BCTC : Báo cáo tài chính CCDC : Công cụ dụng cụ CP : Chi phí DT : Doanh thu GTGT : Giá trị gia tăng GVHB : Giá vốn hàng bán KQKD : Kết quả kinh doanh NTP : Nửa thành phẩm QLDN : Quản lý
Trang 1Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tính hình thực tế của đơn vị thực tập
Tác giả luận văn (Ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Thị Phương Thảo
Trang 3BCTC : Báo cáo tài chính CCDC : Công cụ dụng cụ
CP : Chi phí
DT : Doanh thu GTGT : Giá trị gia tăng GVHB : Giá vốn hàng bán KQKD : Kết quả kinh doanh NTP : Nửa thành phẩm QLDN : Quản lý doanh nghiệp SCT : Sổ chi tiết
SXKD : Sản xuất kinh doanh
TK : Tài khoản TNDN : Thu nhập doanh nghiệp TNHH : Trách nhiệm hữu hạn TSCĐ : Tài sản cố định
XM : Xi măng
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây có sự phát triển mạnh mẽ về
cả chiều rộng và chiều sâu, mở ra nhiều ngành nghề, đa dạng hóa nhiều ngành sản xuất Hơn bao giờ hết, bán hàng và xác định kết quả kinh doanh (KQKD) là vấn
đề thường xuyên được đặt ra đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế mở cửa vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Theo đó, các doanh nghiệp đều được bình đẳng cạnh tranh trong khuôn khổ pháp
lý Để có thể cạnh tranh, các doanh nghiệp phải có phương án kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao nhằm mục tiêu tăng lợi nhuận Một trong những chiến lược mũi nhọn của các doanh nghiệp là tập trung vào khâu bán hàng Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình luân chuyển hàng hoá, giúp doanh nghiệp tạo nguồn thu bù đắp những chi phí bỏ ra, từ đó tạo ra lợi nhuận phục vụ cho quá trình tái sản xuất kinh doanh
Với tư cách là công cụ phục vụ quản lý kinh tế, kế toán đã theo dõi, ghi chép đầy đủ và cung cấp các thông tin kinh tế tài chính hiện thực, có giá trị pháp
lý và độ tin cậy cao giúp doanh nghiệp và các đối tượng liên quan đánh giá đúng đắn tình hình hoạt động của doanh nghiệp, từ đó đưa ra quyết định phù hợp Hiệu quả nhất phải kể đến công tác kế toán bán hàng và xác định KQKD Đây là phần hành chủ yếu trong công tác kế toán của doanh nghiệp và góp phần phục vụ đắc lực cho hoạt động bán hàng của mỗi doanh nghiệp
Sau một thời gian ngắn thực tập ở công ty TNHH MTV Xi măng Vicem Hải Phòng, được sự quan tâm giúp đỡ của các anh chị phòng Kế toán tài chính cùng sự
chỉ dẫn của thầy giáo TS Lưu Đức Tuyên và những kiến thức đã được học ở
trường, em nhận thức được vai trò quan trọng của công tác kế toán bán hàng và xác định KQKD đối với hoạt động và sự phát triển của doanh nghiệp Vì vậy, em
đã đi sâu nghiên cứu và chọn đề tài: “Tổ chức công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH MTV Xi măng Vicem Hải Phòng”
Trang 72 Đối tượng và mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Kế toán bán hàng, xác định kết quả kinh doanh Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu sâu về tổ chức công tác kế toán bán hàng và xác định KQKD, đưa ra những nhận xét tổng quan về các thành tựu đã đạt được
và những tồn tại trong công tác kế toán bán hàng xác định KQKD, từ đó đưa ra những ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và xác định KQKD ở Công ty TNHH MTV Xi măng Vicem Hải Phòng
3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại công ty TNHH MTV Xi măng Vicem Hải Phòng trong tháng 1 năm
2014
4 Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu được tiến hành theo các bước:
- Tham khảo tài liệu từ sách, báo, internet về công tác kế toán bán hàng và xác định KQKD
- Thu thập số liệu từ các chứng từ, sổ sách kế toán của công ty như báo phiếu thu- chi, phiếu nhập kho – xuất kho, hóa đơn bán hàng – mua hàng, sổ cái,
sổ chi tiết các TK liên quan đến phần hành kế toán nghiên cứu
- Dùng phương pháp tổng hợp, xử lý, phân tích những thông tin có được để đưa ra kết quả nghiên cứu
5 Kết cấu của luận văn tốt nghiệp
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về kế toán bán hàng và xác định kết
quả kinh doanh trong doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh
doanh tại công ty TNHH MTV Xi măng Vicem Hải Phòng
Chương 3: Một số nhận xét và đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán bán
hàng và xác định kết quả bán hàng tại công ty TNHH MTV Xi măng Vicem Hải Phòng
Trang 8Do phạm vi của đề tài tương đối rộng, kinh nghiệm thực tế còn hạn chế và thời gian tiếp xúc với công việc chưa được nhiều nên mặc dù đã cố gắng nhưng luận văn của em không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo TS.Lưu Đức Tuyên và các anh chị trong phòng tài chính kế toán của công ty để luận văn tốt nghiệp của em được hoàn thiện
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 9CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG
VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Sự cần thiết phải tổ chức công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh
1.1.1 Một số nôi dung liên quan đến kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp
1.1.1.1 Quá trình bán hàng
Trong nền kinh thế định hướng XHCN, các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh tạo ra các sản phẩm và cung cấp dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của thị trường với mục tiêu là lợi nhuận Để thực hiện mục tiêu đó, doanh nghiệp phải thực hiện được giá trị của sản phẩm, hàng hóa thông qua hoạt động bán hàng
Xét về góc độ kinh tế, bán hàng là việc chuyển quyền sở hữu sản phẩm, hàng hóa gắn với phần lớn lợi ích hoặc rủi ro cho khách hàng đồng thời được khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán Bán hàng là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất - kinh doanh, đây là quá trình chuyển hóa vốn từ hình thái vốn sản phẩm, hàng hóa sang hình thái vốn tiền tệ hoặc vốn trong thanh toán
Để thực hiện được quá trình bán hàng, doanh nghiệp phải phát sinh các khoản chi phí làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ dưới hình thức các khoản tiền đã chi ra, các khoản khấu trừ vào tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ làm giảm vốn chủ sở hữu Đồng thời, doanh nghiệp cũng thu được các khoản doanh thu, thu nhập khác, đó là tổng giá trị các lợi ích kinh tế thu được trong kỳ phát sinh từ các hoạt động góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu
Như vậy, quá trình bán hàng của doanh nghiệp có đặc điểm sau:
- Về đối tượng phục vụ: Người tiêu dùng, bao gồm cá nhân, các đơn vị sản xuất, đơn vị kinh doanh và các cơ quan tổ chức xã hội
Trang 10- Về phương thức bán hàng: Bán buôn, bán lẻ hàng hóa, đại lý, ký gửi, bán trả châm, trả góp
- Về mặt hành vi: Quá trình bán hàng được xem là sự trao đổi mua bán có thỏa thuận Doanh nghiệp đồng ý bán và khách hàng đồng ý mua, đã trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền
- Về bản chất kinh tế: Bán hàng là quá trình thay đổi quyền sở hữu hàng hoá Quyền sở hữu hàng hoá sẽ được chuyển từ người bán sang người mua Khi kết thúc quá trình doanh nghiệp sẽ nhận được một khoản tiền gọi là doanh thu bán hàng Đây là căn cứ để xác định KQKD
1.1.1.2 Kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp
Kết quả kinh doanh (KQKD) là kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường và các hoạt động khác của doanh nghiệp trong một thời
kỳ nhất định (tháng, quý, năm), biểu hiện bằng một số tiền lãi hoặc lỗ
KQKD của doanh nghiệp bao gồm kết quả hoạt động kinh doanh thông thường và kết quả hoạt động khác
KQKD thông thường của doanh nghiệp là kết quả từ những hoạt động tạo
ra doanh thu của doanh nghiệp, bao gồm hoạt động bán hàng, cung cấp dịch vụ và hoạt động tài chính
- KQKD từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ được xác định theo công thức:
vụ
-
Giá vốn của hàng xuất đã bán và CP thuế TNDN
- CPBH và CPQLDN
Trang 11CP hoạt động tài chính
Kết quả hoạt động khác là kết quả được tính bằng chênh lệch giữa thu nhập khác và chi phí khác
1.1.2 Vai trò của quá trình bán hàng và yêu cầu quản lý đối với bán hàng và xác định kết quả kinh doanh
Vai trò của bán hàng
Quá trình bán hàng có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các doanh nghiệp Bán hàng là khâu cuối cùng trong hoạt đông sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nếu thực hiện không tốt khâu bán hàng thì mọi cố gắng của doanh nghiệp trong các giai đoạn trước đều trở thành vô nghĩa Quá trình bán hàng sẽ quyết định đến khả năng tài chính, khả năng thu hồi vốn để tái sản xuất ở doanh nghiệp
Yêu cầu quản lý đối với bán hàng và xác định kết quả kinh doanh
Xuất phát từ vai trò to lớn của bán hàng vì vậy chúng ta cần quản lý công tác bán hàng của doanh nghiệp như sau:
- Doanh nghiệp phải theo dõi các sản phẩm cả về số lượng và chất lượng
Để từ đó có kế hoạch bảo quản và tiêu thụ thành phẩm cho phù hợp
- Doanh nghiệp phải thường xuyên phân tích tình hình thị trường để có những chiến lược marketing phù hợp
-
Các khoản giảm trừ DT
Kết quả hoạt động khác = Thu nhập khác - Chi phí khác
Trang 12- Luôn tìm kiếm và mở rộng thị trường Ngoài ra để thu hút khách hàng thì
DN cũng không ngừng cải tiến sản phẩm của mình
- Doanh nghiệp phải thường xuyên theo dõi tình hình thanh toán của các đơn vị khách hàng để có những chiến lược thu tiền hàng kịp thời
1.1.3 Nhiệm vụ kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh
Để đáp ứng được các yêu cầu quản lý về bán hàng, xác định kết quả và phân phối kết quả của các hoạt động, kế toán phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau đây:
- Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời, chính xác tình hình hiện có và sự biến động của từng loại thành phẩm, hàng hóa theo chỉ tiêu số lượng, chất lượng, chủng loại và giá trị
- Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời, chính xác các khoản doanh thu, các khoản giảm trừ doanh thu và chi phí của từng hoạt động trong doanh nghiệp, đồng thời theo dõi, đôn đốc các khoản phải thu của khách hàng
- Phản ánh và tính toán chính xác kết quả của từng hoạt động, giám sát tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước và tình hình phân phối kết quả hoạt động
- Cung cấp các thông tin kế toán phục vụ cho việc lập BCTC và định kỳ phân tích hoạt động kinh tế liên quan đến quá trình bán hàng, xác định và phân phối kết quả
1.2 Lý luận chung về kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh
1.2.1 Kế toán doanh thu bán hàng và các khoản giảm trừ doanh thu
1.2.1.1 Kế toán doanh thu bán hàng
Khái niệm doanh thu bán hàng
Doanh thu là tổng các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kì hạch toán, phát sinh từ hoạt động SXKD thông thường của doanh nghiệp góp phần làm
tăng vốn chủ sở hữu
Doanh thu thuần được xác định bằng tổng doanh thu sau khi trừ đi các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán và doanh thu hàng đã bán bị trả lại Các loại doanh thu: Doanh thu tùy theo từng loại hình SXKD và bao gồm:
Trang 13- DT bán hàng
- DT cung cấp dịch vụ
- DT từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi tức được chia
Ngoài ra còn các khoản thu nhập khác
Doanh thu bán hàng được xác định khác nhau tùy theo doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp nào Nếu cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế thì doanh thu bán hàng không bao gồm thuế GTGT Nếu doanh nghiệp thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì doanh thu bán hàng bao gồm cả thuế GTGT
Điều kiện ghi nhận doanh thu
Doanh thu bán hàng chỉ được ghi nhận khi thỏa mãn đồng thời 5 điều kiện sau:
a Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền
sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua;
b Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa;
c Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;
d Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng;
e Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng
Chứng từ kế toán:
Các chứng từ thu, chi
Hóa đơn bán hàng thông thường (Mẫu 02- GTGT- 3LL)
Hóa đơn GTGT (Mẫu 01-GTKT-3LL) Đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
Hóa đơn GTGT (Mẫu 02-GTTT) Đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp
Hóa đơn kiêm phiếu xuất kho
Trang 14Phiếu nhập kho (M01-VT), phiếu xuất kho (M02-VT)
Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ (03PXK-3LL)
Phiếu xuất kho hàng gửi đại lí (04 HDL-3LL)
Bảng thanh toán hàng gửi đại lý, kí gửi (01-BH)
Các chứng từ thanh toán: Phiếu thu, séc chuyển khoản, séc thanh toán, ủy nhiệm thu, giấy báo Có của Ngân hàng, bảng sao kê của Ngân hàng
Tài khoản kế toán:
Để kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, kế toán sử dụng:
TK 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Phản ánh doanh thu bán
hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp trong một kỳ hạch toán của hoạt động SXKD từ các giao dịch và nghiệp vụ TK 511 không có số dư cuối kỳ và có 5 TK cấp 2:
- TK 5111: DT bán hàng hóa
- TK 5112: DT bán thành phẩm
- TK 5113: DT cung cấp dịch vụ
- TK 5114: DT trợ cấp, trợ giá
- TK 5117: DT kinh doanh bất động sản đầu tư
TK 512 - Doanh thu nội bộ: Phản ánh doanh thu của số sản phẩm, hàng hóa,
dịch vụ, lao vụ tiêu thụ trong nội bộ giữa các đơn vị trực thuộc trong cùng một công ty, tổng công ty hạch toán toàn ngành TK 512 không có số dư cuối kỳ và có
3 TK cấp 2:
- TK 5121: DT bán hàng hóa
- TK 5122: DT bán thành phẩm
- TK 5123: DT cung cấp dịch vụ
TK 3331 – Thuế GTGT phải nộp: Phản ánh số thuế GTGT đầu ra, số thuế
GTGT của hàng nhập khẩu phải nộp, số thuế GTGT đã được khấu trừ, số thuế GTGT đã nộp và còn phải nộp vào ngân sách nhà nước TK 3331 có 2 tài khoản cấp 3:
Trang 15(1b) Hoa hồng cho khách hàng
(1c) Thuế GTGT được khấu trừ đối với doanh nghiệp nộp thuế theo phương pháp khấu trừ
(2) Kết chuyển thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu
(3) Chiết khấu thương mại,hàng bán bị trả lại, giảm giá hàng bán
(4) Kết chuyển chiết khấu thương mại, hàng bán bị trả laị và giảm giá hàng bán (5) Kết chuyển doanh thu thuần để xác định kết quả
(5)
(2)
(4)
(3) TK333(2,3)
Trang 161.2.1.2 Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu
Khái niệm các khoản giảm trừ doanh thu
Các khoản giảm trừ doanh thu dùng để phản ánh toàn bộ số tiền giảm trừ cho người mua hàng được tính giảm trừ vào doanh thu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Do doanh thu thuần là số chênh lệch giữa tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ với các khoản giảm trừ doanh thu nên các khoản giảm trừ doanh thu là
cơ sở để tính doanh thu thuần và xác định KQKD trong kỳ của doanh nghiệp Các khoản được phép ghi giảm doanh thu bao gồm:
- Chiết khấu thương mại: Là khoản tiền chênh lệch giá bán nhỏ hơn giá niêm yết doanh nghiệp đã giảm trừ cho người mua hàng do việc người mua hàng
đã mua sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ với khối lượng lớn theo thỏa thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế mua bán hoặc các cam kết mua, bán hàng
- Doanh thu hàng đã bán bị trả lại: Là số sản phẩm hàng hóa, dịch vụ doanh nghiệp đã xác định tiêu thụ, đã ghi nhận doanh thu nhưng bị khách hàng trả lại do
vi phạm các điều kiện cam kết trong hợp đồng kinh tế hoặc theo chính sách bảo hành, như hàng kém phẩm chất, sai quy cách, chủng loại
- Giảm giá hàng bán: Là khoản doanh nghiệp (bên bán) giảm trừ cho bên mua hàng trong trường hợp đặc biệt vì lý do hàng bán bị kém phẩm chất, không đúng quy cách, hoặc không đúng thời hạn đã ghi trong hợp đồng
- Một số khoản thuế: Thuế GTGT phải nộp theo phương pháp trực tiếp, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu
Chứng từ kế toán
- Hóa đơn GTGT (mẫu 01- GTKT- 3LL)
- Hóa đơn bán hàng thông thường (mẫu 02- GTGT- 3LL)
- Bảng thanh toán hàng đại lí, ký gửi (mẫu 01- BH)
Trang 17- Các chứng từ thanh toán (phiếu thu, séc chuyển khoản, séc thanh toán, ủy nhiệm thu, giấy báo có của ngân hàng )
- Chứng từ kế toán liên quan khác như phiếu nhập kho hàng trả lại…
Tài khoản kế toán
TK 521 - Chiết khấu thương mại: Phản ánh số chiết khấu thương mại mà DN
đã giảm trừ, hoặc đã thanh toán cho người mua hàng do việc người mua hàng, dịch vụ với khối lượng lớn và theo thỏa thuận bên bán sẽ dành cho bên mua một khoản chiết khấu thương mại TK 521 không có số dư cuối kỳ và có 3 TK cấp 2:
- TK 5211 : Chiết khấu hàng hóa
- TK 5212 : Chiết khấu thành phẩm
- TK 5213 : Chiết khấu dịch vụ
TK 531 - Hàng bán bị trả lại: Phản ánh doanh thu của số thành phẩm, hàng hóa
đã tiêu thụ bị khách hàng trả lại do lỗi của DN Tài khoản 531 không có số dư cuối
kỳ
TK 532 – Giảm giá hàng bán: Phản ánh khoản giảm giá hàng bán thực tế
phát sinh và việc xử lý khoản giảm giá hàng bán trong kỳ kế toán Tài khoản 532 không có số dư cuối kỳ
Và các tài khoản TK 3331, 3332, 3333, 111, 112, 131,
Trang 18Trình tự kế toán
Biểu 1.2 Trình tự kế toán các khoản giảm trừ DT
1.2.2 Kế toán giá vốn hàng xuất bán
Khái niệm giá vốn hàng bán
Trị giá vốn hàng bán là toàn bộ các chi phí liên quan đến quá trình bán hàng, gồm có trị giá vốn của hàng xuất đã bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý DN phân bổ cho hàng bán ra trong kỳ Việc xác định trị giá vốn hàng bán là cơ sở để
tính kết quả hoạt động kinh doanh
Các phương pháp xác định trị giá vốn hàng bán
Trong các doanh nghiệp sản xuất hiện nay có bốn phương pháp xác định trị
giá vốn của hàng xuất bán:
Phương pháp giá đơn vị bình quân (Phương pháp giá đơn vị bình quân cả
Trang 19Theo phương pháp này, trong tháng hàng xuất kho chưa được ghi giá vốn vào sổ Đến cuối tháng, sau khi đã tính toán mới tiến hành ghi sổ Giá hàng hóa xuất kho được tính trên cơ sở giá bình quân cho cả tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ Công thức tính:
Trị giá vốn Số lượng Đơn giá thực tế hàng = hàng hoá x bình quân hoá xuất kho xuất kho gia quyền Trong đó:
là đơn giá bình quân liên hoàn hay đơn giá bình quân di động
Phương pháp giá thực tế đích danh:
Theo phương pháp này giá thực tế hàng xuất kho tiêu thụ căn cứ vào đơn giá thực tế của từng lô hàng từng lần nhập, tức là xuất lô nào thì tính giá trị của lô đó Phương pháp này được áp dụng cho các doanh nghiệp có ít chủng loại hàng hoá
Phương pháp nhập trước- xuất trước (FIFO):
Theo phương pháp này, giả thiết số hàng nào nhập kho trước thì xuất kho trước và lấy trị giá mua thực tế của số hàng đó Phương pháp thích hợp cho từng trường hợp giá cả ổn định hoặc có xu hướng giảm
Phương pháp nhập sau- xuất trước (LIFO):
Trang 20Theo phương pháp này, giả thiết số hàng nào nhập kho sau thì xuất trước và lấy trị giá mua thực tế của số hàng đó để tính Thích hợp trong trường hợp lạm phát
Chứng từ kế toán: Phiếu xuất kho, phiếu nhập kho, phiếu xuất kho kiêm
vận chuyển nội bộ, hóa đơn bán hàng thông thường – Hóa đơn GTGT, bảng kê
bán lẻ hàng hóa,biên bản xử lý hàng thiếu hụt, SCT bán hàng
Tài khoản kế toán
TK 632 - Giá vốn hàng bán: phản ánh trị giá vốn của hàng hoá dịch vụ đã bán (được chấp nhận thanh toán hoặc đã thanh toán) trong kỳ
Ngoài ra, còn sử dụng một số tài khoản liên quan như TK 156, TK 157, TK
611, TK 911,
Trình tự kế toán Biểu 1.3a: Trình tự KT giá vốn hàng xuất bán theo phương pháp kiểm kê thường xuyên
Giá trị hàng bán trong kỳ Giá trị hàng bán bị trả lại
Thuế GTGT đầu vào
Phân bổ chi phí mua hàng Chi phí mua hàng của
Hàng bán bị trả lại
Kết chuyển giá vốn để xác định kết quả
TK 911
TK 133
Trang 21Biểu 1.3b: Trình tự KT giá vốn hàng xuất bán theo phương pháp kiểm kê
Trị giá hàng mua,chi K/c trị giá hàng, chi
phí mua hàng trong kỳ phí mua hàng cuối kỳ
Theo phương pháp này, cuối kỳ kế toán kiểm kê xác định hàng hoá tồn kho
và xác định giá vốn hàng bán theo công thức sau:
+
Trị giá hàng mua vào trong kỳ
-
Trị giá hàng tồn kho, gửi bán cuối kỳ
1.2.3 Kế toán chi phí bán hàng và chi phí QLDN
1.2.3.1 Kế toán chi phí bán hàng
Nội dung chi phí bán hàng
Chi phí bán hàng là toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến quá trình bán sản phẩm, hàng hóa và cung cấp dịch vụ, bao gồm các chi phí chủ yếu sau:
- Chi phí nhân viên bán hàng: là toàn bộ các khoản tiền lương phải trả cho nhân viên bán hàng, nhân viên, đóng gói, bảo quản sản phẩm, hàng hóa, vận chuyển đi tiêu thụ và các khoản trích theo lương
Trang 22- Chi phí vật liệu, bao bì: là các khoản chi phí về vật liệu, bao bì để đóng gói, bảo quản sản phẩm, hàng hóa, vật liệu dùng sửa chữa TSCĐ dùng trong quá trình bán hàng, nhiên liệu cho vận chuyển sản phẩm, hàng hóa
- Chi phí dụng cụ đồ dùng: là chi phí về công cụ, dụng cụ, đồ dùng đo lường, tính toán, làm việc ở khâu bán hàng và cung cấp dịch vụ
- Chi phí khấu hao TSCĐ để phục vụ cho quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa và cung cấp dịch vụ như nhà kho, cửa hàng, phương tiện vận chuyển, bốc dỡ
- Chi phí bảo hành sản phẩm: là các khoản chi phí bỏ ra để sửa chữa, bảo hành sản phẩm, hàng hóa trong thời gian bảo hành
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: là các khoản chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ cho quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ như:: chi phí thuê tài sản, kho, bến bãi, bốc dỡ vận chuyển, chi phí điện nước
- Chi phí bằng tiền khác: là các khoản chi phí bằng tiền phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa và cung cấp dịch vụ nằm ngoài các chi phí
kể trên như: chi phí tiếp khách, hội nghị khách hàng, chi phí quảng cáo giới thiệu sản phẩm, hàng hóa
Chứng từ kế toán
- Bảng thanh toán tiền lương, bảng chấm công
- Bảng trích khấu hao TSCĐ, Hoá đơn GTGT hay hoá đơn đặc thù
- Phiếu xuất kho, bảng phân bổ vật liệu, dụng cụ
- Phiếu chi, giấy báo nợ của ngân hàng
Tài khoản kế toán
TK 641 – Chi phí bán hàng được sử dụng để tập hợp và kết chuyển chi phí
bán hàng thực tế phát sinh trong kỳ để xác định KQKD TK 641 này không có số
dư và có 7 TK cấp 2
- TK 6411: CP nhân viên
Trang 231.2.3.2 Kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp
Nội dung chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí quản lý doanh nghiệp (QLDN) là toàn bộ các chi phí liên quan đến hoạt động quản lý SXKD, quản lý hành chính, và một số khoản khác có tính chất chung toàn doanh nghiệp
Theo quy định của chế độ hiện hành, chi phí QLDN bao gồm:
- Chi phí nhân viên quản lý: gồm tiền lương, phụ cấp phải trả cho ban giám đốc, nhân viên các phòng ban của doanh nghiệp và các khoản trích bảo hiểm xã hội, BHYT, KPCĐ, BHTN trên tiền lương nhân viên quản lý theo tỷ lệ quy định
- Chi phí vật liệu quản lý: trị giá thực tế các loại vật liệu, nhiên liệu xuất dùng cho hoạt động quản lý của ban giám đốc và các phòng ban nghiệp vụ của doanh nghiệp, cho việc sửa chữa TSCĐ dùng chung của doanh nghiệp
- Chi phí đồ dùng văn phòng: chi phí về dụng cụ, đồ dùng văn phòng cho công tác quản lý chung của doanh nghiệp
- Chi phí khấu hao TSCĐ: khấu hao của những TSCĐ dùng chung cho doanh nghiệp như văn phòng làm việc, kho tàng, vật kiến trúc, phương tiện truyền dẫn
- Thuế, phí và lệ phí: các khoản thuế như thuế nhà đất, thuế môn bài và các khoản phí, lệ phí giao thông, cầu phà
- Chi phí dự phòng: khoản trích lập dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng phải trả tính vào chi phí sản xuất kinh doanh
Trang 24- Chi phí dịch vụ mua ngoài: các khoản chi về dịch vụ mua ngoài phục
vụ chung toàn doanh nghiệp như: tiền điện, nước, thuê sửa chữa TSCĐ; tiền mua
và sử dụng các tài liệu kỹ thuật, bằng phát minh sáng chế phân bổ dần; chi phí trả cho nhà thầu phụ
- Chi phí bằng tiền khác: các khoản chi phí bằng tiền ngoài các khoản đã
kể trên như chi hội nghị, tiếp khách, chi công tác phí, chi đào tạo cán bộ và các khoản chi khác
Chứng từ kế toán
- Bảng thanh toán tiền lương
- Bảng tính trích khấu hao TSCĐ
- Phiếu xuất kho
- Hoá đơn giá tri gia tăng
- Bảng kê nộp thuế
- Phiếu chi, giấy báo của ngân hàng
Tài khoản kế toán
TK 642 –Chi phí QLDN được sử dụng để tập hợp và kết chuyển các chi phí
quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và chi phí khác liên quan đến hoạt động
chung của toàn doanh nghiệp TK 642 này không có số dư và có 8 TK cấp 2
- TK 6421: CP nhân viên quản lý
Trang 25Trình tự kế toán
Biểu 1.4 : Trình tự kế toán chi phí bán hàng và chi phí QLDN
1.2.4 Kế toán chi phí và doanh thu hoạt động tài chính
1.2.4.1 Kế toán doanh thu hoạt động tài chính
Khái niệm doanh thu hoạt động tài chính
Doanh thu hoạt động tài chính là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu đƣợc từ hoạt động tài chính hoặc kinh doanh về vốn trong kỳ kế toán
(5) Trích dự phòng nợ phải thu khó đòi
(6) Chi phí dịch vụ, chi phí khác cho BH, QLDN
TK 133
(7) Các khoản giảm chi phí BH, QLDN
(8) Kết chuyển để xác định kết quả hoạt động SXKD
Trang 26- Phiếu thu
- Phiếu kế toán
- Giấy báo Có
Tài khoản kế toán
TK 515 – Doanh thu hoạt động tài chính: Dùng để phản ánh các khoản DT
từ hoạt động tài chính của DN
1.2.4.2 Kế toán chi phí hoạt động tài chính
Khái niệm chi phí hoạt động tài chính
Chi phí hoạt động tài chính là những chi phí liên quan đến các hoạt động về vốn, các hoạt động đầu tƣ tài chính và các nghiệp vụ mang tính chất tài chính của doanh nghiệp
Chứng từ kế toán
- Phiếu chi
- Phiếu kế toán
Tài khoản kế toán
TK 635 – Chi phí tài chính: Dùng để phản ánh các khoản CP hoạt động tài
chính của DN
Ngoài ra, kế toán còn sử dụng các tài khoản liên quan: TK 111, 112, 131,
Trang 27Trình tự kế toán
Biểu 1.5: Trình tự kế toán chi phí và doanh thu hoạt động tài chính
1.2.5 Kế toán các khoản chi phí và thu nhập khác
1.2.5.1 Kế toán thu nhập khác
Khái niệm thu nhập khác
Thu nhập khác là các khoản thu nhập không phải là doanh thu của doanh nghiệp Đây là các khoản thu nhập được tạo ra từ các hoạt động khác ngoài hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp
Chứng từ kế toán
- Phiếu thu
- Phiếu kế toán
Tài khoản kế toán
TK 711 - Thu nhập khác: Tài khoản này phản ánh các khoản thu nhập khác
của doanh nghiệp
TK 133
Thuế GTGT được khấu trừ (nếu có)
Thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ (nếu có)
Trang 28Chi phí khác là các khoản chi phí của các hoạt động ngoài hoạt động SXKD tạo
ra doanh thu của doanh nghiệp Đây là những khoản lỗ do các sự kiện hay các nghiệp
vụ khác biệt với hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp
Chứng từ kế toán
- Phiếu chi
- Phiếu kế toán
Tài khoản kế toán
TK 811 - Chi phí khác: Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản chi phí
khác của doanh nghiệp
Ngoài ra kế toán còn sử dụng các TK liên quan khác như: TK 111, 112, 152, 153,
Trình tự kế toán
Biểu 1.6: Trình tự kế toán chi phí, thu nhập khác
1.2.6 Kế toán xác định kết quả kinh doanh
Khái niệm kết quả kinh doanh
Kết quả kinh doanh là kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường và các hoạt động khác của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất
CP khác phát sinh trong
kỳ
TK 133
K/c để xác định KQKD
K/c để xác định KQKD
TK 33311
Thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ (nếu có)
Trang 29Chứng từ kế toán
- Phiếu kế toán
Tài khoản kế toán
Kế toán xác định kết quả kinh doanh sử dụng các tài khoản chủ yếu sau:
TK 911 – Xác định kết quả kinh doanh: Dùng để xác định kết quả kinh doanh
trong doanh nghiệp
TK 421 – Lợi nhuận chưa phân phối: Dùng để phản ánh kết quả hoạt động
kinh doanh và tình hình phân phối, xử lý kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
TK 421 có 2 TK cấp 2
- TK 4211 – Lợi nhuận năm trước
- TK 4212 – Lợi nhuận năm nay
Ngoài ra, kế toán còn sử dụng các tài khoản liên quan: TK 511, 632, 641,
642, 711, 811…
Trang 30Trình tự kế toán
Biểu 1.7: Trình tự kế toán xác định kết quả kinh doanh
1.2.7 Hệ thống sổ kế toán sử dụng trong kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh
doanh
Tùy thuộc vào hình thức kế toán doanh nghiệp áp dụng mà kế toán bán hàng
và xác định kết quả bán hàng sử dụng các sổ kế toán thích hợp Theo chế độ kế
toán hiện hành, có năm hình thức tổ chức sổ kế toán sau:
Hình thức kế toán Nhật ký chung: Trong hình thức này, hệ thống sổ kế toán
Trang 31+ Các sổ, thẻ kế toán chi tiết liên quan nhƣ SCT bán hàng, SCT phải thu của khách hàng, SCT chi phí bán hàng, chi phí QLDN…
Hình thức kế toán Nhật ký - Sổ Cái: hệ thống sổ kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng bao gồm:
- Các sổ, thẻ kế toán chi tiết: nhƣ SCT TSCĐ, vật tƣ, hàng hóa
Hình thức kế toán trên máy vi tính: Phần mềm kế toán đƣợc thiết kế theo Hình thức kế toán nào sẽ có các loại sổ của hình thức kế toán đó nhƣng không hoàn toàn giống mẫu sổ kế toán ghi bằng tay
1.3 Tổ chức kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong điều kiện ứng dụng máy vi tính
1.3.1 Nguyên tắc tổ chức kế toán trong điều kiện ứng dụng tin học
Hiện nay, việc doanh nghiệp đƣa phần mềm kế toán vào sử dụng giúp giảm đƣợc khối lƣợng công việc, tiết kiệm đƣợc thời gian và chi phí, góp phần nâng cao
Trang 32hiệu quả công việc Tổ chức công tác kế toán trong điều kiện sử dụng máy vi tính hay thủ công cũng đều phải đáp ứng các yêu cầu kế toán là: trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời và dễ hiểu và có thể so sánh được nên để đáp ứng các yêu cầu trên, các chương trình kế toán trên máy khi thiết kế cần phải quán triệt các nguyên tắc cơ bản sau:
- Có đầy đủ các sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết cần thiết để đáp ứng yêu cầu kế toán theo quy định Các sổ kế toán tổng hợp phải có đầy đủ các yếu tố theo quy định của Chế độ sổ kế toán
- Cần phải ghi nhận thông tin về toàn bộ hoạt động KT - TC phát sinh của doanh nghiệp Muốn vậy phải giải quyết tốt mối quan hệ ghi nhận thông tin theo trình tự thời gian với việc phân loại và ghi nhận thông tin theo hệ thống các nghiệp vụ KT - TC đã phát sinh, không được trùng lặp hoặc bỏ sót
- Chương trình kế toán phải đảm bảo mối quan hệ giữa việc ghi chép, đối chiếu giữa kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết theo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp
- Chương trình kế toán máy phải đảm bảo liên kết đầy đủ các phần hành kế toán, đảm bảo tính đồng bộ và hoàn chỉnh, giúp cho việc nối mạng máy tính, tạo điều kiện phân công lao động trong bộ máy kế toán
- Thực hiện đúng quy định về mở sổ, ghi sổ, khóa sổ kế toán theo quy định của Luật kế toán, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật kế toán và quy định tại Chế độ kế toán này
- Đảm bảo lưu trữ chứng từ, dữ liệu, số liệu kế toán, báo cáo kế toán theo đúng nguyên tắc, chế độ và quy định hiện hành
- Chương trình phải có hệ thống quản lý mật khẩu, chống việc thâm nhập, khai thác, sử dụng số liệu, tài liệu trên máy của những người không có trách nhiệm Đây cũng là một quy chế trong hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp để đảm bảo an toàn cho các thông tin, tránh bị lạm dụng các thông tin
1.3.2 Nội dung tổ chức công tác kế toán trong điều kiện kế toán máy
Để đáp ứng yêu cầu sản xuất, quảy lý sản xuất các doanh nghiệp hầu hết
Trang 33đã ứng dụng phần mềm kế toán máy trong công tác kế toán Đặc trưng cơ bản của Hình thức kế toán trên máy vi tính là công việc kế toán được thực hiện theo một chương trình phần mềm kế toán trên máy vi tính Phần mềm kế toán được thiết kế theo nguyên tắc của một trong bốn hình thức kế toán hoặc kết hợp cả bốn hình thức kế toán Phần mềm kế toán không hiển thị đầy đủ quy trình ghi sổ kế toán, nhưng phải in được đầy đủ sổ kế toán và báo cáo tài chính theo quy định Phần mềm kế toán được thiết kế theo Hình thức kế toán nào sẽ có các loại sổ của hình thức kế toán đó nhưng không hoàn toàn giống mẫu sổ kế toán ghi bằng tay Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán trên máy vi tính:
(1) Hàng ngày, kế toán căn cứ vào chứng từ kế toán hoặc Bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại đã được kiểm tra, được dùng làm căn cứ ghi sổ, xác định tài khoản ghi Nợ, tài khoản ghi Có để nhập dữ liệu vào máy vi tính theo các bảng, biểu được thiết kế sẵn trên phần mềm kế toán
Theo quy trình của phần mềm kế toán, các thông tin được tự động nhập vào
sổ kế toán tổng hợp (Sổ Cái hoặc Nhật ký- Sổ Cái ) và các sổ, thẻ kế toán chi tiết liên quan
(2) Cuối tháng (hoặc bất kỳ vào thời điểm cần thiết nào), kế toán thực hiện các thao tác khoá sổ (cộng sổ) và lập báo cáo tài chính Việc đối chiếu giữa số liệu tổng hợp với số liệu chi tiết được thực hiện tự động và luôn đảm bảo chính xác, trung thực theo thông tin đã được nhập trong kỳ Người làm kế toán có thể kiểm tra, đối chiếu số liệu giữa sổ kế toán với báo cáo tài chính sau khi đã in ra giấy
Thực hiện các thao tác để in báo cáo tài chính theo quy định
Cuối tháng, cuối năm sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết được in ra giấy, đóng thành quyển và thực hiện các thủ tục pháp lý theo quy định về sổ kế toán ghi bằng tay
Trang 34Ghi chú:
Nhập số liệu hàng ngày
In sổ, báo cáo cuối tháng, cuối năm
Đối chiếu, kiểm tra
- Báo cáo tài chính
- Báo cáo kế toán quản trị
PHẦN MỀM
KẾ TOÁN
MÁY VI TÍNH
Trang 35CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TẠI CÔNG TY TNHH MTV XI MĂNG
VICEM HẢI PHÕNG 2.1 Những nét khái quát chung về công ty TNHH MTV Xi măng Vicem Hải Phòng
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Tên gọi đầy đủ: Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Xi măng
Vicem Hải Phòng Tên gọi tắt: HPCC (Haiphong Cement Company)
Giấy phép ĐKKD: Số 108194 ngày 15/09/1993
Mã số thuế: 0200155219
Trụ sở chính: Thôn Tràng Kênh - Thị trấn Minh Đức - Huyện Thủy
Nguyên - Thành phố Hải Phòng Điện thoại: 0313 875 359
Trang 36Xi măng với đủ chủng loại mang nhãn hiệu “Con rồng xanh” không chỉ góp phần trong công cuộc xây dựng miền Bắc, giải phóng miền Nam bảo vệ Tổ Quốc mà còn có mặt trên thị trường các nước trong khu vực Đông Nam Á
Đến năm 1986, trong bối cảnh chung của nền kinh tế đất nước, Nhà máy xi măng Hải Phòng cũng đứng trước nhiều khó khăn: Sản lượng xi măng tiêu thụ rất thấp trong khi lượng cán bộ công nhân viên chức lại đông xấp xỉ 5000 người Ban lãnh đạo nhà máy tìm mọi biện pháp để khắc phục thậm chí phải tính đến phương
án trả lương cho công nhân bằng xi măng Tháng 8/1987, Bộ Xây Dựng có quyết định số 847/QĐ/BXD về việc tách Nhà máy xi măng Hải Phòng thành ba đơn vị: Nhà máy xi măng Hải Phòng, Xí nghiệp đá Tràng Kênh, Xí nghiệp cơ khí thiết bị
xi măng Qua một thời gian chia nhỏ hoạt động không hiệu quả, tháng 10/1990, Xí nghiệp cơ khí thiết bị xi măng lại được sáp nhập vào Nhà máy xi măng Hải Phòng
Theo Quyết định số 335/BXD-TCLĐ ngày 09/08/1993 của Bộ trưởng Bộ xây dựng, Công ty Xi măng Hải Phòng được thành lập trên cơ sở hợp nhất hai đơn
vị là Nhà máy Xi măng Hải Phòng và Công ty kinh doanh Xi măng Hải Phòng, được cấp giấy phép đăng ký kinh doanh số 108194 ngày 15/9/1993 của Trọng tài Kinh tế Nhà nước thành phố Hải Phòng, với số vốn điều lệ là 79.611.593.000 đồng, đặt trụ sở tại số 1 - Đường Hà Nội - Phường Thượng Lý - Quận Hồng Bàng
- Thành phố Hải Phòng Quý II năm 1995, Bộ Xây Dựng ra quyết định số 150/BXD-TCLĐ cho phép nhập Xí nghiệp đá Tràng Kênh vào công ty Trong quá trình hoạt động, Công ty xi măng Hải Phòng đã cung cấp xi măng phục vụ cho các công trình lớn: giếng dầu, thuỷ điện Thác Bà, sông Đà, Lăng và Bảo tàng Hồ Chí Minh, cầu Thăng Long, sân bay, các công trình quân sự ở quần đảo Trường Sa, các công trình ở vùng ven biển chịu nước mặn, đất nhiễm phèn Sau nhiều năm khai thác, Nhà máy xi măng Hải Phòng với dây chuyền thiết bị, công nghệ lạc hậu, cùng với hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại đã gây ô nhiễm môi trường cho thành phố Hải Phòng Do đó, ngày 29/11/1997, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 1019/TT cho phép Công ty Xi măng Hải Phòng triển khai thực hiện
Dự án xây dựng nhà máy Xi măng Hải Phòng mới tại thôn Tràng Kênh, thị trấn
Trang 37Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng với công suất thiết kế 1,4 triệu tấn/năm, tổng mức đầu tư 208,68 triệu USD Nhà máy mới đã hoàn thành xây dựng vào cuối tháng 11/2005
Ngày 12/5/2006, hệ thống nghiền đóng bao của nhà máy mới hoàn thành đưa vào sản xuất, dây chuyền nhà máy mới đi vào hoạt động đồng bộ Ngày 31/5/2006, hệ thống nghiền xi măng Nhà máy cũ ngừng hoạt động Theo thông báo số 866/XMHP-KH ngày 27/5/2006, Công ty Xi măng Hải Phòng quyết định chấm dứt toàn bộ hoạt động sản xuất tại Nhà máy cũ
Với công lao cống hiến đáng kể cho công cuộc xây dựng đất nước trong suốt hơn 115 năm, cán bộ công nhân viên Xi măng Hải Phòng đã được Đảng và Nhà nước trao tặng trên 80 huân, huy chương các loại, trong đó có Huân chương lao động hạng nhất, Danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Huân chương chiến công hạng I, II, III Và đặc biệt do có công lao to lớn, có nhiều thành tích xuất sắc đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc, năm 2009 Công ty Xi măng Hải Phòng đã vinh dự được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh cao quý
Theo Nghị định 25/2010/NĐ-CP ngày 19/3/2010 của Chính phủ về chuyển đổi Công ty nhà nước thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và tổ chức quản lý Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ
sở hữu, ngày 01/7/2011 Công ty Xi măng Hải Phòng được Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hải Phòng cho phép chuyển đổi thành Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Xi măng Vicem Hải Phòng
Trang 38Biểu 2.1 Khái quát kết quả hoạt động kinh doanh tại công ty TNHH MTV
Xi măng Vicem Hải Phòng
Doanh thu thuần 1.253.767.469.691 1.412.020.571.091 1.526.575.678.017 Lợi nhuận gộp 327.650.982.355 393.135.367.489 358.167.170.170 Doanh thu HĐTC 8.143.561.711 5.164.380.647 4.344.283.821 Lợi nhuận thuần từ
HĐKD
103.676.717.580 146.806.075.640 127.725.331.827
Thu nhập khác 5.523.789.429 7.114.475.708 7.971.544.564 Tổng lợi nhuận kế
(Nguồn: Công ty TNHH MTV Xi măng Vicem Hải Phòng)
Nhận xét: Từ bảng trên, ta có thể thấy nhìn chung hoạt động kinh doanh của
công ty khá ổn định: hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của công ty có doanh thu chiếm tỉ trọng phần lớn so với doanh thu từ hoạt động khác và năm sau đều có doanh thu cao hơn năm trước Mặc dù trong những năm gần đây tốc độ xây dựng ở Việt Nam rất chậm nhưng số lượng xi măng bán ra năm sau vẫn cao hơn năm trước Điều này chứng tỏ công ty đã có vị thế và chiếm được thị phần trên thị trường Năm 2013 là 1 năm rất khó khăn đối với nền kinh tế nói chung và đặc biệt với ngành xây dựng, trong đó có ngành sản xuất xi măng Công ty thực sự phải đối mặt với một số vấn đề khó khăn mới nảy sinh, đối tượng khách hàng thực sự
đa dạng, yêu cầu về chất lượng sản phẩm ngày càng cao, phương thức thanh toán
và cơ chế bán hàng đã thực sự cởi mở Tuy thế nhìn vào bảng kết quả trên ta đã thấy Công ty xi măng Vicem Hải Phòng đã nỗ lực như thế nào trong việc sản xuất
kinh doanh của mình, công ty đã có những biện pháp khắc phục nhằm thỏa mãn được nhu cầu thị trường, giữ vững và ổn định chất lượng sản phẩm Chính vì điều
Trang 39này mà sản phẩm Xi măng của công ty vẫn được khách hàng quan tâm và tin dùng với số lượng ngày một tăng, doanh thu vẫn tăng hơn năm trước và đạt được số lợi nhuận đáng kể
Nhìn lại một năm qua với thách thức, cơ hội đan xen nhau, với nguồn lực còn hạn chế, song với tinh thần lao động sáng tạo, nhiệt tình của tập thể cán bộ công nhân viên công ty dưới sự chỉ đạo sáng suốt của Ban lãnh đạo đã giúp công
ty chủ động trong sản xuất kinh doanh, hoàn thành được các chỉ tiêu kinh tế do công ty đề ra
2.1.2 Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty
2.1.2.1 Đặc điểm ngành nghề của Công ty
Các ngành nghề kinh doanh chủ yếu của công ty bao gồm
- Công nghiệp xi măng: Khai thác nguyên liệu và phụ gia, sản xuất và kinh doanh xi măng, clinker, và bao bì xi măng;
- Cơ khí: Chế tạo phụ tùng, thiết bị cho các nhà máy xi măng và vật liệu xây dựng, sửa chữa và lắp ráp, lắp đặt thiết bị cơ khí, thiết bị điện, thiết bị mỏ;
- Sản xuất, kinh doanh các sản phẩm vật liệu xây dựng như vật liệu chịu lửa, thạch cao, các loại sản phẩm từ xi măng;
- Các dịch vụ: Tư vấn đầu tư và xây dựng, nghiên cứu khoa học ứng dụng
và chuyển giao công nghệ, đào tạo, xuất nhập khẩu, cung ứng vật tư, vận tải đường bộ, đường sông, đường biển;
- Xây dựng, quản lý, khai thác cảng biển, cảng sông, đường bộ cao tốc, đường biển, đường sắt Đầu tư, kinh doanh cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp và đô thị, kinh doanh bất động sản, cho thuê nhà xưởng, kho tàng, nhà ở, văn phòng, khách sạn, nhà hàng và các dịch vụ công cộng khác, kinh doanh, đầu tư chứng khoán, hoạt động thể thao và quảng cáo
2.1.2.2 Chức năng và nhiệm vụ của công ty
Trang 40Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, hoạt động sản xuất kinh doanh đang phát triển với tốc độ ngày càng cao, thị trường bất động sản, xây dựng ngày càng đa dạng và phong phú Cùng với việc mở rộng và phát triển sản xuất nhu cầu về xi măng cho các công trình xây dựng không ngừng gia tăng Công ty TNHH MTV Xi măng Vicem Hải Phòng ra đời có nhiệm vụ:
- Sản xuất và kinh doanh theo kế hoạch được giao một số chủng loại sản phẩm chủ yếu như Clinker, xi măng thông dụng (PC30, PC40), xi măng Portland hỗn hợp (PCB30), xi măng đặc biệt (xi măng Portland bền Sulfat, xi măng Portland ít tỏa nhiệt) Tất cả đều mang biểu tượng con rồng xanh đạt tiêu chuẩn Việt Nam
- Cung ứng xi măng tại các thị trường truyền thống như tỉnh Thái Bình, Lào Cai, Yên Bái, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang và thành phố Hải Phòng
2.1.2.3 Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất của công ty
Quy trình sản xuất, bao gồm 05 công đoạn chính sau:
- Công đoạn chuẩn bị nguyên liệu: Các nguyên liệu chính dùng để sản xuất xi măng là đá vôi, đá sét Ngoài ra, công ty sử dụng phụ gia điều chỉnh là quặng sắt
và silica (hoặc bôxit) Nguyên liệu chính được khai thác hoặc thuê ngoài khai thác
ở các núi đá của công ty, phụ gia điều chỉnh thì mua ngoài
- Công đoạn nghiền liệu: Qua các băng định lượng dưới các két, nguyên liệu được định lượng theo chương trình tự động, hỗn hợp sau khi qua thiết bị tách kim loại và dị vật nhiễm từ, đi vào hệ thống sấy - nghiền liệu Sản phẩm bột liệu chính
và bột thu hồi do lọc bụi khói lò được vận chuyển về silô chứa
- Công đoạn sản xuất Clinker: Bột liệu được đồng nhất trong quá trình sục khí tháo liệu ra khỏi silô qua các cửa tháo theo chương trình tự động sẽ được đưa vào
lò nung Kết thúc quá trình nung thu được Clinker Clinker này rơi vào ghi làm nguội, rồi qua máy búa để đập nhỏ sau đó đốt cùng với than mịn Than mịn là than cám antraxit sau khi được tách kim loại và dị vật nhiễm từ và đã đi qua hệ thống