện còn 45,1 điểm, trong khi tỷ lệ thất nghiệp chạm mức kỷ lục 11,1% Điểm sáng duy nhất đó là
sự thặng dư trở lại của cán cân thương mại Các số liệu thống kê công bố trong tháng 8 của Eurostat cho thấy, cán cân thương mại của 17 nước thành viên EU có
sự cải thiện đáng kể trong tháng 6/2012 với con số thặng dư lên đến 14,9 tỷ Euro (~ 18,4 tỷ USD), mức cao nhất kể từ năm 1999
Trung Quốc cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề cần giải quyết Mặc dù duy trì được tốc độ tăng trưởng cao nhưng thời gian qua, tại Trung Quốc bắt đầu xuất hiện tình trạng nợ công, đầu tư tràn lan và tiềm ẩn nguy cơ vỡ nợ hàng loạt tại các cơ quan quản lý tại địa phương Sau khi thực hiện các biện pháp kích thích kinh
tế nhằm đương đầu với khủng hoảng tài chính toàn cầu của Trung Quốc, các tỉnh và thành phố của nước này đã nợ tới 10,7 nghìn tỷ Nhân dân tệ, tương đương 1/4 GDP
Trang 6của cả nước và hơn một nửa số nợ này phải trả trong 3 năm tới Do đó, hiện tại, quốc gia này đang đối mặt với tình trạng rủi ro mất thanh khoản khá cao
Bên cạnh tình trạng mất thanh khoản, Trung Quốc cũng bắt đầu phải đối mặt với bài toán suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế Trước bối cảnh sản xuất suy giảm, Trung Quốc đã phải điều chỉnh giảm mạnh mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong năm
2012 xuống còn 7,5% so với mức tăng 9,3% năm 2011 và 10,4% năm 2010
Một đầu tàu kinh tế khác tại châu Á là Nhật Bản vẫn tiếp tục phải đối mặt bài toán giảm phát và suy giảm tăng trưởng Chỉ số giá tiêu dùng tại Nhật trong tháng 8 chỉ tăng 0,1% so với tháng trước Tuy nhiên, so cùng 2011, giá cả hàng hóa và dịch
vụ của Nhật vẫn giữ ở mức -0,4%, không đổi so với tháng 7 Đây là tháng thứ 3 liên tiếp nền kinh tế Nhật Bản rơi vào tình trạng giảm phát Bên cạnh đó, theo kết quả khảo sát mới đây, niềm tin của các doanh nghiệp Nhật Bản tiếp tục sụt giảm trong tháng 9, sản lượng công nghiệp cũng giảm liên tiếp hai tháng do cầu nội địa suy yếu, xuất khẩu sụt giảm do bức tranh ảm đạm của kinh tế thế giới, đồng Yên tiếp tục tăng giá so với USD và tranh chấp với Trung Quốc ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động ngoại thương Có thể thấy, hiện tại, đang có rất nhiều yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến khả năng phục hồi của kinh tế Nhật Bản từ nay đến cuối năm
Nợ công của các quốc gia vẫn có xu hướng gia tăng Theo báo cáo "Triển vọng kinh tế toàn cầu" mới đây của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), nợ công của nhiều nền kinh tế phát triển đã vượt 100% GDP, cao nhất kể từ Thế chiến thứ II Hiện, các nước như Nhật Bản, Mỹ và một số nước châu Âu như Italia, Hy Lạp, Ireland, Bồ Đào Nha, nợ công đã vượt 100% GDP Điều này, do tăng trưởng kinh tế chậm lại, thâm hụt ngân sách tăng trong khi chi phí cho vấn đề già hóa dân số tăng IMF cảnh báo, nợ công sẽ tiếp tục tăng nếu chính phủ các nước không giải quyết các yếu kém của hệ thống ngân hàng và khu vực doanh nghiệp vốn làm giảm hiệu quả của các chính sách tiền tệ
Trang 7Gánh nặng nợ công khiến các chính phủ tiếp tục siết chặt chi tiêu công như một xu hướng ngày càng đậm và lan tỏa rộng khắp khu vực Euro, ở Mỹ và cả ở Nhật Bản Theo IMF, chính phủ các nước cần kết hợp đồng thời chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi tài khóa và chi tiêu của chính phủ, như việc giới hạn lãi suất danh nghĩa và thúc đẩy lạm phát sẽ giúp nhanh chóng giảm tỷ lệ nợ công trong khi vẫn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
2.1.2 Gia tăng xu hướng nới lỏng tài chính tiền tệ và áp lực lạm phát:
Năm 2012, chứng kiến hàng loạt động thái chú trọng nhiều hơn vào việc nới lỏng tài chính - tín dụng, hỗ trợ giải tỏa sức ép nợ công và thúc đẩy tăng trưởng, song song với việc thực thi những biện pháp thắt lưng buộc bụng để cắt giảm nợ và thâm hụt ngân sách, trong đó, đáng kể nhất là hai chính sách kích thích kinh tế mới của Mỹ và EU
Tại Mỹ, tăng trưởng kinh tế thấp đã khiến FED tiếp tục phải tung ra gối nới lỏng định lượng lần 3 (QE3) Động thái này cho thấy, sự chuyển biến rõ rệt trong định hướng chính sách tiền tệ (CSTT) của Mỹ, cụ thể là chương trình kích thích kinh tế thông qua việc mua chứng khoán thế chấp sẽ được thực hiện với quy mô 40
tỷ USD/ tháng cho đến khi thị trường lao động được cải thiện một cách bền vững hoặc lạm phát chạm ngưỡng 3% Như vậy, yếu tố quyết định giá trị và thời hạn thực hiện QE3 sẽ tùy thuộc vào tiến triển trên thị trường lao động và diễn biến của chỉ số giá tiêu dùng
Tương tự, đầu tháng 9, ECB đã công bố chương trình mua trái phiếu không giới hạn nhằm giảm bớt áp lực về tài chính cho các nước đang đối mặt với khủng hoảng nợ công như Tây Ban Nha, Ý, Hy Lạp,… Đây là một bước tiến quan trọng của EU trong nỗ lực thoát khỏi vòng xoáy của cuộc khủng hoảng nợ, đồng thời giúp cho thị trường tài chính khu vực bớt căng thẳng Theo đó, ECB có thể mua
Trang 8công khai trái phiếu kỳ hạn từ 1-3 năm với khối lượng không hạn chế với điều kiện các nước liên quan phải chịu kiểm soát nghiêm ngặt.
Ngoài ra, cùng thời gian này, các ngân hàng trung ương ở Anh, Brazil, Hàn Quốc và Trung Quốc cũng liên tiếp tuyên bố duy trì lãi suất ở mức thấp và triển khai các gối hỗ trợ quy mô lớn để kích thích kinh tế mỗi nước trước sức ép suy giảm đang đè nặng lên mỗi nước
Sự cộng huởng liên tiếp những động thái chính sách kể trên, bên cạnh thổi bùng ngọn lửa hy vọng trên thị trường chứng khoán và đầu tự quốc tế, thì cũng lập tức kéo theo các quan ngại về lạm phát và đã khiến giá vàng thế giới tăng liên tục, đỉnh điểm đạt mức trên 1777 USD/ounce, sau suốt nửa đầu năm 2012 tương đối bình lặng Lạm phát của các nước phát triển, trong đó, có Mỹ và EU cũng lần lượt chạm ngưỡng mục tiêu cao nhất đã đề ra
Mở rộng quá trình dịch chuyển các dòng vốn, hoạt động M&A và đàm phản FTA Năm 2012, chứng kiến sự gia tăng khá mạnh mẽ các hoạt động dịch chuyển các dòng vốn quốc tế cả trực tiếp và gián tiếp, các hoạt động M&A quốc tế và các hoạt động đàm phán FTA trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương Các quỹ đầu tư nước ngoài đang tích cực điều chình định hướng đầu tư của mình theo hướng gia tăng nguồn vốn đổ vào các thị trường Đông Nam Ả, để đón bắt cơ hội đầu tư mới
từ sự gia tăng sức tiêu thụ tại khu vực kinh tế, theo nhận định của Reuters, có giá trị
lên đến 2.000 tỷ USD, có nguồn ngân sách và sự phát triển cơ sở hạ tầng và các chính sách quản lý chi tiêu tốt đủ khả năng cạnh tranh với Trung Quốc Đặc biệt, trong bối cành khó khăn khiến thị truờng các quốc gia đều thu hẹp do nguời tiêu dùng thắt chặt chi tiêu, cũng như do sự gia tăng hàng rào bảo hộ kỹ thuật, thì năm
2012, ghi nhận nhiều nỗ lực triển khai các hoạt động và cam kết giữa các nước khu vực APEC, như duy trì các thị trường tự do và thị trường mở, thực hiện cam kết bãi
Trang 9bỏ các biện pháp hạn chế hiện hành, chống các biện pháp bào hộ mậu dịch mới nhằm hỗ trợ quá trình phục hồi kinh tế khu vực cũng như toàn cầu.
2.2 Tình hình kinh tế thế giới 6 tháng đầu năm 2013:
2.2.1 Về tăng trưởng kinh tế thế giới:
Tăng trưởng kinh tế thế giới chậm hơn dự báo do khủng hoảng ở Châu Âu và suy giảm tăng trưởng ở Trung Quốc và Ấn Độ Theo ngân hàng thế giới trong tháng 6/2013, kinh tế toàn cầu sẽ tăng trưởng 2,2% trong năm 2013, thấp hơn mức
dự báo đầu năm là 2,4% và mức 2,3% của năm 2012 Khu vực Euro vẫn đang là khu vực có nhiều dấu hiệu kém lạc quan khi quý I/2013 là quí thứ 6 có mức tăng trưởng âm, với mức tăng trưởng GDP so với quý trước là âm 0,2% và so với cùng
kì năm trước 7,7% trong năm 2013, giảm so với mức dự báo 8,4% vào đầu năm
Ấn Độ cũng chỉ đạt mức tăng trưởng GDP 4,8% trong quý 1/2013, thấp hơn mức 5,3% của cùng kì năm trước và tiếp tục xu hướng suy giảm tốc độ tăng trưởng từ đầu năm 2010 Ấn Độ cũng đang phải nối mặt với tình hình nợ xấu khi theo Morgan Stanley, tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng Ấn Độ đã lên tới 9%, tập trung vào các đối tượng người nông dân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ Mười trong số các tập đoàn gia đình lớn cũng chiếm tới 13% toàn bộ tổng số nợ của hệ thống, đa phần được xếp vào loại nợ đang thực hiện mặc dù trong tình trạng rất yếu kém
Tăng trưởng kinh tế thế giới có sự hỗ trợ của hai nền kinh tế lớn nhất thế giới
là Mỹ và Nhật Bản.Mỹ đang duy trì được tốc độ tăng trưởng khoảng 2% từ đầu
năm 2010, tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 9% trong năm 2011 xuống 7,6% trong tháng 5/2013, chỉ số giá nhà S&P/Case Shiller trong tháng 4/2013 đã tăng 12,1% so cùng
kì năm trước, niềm tin tiêu dùng ở mức cao nhất trong vòng 5 năm qua, chỉ số tín nhiệm tăng từ mức tiêu cực lên ổn định Nhật Bản cũng duy trì được tốc độ tăng
Trang 10trưởng dương từ quý 1/2012 với tỷ lệ thất nghiệp giảm từ mức trên 4,5% đầu năm
2012 xuống còn 4,1% trong tháng 4/2013
Trong nửa đầu năm 2013, để đảm bảo sự phục hồi tăng trưởng và ngăn chặn
sự lên giá tương đối của nội tệ, nhiều ngân hàng trung ương đã cắt giảm lãi suất,
thậm chí xuống mức thấp kỉ lục như ECB (0,5%), Ngân hàng trung ương Ôx-tra-lia (2,75%), Ngân hàng trung ương Nhật Bản (0%) Nhiều khả năng, chính sách nới lỏng tiền tệ của các nước sẽ được duy trì đến hết năm 2013, nhất là Châu Âu và Nhật Bản Nhật Bản thực hiện chính sách đồng Yên yếu và dự kiến tăng gấp đôi cung tiền lên đến 140.000 tỷ Yên nhằm đạt mục tiêu lạm phát 2% vào cuối năm ECB cũng dự kiến giảm lãi suất xuống 0% (hiện nay là 0,5%) và sẵn sàng chi không giới hạn mua trái phiếu để cứu khu vực Euro (trước đó đã chi 524 tỷ euro) FED tuyên bố sẽ xem xét điều chỉnh chương trình mua trái phiếu (hay nới lỏng định lượng) vào cuối năm 2013 và có thể sẽ ngừng hẳn vào giữa năm 2014 nếu kinh tế tiếp tục phục hồi Tuyên bố trên của FED cũng cho thấy nguy cơ đảo chiều dòng vốn đầu tư vào trái phiếu tại các nền kinh tế mới nổi,qua đó sẽ làm USD tăng giá, lãi suất dự báo cũng sẽ tăng Thực tế, lãi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ kì hạn
10 năm đã có xu hướng tăng kể từ tháng 7/2012 (từ 1,4% lên 2,55%vào tháng 6/2013)
2.2.2 Về giá hàng hóa thế giới :
Giá thế giới trong những tháng đầu năm 2013 tiếp tục xu hướng giảm kể từ
đầu năm 2011.Nguyên nhân là tăng trưởng kinh tế của các nước mới nổi (nhất là
Trung Quốc và Ấn Độ) chậm lại đã khiến nhu cầu tiêu thụ lương thực và năng lượng giảm cũng như việcđồng tiền của các nước xuất khẩu giảm giá đã khiến giá
nông sản tính bằng USD giảm Ngân hàng thế giới dự báo trong năm 2013 giá năng lượng sẽ giảm 2% (trong đó giá dầu giảm 2,4%) và giá nông sản giảm 6% so với
năm 2012
Trang 11Chỉ số giá nông sản và năng lượng thế giới
Nguồn: Thị trường hàng hóa (NHTG)
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
NĂM 2012 VÀ 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2013
mức 1.083 USD năm 2011 và mức 831 USD năm 2010 Tỷ lệ xuất khẩu/GDP vượt
qua mốc 75%, là mức cao so với tỷ lệ đã đạt được trong các năm trước
Trang 12Quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao đạt được chủ yếu ở khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng giá trị lên tới 73 tỷ USD (tăng 31%)
so với năm 2011 còn khu vực kinh tế trong nước đạt 42 tỷ USD (tăng 0,9%)
Một số mặt hàng chủ lực đạt kim ngạch xuất khẩu tăng cao so với năm 2011 là: Điện thoại các loại và linh kiện: đạt 12,7 tỷ USD, tăng 101,6%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 7,9 tỷ USD, tăng 67,1%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 5,5 tỷ USD, tăng 29,8%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 4,4 tỷ USD, tăng 31%; cà phê đạt 3,6 tỷ USD, tăng 37,1%
Một số mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch tăng khá là: dầu thô đạt 9,5 tỷ USD, tăng 15%; giày dép đạt 7,0 tỷ USD, tăng 11%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 4,6 tỷ USD, tăng 18,3%; sản phẩm chất dẻo đạt 1,6 tỷ USD, tăng 18%; túi xách, ví, va-li, mũ, ô,
dù đạt 1,6 tỷ USD, tăng 17,9% Rau quả tăng 26%, sắn và sản phẩm từ sắn tăng 38% Thủy sản đạt 6,1 tỷ USD, tăng 2% Chè tăng 14% Lượng gạo xuất khẩu đạt 7,7 triệu tấn, kim ngạch đạt 3,7 tỷ USD; than đá đạt 1,1 tỷ USD, giảm 27,2% về kim ngạch và giảm 16,1% về lượng
Điểm đáng quan tâm trong xuất khẩu năm 2012 là số mặt hàng xuất khẩu đạt trên 5 tỷ USD đã lên tới 7 mặt hàng, tăng 4 mặt hàng so với năm 2011, trong đó có
2 mặt hàng đạt trên 10 tỷ USD, tăng gấp 2 lần năm 2011 là dệt may (gần 15 tỷ USD) và điện thoại và linh kiện (12,7 tỷ USD)
Kim ngạch xuất khẩu trong năm 2012 vẫn giữ được đà tăng ấn tượng 18.3%, bất chấp những khó khăn chung của kinh tế thế giới So với Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước trong khu vực ASEAN như Philippines, Malaysia, Thái Lan, thì động lực tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam trong năm nay vẫn mạnh mẽ và có phần vượt bậc Tuy nhiên, góp phần không nhỏ vào đà tăng này chủ yếu nhờ vào các doanh nghiệp FDI với mức tăng 31.2% Điều này được giải thích là do họ vẫn duy
Trang 13trì được lợi thế cạnh tranh và thị trường, trong khi hàng loạt doanh nghiệp trong nước vẫn đang suy yếu
Trong cấu phần kim ngạch xuất khẩu đáng chú ý là 2 nhóm hàng Điện thoại các loại và linh kiện – Điện tử, máy tính và linh kiện có mức tăng trưởng lần lượt
là 97.7% và 69.1% so với năm 2011 Ngoài ra, nhóm hàng nông nghiệp như Thủy sản, Gạo cũng góp mặt trong 10 nhóm hàng xuất khẩu mạnh nhất trong năm 2012
- Về thị trường xuất khẩu, trong năm 2012, EU vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của nước ta với kim ngạch ước tính đạt 20 tỷ USD, tăng 21,3% so với năm
2011 Tiếp đến là thị trường Mỹ đạt 19 tỷ USD, tăng 17%; ASEAN đạt 17,8 tỷ USD
Top 10 thị trường xuất khẩu
nhiều nhất của Việt Nam 2012
STT Quốc
gia/vùng
lãnh thổ
Giá trị xuất khẩu (tỷ USD)
Trang 14là 10,81% Và giá trị xuất khẩu của 10 thị trường xuất khẩu nhiều nhất đạt 72,1 tỷ USD, chiếm khoảng 63% tổng kim ngạch xuất khẩu.
3.1.2 Tình hình nhập khẩu năm 2012:
Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm 2012 ước đạt 114.3 tỷ USD, tăng 7.1%
so với năm 2011 Một số mặt hàng nhập khẩu chủ yếu có kim ngạch tăng so với năm trước là: máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 16,6 tỷ USD, tăng 3,4%; điện
tử, máy tính và linh kiện đạt 13,1 tỷ USD, tăng 74,4%; vải đạt 7,0 tỷ USD, tăng 3,7%; điện thoại các loại và linh kiện đạt 4,9 tỷ USD, tăng 82,4%; chất dẻo đạt 4,7
tỷ USD, tăng 0,6%; nguyên phụ liệu dệt, may giày, dép đạt 3,2 tỷ USD, tăng 5,5%; hóa chất đạt 2,9 tỷ USD, tăng 3,8%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu đạt 2,3 tỷ USD, tăng 9,2%; sản phẩm hóa chất đạt 2,6 tỷ USD, tăng 3,1%; sản phẩm chất dẻo đạt 2,2 tỷ USD, tăng 23,2%; tân dược đạt 1,8 tỷ USD, tăng 20,8%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 1,6 tỷ USD, tăng 22,5%
Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu giảm so với cùng kỳ năm trước là: xăng dầu (giảm 9,3%), sắt thép (giảm 6,2%), kim loại thường (giảm 3,3%), ô tô (giảm 34,3%), trong đó ô tô nguyên chiếc giảm 43,9%; phân bón (giảm 8,6%); sợi dệt (giảm 10,6%), bông (giảm 17,5%)
Trang 15Sau khi Hiệp định thương mại tự do (FTA) ASEAN - Ấn Độ có hiệu lực vào năm 2010, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Ấn Độ liên tiếp tăng cao, chủ yếu nhờ khối doanh nghiệp có vốn FDI Năm 2012, về xuất khẩu, nhiều mặt hàng của Việt Nam được hưởng thuế từ 0 - 7% khi vào thị trường Ấn Độ, như điện thoại các loại, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, cao su, sắt thép, máy vi tính, sản phẩm điện tử, hoá chất, gỗ và sản phẩm gỗ Xuất khẩu sang Ấn Độ tăng nhanh,
từ 992 triệu USD (năm 2010, tăng hơn 2 lần so với năm 2009), lên 1,55 tỷ USD (năm 2011), tăng 56,5% và năm 2012, ước đạt trên 1,7 tỷ USD Các doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu khá nhiều sản phẩm của Ấn Độ, chủ yếu là những nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, như mực sống, vải, bông, thức ăn gia súc và nguyên liệu, da, sợi,…
Top 10 thị trường nhập khẩu nhiều
nhất của Việt Nam 2012
gia/vùng Giá trị nhập khẩu (tỷ USD)
Trang 16* Như vậy, theo thống kê cho thấy tính chung cả năm 2012, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 114.6 tỷ USD, tăng 18.3% so với năm 2011, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu đạt 114.3 tỷ USD, tăng 7.1% Theo đó, cán cân thương mại cả năm 2012 thặng dư khoảng 0.3 tỷ USD Đây là lần đầu tiên cán cân thương mại thặng dư kể
từ năm 1993 đến nay Biểu đồ bên dưới cho thấy, thâm hụt thương mại sau khi đạt đỉnh với 18.03 tỷ USD trong năm 2008, đã có dấu hiệu thu hẹp dần; và đến năm
2012, cán cân thương mại đã có thặng dư
Trang 17
3.1.3 Những hạn chế, bất cập của xuất nhập khẩu trong năm 2012:
- Về xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu chủ yếu trong năm 2012 vẫn là các mặt hàng gia công như điện thoại và các linh kiện, điện tử, máy tính, máy móc thiết bị, dụng
cụ phụ tùng, phương tiện vận tải và phụ tùng, gỗ Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực có thế mạnh như dệt may, thủy sản lại tăng chậm: dệt may tăng 8,2%, thủy sản tăng 1,8%, giày dép tăng 11%, mây tre tăng 6%, điều tăng 1,5% Riêng mặt hàng gạo tuy tăng 10% về lượng nhưng lại giảm 1,8% về giá (bình quân giảm 43 USD/tấn ), cao su tăng 29% về lượng, nhưng giảm 12% về kim ngạch so với năm 2011,…
- Về nhập khẩu: Các mặt hàng tăng nhanh và có kim ngạch lớn trong năm 2012 là nguyên liệu, phụ liệu để gia công các sản phẩm máy tính, điện thoại di động, phương tiện vận tải Còn các mặt hàng máy móc, thiết bị, phụ tùng chỉ tăng 3,4%
so năm 2011, chưa tương xứng với yêu cầu phát triển công nghiệp chế biến trong nước
- Điểm nghẽn chính trong nhập khẩu năm 2012 là vốn hấp thụ trong sản xuất kinh doanh thấp, hàng hóa ứ đọng, sản phẩm không lưu thông ra thị trường nên các doanh nghiệp không thể mở rộng sản xuất, kinh doanh, không đủ vốn để nhập khẩu vật tư, nguyên liệu Nhiều doanh nghiệp phá sản và ngừng hoạt động, trong khi các doanh nghiệp mới thành lập chưa đủ vốn và công nghệ để đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất kinh doanh
- Về thị trường xuất, nhập khẩu: Tuy Nga, các nước Đông Âu là những thị trường truyền thống, nhưng kim ngạch xuất, nhập khẩu năm 2012 vẫn chưa có chuyển biến
rõ nét Đây là một trong những hạn chế chủ yếu của xuất, nhập khẩu trong năm nay Đối với thị trường mới như Ấn Độ, năm 2012, các doanh nghiệp Việt Nam chưa tận dụng được thị trường nhiều tiềm năng với dân số 1,2 tỷ người, trong khi các doanh
Trang 18nghiệp Ấn Độ lại tỏ ra năng động hơn Hiện có hơn 100 văn phòng đại diện của các doanh nghiệp Ấn Độ tại Việt Nam để kết nối xuất, nhập khẩu hàng
hoá phục vụ các doanh nghiệp FDI của nước này tại nước ta
3.2 CCTM Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2013, “thâm hụt trở lại”
3.2.1 Xuất khẩu hàng hoá trong 6 tháng đầu năm 2013:
Tính chung sáu tháng đầu năm, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 62 tỷ USD, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm trước (thấp hơn mức tăng 23% của cùng kỳ năm 2012), bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 20,9 tỷ USD, tăng 2,2%; khu vực
có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 41,1 tỷ USD, chiếm 66,3% tổng kim ngạch (Cùng kỳ năm 2012 chiếm 61,7 %) và tăng 24,7% Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu sáu tháng đầu năm ước tính đạt 64,8 tỷ USD, tăng 21,2% Điều này cho thấy mức tăng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu sáu tháng đầu năm nay chủ yếu do lượng xuất khẩu tăng Các mặt hàng có đơn giá bình quân giảm so với cùng kỳ chủ yếu là nhóm hàng nông sản và thủy sản, trong đó giá cao
su giảm 19,3%; giá hạt điều giảm 14,8%; giá gạo giảm 12,8%; giá hạt tiêu giảm 10,2%; giá thủy sản giảm 2,9%
Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu sáu tháng đầu năm tăng cao chủ yếu ở khu vực
có vốn đầu tư nước ngoài với các mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng tương ứng của cả nước như: Điện tử, máy tính và linh kiện; điện thoại các loại và linh kiện; giày dép; hàng dệt may Mức tăng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu của khu vực này đóng góp 15,3 điểm phần trăm vào mức tăng chung, trong khi đó khu vực kinh tế trong nước chỉ đóng góp 0,8 điểm phần trăm
Trong các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu, một số mặt hàng có kim ngạch tăng cao so với cùng kỳ năm trước là: Điện thoại các loại và linh kiện đạt 9,9 tỷ USD, tăng 97%; hàng dệt may đạt gần 8 tỷ USD, tăng 16,8%; điện tử, máy tính và linh