1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sy Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên tại trường đại học giao thông vận tải

96 2,9K 52

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 348,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện chủ trương đổi mới của ngành giáo dục đào tạo, trong nhiều năm qua trường ĐH GTVT đã có nhiều cố gắng khắc phục mọi khó khăn để đổi mới mạnh mẽ mọi mặt họa động của nhà trường nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ. Việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường trở thành vấn đề then chốt trong giai đoạn hiện nay và đồng thời cũng là một yêu cầu cấp bách đảm bảo cho chất lượng giáo dục đào tạo của nhà trường được nâng cao, đáp ứng nhu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội của ngành Giao thông Vận tải, địa phương và đất nước… Xuất phát từ thực tiễn đó của Trường Đại học Giao thông vận tải, tôi chọn vấn đề: Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên tại trường Đại học Giao thông vận tải làm đề tài nghiên cứu của mình với mong muốn đống góp phần công sức nhỏ bé của mình vào sự nghiệp phát triển chung của nhà trường.

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được aicông bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Hà Nội, Ngày tháng năm 2015

Tác giả

Nguyễn Phương Ngân

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được rất nhiều sựquan tâm, giúp đỡ nhiệt tình Qua đây tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới tất cảmọi người

Trước hết, em xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy giáohướng dẫn TS Nguyễn Hóa – Trường phòng Đào tạo Đại học - Trường Đại họcThương mại về sự hướng dẫn nhiệt tình, tận tâm và những ý kiến quý báu để luậnvăn được hoàn thành tốt hơn

Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong trường Đại học Thương Mại

đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong thời gian họctập và nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn cán bộ, giảng viên, sinh viên trường Đại học Giaothông Vận tải đã cung cấp thông tin và dành thời gian tham gia vào quá trình điềutra dữ liệu, góp ý hoàn thiện đề tài

Cuối cùng, xin cảm ơn sự giúp đỡ, chia sẻ và động viên của gia đình, bạn bè

và tập thể lớp CH19B-QTKD trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài

Xin trân trọng cảm ơn!

Nguyễn Phương Ngân

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU vi

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Kết cấu luận văn 6

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIẢNG VIÊN VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN 7

1.2 Một số cơ sở lý luận về giảng viên, đội ngũ giảng viên 7

1.2.1 Khái niệm giảng viên 7

1.2.2 Đội ngũ giảng viên 8

1.2.3 Đặc điểm của giảng viên 8

1.2.4 Vai trò của giảng viên 9

Trang 4

1.2.5 Nhiệm vụ của giảng viên đại học 9

1.3 Chất lượng đội ngũ giảng viên đại học 10

1.3.1 Quan niệm chung về chất lượng 10

1.3.2 Chất lượng đội ngũ giảng viên đại học 12

1.4 Những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng giảng viên đại học 19

1.4.1 Công tác tuyển dụng giảng viên 19

1.4.2 Các chính sách phát triển năng lực đội ngũ giảng viên 20

1.4.3 Các chính sách đãi ngộ đội ngũ giảng viên 24

1.5 Ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đại học 25

Chương 2: PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐH GTVT 28

2.1 Giới thiệu về trường ĐH GTVT 28

2.1.1 Giới thiệu chung về trường ĐH GTVT 28

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của trường ĐH GTVT 30

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trường Đại học Giao thông Vận tải 31

2.1.4 Quy mô đào tạo 31

2.1.5 Cơ sở vật chất của trường ĐH GTVT 34

2.2 Đánh giá thực trạng về chất lượng đội ngũ giảng viên của trường ĐH GTVT 35 2.2.1 Đánh giá thực trạng về số lượng và cơ cấu đội ngũ giảng viên 35

2.2.1.1 Đánh giá thực trạng về số lượng đội ngũ giảng viên 35

2.2.2 Phẩm chất đạo đức của đội của đội ngũ giảng viên 38

Trang 5

2.2.3 Đánh giá thực trạng về trình độ chuyên môn của đội ngũ giảng viên 41

2.2.4 Năng lực giảng dạy 43

2.2.5 Năng lực nghiên cứu khoa học của đội của đội ngũ giảng viên 48

2.2.5 Tham gia các hoạt động khác trong nhà trường 52

2.3 Những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng giảng viên tại trường ĐH Giao thông vận tải 53

2.3.1 Công tác tuyển dụng giảng viên của trường ĐH GTVT 54

2.3.2 Các chính sách phát triển năng lực đội ngũ giảng viên 56

2.4.3 Các chính sách đãi ngộ đội ngũ giảng viên 59

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI 62

3.1 Nguyên tắc đề xuất giải pháp 62

3.2 Định hướng và mục tiêu phát triển của trường ĐH GTVT 62

3.3 Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên Trường Đại học Giao thông Vận tải 63

3.3.1 Hoàn thiện công tác tuyển dụng và xây dựng chính sách thu hút nhân tài trong tuyển dụng 63

3.3.2 Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên 67

3.3.3 Hoàn thiện chế độ chính sách đãi ngộ, chăm lo cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho đội ngũ giảng viên 70

3.3.4 Đẩy mạnh công tác kiểm tra, đánh giá, xếp loại đội ngũ giảng viên 72

3.3.5 Sử dụng hợp lý đội ngũ giảng viên hiện có 74

Trang 6

3.4 Khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đã đề xuất 76

KẾT LUẬN 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Trang 8

KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

GD&ĐT Giáo dục và đào tạo

Trang 9

VD Ví dụ

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong quá trình thay đổi toàn cầu hiện nay, các quốc gia trên thế giới đềuđang nỗ lực nâng cao năng lực nghiên cứu, sáng tạo tri thức trong các bối cảnh kinh

tế xã hội và văn hoá khác nhau Trên các phương tiện thông tin đại chúng hiện nay,các khái niệm ‘xã hội tri thức’, ‘kinh tế tri thức’ ngày càng được nhắc đến nhiềuhơn UNESCO đã định nghĩa một ‘xã hội tri thức’ là một xã hội được nuôi dưỡngbởi sự đa dạng và khả năng sáng tạo của nó Trong một nền kinh tế tri thức, các sảnphẩm và dịch vụ sẽ được tạo ra chủ yếu dựa vào tri thức và sáng tạo hơn là dựa vàocác nguồn nguyên vật liệu và sức lao động như trước đây Ngoài ra,quá trình nghiêncứu để sản sinh ra tri thức được xem là nền tảng của sự phát triển xã hội bền vững

Như vậy, GD&ĐT có vai trò là nền tảng, động lực thúc đẩy sự phát triển kinh

tế - xã hội Vai trò của GD&ĐT được thể hiện rõ trong quan điểm của Đảng ở các

kì đại hội

- Nghị Quyết TW 3, khoá VII năm 1993 khẳng định: “Khoa học và côngnghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục là đầu tưcho phát triển”

- Nghị quyết TW 2, khoá VIII: “Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sáchhàng đầu”

- Nghị Quyết TW 8, khoá XI: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là

sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư chophát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế

- xã hội”

Ngành Giao thông vận tải là một ngành có vai trò quan trọng trong công cuộccông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay Giao thông phát triển giúp chohuyết mạch giao thông của đất nước luôn thông suốt Đây là tiền đề quan trọng chocác ngành khác phát triển song hành Tuy nhiên, hiện nay hệ thống mạng lướiGTVT còn nghèo nàn và lạc hậu so với nhiều nước trong khu vực Lực lượng lao

Trang 11

động được đào tạo cơ bản còn hạn chế, chất lượng chưa cao đáp ứng được yêu cầucủa xã hội trong thời kỳ hội nhập nền kinh tế quốc tế Nhận thức được tầm quantrọng đó, trường đại học Giao thông vận tải đã đặt ra cho mình sứ mạng: “đào tạocho ngành Giao thông vận tải và đất nước những cán bộ khoa học kỹ thuật có nănglực và lòng yêu nghề, có khả năng sáng tạo và tính nhân văn”.

Bên cạnh sứ mạng đó, trường Đại học Giao thông Vận tải hướng tới mô hìnhđại học đa ngành về kỹ thuật, công nghệ và kinh tế; trở thành đại học trọng điểm,đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững ngànhgiao thông vận tải đất nước; là trung tâm nghiên cứu khoa học có uy tín về Giaothông vận tải và một số lĩnh vực khác; có năng lực hội nhập khu vực và Quốc tế; làđịa chỉ tin cậy của người học, nhà đầu tư và toàn xã hội

Thực hiện chủ trương đổi mới của ngành giáo dục đào tạo, trong nhiều nămqua trường ĐH GTVT đã có nhiều cố gắng khắc phục mọi khó khăn để đổi mớimạnh mẽ mọi mặt họa động của nhà trường nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn yêucầu nhiệm vụ Việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên nhằm nâng cao chấtlượng đào tạo của Nhà trường trở thành vấn đề then chốt trong giai đoạn hiện nay

và đồng thời cũng là một yêu cầu cấp bách đảm bảo cho chất lượng giáo dục - đàotạo của nhà trường được nâng cao, đáp ứng nhu cầu của sự phát triển kinh tế - xãhội của ngành Giao thông Vận tải, địa phương và đất nước…

Xuất phát từ thực tiễn đó của Trường Đại học Giao thông vận tải, tôi chọn

vấn đề: " Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên tại trường Đại học Giao thông vận tải" làm đề tài nghiên cứu của mình với mong muốn đống góp phần công sức

nhỏ bé của mình vào sự nghiệp phát triển chung của nhà trường

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Hiện nay, cũng đã có nhiều luận văn, luận án nghiên cứu về đội ngũ giảngviên và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, có thể kể đến:

- Nguyễn Thị Thu Hằng (2013), Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trong các trường đại học khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh khu vực phía Bắc, Luận văn Thạc sĩ, Học viên Công nghệ Bưu chính Viễn thông Ở luận văn này,

Trang 12

tác giả đã đưa ra khá đầy đủ và chi tiết về cơ sở lý luận về giảng viên, nhiệm vụ vàyêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên Tác giả đã đưa được khái niệm,nêu khái quát được các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng giảng viên Tuy nhiên khi

đi sâu về phân tích thực trạng tác giả mới chỉ đưa ra các nhân tố các nhân tố ảnhhưởng đến chât lượng giảng viên mà chưa phân tích, đánh giá được sự tác động của

nó ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng giảng viên Do đó nên giải pháp tác giảđưa ra ở chương 3 còn mang tính chất khái quát và chưa có sức thuyết phục

- Nguyễn Khánh Ly (2013), Giải pháp nâng cao chất lượng giảng viên trường Đại học Hải Dương giai đoạn 2015 -2020, Luận văn thạc sĩ, Đại học

Kinh tế Quốc dân Luận văn này đã đưa ra khá đầy đủ cơ sở lý thuyết về tạogiảng viên, chất lượng đội ngũ giảng viên Điểm nổi bật của luận văn là đã phântích cụ thể được thực trạng tình hình giảng viên của trường ĐH Hải Dương vàđánh giá được điểm mạnh, điểm hạn chế theo từng thực trạng một cách rõ ràng

và đầy đủ Tuy nhiên hạn chế của luận văn đó là khi nêu nguyên nhân còn chungchung, không cụ thể rõ ràng

- Nguyễn Thế Dân (2010), “Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên giai đoạn 2010-2015”.,

Luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh Bên cạnh các cơ sở lý thuyết đầy đủ, luận văn đãphân tích rất rõ được nguyên nhân của thực trạng chất lượng giảng viên còn chưatốt Tuy nhiên, đối tượng đề tài lựa chọn để khảo sát trong quá trình nghiên cứu cònchưa phong phú, chủ yếu tập trung vào giảng viên và sinh viên; cần có những ý kiếncủa bộ phận lãnh đạo để nghiên cứu được khách quan và chính xác hơn

Bên cạnh các công trình nghiên cứu trên, còn có các bài viết trên các báo, tạp chí như:

- Nguyễn Thị Thu Hương với bài viết “Xây dựng đội ngũ giảng viên trong trường đại học – Thực trạng và giải pháp ” đăng trên Tạp chí Khoa học – Đại học Quốc gia Hà Nội, Số28 tháng 3/2012 Bài báo đưa ra những thực trạng chung của

đội ngũ giảng viên trong các trường đại học từ đó có những giải pháp phù hợp nhằmxây dựng đội ngũ giảng viên có chất lượng cao

Trang 13

Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về nâng cao chất lượng đội ngũ giảngviên, tuy nhiên cho tới nay chưa có công trình nghiên cứu tại trường Đại học Giao

thông Vận tải Như vậy đề tài “Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên tại trường Đại học Giao thông Vận tải” là độc lập và không trùng lặp với các công trình

nghiên cứu trước

Kế thừa những ưu điểm và khắc phục những hạn chế của các công trình

nghiên cứu trên, đề tài “Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên tại trường Đại học Giao thông Vận tải” sẽ có điểm mới sau:

- Đề tài điều tra khảo sát những nguyên nhân dẫn đến chất lượng đội ngũ cán

bộ giảng viên trường Đại học Giao thông Vận tải chưa cao, từ đó mới đưa ra nhữnggiải pháp phù hợp

3 Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá chất lượng và xây dựng một số biện pháp nâng cao chất lượng độingũ giảng viên tại trường ĐH Giao thông Vận tải

Xuất phát từ mục tiêu trên, luận văn cần giải quyết các vấn đề:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và những căn cứ có liên quan đến chất lượng độingũ giảng viên các trường Trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học

- Phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ giảng viên hiện nay tạitruờng ĐH Giao thông Vận tải

- Xây dựng những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên tạitruờng ĐH Giao thông Vận tải

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: chất lượng đội ngũ giảng viên trường ĐH GTVT

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về nội dung: Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên là một đề tài rộnglớn và phức tạp mang tính thời đại Do thời gian, kinh nghiệm và kiến thức còn hạnchế, luận văn này chỉ tập trung vào việc phân tích thực trạng và đề ra các giải pháp

cơ bản nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên tại trường ĐH GTVT

Trang 14

+ Về không gian: Nghiên cứu tại trường ĐH GTVT – số 3, phố Cầu Giấy,phường Láng Thượng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội

+ Về thời gian: Số liệu nghiên cứu trong 4 năm trở lại đây, từ năm 2010-2013

và ý nghĩa ứng dụng đến năm 2020

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp

Tìm hiểu thông tin từ các nguồn sau đây:

+ Các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước,thông tư của Bộ Giáo dục, Bộ Giao thông vận tải có liên quan đến công tác đào tạo

+ Các công trình khoa học, sách, báo, tạp chí, luận án, luận văn trong vàngoài nước liên quan đến đề tài

5.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn.

+ Sử dụng hai bộ câu hỏi điều tra: Bộ câu hỏi dành cho cán bộ, giảng viênnhà trường Bộ câu hỏi dành cho học sinh đang học tại Trường ĐH GTVT

+ Phỏng vấn một số cán bộ quản lý, một số giáo viên có tâm huyết có kinhnghiệm để tìm hiểu thực tiễn của nhà trường nhằm làm sáng tỏ hơn nội dung nghiêncứu bằng phương pháp điều tra

+ Quan sát tình hình giảng dạy của giáo viên dạy giỏi, giáo viên mới vàonghề Quan sát tình hình học tập của học sinh để nắm tình hình thực tế đang diễn ra

ở nhà trường

+ Tổng kết, đúc rút kinh nghiệm thực tiễn của trường ĐH GTVT về công tácquản lý đào tạo

5.3 Phương pháp phân tích dữ liệu

- Phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu

- Phương pháp định lượng: Sử dụng Excel để xây dựng bảng biểu, đồ thị.Ngoài ra sử dụng thêm phương pháp so sánh các chỉ tiêu qua các năm để thấy đượctình hình biến động hoạt động kinh doanh

Trang 15

- Phương pháp định tính: Phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễndịch: Thông qua kết quả thu thập dữ liệu sơ cấp, thứ cấp, các dữ liệu này được đisâu nghiên cứu, phân tích Từ đó có cái những nhận định đánh giá để có cái nhìnchung nhất, dự báo về vấn đề nghiên cứu.

6 Kết cấu luận văn.

Ngoài phần lời cảm ơn, mục lục, danh mục bảng biểu, hình vẽ, phụ lục, danhmục tại liệu tham khảo và phần kết luận thì luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về giảng viên và nâng cao chất lượng độingũ giảng viên

Chương 2: Phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ giảng viêntrường ĐH GTVT

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trường ĐHGTVT

Trang 16

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIẢNG VIÊN VÀ

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN 1.2 Một số cơ sở lý luận về giảng viên, đội ngũ giảng viên

1.2.1 Khái niệm giảng viên

Khái niệm về giảng viên có thể tiếp cận ở rất nhiều quan điểm khác nhau:

- Theo quyết định số 202/TCCP-VC được ban hành 08 tháng 06 năm 1994của Ban tổ chức - cán bộ chính phủ về việc ban hành tiêu chuẩn nghiệp vụ cácngạch công chức ngành giáo dục và đào tạo: “Giảng viên là viên chức chuyên mônđảm nhiệm việc giảng dạy và đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng thuộc một chuyênngành đào tạo của trường đại học hoặc cao đẳng”

- Tại Điều 61 Luật Giáo dục (1998) có nêu: “Nhà giáo là người làm nhiệm

vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác.”

- Tại điều 70, Luật Giáo dục (2005) có nêu: “Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáodục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giảng viên; ở cơ sởgiáo dục đại học gọi là giảng viên”

- Tại khoản 1, điều 54, Luật Giáo dục đại học (2012) quy định: “Giảng viêntrong cơ sở giáo dục đại học là người có nhân thân rõ ràng; có phẩm chất, đạo đứctốt; có sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp; đạt trình độ về chuyên môn, nghiệp vụquy định tại điểm e khoản 1 Điều 77 của Luật giáo dục (2005):

+ Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sưphạm đối với nhà giáo giảng dạy cao đẳng, đại học;

+ Có bằng thạc sỹ trở lên đối với nhà giáo giảng dạy chuyên đề, hướng dẫnluận văn thạc sĩ;

+ Có bằng tiến sĩ đối với nhà giáo giảng dạy chuyên đề, hướng dẫn luận ántiến sĩ.”

Như vậy, khái niệm về giảng viên có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưngđều thống nhất về bản chất của người giảng viên, đó là người làm nhiệm vụ giảngdạy, giáo dục trong các trường đại học, cao đẳng, nhằm truyền thụ kiến thức khoa

Trang 17

học, kỹ năng, khả năng thực hành cho sinh viên và xây dựng, hình thành nhân cáchcho người học, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển xã hội.

1.2.2 Đội ngũ giảng viên.

Theo từ điển tiếng Việt, đội ngũ là "khối đông người cùng chức năng nghềnghiệp được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng" Các khái niệm về đội ngũdùng cho các thành phần trong xã hội như đội ngũ trí thức, đội ngũ công nhân viênchức đều có gốc xuất phát từ đội ngũ theo thuật ngữ quân sự Đó là một khối đôngngười, được tổ chức thành một lực lượng để chiến đấu hoặc để bảo vệ Tóm lại, độingũ là một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng để thực hiệnmột hay nhiều chức năng, có thể cùng nghề nghiệp hoặc không cùng nghề nghiệpnhưng cùng có chung một mục đích nhất định

Từ khái niệm nêu trên, ta có thể hiểu: Đội ngũ giảng viên là một tập thểngười có làm nghề dạy học – giáo dục tại các trường ĐH, CĐ được tổ chức thànhmột lực lượng; cùng chung một nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu GD&ĐT đã đặt

ra cho trường ĐH, CĐ

1.2.3 Đặc điểm của giảng viên

Giảng viên đại học là người làm nhiệm vụ giảng dạy, truyền đạt kiến thứccho sinh viên viên trong các trường ĐH, CĐ; vì vậy, phẩm chất trí tuệ là yêu cầurất cao đối với người giảng viên Từ chất sáng tạo đó biểu hiện trong năng lực hoạtđộng giảng dạy, trong hoạt động nghiên cứu khoa học và trong toàn bộ quá trìnhsáng tạo để hình thành nên toàn bộ nhân cách sáng tạo của một con người – sảnphẩm cần thiết và tất yếu của quá trình dạy học Bởi vậy, hơn bất cứ một nghềnghiệp nào khác, nghề giảng dạy đại học đòi hỏi mỗi giảng viên phải phát huy nănglực sáng tạo của mình một cách cao nhất

Một đặc điểm nữa là trong thời đại ngày nay, người giảng viên phải làmột tấm gương sáng về đạo đức và tinh thần tự học, tự vươn lên để hoàn thiệnmình Mỗi giảng viên là một mẫu mực về ý trí học, về tinh thần nhân ái, nhânvăn thương yêu con người, quý trọng con người

Trang 18

1.2.4 Vai trò của giảng viên

Giảng viên, với vai trò chủ đạo trong quá trình giáo dục ở các trường ĐH,

CĐ Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Không có thầy giáo thì không có giáodục không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế - văn hoá”

(Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội 1996, t.8, tr.184)

Trong đổi mới giáo dục đại học hiện nay, đội ngũ giảng viên trường đại họcđược coi là một nguồn lực quan trọng phục vụ yêu cầu phát triển KT-XH vì:

- Đội ngũ giảng viên là người trực tiếp thực thi các mục tiêu, nhiệm vụ giáodục, với vai trò chủ đạo trong quá trình GD&ĐT ở các trườngĐH, CĐ Điều 15,Luật giáo dục (2005) nêu rõ: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảochất lượng giáo dục”

- Đội ngũ giảng viên với năng lực, sự tận tâm với nghề nghiệp và khẳ năngthích ứng cao mới có thể bảo đảm cung cấp cho xã hội được sản phẩm nguồn nhânlực có hàm lượng chất xám cao, có giá trị nhất, quyết định sự phát triển

- Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII của Đảng khẳng định: “Giảngviên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và được xã hội tôn vinh” Thực tế độingũ cán bộ giảng dạy giữ vai trò quyết định chất lượng đào tạo và là lực lượng chủcông trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ của trường đại học

- Trong GD&ĐT, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục thực sự là lựclượng tin cậy của Đảng, giàu lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tận tụy với sinhviên, có tinh thần trách nhiệm, ý thức cầu tiến bộ, chịu khó tự học, tự bồi dưỡngnâng cao trình độ và sẵn sàng tham gia các hoạt động xã hội

1.2.5 Nhiệm vụ của giảng viên đại học

Nhiệm vụ của Giảng viên được quy định tại Điều 6 - Thông tư liên tịch số36/2014/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 28 tháng 11 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáodục và Đào tạo và Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định mã số và tiêu chuẩn chức danhnghề nghiệp viên chức giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học công lập, nhưsau:

Trang 19

a) Giảng dạy, hướng dẫn và chấm đồ án, khóa luận tốt nghiệp trình độ caođẳng, đại học Giảng viên trong thời gian làm công tác trợ giảng thực hiện hỗ trợgiảng viên, giảng viên chính, phó giáo sư, giáo sư trong các hoạt động giảng dạy,bao gồm: Chuẩn bị bài giảng, phụ đạo, hướng dẫn bài tập, thảo luận, thí nghiệm,thực hành và chấm bài;

b) Tham gia giảng dạy chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ và hướngdẫn, đánh giá luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ nếu có đủ tiêu chuẩn theo quy định;

c) Tham gia xây dựng kế hoạch, nội dung, chương trình đào tạo; tham gia đổimới phương pháp giảng dạy, phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập, rènluyện của sinh viên;

d) Chủ trì hoặc tham gia biên soạn sách phục vụ đào tạo;

đ) Tổ chức và tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học; viết và tham giabáo cáo khoa học tại các hội nghị, hội thảo khoa học; tham gia triển khai các hoạtđộng chuyển giao công nghệ cho cơ sở sản xuất;

e) Tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế và bảo đảm chất lượng giáo dụcđại học;

g) Tham gia công tác chủ nhiệm lớp, cố vấn học tập; hướng dẫn thảo luận,thực hành, thí nghiệm và thực tập;

h) Học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ;

i) Tham gia công tác quản lý, công tác Đảng, đoàn thể và thực hiện cácnhiệm vụ khác được phân công

Như vậy, căn cứ vào quy định, một cách khái quát, giảng viên đại học phảithực hiện tốt các nhiệm vụ trong các lĩnh vực: hoạt động giảng dạy, hoạt độngNCKH và các hoạt động khác: tham gia công tác quản lý đào tạo, bồi dưỡng, côngtác đảng, đoàn thể, CVHT v.v

1.3 Chất lượng đội ngũ giảng viên đại học

1.3.1 Quan niệm chung về chất lượng

Theo từ điển tiếng Việt do NXB văn hoá thông tin ban hành năm 1999 xácđịnh: "Chất lượng phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật,

Trang 20

chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật phân biệt nó với sự vật khác,chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật Chất lượng biểu hiện ra bên ngoài,qua các thuộc tính Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bóvới sự vật như một tổng thể bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật Sựvật khi vẫn còn là bản thân nó thì không thể mất chất lượng của nó Sự thay đổi chấtlượng kéo theo sự thay đổi của sự vật, về căn bản chất lượng của sự vật bao giờcũng gắn với tính quy định về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính quyđịnh ấy Mỗi sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất giữa số lượng và chất lượng”.

Qua đó ta có thể hiểu rằng bất cứ sự vật, hiện tượng nào trong tự nhiên, xãhội đều có chất của nó Chất của sự vật là tổng hợp những tính quy định, nhữngthuộc tính, những đặc điểm cấu trúc khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng, chỉ

rõ nó là cái gì và làm cho nó khác với cái khác

Không có sự vật, hiện tượng nào lại không có tính quy định về chất lượng,không có sự tồn tại nào thiếu tính quy định về chất lượng Bãi cỏ, ao hồ, súc vật,con người, Chủ nghĩa Tư bản, Chủ nghĩa Xã hội Tất cả đều là những vật thể khácnhau vì mỗi thứ đều có tính quy định về chất lượng riêng của mình

Chất lượng của các sự vật, hiện tượng được biểu hiện thông qua các thuộctính của nó Mỗi sự vật có nhiều thuộc tính, mỗi thuộc tính tham gia vào việc quyđịnh chất của sự vật không giống nhau, có thuộc tính bản chất, thuộc tính không bảnchất Các thuộc tính bản chất tồn tại suốt trong quá trình tồn tại của sự vật, giữ vaitrò quy định của sự vật làm cho nó là nó và khác với cái khác Nếu thuộc tính cơbản mất đi thì sự vật không còn Trái lại thuộc tính không bản chất không giữ vaitrò như thế

Chất của sự vật còn được quy định bởi đặc điểm cấu trúc của sự vật, đó là cácyếu tố, các bộ phận cấu thành một hệ thống của sự vật, tức cấu trúc bên trong Cấutrúc bên trong nếu sắp xếp theo những cách thức khác nhau cũng sẽ tạo thành nhữngthuộc tính khác nhau của sự vật Vì vậy khi xác định chất của sự vật cần phải tínhđến đặc điểm cấu trúc của sự vật

Tóm lại: Khái niệm chất lượng phản ảnh mặt vô cùng quan trọng của sự vật,

Trang 21

hiện tượng và quá trình của thế giới khách quan Nói như Heghen:” Chất lượng làranh giới làm cho những vật thể này khác với những vật thể khác”.

1.3.2 Chất lượng đội ngũ giảng viên đại học

Xuất phát từ những quan niệm về chất lượng như đã nêu ở trên ta có thể hiểu:Chất lượng giảng viên là toàn bộ thuộc tính (yếu tố), những đặc điểm và nhiệm vụcủa giảng viên Như đã đề cập ở phần 1.2.5, nhiệm vụ chính của người giảng viênbao gồm hoạt động đào tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học và tham gia công tácquản lý đào tạo, bồi dưỡng, công tác đảng, đoàn thể và các hoạt động khác trongnhà trường Để thực hiện các hoạt động đào tạo tốt, giảng viên cần có trình độchuyên môn tốt và có năng lực giảng dạy đáp ứng được yêu cầu của người học Đểthực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học có chất lượng đòi hỏi giảng viên phải cónăng lực nghiên cứu khoa học đáp ứng được yêu cầu Như vậy, chất lượng của mộtngười giảng viên tốt phải đáp ứng được các tiêu chí sau:

- Phẩm chất đạo đức

- Trình độ chuyên môn

- Năng lực giảng dạy

- Năng lực nghiên cứu khoa học

- Tham gia các hoạt động khác trong nhà trường (tham gia công tác quản lýđào tạo, bồi dưỡng, công tác đảng, đoàn thể, CVHT và các hoạt động khác)

Đó là các yêu tố cấu thành nên chất lượng của một giảng viên Nhưng chấtlượng của đội ngũ giảng viên không chỉ bao gồm có vậy Như khái niệm về đội ngũgiảng viên đã được đề cấp ở trên, đội ngũ giảng viên là một tập thể người có cùngchức năng, nghề nghiệp (nghề dạy học) Vì vậy, chất lượng của đội ngũ giảng viêncần phải đảm bảo thêm về số lượng người trong tập thể đó và cơ cấu đội ngũ có phùhợp và đảm bảo tính phát triển bền vững của đội ngũ hay không

Như vậy, chất lượng của đội ngũ giảng viên sẽ gồm các tiêu chí sau:

- Số lượng và cơ cấu đội ngũ

- Phẩm chất đạo đức

- Trình độ chuyên môn

Trang 22

- Năng lực giảng dạy

- Năng lực nghiên cứu khoa học

- Tham gia các hoạt động khác trong nhà trường (tham gia công tác quản lýđào tạo, bồi dưỡng, công tác đảng, đoàn thể, CVHT và các hoạt động khác)

1.3.2.1 Số lượng và cơ cấu đội ngũ

 Số lượng thành viên của đội ngũ giảng viên:

Số lượng cũng là tính quy định của vật thể, nhưng nó chỉ nói lên đặc điểmcủa vật thể như độ to, nhỏ, thể tích lớn, bé số lượng là ranh giới của vật thể, vìthế sự thay đổi ranh giới đạt đến một giới hạn nào đó cũng sẽ làm bản chất của

sự vật thay đổi, điều này đã được chứng minh đề cập trong triết học Mác –Leenin qua quy luật “Chuyển hoá từ những thay đổi về lượng thành những thayđổi về chất và ngược lại”

Đội ngũ giảng viên là một hiện tượng (tổ chức) xã hội vì thế số lượng của độingũ giảng viên là biểu thị về mặt định lượng của đội ngũ, nó phản ánh quy mô lớn,

 Cơ cấu đội ngũ giảng viên

Có thể hiểu cơ cấu của đội ngũ giảng viên là tổ chức bên trong của đội ngũ

Cơ cấu đội ngũ giảng viên là một thể thống nhất, hoàn chỉnh bao gồm các thànhphần chính sau:

Trang 23

Về lứa tuổi: Duy trì sự cân đối giữa các thế hệ già, trung niên, trẻ của đội ngũ

để có thể phát huy được tính năng động, hăng hái của tuổi trẻ và khai thác được vốnkinh nghiệm, từng trải của lớp già

Về giới tính: Đảm bảo tỷ lệ thích hợp giữa giảng viên nam và giảng viên nữtrong từng khoa, từng tổ, từng bộ môn và chuyên ngành được đào tạo

Cơ cấu lứa tuổi và giới tính thể hiện cấu trúc của đội ngũ giảng viên Giữacác yếu tố cần phải đảm bảo sự cân đối, hợp lý nếu sự cần đối này bị phá vỡ thì sẽảnh hưởng không tốt đến chất lượng đội ngũ giảng viên

1.3.2.2 Phẩm chất đạo đức

Tại nghị quyết TW 2, khoá VIII, Đảng và Nhà nước ta đã xác định: “Pháttriển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” Nhiệm vụ của giáo dục là nângcao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo ra những con người mới,

có kiến thức, có phẩm chất cách mạng, có kĩ năng để xây dựng và bảo vệ đất nước.Đảm trách sứ mệnh quan trọng và thiêng liêng đó không ai khác chính là đội ngũgiảng viên và cán bộ quản lí giáo dục, những người vẫn được xã hội tôn vinh trong

sự nghiệp “trồng người” Đạo đức của giảng viên có ảnh hưởng to lớn đến việc hìnhthành nhân cách, đạo đức của người học Bởi vậy việc nâng cao phẩm chất đạo đứccủa người giảng viên là vấn đề vô cùng quan trọng đặt ra ở bất cứ thời nào, nhất làtrong giai đoạn hiện nay

Căn cứ vào điểu 3, 4, 5, 6 tại Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16tháng 4 năm 2008 về “Quy định về đạo đức nhà giáo” Giảng viên là một nhà giáo,

vì vậy một giảng viên có phẩm chất đạo đức tốt cần thỏa mãn có yếu tố sau:

- Phẩm chất chính trị: Chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối,

chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thi hành nhiệm vụ theo đúng quyđịnh của pháp luật Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, tích cực học tập về lýluận chính trị và tham gia các hoạt động chính trị, xã hội

- Đạo đức nghề nghiệp: Tâm huyết với nghề nghiệp, có ý thức giữ gìn danh

dự, lương tâm nhà giáo; có tinh thần đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ đồng nghiệptrong cuộc sống và trong công tác; có lòng nhân ái, bao dung, độ lượng và đối xử

Trang 24

công bằng với người học; sẵn sàng giúp đỡ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chínhđáng của người học, đồng nghiệp và cộng đồng Không lợi dụng chức vụ, quyềnhạn để thực hiện hành vi trái pháp luật, quy chế, quy định; không gây khó khăn,phiền hà đối với người học và nhân dân Không gian lận, thiếu trung thực trong họctập, nghiên cứu khoa học và thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục Không trùdập, chèn ép và có thái độ thiên vị, phân biệt đối xử, thành kiến người học; khôngtiếp tay, bao che cho những hành vi tiêu cực trong giảng dạy, học tập, rèn luyện củangười học và đồng nghiệp

- Lối sống, tác phong: Có lối sống hoà nhập với cộng đồng, phù hợp với bản

sắc dân tộc và thích ứng với sự tiến bộ của xã hội; biết ủng hộ, khuyến khích nhữngbiểu hiện của lối sống văn minh, tiến bộ và phê phán những biểu hiện của lối sốnglạc hậu, ích kỷ Tác phong làm việc nhanh nhẹn, khẩn trương, khoa học; có thái độvăn minh, lịch sự trong quan hệ xã hội, trong giao tiếp với đồng nghiệp, với ngườihọc; giải quyết công việc khách quan, tận tình, chu đáo

1.3.2.3 Trình độ chuyên môn

Để có chất lượng hoạt động đào tạo tốt, trước tiên người giảng viên phải cótrình độ chuyên môn tốt Một người giảng viên không có trình độ chuyên môn tốt,không có kiến thức thì lấy gì để truyền đạt cho sinh viên?

Vì vậy, trình độ của đội ngũ giảng viên, trước hết phải nói tới hệ thống trithức mà giảng viên đạt được, là những tri thức liên quan đến môn học mà ngườigiảng viên đảm nhiệm giảng dạy Thước đo trình độ chuyên môn của đội ngũ giảngviên một cách dễ dàng nhất đó là dựa vào học hàm, học vị của giảng viên Vì vậy,

tỷ lệ trình độ của đội ngũ giảng viên có học hàm học vị cao (TS/ PGS/GS) nhiềuhay ít sẽ là một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng của đội ngũgiảng viên

Trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật đang diễn ra sôi động,tạo ra sự thâm nhập lẫn nhau giữa các khoa học, do vậy ngoài những hiểu biết vềlĩnh vực chuyên môn của người giảng viên cần có những hiểu biết về các kiến thức

Trang 25

khác, đặc biệt là phải biết ngoại ngữ và tin học; nhằm hình thành những kỹ năng đểchiếm lĩnh tri thức khoa học chuyên môn và sư phạm.

Như vậy, để đánh giá trình độ chuyên môn đội ngũ giảng viên cần đánh giátrên 3 tiêu chí:

- Học hàm, học vị của đội ngũ giảng viên

- Trình độ ngoại ngữ

- Trình độ tin học

1.3.2.4 Năng lực giảng dạy

Năng lực giảng dạy của đội ngũ giảng viên được hiểu là hệ thống những trithức kỹ năng mà giảng viên được trang bị để tiến hành hoạt động sư phạm có hiệuquả Kỹ năng của người giảng viên được hiểu là khả năng vận dụng những kiếnthức thu được vào trong hoạt động sư phạm và biến nó thành kỷ xảo Kỹ xảo là khảnăng đạt đến mức thành thục

Để đánh giá đầy đủ năng lực của giảng viên trong lĩnh vực giảng dạy cần cónhững tiêu chí đánh giá bao quát toàn bộ những yêu cầu về hoạt động giảng dạy đốivới mỗi giảng viên

Căn cứ vào kiến thức trong bài báo “Phát triển năng lực giảng viên nhằmnâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong các trường đại học và cao đẳng trongđiều kiện toàn cầu hóa và bùng nổ tri thức” của tác giả TS Nguyễn Hữu Lam thuộctrung tâm Nghiên cứu và phát triển quản trị (CEMD) – Đại học kinh tế TP HCMđăng trên website: www.cemd.ueh.edu.vn, năng lực giảng dạy của giảng viên baogồm các năng lực sau:

- Năng lực sử dụng các phương pháp giảng dạy tích cực (giảng dạy bằng tìnhhuống, thảo luận nhóm, khám phá, mô phỏng, dự án…)

- Năng lực truyền đạt (trình bày, đặt câu hỏi, lắng nghe và phản hồi)

- Năng lực xử lý các tình huống trong dạy học;

- Năng lực tổ chức và quản lý lớp học;

- Năng lực sử dụng công nghệ trong giảng dạy (PowerPoint, máy tính, Web,các phần mềm sử dụng trong chuyên môn)

Trang 26

- Năng lực đánh giá sinh viên

- Khả năng xây dựng và phát triển chương trình giảng dạy, chương trình đàotạo, tài liệu học tập

1.3.2.5 Năng lực nghiên cứu khoa học

Cùng với trình độ (năng lực) chuyên môn và năng lực giảng dạy, năng lựcnghiên cứu khoa học là một trong ba năng lực cần có của một giảng viên đại học.Mặc dù giảng dạy và NCKH là hai nhiệm vụ có quan hệ mật thiết với nhau nhưngtiếc rằng cách đánh giá chất lượng giảng viên hiện nay ở nhiều trường vẫn chưa chútrọng đến hoạt động nghiên cứu khoa học của họ Vì vậy, nghịch lý trong giáo dụcđại học nói chung là hàng năm số lượng giảng viên giỏi được bình bầu thì nhiềunhưng chất lượng đào tạo chung thì vẫn thấp “Giảng viên giỏi” khó lòng trở thànhnhững tấm gương sáng về nghiên cứu khoa học cho sinh viên noi theo nếu bản thân

họ có rất ít các sản phẩm khoa học

Nghiên cứu khoa học được quan niệm là một chức năng đặc trưng củagiáo dục đại học Với chức năng này, các trường đại học không chỉ là trung tâmđào tạo mà đã thực sự trở thành trung tâm nghiên cứu khoa học, sản xuất, sử dụng,phân phối, xuất khẩu tri thức và chuyển giao công nghệ mới hiện đại Do đó, đểphù hợp với chức năng này, yêu cầu người giảng viên phải tham gia các hoạt độngnghiên cứu khoa học và hoạt động này cần được đánh giá

Việc tham gia vào những hoạt động NCKH có những lợi ích cơ bản sau trongviệc nâng cao chất lượng giảng viên:

- NCKH giúp giảng viên có điều kiện đào sâu hơn, nắm bắt chặt chẽ hơn kiếnthức chuyên môn mà mình đang trực tiếp giảng dạy, kịp thời điều chỉnh, bổ sungnhững nội dung kiến thức chưa chuẩn xác trong bài giảng của mình Người giảngviên tham gia NCKH một mặt vừa củng cố lại kiến thức chuyên môn của mình, mặtkhác vừa có điều kiện mở rộng, hiểu biết nhiều hơn từ những kiến thức từ cácchuyên ngành khác

- Quá trình tham gia NCKH sẽ góp phần phát triển tư duy, năng lực sáng tạo,khả năng làm việc độc lập, trau dồi tri thức và các phương pháp nhận thức khoa học

Trang 27

của giảng viên đồng thời hình thành ở giảng viên những phẩm chất của nhà nghiêncứu Tham gia các hoạt động NCKH cũng đồng thời là quá trình giúp giảng viên tự

“cập nhật” thông tin, kiến thức một cách thực sự hiệu quả

- Thực hiện các hoạt động NCKH là cơ hội tốt để giảng viên có môi trường,

cơ hội bồi dưỡng năng lực chuyên môn và năng lực NCKH Đây cũn là cơ sở cầnthiết để tiến hành đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy Điều này sẽ góp phầnnâng cao chất lượng giảng dạy

- Hoạt động NCKH là một lĩnh vực rất tốt để giảng viên tự khẳng định mình.Khó có thể đánh giá một giảng viên là có năng lực chuyên môn tốt nhưng hàng năm lạikhông có công trình khoa học nào Uy tín của giảng viên được khẳng định khéo theo

đó là uy tín của nhà trường được khẳng định vì một trong những tiêu chí để đánh giá,xếp hạng các trường đó chính là mảng NCKH của giảng viên trong trường

Cơ sở đánh giá năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên phải dựa vàonhững sản phẩm trí tuệ của họ sáng tạo ra, bao gồm:

+ Số lượng và chất lượng các ấn phẩm được xuất bản trong các tạp chí khoahọc hoặc các hội nghị khoa học ở trong và ngoài nước liên quan đến các côngtrình nghiên cứu

+ Số lượng các đề tài, dự án, các công trình nghiên cứu khoa học tham gia

1.3.2.6 Tham gia các hoạt động khác trong nhà trường

Giảng viên bên cạnh hai nhiệm vụ chính là giảng dạy và NCKH, cần phải nỗlực tự bồi dưỡng bản thân, tham gia vào các tổ chức chính quyền, tham giaquản lý, tham gia tổ chức Đảng và đoàn thể, các hoạt động cố vấn học tập, v.v Đây

là một lĩnh vực mà hầu như chưa được quan tâm tới khi đánh giá giảng viên ở nước

ta trong thời gian qua Đánh giá chất lượng công việc của giảng viên trong lĩnhvực này không hề đơn giản bởi nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố và không phải lúcnào cũng có thể phân định rõ vai trò của từng cá nhân Do đó, một điều cần lưu ý là,khi đánh giá tổng hợp về những đóng góp của giảng viên trong lĩnh vực phục vụ

xã hội/cộng đồng, đặc biệt nên nhấn mạnh đến hiệu quả của cá nhân hơn là phạm vitham gia của họ

Trang 28

1.4 Những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng giảng viên đại học

1.4.1 Công tác tuyển dụng giảng viên

Trường Đại học muốn sở hữu một đội ngũ giảng viên chất lượng cao trướctiên cần phải kiếm soát tốt đầu vào của nguồn nhân lực tức là làm tốt công tác tuyểndụng nhân lực

Tuyển dụng là quá trình thu hút những người tìm việc có trình độ từ lựclượng lao động xã hội và lực lượng lao động bên trong tổ chức Chất lượng quátrình tuyển mộ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của quá trình tuyển chọn Trong thịtrường lao động có rất nhiều người lao động có trình độ, năng lực cao nhưng họkhông được tuyển chọn bởi họ không biết được thông tin tuyển mộ hoặc không có

cơ hội nộp đơn xin việc Chất lượng của quá trình lựa chọn sẽ không đạt yêu cầu khi

số lượng người nộp đơn ứng tuyển bằng hoặc ít hơn nhu cầu cần tuyển chọn Dovậy, công tác tuyển dụng giảng viên cần đảm bảo công khai, minh bạch, đúng quyđịnh và có kế hoạch cụ thể; được thông báo rộng rãi, triển khai tới các đơn vị vàđăng trên Website của Nhà trường Tuyển chọn phải khách quan, công bằng vàkhoa học đùng các vị trí việc làm cần tuyển người

Tuyển dụng là quá trình đánh giá các ứng viên theo nhiều khía cạnh khácnhau dựa vào yêu cầu công việc, để tìm được những người phù hợp với các yêu cầuđặt ra trong số những người đã thu hút được trong quá trình tuyển mộ Cơ sở củatuyển dụng là dựa vào những yêu cầu của công việc cụ thể và việc tuyển chọn phảiphù hợp với nhà trường ít nhất là trên hai khía cạnh: phải có kỹ năng, kiến thức phùhợp và phải có tính cách, giá trị đạo dức, phù hợp

Tóm lại, quá trình tuyển mộ và tuyển chọn được thực hiện tốt sẽ giúp đưa rađược quyết định tuyển dụng đúng đắn nhằm giúp nhà trường có được những giảngviên có chất lượng, có trình độ, năng lực phù hợp và phẩm chất đạo đức tốt

Khi tuyển dụng, các trường đại học thường cần cân nhắc đến các vấn đề sau:

Về cơ cấu trình độ đội ngũ giảng viên thể hiện ở tỉ lệ % trình độ cao đẳng, đạihọc và sau đại học … là bao nhiêu trong tổng số lực lượng lao động trong toàn trường.Hay tỉ lệ giảng viên đạt chuẩn theo quy định là bao nhiêu % trong tổng số lực lượng lao

Trang 29

động trong toàn trường Từ những loại hình cơ cấu đó cho ta thấy tỉ lệ % cơ cấu giữacác loại hình giảng viên cân đối hay không cân đối, phù hợp hay không phù hợp so vớiquy mô học sinh, sinh viên đối với sự phát triển của nhà trường.

Về cơ cấu tuổi, thâm niên công tác đòi hỏi phải cân đối, hợp lý theo độ tuổilao động Cơ cấu tuổi có phổ khá rộng; Giảng viên trẻ tính đến 35 tuổi, giảng viêntrung niên tính đến 45 tuổi, giảng viên cao niên đến 60 tuổi Số lượng giảng viên ởmỗi độ tuổi cần chiếm một tỷ lệ nhất định để sự kế thừa được ổn định và hài hòa vềtính thâm niên công tác:

- Nhóm tuổi dưới 35, là các giảng viên trẻ, rất năng động và sáng tạo

- Nhóm tuổi từ 36 đến 45 là các giảng viên trung niên có tay nghề vững vàng

- Nhóm tuổi trên 45 tuổi là các giảng viên cao niên có nhiều kinh nghiệm.Trong cơ cấu loại hình giảng viên còn thể hiện cơ cấu giảng viên ở các mônhọc, các chuyên ngành ở các cấp bậc học ở trường Cơ cấu loại hình giảng viên cònphản ánh qua tỉ lệ % giữa nam, nữ, tỉ lệ % tuổi công tác trong ngành nhiều hay ít

Để đảm bảo chất lượng đội ngũ giảng viên, việc tuyển mộ, tuyển chọn, tuyểndụng giảng viên cần được giao quyền chủ động thực hiện và tự chịu trách nhiệm.Trường được quyền tuyển chọn theo những tiêu chuẩn do đơn vị đề ra sát với yêucầu thực tế của mình, được hợp đồng theo thỏa thuận và có quyền sàng lọc nhân lựctheo những quy định của đơn vị (trên cơ sở phát luật quy định)

1.4.2 Các chính sách phát triển năng lực đội ngũ giảng viên

Chính sách phát triển đội ngũ giảng viên bao gồm các chính sách về bố trí sửdụng nhân sự, đào tạo và chính sách đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực sau đàotạo, Một chính sách phát triển nguồn nhân lực rõ ràng, hợp lý, khả thi sẽ: đáp ứngnhu cầu tồn tại và phát triển của tổ chức; khuyến khích giảng viên làm việc và họctập tốt hơn và là cam kết của lãnh đạo trong định hướng nâng cao chất lượng độingũ giảng viên

1.4.2.1 Chính sách bố trí, sử dụng đội ngũ giảng viên

Chính sách bố trí, sử dụng giảng viên chính là việc phân công giảng dạy chogiảng viên cũng như và bố trí lại lao động thông qua quá trình biên chế nội bộ cũng

Trang 30

như thuyên chuyển, đề bạt (thăng tiến) và xuống chức Việc này đòi hỏi công tác tổchức cán bộ cũng chú ý đúng mức đến việc bố trí, sử dụng, cất nhắc, bạt cán bộ phảiđúng lúc, đúng người, đúng việc Đây là điều kiện quyết định để cán bộ có khả nănghoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao.

Phân công giảng dạy cho giảng viên thực chất là công tác tổ chức và công táccán bộ, Hiệu trưởng cần nắm được sở trường, sở đoản, hoàn cảnh của từng giảngviên để sử dụng họ, tạo cho họ niềm tin trong nghề nghiệp Trong tình hình đội ngũgiảng viên hiện nay, chất lượng chuyên môn nghiệp vụ không đồng đều, vì vậy hiệutrưởng phải cân nhắc kỹ càng khi phân công giảng dạy cho giảng viên Phân cônggiảng dạy cho giảng viên là một việc quan trọng, thu hút sự chú ý của cả hiệutrưởng và giảng viên Phân công sử dụng đúng sẽ mang lại kết quả to lớn, ngược lại

sẽ phát sinh nhiều vấn đề phức tạp về tư tưởng, tình cảm và sẽ ảnh hưởng không tốtđến các mặt hoạt động của nhà trường

Bố trí, sử dụng cán bộ giảng viên phải đảm bảo tính kế thừa, ổn định và pháttriển Trong mỗi chuyên ngành cần bố trí sự kết hợp giữa các thế hệ giảng viên,giảng viên trẻ với giảng viên lớn tuổi để bổ sung cho nhau về năng lực cũng nhưkinh nghiệm thực tế, kết hợp được những phẩm chất tốt của các thế hệ “trẻ xôngpha, già kinh nghiệm”

Phân công công tác giảng dạy và chú nhiệm/ cố vấn học tập cho đội ngũgiảng viên một cách hợp lý, phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường sẽ gópphần quyết định nâng cao chất lượng giảng dạy Phân công lao động một cách khoahọc là tìm cách, biết cách giao việc cho người hoặc sắp xếp người vào việc, đảmbảo phù hợp với việc nhất có thể

Việc bố trí, sử dụng đội ngũ giảng viên phải được ưu tiên xét trên năng lựcthực tế, không chỉ dựa trên bằng cấp và số tiết tiêu chuẩn của giảng viên Giảngviên giỏi cần được khai thác, sử dụng và đãi ngộ đúng mức để họ dành tâm sức chonhà trường Giảng viên trẻ cần bố trí giờ dạy vừa đủ số tiết tiêu chuẩn để họ có thờigian tự học, tự đào tạo, tự nâng cao kiến thức chuyên ngành, nâng cao kỹ năng dạyhọc và nghiên cứu khoa học…

Trang 31

Trong quá trình bố trí, sử dụng đội ngũ ngũ giảng viên, ngoài việc phân cônggiảng dạy thích hợp cho giảng viên, quá trình này bao gồm thuyên chuyển, đề bạt vàxuống chức trong đó đề bạt có ảnh hưởng tích cực tới người lao động Bố trí, đề bạtcán bộ giảng viên phải đúng và trúng nhằm phát huy hết khả năng, sở trường theophương châm Hồ Chí Minh: “Dùng người như dùng mộc” Kiên quyết khắc phụctình trạng cán bộ giảng viên, nhất là cán bộ quản lý bị kỷ luật hoặc không hoànthành tốt nhiệm vụ ở đơn vị này, lĩnh vực chuyên ngành này lại được bố trí đảmnhận nhiệm vụ tương đương hoặc cao hơn ở đơn vị khác.

Các hoạt động đề bạt nếu được tổ chức và thực hiện tốt sẽ hữu ích không chỉriêng đối với giảng viên mà còn đối với nhà trường Đó là khuyến khích ngườigiảng viên cống hiến hết mình vì công việc, vì nhà trường; thu hút và giữ lại nhữnggiảng viên giỏi, có tài năng, dần xây dựng được một đội ngũ giảng viên có chấtlượng cao, là mấu chốt quan trọng cho sự phát triển của nhà trường.Chính vì vậy,việc lựa chọn đúng người thật sự có tâm, có tầm, có tài, có đủ tiêu chuẩn chính trị

và bố trí giữ trọng trách tương xứng sẽ không chỉ phát huy được năng lực, sở trườngcủa cán bộ mà còn tác động mạnh mẽ, tạo được sự đồng thuận, “tâm phục, khẩuphục” đối với bộ phận, cán bộ thuộc quyền

1.4.2.2 Chính sách bồi dưỡng giảng viên

Chính sách bồi dưỡng nhân tài là nhân tố chính ảnh hưởng trực tiếp tới chấtlượng nguồn nhân lực Khi có một chính sách bồi dưỡng nguồn nhân lực đúng đắn,phù hợp và chất lượng sẽ có một lực lượng lao động được trang bị đầy đủ những kiếnthức, kỹ năng, trình độ lành nghề, trình độ chuyên môn để có thể vận dụng vào trongcông việc nhằm duy trì và phát triển bản thân, gia đình, doanh nghiệp và đất nước

Trên tinh thần nắm vững quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin “bản thânnhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục”, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Người huấnluyện phải học thêm mãi thì mới làm được công việc huấn luyện của mình Người

huấn luyện nào tự cho là mình đã biết đủ cả rồi, thì người đó dốt nhất” (Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2000, tập6, tr 46) Người dẫn lại câu nói của Khổng

Tử: “Học không biết chán, dạy không biết mỏi” và lời dạy của V.I.Lênin: “Học, học

Trang 32

nữa, học mãi” để nhấn mạnh rằng người huấn luyện nào tự mãn cho mình giỏi rồi

mà dừng việc học lại là lùi bước, là lạc hậu, là tự đào thải mình Phải thường xuyên

tự bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, phương pháp sư phạm để thực sự làtấm gương sáng cho học sinh noi theo

Đội ngũ giảng viên cần được đào tạo và bồi dưỡng sau chuẩn Về nhận thức,mỗi giảng viên trong nhà trường phải xem công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng caotrình độ, nâng cao năng lực chuyên môn, nâng cao tay nghề như là nhiệm vụ vàquyền lợi của mình, coi đây là một đòi hỏi bắt buộc đối với người thầy để nâng caođược chất lượng giáo dục

Như vậy bồi dưỡng với mục đích là nhằm nâng cao năng lực và phẩm chấtchuyên môn, tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội để củng cố và mở manghoặc nâng cao một cách có hệ thống những tri thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụsẵn có để làm việc có hiệu quả cao hơn

Bồi dưỡng năng cao năng lực giảng viên là khâu quan trọng Chất lượng độingũ giảng viên có tốt hay không nguyên nhân là từ khâu này là cốt lõi Trong quátrình hoạt động nghiệp vụ, đội ngũ giảng viên luôn luôn phải cập nhật những kiếnthức mới Bản thân mỗi giảng viên phải thường xuyên tự bồi dưỡng, nâng cao trình

độ, bên cạnh đó nhà trường phải tạo điều kiện cho giảng viên có điều kiện tham giacác lớp bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, cũng như rèn luyện nâng cao tay nghề,kiến thức … nhằm giúp giảng viên ngày càng hoàn thiện tri thức và nghiệp vụ

Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng giảng viên của nhà trường cần chú trọng bồidưỡng nâng cao tay nghê, nâng cao năng lực chuyên môn theo hướng tiếp cận vớicông nghệ, phương tiện kỹ thuật hiện đại nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy theohướng tích cực hóa, cá biệt hóa và hiện đại hóa phương tiện, thiết bị dạy học Đểlàm được điều này thì mỗi trường cần phải có những chính sách hợp lý để khuyếnkhích, tạo điều kiện cho giảng viên nâng cao trình độ, tay nghề

1.4.2.3 Đánh giá giảng viên

Đánh giá thực hiện công việc là một hoạt động quản lý nguồn nhân lực cóảnh hưởng lớn tới chất lượng nguồn nhân lực trong một tổ chức doanh nghiệp bất

Trang 33

kỳ, kể cả trong các trường đại học Đánh giá thực hiện công việc là sự đánh giá có

hệ thống và chính thức tình hình thực hiện công việc của người lao động trong quan

hệ so sánh với các tiêu chuẩn đã được ban hành và thảo luận về sự đánh giá đó vớingười lao động

Đánh giá thực hiện công việc nhằm mục tiêu cải tiến sự thực hiện công việc củangười lao động và giúp cho những người quản lý đưa ra các quyết định nhân sự chínhxác Mức độ hợp lý và đúng đắn của việc sử dụng các hệ thống đánh giá và thông tinphản hồi các kết quả đánh giá đối với người lao động có ảnh hưởng lớn tới việc xâydựng và phát triển phẩm chất, đạo đức, thái độ lao động của người lao động và bầukhông khí tâm lý xã hội trong các tập thể lao động Vì vậy, để có thể nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực, doanh nghiệp cần phải đặc biệt chú ý đến công tác này

1.4.3 Các chính sách đãi ngộ đội ngũ giảng viên

- Khái niệm đãi ngộ nhân sự:

Đãi ngộ nhân sự là quá trình chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của ngườilao động để họ có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và qua đó góp phần hoànthành mục tiêu của doanh nghiệp

Đãi ngộ nhân sự là một quá trình: mọi nhà quản trị đều có trách nhiệm về đãingộ nhân sự từ việc xây dựng các chính sách đãi ngộ đến việc tổ chức thực hiệncông tác đãi ngộ trong doanh nghiệp

Đãi ngộ nhân sự phải hướng tới việc thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thầncủa người lao động Đãi ngộ nhân sự giúp đạt được mục tiêu của doanh nghiệpthông qua lao động có hiệu quả của đội ngũ nhân sự

- Vai trò của đãi ngộ nhân sự: Đãi ngộ nhân sự có vai trò quan trọng

+ Đối với người lao động: Đãi ngộ nhân sự tạo điều kiện để họ nâng cao đờisống vật chất và tinh thần, từ đó tạo động lực kích thích người lao động làm việcvới hiệu quả cao nhất

+ Đối với doanh nghiệp:

Đãi ngộ nhân sự là điều kiện đủ để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 34

Đãi ngộ nhân sự góp phần duy trì nguồn nhân lực ổn định, có chất lượng chodoanh nghiệp

Đãi ngộ nhân sự giúp nâng cao hiệu quả các chức năng quản trị nhân sự kháctrong doanh nghiệp

+ Đối với xã hội: Đãi ngộ nhân sự trong doanh nghiệp giúp duy trì đượcnguồn nhân lực ổn định và có chất lượng cho xã hội

Đãi ngộ nhân sự giúp đạt được mục tiêu của doanh nghiệp thông qua laođộng có hiệu quả của đội ngũ nhân viên Chế đô chính sách đối với người lao độngbao hàm tất cả các hình thức bù đắp mà tổ chức sẽ trả cho người lao động

Hệ thống đãi ngộ của mỗi doanh nghiệp nhằm đạt tới hai mục tiêu căn bản làthu hút nhân lực tiềm năng và duy trì đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm Hơn nữa,nhân viên trong bất cứ tổ chức nào cũng mong muốn có được môi trường làm việcthuận lợi, có cơ hội học tập, thăng tiến và có mức lương cao phù hợp với năng lựclàm việc Mặt khác hệ thống đãi ngộ cũng đòi hỏi phải cân bằng, đảm bảo lợi íchcủa người lao động và của doanh nghiệp

Như vậy, Chế độ chính sách luôn là vấn đề quan trọng, tác động trực tiếp đếnchất lượng đội ngũ lao động của bất kỳ doanh nghiệp nào và trong trường ĐH cũngkhông phải là ngoại lệ Chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ giảng viên bao gồm tiềnlương, tiền thưởng và mọi lợi ích khác mà người lao động được nhận từ tổ chức.Một chế độ chính sách phù hợp sẽ thúc đẩy sự phát triển của đội ngũ giảng viên,ngược lại, chế độ chính sách không phù hợp sẽ tác động không kích thích được tinhthần, chất lượng làm việc Để thực hiện tốt vấn đề này cần đảo bảo hài hòa lợi íchchung, công bằng nội bộ, đảm bảo các hình thức, cách chi trả, trao thưởng phù hợpnhất với nhu cầu cấp thiết

1.5 Ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đại học

Với vai trò chủ đạo trong quá trình giáo dục ở các trường, các cơ sở giáo dục

- đào tạo Chất lượng đội ngũ giảng viên tác động trực tiếp đến chất lượng giáo dục.Muốn trò giỏi phải có thầy giỏi Khâu then chốt của chiến lược phát triển giáo dụcđào tạo là đội ngũ những người thầy giáo làm nhiệm vụ giảng dạy và quản lý giáo

Trang 35

dục Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Thầy tốt thì ảnh hưởng tốt, thầyxấu thì ảnh hưởng xấu không thể có trò giỏi nếu thiếu thầy giỏi”.

Nghị quyết TW2 khoá VIII đã chỉ rõ: “Giảng viên là nhân tố quyết định chấtlượng giáo dục Bởi vậy ngành giáo dục đào tạo coi việc xây dựng đội ngũ giảngviên chất lượng cao là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của quá trình đổi mớinền Giáo dục - Đào tạo nước nhà”

Giáo dục Việt Nam đang trong quá trình cải cách để đáp ứng được yêu cầucủa thời đại mới, thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, sự cảicách đó chỉ thực sự thành công khi quan tâm phát triển đội ngũ giảng viên, giảngviên Tổ chức văn hóa và giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) từng khuyến cáo:

“Mọi cuộc cải cách giáo dục đều bắt đầu từ người giảng viên”

Bắt đầu từ năm 2014, Bộ GD-ĐT dừng tuyển sinh 207 ngành ĐH không đảmbảo chất chất lượng cũng như yêu cầu đề ra Trên báo Điện tử VOV Online ngày10/02/2014, PGS.TS Bùi Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH đã nhấn mạnh việcchỉnh đốn, phát triển và nâng cao chất lượng của đội ngũ giảng viên đại học lànhiệm vụ trọng tâm để nâng cao chất lượng giáo dục Bộ GD-ĐT đã xây dựng cácvăn bản pháp quy, trong đó quy định cụ thể các điều kiện đảm bảo chất lượng, cácchế tài xử lý và thực hiện rà soát lần lượt các chuyên ngành/ngành đào tạo từ trình

độ tiến sĩ đến trình độ cao đẳng từ năm 2010 đến nay Việc kiểm tra rà soát tậptrung vào số lượng và chất lượng đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu của ngànhđào tạo theo quy định Cụ thể:

- Năm 2010 đã thực hiện rà soát thống kê các cơ sở đào tạo trình độ tiến sĩ,

đã dừng tuyển sinh 101 chuyên ngành và cảnh báo đối với 38 chuyên ngành đào tạotrình độ tiến sĩ khác theo quy định tại Quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ ban hành kèmtheo Thông tư số 10/2009/TT-BGDĐT ngày 7/5/2009

- Năm 2012 thực hiện rà soát thống kê các cơ sở đào tạo trình độ thạc sĩ và đãdừng tuyển sinh 161 chuyên ngành đào tạo trình độ thạc sĩ theo quy định tại Thông

tư số 38/2010/TT-BGDĐT ngày 22/12/2010 quy định điều kiện, hồ sơ, quy trình

Trang 36

cho phép đào tạo, đình chỉ tuyển sinh, thu hồi quyết định cho phép đào tạo cácngành hoặc chuyên ngành trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ

- Năm 2013 dừng tuyển sinh 207 ngành đào tạo trình độ đại học

Theo kế hoạch năm 2014 sẽ rà soát thống kê các cơ sở đào tạo trình độ caođẳng Đây là một kế hoạch tổng thể đã được thực hiện theo lộ trình Mục tiêu củacác đợt rà soát là nhằm đánh giá thực trạng điều kiện đảm bảo chất lượng của cácngành, chuyên ngành đào tạo, nhất là về đội ngũ giảng viên cơ hữu; thống nhất cáchthức quản lý ở cấp hệ thống và cấp cơ sở Việc dừng các ngành/chuyên ngànhkhông đủ giảng viên cơ hữu theo quy định là để các trường phải có định hướng, kếhoạch phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên cơ hữu của trườngmình; xây dựng cơ sở cơ sở dữ liệu về đội ngũ giảng viên trong toàn hệ thống giáodục đại học Qua kiểm tra rà soát, Bộ GD-ĐT chủ trương phát đi cảnh báo về việcđáp ứng chuẩn tối thiểu đảm bảo chất lượng về đội ngũ giảng viên cơ hữu của từngngành đào tạo của nhà trường Đây là một trong những nhân tố rất quan trọng quyếtđịnh đến chất lượng dạy và học Kết quả kiểm tra, rà soát cho thấy, không phải cứngành nghề đào tạo lâu năm, là truyền thống của nhà trường thì đảm bảo đội ngũ

Có thầy cô đã nghỉ hưu, hoặc chuyển công tác nhưng nhà trường chưa bổ sung lựclượng mới Mặt khác, theo yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo, quy định đảm bảođiều kiện đội ngũ đã có sự thay đổi theo hướng nâng cao cả về số lượng và chấtlượng nhưng một số trường chưa đáp ứng kịp các yêu cầu này

Như vậy, yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đại học là một vấn

đề sống còn của các trường đại học Chúng ta phải thừa nhận một nền giáo dụckhông thể phát triển vượt cao hơn tầm những giảng viên làm việc cho nó Giảngviên có một vị trí cực kỳ quan trọng, nhất là trong tình hình giáo dục phải hướngvào phục vụ cho yêu cầu CNH- HĐH đưa đất nước “đi tắt”, “đón đầu” để đuổi kịpcác nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới Do đó vấn đề nghiên cứu xây dựngcác biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên nói chung và giảngviên của hệ thống giáo dục nghề nghiệp nói riêng trong chiến lược phát triển giáodục đào tạo có ý nghĩa, tầm quan trọng và tính cấp bách đặc biệt

Trang 37

Chương 2: PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG

ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐH GTVT 2.1 Giới thiệu về trường ĐH GTVT

2.1.1 Giới thiệu chung về trường ĐH GTVT

Trường Đại học Giao thông Vận tải ngày nay có tiền thân là trường Cao đẳngCông Chính trước khi đất nước giành được độc lập 2/9/1945 và được khai giảng lại dưới chính thể Việt Nam dân chủ cộng hoà ngày 15/11/1945

 Ngày 13/4/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 50 đổi tên trường Cao đẳng Công Chính thành trường đại học công chính;

 Tháng 12/1946, Trường ngừng công tác giảng dạy và đào tạo học tập để phục vụ kháng chiến;

 Tháng 10/1947, Trường được tái giảng dạy tại Chùa Viên - Phú Xuyên;

 Tháng 4/1948, Trường rời địa điểm tới huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình;

 Ngày 1/2/1949, theo sắc lệnh số 02/SL và theo nghị quyết số 60 ngày 24/2/1949 Trường đại học Công Chính đổi tên thành Trường Cao đẳng Kỹ Thuật;

 Ngày 1/1/1952 Trường được đổi tên thành Trường Cao đẳng Giao Thông Công Chính;

 Tháng 4/1955, Trường trở về Hà Nội tái xây dựng cơ sở mới tại Cầu Giấy;

 Tháng 8/1956, Trường được tách ra thành hai trường Trung cấp giao thông và Trung cấp Thuỷ Lợi - Kiến Trúc;

 Tháng 8/1960 Bộ Giao thông Vận tải quyết định thành lập ban xây dựng Trường Đại học Giao thông Vận tải;

 Ngày 24/3/1962 Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký quyết định số 42/CP thànhlập Trường Đại học Giao thông Vận tải;

 Tháng 8/1965 Trường đưa toàn bộ lực lượng đi sơ tán tại Mai Sưu - Bắc Giang

 Ngày 23/7/1968 Trường đổi tên thành Đại học Giao Thông Đường Sắt và Đường Bộ, đồng thời thành lập phân hiệu Đại học Giao Thông Đường Thủy ở Hải Phòng ;

Trang 38

 Tháng 9/1969 Trường chuyển từ Mai Sưu về Hà Nội;

 Tháng 7/1983 Trường được bàn giao từ Bộ Giao thông Vận tải sang Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp (Bộ GD ĐT) quản lý toàn diện;

 Tháng 11/1985 Trường đổi tên thành trường Đại học Giao thông Vận tải;

 Tháng 4/1990 Trường chính thức thành lập cơ sở 2 tại quận 9 thành phố

Hồ Chí Minh

Ngày truyền thống của trường là 15 tháng 11

Trường Đại học Giao thông Vận tải có sứ mạng đào tạo cho ngành Giaothông vận tải và đất nước những cán bộ khoa học kỹ thuật có năng lực và lòng yêunghề, có khả năng sáng tạo và tính nhân văn Hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoahọc, chuyển giao công nghệ và các hoạt động của khác của Nhà trường nhằm manglại những lợi ích với chất lượng tốt nhất cho cộng đồng và xã hội Nhà trường đãđào tạo cho đất nước hàng vạn Kỹ sư, hàng ngàn Thạc sỹ và Tiến sỹ Phần lớn cán

bộ lãnh đạo, quản lý của các cơ quan quản lý, doanh nghiệp thuộc ngành GTVT đềutốt nghiệp từ Nhà trường

Nhà trường hiện đang đào tạo 15 ngành với 69 chuyên ngành bậc đại học, 16chuyên ngành bậc Thạc sỹ và 17 chuyên ngành bậc Tiến sỹ Quy mô đào tạo củaTrường có trên 32 ngàn sinh viên các hệ (trong đó có gần 20.000 sinh viên hệ chínhquy), trên 2.300 học viên cao học và gần 120 nghiên cứu sinh Hàng năm, các nhàkhoa học của Trường tiến hành nghiên cứu khoảng 30 đề tài cấp Nhà nước và cấp

Bộ, 60 đề tài cấp cơ sở và hàng chục đề tài liên kết với với các địa phương, doanhnghiệp trong và ngoài nước Nhiều cán bộ của Trường là những chuyên gia hàngđầu trong lĩnh vực Giao thông vận tải, góp phần thúc đẩy sự phát triển của Ngành.Nhà trường cũng là một trong những đơn vị đi đầu trong các hoạt động xã hội, tíchcực hưởng ứng các cuộc vận động lớn của Đảng, Nhà nước và của ngành Giáo dụcĐào tạo; đóng góp quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trường Đại học Giao thông Vận tải hướng tới mô hình đại học đa ngành về

kỹ thuật, công nghệ và kinh tế; trở thành đại học trọng điểm, đào tạo nguồn nhânlực có trình độ cao đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững ngành giao thông vận tải

Trang 39

đất nước; là trung tâm nghiên cứu khoa học có uy tín về Giao thông vận tải và một

số lĩnh vực khác; có năng lực hội nhập khu vực và Quốc tế; là địa chỉ tin cậy củangười học, nhà đầu tư và toàn xã hội

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của trường ĐH GTVT

Trường Đại học Giao thông vận tải (GTVT) tiền thân là trường Cao đẳngGTVT được thành lập năm 1945 đến năm 1962 mới chính thức được thành lập vàmang tên Đại học GTVT Nhiệm vụ của trường là đào tào cán bộ kỹ thuật, kinh tếphục vụ cho ngành GTVT Mục tiêu của trường là phấn đấu trở thành trung tâm đàotạo nghiên cứu khoa học với quy mô lớn phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóahiện đại hóa đất nước Trường đào tạo các trình độ: Đại học, Thạc sĩ, Tiến sĩ Trongquá trình đào tạo, Trường Đại học GTVT luôn kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo, nghiêncứu với thực tiễn, đã và đang đảm nhiệm nhiều đề tài cấp bộ, cấp nhà nước TrườngĐại học GTVT có quan hệ hợp tác song phương với một số trường đại học lớn ởcác nước như: Pháp, Nga, Trung Quốc, Lào, Campuchia

Trường Đại học Giao thông Vận tải có sứ mạng đào tạo cho ngành Giaothông vận tải và đất nước những cán bộ khoa học kỹ thuật có năng lực và lòng yêunghề, có khả năng sáng tạo và tính nhân văn Hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoahọc, chuyển giao công nghệ và các hoạt động của khác của Nhà trường nhằm manglại những lợi ích với chất lượng tốt nhất cho cộng đồng và xã hội Nhà trường đãđào tạo cho đất nước hàng vạn Kỹ sư, hàng ngàn Thạc sỹ và Tiến sỹ Phần lớn cán

bộ lãnh đạo, quản lý của các cơ quan quản lý, doanh nghiệp thuộc ngành GTVT đềutốt nghiệp từ Nhà trường

Nhà trường cũng là một trong những đơn vị đi đầu trong các hoạt động xã hội,tích cực hưởng ứng các cuộc vận động lớn của Đảng, Nhà nước và của ngành Giáo dụcĐào tạo; đóng góp quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trường Đại học Giao thông Vận tải hướng tới mô hình đại học đa ngành về

kỹ thuật, công nghệ và kinh tế; trở thành đại học trọng điểm, đào tạo nguồn nhânlực có trình độ cao đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững ngành giao thông vận tảiđất nước; là trung tâm nghiên cứu khoa học có uy tín về Giao thông vận tải và một

Trang 40

số lĩnh vực khác; có năng lực hội nhập khu vực và Quốc tế; là địa chỉ tin cậy củangười học, nhà đầu tư và toàn xã hội.

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trường Đại học Giao thông Vận tải

Cơ cấu tổ chức của trường Đại học GTVT được thể hiện ở sơ đồ 2.1 dướiđây:

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của trường ĐH GTVT 2.1.4 Quy mô đào tạo

Hiện nay, Trường ĐH GTVT bao gồm 11 Khoa – Viện, thực hiện nhiệm vụđào tạo đại học và sau đại học Quy mô đào tạo của Trường có trên 32 ngàn sinh

Ngày đăng: 12/03/2016, 11:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Hoàng Văn Hải, Vũ Thùy Dương (2008), Quản trị nhân sự, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị nhân sự
Tác giả: Hoàng Văn Hải, Vũ Thùy Dương
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2008
4. George T.Milkovich, John W.Boudrsau, Người dịch: TS. Vũ Trọng Hùng & TS Phan Thăng, Quản trị nguồn nhân lực, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị nguồn nhân lực
Nhà XB: NXB Thống kê
5. GS.TS Đỗ Văn Phức (2009), Quản lý doanh nghiệp, NXB Bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý doanh nghiệp
Tác giả: GS.TS Đỗ Văn Phức
Nhà XB: NXB Bách khoa
Năm: 2009
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16 tháng 4 năm 2008 về “Quy định về đạo đức nhà giáo” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16 tháng4 năm 2008 về “Quy định về đạo đức nhà giáo
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2008
7. GS.TS Đỗ Văn Phức (2008), Tổ chức cán bộ, lao động, tiền lương, NXB Bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức cán bộ, lao động, tiền lương
Tác giả: GS.TS Đỗ Văn Phức
Nhà XB: NXB Bách khoa
Năm: 2008
1. Các quy chế, quyết định, các tài liệu văn bản do trường ĐH GTVT ban hành Khác
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Luật Giáo dục Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của trường ĐH GTVT - Luận văn thạc sy Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên tại trường đại học giao thông vận tải
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của trường ĐH GTVT (Trang 38)
Bảng 2.2: Số lượng đội ngũ giảng viên và sinh viên trường ĐH GTVT từ - Luận văn thạc sy Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên tại trường đại học giao thông vận tải
Bảng 2.2 Số lượng đội ngũ giảng viên và sinh viên trường ĐH GTVT từ (Trang 43)
Bảng 2.3: Cơ cấu tuổi đội ngũ giảng viên trường ĐH GTVT - Luận văn thạc sy Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên tại trường đại học giao thông vận tải
Bảng 2.3 Cơ cấu tuổi đội ngũ giảng viên trường ĐH GTVT (Trang 44)
Bảng 2.5. : Kết quả khảo sát sinh viên đánh giá về phẩm chất đạo đức - Luận văn thạc sy Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên tại trường đại học giao thông vận tải
Bảng 2.5. Kết quả khảo sát sinh viên đánh giá về phẩm chất đạo đức (Trang 48)
Bảng 2.9: Số lượng đề tài NCKH các cấp của trường ĐH GTVT từ năm - Luận văn thạc sy Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên tại trường đại học giao thông vận tải
Bảng 2.9 Số lượng đề tài NCKH các cấp của trường ĐH GTVT từ năm (Trang 57)
Bảng 2.10: Số lượng bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành trong nước và quốc tế và tỷ lệ trên số lượng giảng viên của trường ĐHGTVT - Luận văn thạc sy Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên tại trường đại học giao thông vận tải
Bảng 2.10 Số lượng bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành trong nước và quốc tế và tỷ lệ trên số lượng giảng viên của trường ĐHGTVT (Trang 58)
Bảng 2.11 cho thấy nguyên nhân khiến hoạt động NCKH ở giảng viên ngày cảng giảm sút chủ yếu là do dạy nhiều giờ và tham gia nhiều công tác khác (chiếm 50,9%) - Luận văn thạc sy Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên tại trường đại học giao thông vận tải
Bảng 2.11 cho thấy nguyên nhân khiến hoạt động NCKH ở giảng viên ngày cảng giảm sút chủ yếu là do dạy nhiều giờ và tham gia nhiều công tác khác (chiếm 50,9%) (Trang 59)
Hình 2.4: Sơ đồ quá trình tuyển dụng - Luận văn thạc sy Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên tại trường đại học giao thông vận tải
Hình 2.4 Sơ đồ quá trình tuyển dụng (Trang 61)
Bảng 3.1 Đánh giá sự cần thiết của các giải pháp đề xuất - Luận văn thạc sy Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên tại trường đại học giao thông vận tải
Bảng 3.1 Đánh giá sự cần thiết của các giải pháp đề xuất (Trang 85)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w